1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh

14 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 714,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) và tỉnh Tây Ninh được thực hiện trong hai năm 2016-2017. Tôm được thả nuôi trong ao với mật độ 6-8 con/m2 , sau 6-7 tháng nuôi tôm đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 12-14 con/kg. Tỉ lệ sống ở các ao nuôi dao động từ 33-72%.

Trang 1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG PHẨM TÔM CÀNG XANH TOÀN ĐỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ TỈNH TÂY NINH

Nguyễn Đức Minh1*, Đỗ Thị Phượng1, Trần Ngọc Anh Tuấn1

TÓM TẮT

Mô hình kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM)

và tỉnh Tây Ninh được thực hiện trong hai năm 2016-2017 Tôm được thả nuôi trong ao với mật

độ 6-8 con/m 2 , sau 6-7 tháng nuôi tôm đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 12-14 con/kg Tỉ lệ sống ở các ao nuôi dao động từ 33-72% Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở các ao cho ăn thức ăn công nghiệp là 1,4-1,7 và thức ăn chế biến là 3-3,2 Năng suất tôm dao động từ 2.200-3.200 kg/ha

Tỷ suất lợi nhuận 19-72% Để trang bị kiến thức cho nông dân, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm càng xanh thương phẩm trong ao đất cho 60 kỹ thuật viên và nông dân ở hai địa phương Tp Hồ Chí Minh và Tây Ninh, giúp nông dân biết phân loại hình thái, đặc tính sinh trưởng, kỹ thuật nuôi trong ao… Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực rút ngắn thời gian thu hồi vốn và góp phần đa dạng loài và mô hình nuôi, tăng thêm nguồn thu nhập cho người nuôi thủy sản.

Từ khóa: Tôm càng xanh toàn đực, tỷ suất lợi nhuận, tập huấn.

1 Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

* Email: minhria2@yahoo.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây tình hình nuôi

thủy sản ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn khác

nhau như dịch bệnh, giá cả không ổn định, năng

suất và hiệu quả kinh tế nuôi thương phẩm phụ

thuộc vào thời tiết khí hậu của từng vùng và

từng năm

Kỹ thuật nuôi thương phẩm những đối tượng

thủy sản, đặc biệt những đối tượng có giá trị kinh

tế cao như tôm càng xanh (TCX) ở nhiều nông

hộ còn lạc hậu Hầu hết người dân nuôi tôm càng

xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải

tiến kỹ thuật như sử dụng con giống toàn đực

để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế Một

khó khăn khác là không chủ động được con

giống tôm càng xanh toàn đực, số lượng giống

không đủ cung ứng cho người nuôi nên một số

lượng lớn con giống tôm càng xanh phải được

nhập từ nước ngoài Chất lượng con giống tôm

càng xanh toàn đực trong nước và ngoại nhập

chưa quản lý chặt chẽ nên chất lượng tôm giống không đảm bảo, kích thước tôm thương phẩm nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu

Ngoài ra, chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi tôm càng xanh như áp dụng con giống toàn đực và

sử dụng nguồn lực tại chỗ đến cải thiện thu nhập của nông hộ, phát triển nuôi trồng thủy sản cũng như phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương Việc ứng dụng những tiến bộ khoa học trong thực tiễn nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở Tp HCM và tỉnh Tây Ninh

là rất cần thiết Do đó “Công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại Tp Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh” được thực hiện với mục

tiêu đưa tiến bộ khoa học là con giống toàn đực vào thực tiễn sản xuất nhằm cải thiện chất lượng

và hiệu quả nuôi tôm càng xanh thương phẩm,

từ đó thúc đẩy nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ở Tp Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh

Trang 2

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Các ao nuôi tôm càng xanh tại

khu vực ven sông Sài Gòn (Quận 9, Tp HCM),

Kênh Đông (Huyện Dương Minh Châu) và

Kênh Tây (Tỉnh Tây Ninh)

