Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển và là một trong những ngành hàng mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và đảm bảo sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá tra, hoạt động nuôi cá tra quy mô công nghiệp cần phải đáp ứng được các quy định và tiêu chuẩn trong nước và của nước nhập khẩu.
Trang 166 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÙNG NUÔI CÁ TRA TRỌNG
ĐIỂM Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2018
Nguyễn Thanh Trúc1*, Lê Hồng Phước1, Thới Ngọc Bảo1, Đặng Ngọc Thùy1,
Trần Minh Thiện1, Đặng Thị Ngọc Hân1
TÓM TẮT
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển và là một trong những ngành hàng mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và đảm bảo sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá tra, hoạt động nuôi cá tra quy mô công nghiệp cần phải đáp ứng được các quy định và tiêu chuẩn trong nước và của nước nhập khẩu Trong đó, ảnh hưởng của các hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng môi trường là quan trọng do những tác động tiêu cực lên sản lượng thu hoạch và chất lượng sản phẩm Chính vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng nuôi cá tra tập trung ở ĐBSCL là cần thiết Mẫu quan trắc được thu ở 26 vị trí thuộc các tỉnh
An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Cần Thơ trong thời gian từ tháng 3-10/2018 với tần suất 2 lần/tháng Đối với khu vực sông Tiền và sông Hậu, nhiệt độ dao động từ 25-34 o C, pH = 7-8, DO từ 3-6,5 mg/l và TSS trung bình 52±50 mg/L Các thông số chỉ thị ô nhiễm như ammonia (0,2±0,3 mg/L), nitrite (0,039±0,048 mg/L), phosphate (0-0,051 mg/l), COD (5,2±4,1 mg/L) không
có chênh lệch lớn so với năm 2017 và hầu hết vẫn thích hợp cho nuôi cá tra Kim loại nặng (Hg,
Pb và Cd ) trong các kênh cấp ở khu vực sông Tiền và sông Hậu chưa vượt mức quy định theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT Chưa ghi nhận sự hiện diện của thuốc bảo vệ thực vật nhóm cúc và
carbamate Vi khuẩn Aeromonas tổng số có mật độ cao hơn 103 CFU/mL là 50% số lượt quan trắc
trên nhánh sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền Tần suất dương tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila từ 67-100% số lượt quan trắc Edwardsiella ictaluri dương tính với tần suất 20% số lượt
quan trắc trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5.
Từ khoá: chất lượng nước, cá tra, ĐBSCL.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
*Email: ksthanhtruc2002@yahoo.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng phát
triển Cùng với sự phát triển mạnh mẽ này nghề
nuôi cá tra đang đứng trước những thách thức,
mối nguy về ô nhiễm môi trường, con giống,
mầm bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu…
Ý thức của người dân về việc sử dụng hóa chất,
kháng sinh đúng cách trong nuôi chưa cao Việc
dập dịch, xử lý chất thải trong ao nuôi trước
khi thải ra môi trường chưa được người nuôi
quan tâm, chú trọng Những bất cập của nghề
nuôi trồng thủy sản đã và đang gây ảnh hưởng
xấu đến môi trường sinh thái ven sông, dẫn đến
nguy cơ dịch bệnh bùng phát và làm giảm hiệu
quả kinh tế trong nuôi thuỷ sản nói chung và nuôi cá tra nói riêng Thêm vào đó, ảnh hưởng của các hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng môi trường là quan trọng do những tác động tiêu cực lên sản lượng thu hoạch và chất lượng sản phẩm Trước nhu cầu thực tế của địa phương để đảm bảo công tác chỉ đạo sản xuất và xu hướng biến động thời tiết, môi trường bất thường, dịch bệnh bùng phát làm ảnh hưởng đến sản lượng nuôi cá tra, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng nuôi cá tra tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là cần thiết
Trang 267 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Lựa chọn điểm quan trắc
Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập
trung được lựa chọn dựa trên tiêu chí: (1) Phục
vụ vùng nuôi cá tra tập trung thuộc tỉnh các
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần
Thơ và Bến Tre, (2) Vùng nuôi đại diện cho
địa phương về diện tích và sản lượng, (3) Điểm
quan trắc thuộc các sông hoặc kênh rạch cấp
trực tiếp vào vùng nuôi, có tính ổn định và đại
diện cho toàn vùng Hình 1: Vị trí các điểm thu mẫu
Bảng 1 Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập trung
12 Sông Tiền - Tân Thuận Tây ĐT3 10°27’06, 105°34’05”
13 Sông Tiền-Tân Khánh Đông ĐT4 10°22’00, 105°43’43”
20 Trạm giao thông đường thủy CT4 10°18’28, 105°28’25”
Trang 368 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
2.2 Thời gian quan trắc
Từ tháng 01/2018 đến 10/2018
2.3 Thông số và tần suất quan trắc
Các thông số quan trắc: Nhiệt độ, pH, độ
trong, DO (Dissolved Oxygen), NH4+-N, NO2
N, PO43--P, H2S, TSS (Total suspended solids),
COD (Chemical Oxygen Demand), Aeromonas tổng số, Edwardsiella ictaluri
Tần suất quan trắc là 2 tuần/lần
2.4 Phương pháp phân tích Bảng 2 Danh mục các phương pháp phân tích
1 pH Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
2 Nhiệt độ Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
3 DO Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
4 COD Đun hoàn lưu mở, dùng tác nhân KMnO4, acid hóa môi trường bằng H2SO4
5 NH4+-N SMEWW 4500 - NH3 – F
6 NO2--N SMEWW 4500 – NO2 – B
7 PO43--P SMEWW 4500 - P – E
9 Edwardsiella ictaluri Khuếch đại gen
Ghi chú: SMEWW: Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010
xử lý số liệu theo phương pháp thống kê mô tả
để tính các giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá
trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn và vẽ đồ thị
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm 9
tháng đầu năm năm 2018
Theo báo cáo của các Chi cục Thủy sản tỉnh
Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An
Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ, 9
tháng đầu năm 2018, tổng diện tích nuôi cá tra
đạt trên 5.421 ha, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thu hoạch đạt 1.116 ngàn tấn, tăng 11,6% Chỉ riêng 5 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Thơ chiếm hơn 93% về diện tích và sản lượng cá tra ở ĐBSCL Trong đó hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp dẫn đầu về diện tích nuôi và sản lượng thu hoạch, chiếm 61,6% diện tích nuôi cá tra và 57,8% sản lượng thu hoạch của toàn ĐBSCL và các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long chiếm 35,1% về diện tích và 35,5% về sản lượng thu hoạch của các tỉnh ĐBSCL
Bảng 3: Diện tích nuôi, sản lượng cá tra ở ĐBSCL 9 tháng đầu năm năm 2017-2018
STT Tỉnh Diện tích Năm 2017 Sản lượng Diện tích Năm 2018 Sản lượng
Trang 469 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
3.2 Diễn biến chất lượng nước vùng nuôi
cá tra thương phẩm
* Nhiệt độ
Diễn biến nhiệt độ trong năm 2018 khu
vực ven sông Tiền, sông Hậu dao động từ 25,0
– 34,0oC Trong đó, nhiệt độ trung bình ở các
điểm quan trắc thuộc An Giang là 28,9 ± 1,3oC,
Cần Thơ là 29,3 ± 0,8oC, Đồng Tháp là 28,8 ±