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2016

đến tháng 2/2018

2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Tôm giống toàn đực PL15 có nguồn gốc

từ Cơ sở Nghiên cứu Thực nghiệm và Sản xuất Thủy sản Thủ Đức thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

Ao nuôi mô hình

Các ao thực hiện mô hình nuôi TCX toàn đực được lựa chọn đại diện cho 2 vùng sinh thái tiềm năng nuôi tôm càng xanh gồm (1) sử dụng nước sông Sài Gòn và (2) sử dụng nước thủy lợi: kênh Tây và kênh Đông ở tỉnh Tây Ninh Chi tiết của các mô hình được trình bày ở Bảng 1

Bảng 1 Thông tin về các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực

STT Ao hộ chọn nuôi Ký hiệu Diện tích

(m 2 ) (con/m Mật độ 2 ) Địa điểm

2 Nguyễn Thị Loan HCM2 4.000 6 Phước Long, Tp HCM

3 Phan Công Nữ HCM3 3.000 6 Long Trường, Tp HCM

4 Nguyễn Văn Chiến TN1 2.700 6 Kênh Tây, Tây Ninh

5 Phạm Thị Bích Hà TN2 2.500 8 Kênh Tây, Tây Ninh

6 Lê Thanh Tiến TN3 2.000 6 Kênh Đông, Tây Ninh

Dụng cụ đo tại thực địa

Các dụng cụ dùng đo các yếu tố môi trường

tại thực địa bao gồm máy đo đa chỉ tiêu (pH,

DO và nhiệt độ) cầm tay, các bộ test kit đo các

chỉ tiêu thủy lý hoá (độ kiềm, ammonia N-NH3,

nitrite N-NO2), 1 cân tiểu ly điện tử (1 số lẻ sau

g), 1 cân đồng hồ cân thức ăn và các thiết bị

khác phục vụ cho nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Xây dựng mô hình nuôi

2.3.1.1 Công trình ao nuôi

Yêu cầu kỹ thuật ao nuôi: Ao nuôi phải

được cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm Về

chất lượng, nguồn nước không bị ô nhiễm Nền

đáy và bờ ao không bị rò rỉ, lún sụt hay sạt lở

Độ sâu mực nước từ 1-1,2 m Ao có hệ thống

cấp thoát nước và chủ động cấp tiêu nước khi

cần thiết Đáy ao bằng phẳng thuận lợi cho thu

hoạch tôm

Chuẩn bị ao nuôi

Cải tạo ao được tiến hành theo các bước sau:

- Ao ương cần được cải tạo trước khi thả giống 7 ngày Tát cạn ao, bắt hết cá dữ, cá tạp

và các địch hại khác, diệt địch hại còn lại bằng saponine với liều lượng 4 kg/1.000 m3 Vét bớt bùn đáy ao, đảm bảo bề dày lớp bùn < 15 cm Riêng các ao ở vùng Tp HCM, do cao trình thấp nên đáy ao luôn có nước; vì vậy ao được bơm cạn liên tục trong 1 ngày và được bón vôi ngay

- Tiến hành phơi đáy ao 2-3 ngày

- Bón vôi CaO để diệt khuẩn và ổn định pH với liều lượng 100 kg/1.000 m2

- Cấp nước vào ao thông qua lưới lọc có mắt lưới nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 mm để loại bỏ địch hại, nhiễm tạp đạt mức nước trong ao 0,4-0,5 m Gây màu nước bằng phân vô cơ NPK với liều lượng 0,5-1 kg/1.000 m2 Sau 3-5 ngày khi tảo đã phát triển tạo thức ăn tự nhiên thì tiếp tục cấp nước vào ao qua lưới lọc cho đạt mức nước trong ao 0,8-1,0 m rồi tiến hành thả giống

Trang 3

2.3.1.2 Mật độ thả giống và quản lý thức ăn

Hình 1 Tôm giống (trái) và chuẩn bị thả giống ở ao mô hình Tây Ninh (phải)