0,8oC, Vĩnh Long là 29,5 ± 1,2oC và Bến Tre là
29,5 ± 1,4 oC
Nhiệt độ ghi nhận được ở tất cả các thủy vực
đều nằm trong khoảng giới hạn thích hợp cho
nuôi cá tra theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT
(25 – 32oC) Theo Boyd và Tucker (1998),
khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
cá nhiệt đới là 28 – 32oC; riêng cá tra có khả
năng chịu đựng nhiệt độ từ 16,7oC đến 40,8oC
(Dương Thúy Yên, 2003) Như vậy, nhiệt độ
quan trắc trong kênh cấp vẫn trong khoảng thích
hợp cho sự phát triển của cá Sự biến động nhiệt
độ có khả năng ảnh hưởng đến sự phân hủy và
tồn tại các chất khác trong thủy vực Ngoài ra,
theo Nguyễn Thị Kim Liên và ctv., (2016) nhiệt
độ trên nhánh sông Hậu biến động trong khoảng
27,1 - 32oC
* pH
Các điểm quan trắc thượng nguồn sông Tiền
và sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp
có giá trị pH dao động từ 6,3 – 8,0 và trung bình
7,1 ± 3,5 pH trong các kênh cấp thuộc Bến Tre
dao động từ 7,1 – 7,6, trung bình 7,38 ± 0,11,
tại Vĩnh Long dao động từ 7,1 – 8,1, trung bình
7,53 ± 0,25 và tại Cần Thơ dao động từ 7,2 –
8,3, trung bình 7,74 ± 0,28 pH trong các kênh
cấp thấp hơn 7 (QCVN 02-20 : 2014/BTNMT)
chủ yếu vào thời điểm mùa mưa Với đặc điểm
địa chất ở ĐBSCL, vào mùa khô ruộng đồng
thường bị khô nứt tạo điều kiện cho quá trình
ôxy hóa đất phèn, khi đến đầu mùa mưa nước
mưa sẽ rửa trôi phèn từ đồng ruộng ra kênh rạch
làm giảm giá trị pH trong các kênh rạch Trong
khoảng thời gian này người nuôi cần rải vôi
quanh bờ ao để phòng phèn bị rửa trôi xuống
ao, định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ
ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào
rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống Đồng thời ngâm vôi vào nước để nguội lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao
* Hàm lượng ôxy hoà tan (DO)
Hàm lượng ôxy hòa tan hầu hết đều cao hơn giới hạn cho phép theo QCVN 02-20:2014/ BNNPTNT (≥ 2 mg/L) cho cơ sở nuôi cá tra trong ao Hàm lượng DO trung bình trong các kênh cấp thuộc tỉnh An Giang đạt 4,97 ± 0,93 mg/L (3,5 – 6,5 mg/L); Cần Thơ đạt 4,11 ± 0,41 mg/L (3,0 – 5,0 mg/L); Đồng Tháp 4,33 ± 0,48 mg/L (3,5 – 5,5 mg/L); Vĩnh Long đạt 5,15 ± 0,53 mg/L (3,9 – 6,2 mg/L) và Bến Tre là 4,12 ± 0,41 mg/L (3,0 – 5,0 mg/L)
Hầu hết các thủy vực có hàm lượng DO tăng trong các tháng mùa mưa Trong các tháng mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về làm tăng lưu lượng, vận tốc dòng chảy mức độ xáo trộn trong các thủy vực cao làm tăng hàm lượng DO trong thủy vực Nguyễn Thị Kim Liên và ctv., (2016) cũng đã nhận định DO vào mùa mưa cao hơn mùa khô ở hầu hết các thủy vực được lấy mẫu nhờ vào lưu lượng dòng chảy cao, làm tăng khả năng khuếch tán ôxy vào nước ôxy hoà tan trong thủy vực là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng DO lớn hơn 5 mg/L chất lượng nước cho nuôi thủy sản được đánh giá là tốt, từ 2 – 5 mg/L được đánh giá ở mức trung bình và thấp hơn 2 mg/L được đánh giá là xấu Theo Smith (1982) (trích dẫn bởi Phạm Quốc Nguyên và ctv., 2014) hàm lượng DO cần cho quá trình trao đổi chất là 3,0 – 7,0 mg/L Do các kênh cấp quan trắc thuộc thủy vực nước chảy nên hàm lượng DO thường không giảm đến mức quá thấp
*Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Nằm ở khu vực hạ lưu của sông Mekong nên ĐBSCL hàng năm nhận được tải lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về rất lớn, do đó tần suất xuất hiện hàm lượng TSS cao vượt ngưỡng QCVN 08-MT:2015/BTNMT (< 20 mg/L) cho mục đích bảo vệ đời sống thủy sinh khá cao TSS trung bình ở các điểm quan trắc của cả khu