+ Chọn và thả giống: TCX toàn đực giống

đạt giai đoạn PL15 có nguồn gốc từ Cơ sở thực

nghiệm thủy sản Thủ Đức - Viện Nghiên cứu

Nuôi trồng Thủy sản II, đảm bảo chất lượng với

các đặc điểm sau: khỏe mạnh, không dị hình,

kích cỡ đồng đều, đạt khoảng 80.000-90.000

con/kg Tôm đã được nuôi trong môi trường

nước ngọt tương đồng với môi trường nước

trong ao nuôi Tỷ lệ tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn

kích thước chuẩn ít hơn 10%

Cách thả giống: Tôm giống được vận

chuyển kín (vận chuyển trong bao nylon có bơm

ôxy) đến ao nuôi Thời gian thả giống khoảng

5-8 giờ sáng Tiến hành cân bằng nhiệt độ nước

trong bao chứa tôm và nước ao nuôi khoảng

20-30 phút rồi mới thả giống ra ao Vị trí thả giống

cách bờ khoảng 2-3 m

+ Chăm sóc, quản lý:

Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:

- Giai đoạn I: TCX giống PL15, có kích cỡ

80.000-90.000 con/kg, được thả nuôi trong giai

có dạng hình chữ nhật với kích thước 2x10x1,5

m, kích cỡ mắt lưới 0,5 mm Mật độ thả ương

100 con/m2 Tổng số là 10 giai/ao

Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn

này thức ăn chế biến có mã số NRD G8 (Hình

5) Đây là loại thức ăn rất tốt cho TCX giai đoạn

PL Thức ăn NRD được tổ hợp từ các nguyên

liệu như bột ngũ cốc, dầu cá, tảo, men, chất

chống ôxy hóa… có thành phần sinh hóa như

sau: đạm = 55%, lipid = 8%, chất xơ = 1,9%,

độ ẩm = 8% Thức ăn có kích cỡ 500-800 µm nên phù hợp cho tôm ở giai đoạn nuôi này Tôm đươc cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều và tối Ngày đầu tiên cho ăn với lượng 150g/100.000 PL Sau đó, cứ 1 ngày tăng thêm

20 g thức ăn cho 100.000 PL Thức ăn NRD được hòa vào nước rồi tạt đều trong giai

Sau thời gian ương 20 ngày, tôm đạt kích cỡ

≤ 20.000 con/kg thì được thả ra ao, bắt đầu nuôi tôm giai đoạn II

- Giai đoạn II: Nuôi tôm giống (kích cỡ ≤ 20.000 con/kg) lên thương phẩm (kích cỡ ≤ 20 con/kg) Mật độ thả nuôi 6-8 con/m2

Trong giai đoạn này, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 25-30% và cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể tôm từ 2-10%

Tần suất cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều mát và tối Do tập tính ăn mạnh về đêm, lượng thức ăn buổi chiều-tối chiếm 2/3 tổng lượng cho ăn trong ngày

Khi cho tôm ăn cần dựa vào các yếu tố sau

để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp:

- Rải đều thức ăn trong ao kết hợp sàng ăn

để kiểm tra sức khỏe tôm nuôi và kiểm tra lượng thức ăn được tôm sử dụng

- Khi chất lượng nước ao kém hay những ngày mưa gió lớn thì giảm lượng thức ăn

Trang 4

- Cho tôm ăn hơi thiếu vẫn tốt hơn thừa

(dùng sàng ăn để kiểm tra thức ăn hằng ngày)

+ Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để

tránh thất thoát tôm Định kỳ xử lý môi trường

nước ao nuôi bằng chế phẩm sinh học với tần

suất 2 tuần/lần

+ Giá thể: Dùng lưới, chà và dây nilon thả

đều khắp ao theo dòng nước cấp để tạo nơi trú

ẩn cho tôm

+ Các thông tin cần theo dõi và lưu trữ:

- Lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn

thừa sau các lần cho tôm ăn bằng cách định

lượng và sử dụng sàng ăn hàng ngày

- Số lượng tôm nuôi trong ao bằng việc

định lượng tổng số tôm qua các chài kiểm tra tại

5 điểm cố định theo định kỳ 15 ngày/lần

- Trọng lượng và chiều dài bình quân của

tôm nuôi bằng việc cân, đo tổng số tôm có được

trong các chài kiểm tra

- Dấu hiệu bất thường, tình trạng sức khỏe

và tập tính sống trong suốt thời gian nuôi bằng

cách kiểm tra tôm trong sàng ăn hàng ngày

Sau thời gian nuôi 5 tháng, tôm đạt kích cỡ

≤ 20 con/kg thì có thể thu hoạch

2.3.2 Quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi

- Quản lý chất lượng nước: Cho nước chảy

tràn hoặc thay nước (30-70% lượng nước trong

ao nuôi) theo định kỳ 3-5 ngày/lần, tùy thuộc

vào sự biến động của các yếu tố môi trường

- Các chỉ tiêu pH, DO và nhiệt độ đo hàng

ngày.

- Các chỉ tiêu kiềm, N-NH3, N-NO2 đo 1

tuần/lần

2.3.3 Thu hoạch tôm

- Thu tỉa sau 5 tháng nuôi, khi tôm có kích

cỡ 10-14 con/kg

- Định lượng tôm khi thu hoạch

- Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn của

tôm nuôi, năng suất nuôi

2.3.4 Hiệu quả kinh tế và tập huấn mô hình

2.3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Sau khi kết thúc vụ nuôi tôm các thông số

về tăng trưởng tôm nuôi và môi trường được phân tích Các chỉ tiêu năng suất, tỷ lệ sống, hệ

số chuyển đổi thức ăn được đánh giá Bên cạnh

đó đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình Hiệu quả kinh tế được tính toán dựa trên các chi phí

và doanh thu

a Tổng chi phí: Bao gồm chi phí biến đổi (thức

ăn, thuốc hóa chất, công lao động, thuế đất, nhiên liệu năng lượng, sửa chữa bảo trì), lãi suất

và khấu hao tài sản cố định

b Tổng doanh thu: Tiền bán tôm sau khi thu

hoạch thực tế = sản lượng tôm x giá bán

c Lợi nhuận:

Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

Tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận/Tổng chi phí.

2.3.4.2 Tập huấn và hội thảo

Kết quả thực nghiệm của mô hình nuôi được sử dụng để tập huấn cho những hộ nuôi thủy sản ở Tp HCM và tỉnh Tây Ninh cũng như phổ biến cho các cán bộ khuyến nông tại các địa phương này

2.3.5 Thu thập và xử lý số liệu

Các số liệu, thông tin thu thập được tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel

III KẾT QUẢ 3.1 Xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực

Công trình ao nuôi

Các ao được chọn làm mô hình nuôi TCX toàn đực có diện tích từ 2.000 đến 4.000 m2 với

độ sâu 1-1,5 m Hầu hết các hộ không có ao lắng hay ao xử lý để phục vụ cho quá trình nuôi Do

đó, chất lượng nước cấp vào ao nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng nước của hệ thống kênh và sông

Trang 5

Hình 2 Ao thực nghiệm nuôi TCX toàn đực tại Tây Ninh

Hình 3: Mô hình ao nuôi tại Phú Hữu và Long Trường, Quận 9, TPHCM

3.2 Tôm giống và mật độ thả giống

Tôm giống được thả nuôi là TCX toàn

đực ở giai đoạn PL15 (chiều dài 1,5-2,0 cm)

Sau 20 ngày ương, tôm có kích cỡ trung bình

< 20.000 con/kg được thả ra ao nuôi với mật

độ 6-8 con/m2 tùy theo tỷ lệ sống của PL ở các

mô hình

Nhìn chung tỉ lệ sống của tôm giống là rất cao do chất lượng nước ao tốt và thức ăn sử dụng trong giai đoạn ương là phù hợp

Bảng 2 Tỷ lệ sống (%) của tôm càng xanh giống sau 20 ngày ương

Ao mô hình Số lượng PL thả ương (con) Số lượng tôm giống thu hoạch (con) Tỷ lệ sống %