Trang 570 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
vực là 52 ± 50 mg/L, trong đó tỉnh An Giang là
50 ± 47 mg/L, Cần Thơ 35 ± 28 mg/L, Đồng
Tháp 61 ± 68 mg/L, Bến Tre là 58 ± 37 mg/L
và Vĩnh Long là 50 ± 35 mg/L Hàm lượng TSS
năm 2017 và 2018 tăng so với năm 2016 tại các điểm quan trắc thuộc tỉnh An Giang, Cần Thơ
và Đồng Tháp (Hình 2)
Hình 2: Diễn biến TSS (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
6
Nằm ở khu vực hạ lưu của sông Mekong nên ĐBSCL hàng năm nhận được tải lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về rất lớn, do đó tần suất xuất hiện hàm lượng TSS cao vượt
ngưỡng QCVN 08-MT:2015/BTNMT (< 20 mg/L) cho mục đích bảo vệ đời sống thủy sinh
khá cao TSS trung bình ở các điểm quan trắc của cả khu vực là 52 ± 50 mg/L, trong đó tỉnh
An Giang là 50 ± 47 mg/L, Cần Thơ 35 ± 28 mg/L, Đồng Tháp 61 ± 68 mg/L, Bến Tre là 58
± 37 mg/L và Vĩnh Long là 50 ± 35 mg/L Hàm lượng TSS năm 2017 và 2018 tăng so với
năm 2016 tại các điểm quan trắc thuộc tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp (Hình 2)
Hình 2: Diễn biến TSS (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
TSS tăng cao chủ yếu là do vào mùa mưa lưu lượng nước trên sông cao, nước chảy mạnh, lũ từ thượng nguồn đổ về mang nhiều phù sa cộng thêm vật chất bị rửa trôi từ hai bên
bờ sông Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, lượng mưa trung bình
trong năm 2017 và 2018 cao hơn mức trung bình nhiều năm Mùa mưa năm 2017 và 2018 đến
sớm và lượng mưa cao hơn so với trung bình nhiều năm, do đó lũ đầu nguồn sông Cửu Long
đến sớm và lớn hơn năm 2016 Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến hàm lượng TSS tăng
so với năm 2016 Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước trên sông Tiền ghi nhận TSS tăng cao
ở khu vực hạ nguồn do các hoạt động giao thông thủy với mật độ cao kết hợp với triều làm
khuếch tán chất rắn vào nước cũng như do xói mòn và rửa trôi vào mùa mưa (Hoàng Thị
Quỳnh Diệu và ctv., 2016)
Hàm lượng COD trung bình trong các kênh cấp quan trắc tại An Giang là 6,1 ± 4,3 mg/L và tại Cần Thơ là 4,6 ± 2,5 mg/L Trên nhánh sông Hậu, hàm lượng COD trung bình
trong các kênh cấp quan trắc tại Đồng Tháp là 5,3 ± 2,9 mg/L và hạ nguồn sông Hậu thuộc
tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long là 4,9 ± 2,5 mg/L Tần suất hàm lượng COD cao hơn 10 mg/L lần
lượt là 11%, 10%, 7% và 2,5% tại An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre và Cần Thơ, lưu vực quan
trắc tại Vĩnh Long chưa ghi nhận trường hợp nào cao hơn giới hạn cho phép Diễn biến COD
trong nguồn nước cấp vùng nuôi cá tra ghi nhận COD tăng từ tháng 6 đến tháng 9, đây là
khoảng thời gian mùa mưa, nước lũ về cuốn theo các vật chất hữu cơ
0 20 40 60 80 100 120 140 160
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TSS tăng cao chủ yếu là do vào mùa mưa
lưu lượng nước trên sông cao, nước chảy mạnh,
lũ từ thượng nguồn đổ về mang nhiều phù sa
cộng thêm vật chất bị rửa trôi từ hai bên bờ sông
Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn
Quốc gia, lượng mưa trung bình trong năm 2017
và 2018 cao hơn mức trung bình nhiều năm Mùa
mưa năm 2017 và 2018 đến sớm và lượng mưa
cao hơn so với trung bình nhiều năm, do đó lũ đầu
nguồn sông Cửu Long đến sớm và lớn hơn năm
2016 Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến
hàm lượng TSS tăng so với năm 2016 Nghiên