Trang 6

Hình 4 Tôm giống sau khi ương 20 ngày ở một mô hình vùng kênh Tây

3.3 Thức ăn và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)

Hình 5 Thức ăn viên cho các giai đoạn phát triển của tôm: (a) tôm giống và (b) tôm thịt

Hình 6 Thức ăn ốc bươu vàng tại địa phương Bảng 3 Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)

Trang 7

3.4 Chất lượng nước trong mô hình nuôi

Các yếu tố môi trường của các ao nuôi thực

nghiệm được kiểm tra định kỳ và thường xuyên

để có những điều chỉnh kịp thời Các chỉ tiêu

Hình 7 Biến động nhiệt độ ở các mô hình nuôi TCX toàn đực

Hình 8 Biến động pH ở các mô hình nuôi TCX toàn đực

pH, DO và nhiệt độ được đo hàng ngày và các

chỉ tiêu kiềm, N-NH3, N-NO2 được đo hàng tuần Biện pháp xử lý hiệu quả khi các yếu tố môi trường có sự biến động lớn là thay nước

Tương tự, pH ở tất cả các ao mô hình có

sự biến động và có sự khác biệt giữa các vùng

nuôi Nhìn chung yếu tố pH rất ổn định và dao

động ngày đêm thấp (không quá 1) trong suốt

quá trình nuôi

Kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng ôxy

hòa tan (DO) buổi sáng giữa các ao nuôi mô

hình dao động từ 4-5 mg/L Theo New (1982),

hoạt động trao đổi chất của các thủy sinh vật đạt

cao nhất khi DO trong môi trường dao động từ

3-7 mg/L và khi DO < 2 mg/L, tôm nuôi sẽ bị

sốc và nếu tình trạng thiếu ôxy kéo dài thì tôm

sẽ chết (Boyd và Zimmermann, 2000)

Ðộ kiềm ở các ao mô hình có sự biến động theo thời gian, dao động từ 30 đến 50 mg/L

Ðộ kiềm có xu hướng giảm vào tuần nuôi thứ

4 và sau đó tăng dần lên đến cuối giai đoạn thu hoạch Trong quá trình nuôi, việc sử dụng vôi dolomite và NaHCO3 kết hợp với các khoáng chất bổ sung làm tăng dần độ kiềm lên mức cần thiết cho tôm

Trang 8

Bảng 4 Các chỉ tiêu thủy hoá trong thời gian thực hiện mô hình

Ao mô hình DO buổi sáng

(mg/L)

Kiềm (mg/L)

NO 2 -N (mg/L) NH 3 -N (mg/L)

NO2-N giữa các ao nuôi trong mô hình

dao động từ 0,2 đến 0,8 mg/L Ao muôi VC1

có biên độ dao động lớn về hàm lượng NO2-N

trong suốt thời gian nuôi, hàm lượng này tăng

cao nhất vào tháng thứ 4 là 0,8 mg/L Hầu hết

các ao ở kênh Đông và kênh Tây có hàm lượng

NO2-N thấp trong 3 tháng đầu nuôi tôm, nhưng

vào tháng nuôi thứ 4 bắt đầu tăng dần đến kết

thúc vụ nuôi

Đến tháng nuôi thứ 4, hàm lượng NH3-N

của các ao mô hình biến động không lớn (luôn nhỏ hơn 0,5 mg/L) và tương đối ổn định Sang tháng thứ 5 hàm lượng NH3-N của các ao nuôi ở sông và kênh tăng lên lớn hơn 0,8 mg/L nhưng sau đó giảm xuống < 0,2 mg/L vào các tháng nuôi tiếp theo cho đến hết vụ nuôi Do hầu hết các hộ nuôi ở vùng sông và kênh chủ động thay nước liên tục nên môi trường không có nhiều biến động, hàm lượng NH3-N thấp hơn 1,0 mg/L vào cuối vụ nuôi

3.5 Tăng trưởng của tôm ở các mô hình nuôi

Hình 9 Trọng lượng và kích cỡ TCX sau 3 và

6 tháng nuôi Kết quả theo dõi tăng trọng của tôm cho

thấy không có sự chênh lệch lớn giữa các ao

trong 3 tháng nuôi đầu tiên (Hình 9); trọng

lượng bình quân của tôm đạt 32-37 g/con Tôm

tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao hơn ở các

tháng nuôi tiếp theo (từ tháng 4-6) Trọng lượng

bình quân của tôm đạt 45-98 g/con Ở tháng thứ

5, một số ao đã có thể thu tỉa khi tôm đã đạt kích

cỡ thương phẩm 10-14 con/kg

3.6 Thu hoạch tôm thương phẩm

Hình 10 Thu hoạch tôm tại Tây Ninh

Tôm càng xanh được thu hoạch hoàn toàn sau 7-8 tháng nuôi với kích cỡ thu hoạch trung

Trang 9

bình 10-14 con/kg Tôm thu hoạch được bán

cho các thương lái thu mua tôm tại địa phương

Trước khi thu hoạch, tiến hành thay nước 50%

trong 3 ngày liên tục để kích thích TCX lột xác

đồng loạt nhằm giảm tỷ lệ tôm mềm vỏ

Hình 11: Thu hoạch tôm tại ao nuôi Tp HCM

Năng suất tôm nuôi thay đổi theo các hộ, dao động từ 2-3,2 tấn/ha Tổng diện tích nuôi thực nghiệm TCX toàn đực của là 16.200 m2, tổng sản lượng tôm thu hoạch là 3.995 kg và năng suất trung bình cho các mô hình là 2,46 tấn/ha

Bảng 5 Kết quả nuôi thương phẩm TCX toàn đực của các mô hình ở Tây Ninh

Ao

Mô hình Diện tích (m 2 ) giống (con) Số lượng Số tôm thu hoạch (kg) Năng suất (tấn/ha) Tỷ lệ sống (%)

Hình 12 Thu hoạch TCX của hộ Nguyễn Văn Chiến ở kênh Tây

3.7 Hiệu quả kinh tế của mô hình

So sánh giữa các mô hình nuôi TCX toàn

đực cho thấy điều kiện môi trường ao nuôi,

trang thiết bị, chăm sóc quản lý,… sẽ cho kết

quả về tỷ lệ sống và năng suất ở các mô hình khác nhau Các mô hình nuôi TCX toàn đực ở Tây Ninh đạt năng suất cao nhất (2,9-3,2 tấn/ ha), kế đến là ở sông Sài Gòn (2-2,4 tấn/ha)

Trang 10

Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của mô

hình được trình bày ở Bảng 6 và 7 Trong cấu

thành tổng chi phí, chi phí con giống của các mô

hình 15-20% Điều này cũng tương tự với báo

cáo về chi phí con giống TCX của Trần Ngọc

Hải (2014) Đây cũng là một trở ngại cho phát

triển nghề nuôi TCX toàn đực Chi phí nhân công và năng lượng sử dụng cho các mô hình này không đáng kể Từ số liệu ở Bảng 6 cho thấy để nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình nuôi TCX toàn đực thì cần giảm chi phí con giống, thức ăn và trang thiết bị

Bảng 6 Tổng chi phí của các mô hình nuôi TCX toàn đực

Đơn vị (1.000đ)

Ao

mô hình (500đ/con) Con giống Thức ăn CN (32.000đ/kg) Thức ăn CB (5.000đ/kg) Nhân công Hóa chất và năng lượng Chi khác Tổng chi phí

Bảng 7 Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi TCX toàn đực

Đơn vị (1.000đ)

Ao

mô hình Năng suất (kg/ao) Chi phí Doanh thu Lãi ròng Tỷ suất lợi nhuận (%)

3.8 Tập huấn và hội thảo

Hình 13 Tập huấn kỹ thuật nuôi TCX toàn đực tại Trung tâm Khuyến nông Tỉnh Tây Ninh

Ngày đăng: 07/12/2020, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w