cứu đánh giá chất lượng nước trên sông Tiền ghi
nhận TSS tăng cao ở khu vực hạ nguồn do các
hoạt động giao thông thủy với mật độ cao kết hợp
với triều làm khuếch tán chất rắn vào nước cũng
như do xói mòn và rửa trôi vào mùa mưa (Hoàng
Thị Quỳnh Diệu và ctv., 2016)
* Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Hàm lượng COD trung bình trong các kênh cấp quan trắc tại An Giang là 6,1 ± 4,3 mg/L và tại Cần Thơ là 4,6 ± 2,5 mg/L Trên nhánh sông Hậu, hàm lượng COD trung bình trong các kênh cấp quan trắc tại Đồng Tháp là 5,3 ± 2,9 mg/L
và hạ nguồn sông Hậu thuộc tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long là 4,9 ± 2,5 mg/L Tần suất hàm lượng COD cao hơn 10 mg/L lần lượt là 11%, 10%, 7% và 2,5% tại An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre
và Cần Thơ, lưu vực quan trắc tại Vĩnh Long chưa ghi nhận trường hợp nào cao hơn giới hạn cho phép Diễn biến COD trong nguồn nước cấp vùng nuôi cá tra ghi nhận COD tăng từ tháng 6 đến tháng 9, đây là khoảng thời gian mùa mưa, nước lũ về cuốn theo các vật chất hữu cơ
Hình 3: Diễn biến hàm lượng COD (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra trong năm 2108
7
Hình 3: Diễn biến hàm lượng COD (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra trong năm 2108
Hàm lượng ammonia trong các thủy vực quan trắc dao động trong khoảng 0 – 2,389 mg/L, trung bình 0,2 ± 0,3 mg/L Trong đó, hàm lượng ammonia trung bình ở các thủy vực thuộc các nhánh sông Tiền là 0,12 ± 0,19 mg/L và nhánh sông Hậu là 0,25 ± 0,37 mg/L (Hình 4) Nhìn chung hàm lượng ammonia trung bình trong thủy vực thuộc nhánh sông Tiền thấp hơn nhánh sông Hậu (Hình 5) Tần suất xuất hiện hàm lượng ammonia cao vượt ngưỡng theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT (<0,3 mg/L) chiếm 12%, trong đó các điểm quan trắc trên thuộc An Giang chiếm 24%, Cần Thơ chiếm 20%, Đồng Tháp chiếm 11%, Vĩnh Long chiếm 0% và Bến Tre chiếm 7% số lượt quan trắc
0 5 10 15 20 25 30 35
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre Chữ S Bến đò Chùa Bến đò Sơn Đốt Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0 5 10 15 20 25 30 35
CẦN THƠ
Bến Đò Số 1 Phà Trà Uối Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 5 10 15 20 25 30 35
ĐỒNG THÁP
Kênh Long An Sông Sa Đéc Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 5 10 15 20 25 30 35
VĨNH LONG-BẾN TRE
Long Hồ Mang Thít Vũng Liêm Phú Túc Thạnh Phú Đông Tiên Long
Trang 671 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Ammonia (NH 4 + -N)
Hàm lượng ammonia trong các thủy vực
quan trắc dao động trong khoảng 0 – 2,389
mg/L, trung bình 0,2 ± 0,3 mg/L Trong đó,
hàm lượng ammonia trung bình ở các thủy vực
thuộc các nhánh sông Tiền là 0,12 ± 0,19 mg/L
và nhánh sông Hậu là 0,25 ± 0,37 mg/L (Hình
4) Nhìn chung hàm lượng ammonia trung bình
trong thủy vực thuộc nhánh sông Tiền thấp hơn nhánh sông Hậu (Hình 5) Tần suất xuất hiện hàm lượng ammonia cao vượt ngưỡng theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT (<0,3 mg/L) chiếm 12%, trong đó các điểm quan trắc trên thuộc An Giang chiếm 24%, Cần Thơ chiếm 20%, Đồng Tháp chiếm 11%, Vĩnh Long chiếm 0% và Bến Tre chiếm 7% số lượt quan trắc
Hình 4: Diễn biến Ammonia (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
8
Hình 4: Diễn biến Ammonia (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Hàm lượng ammonia trong các kênh cấp đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và 6 hàng năm và sau đó giảm dần Ngoài ra diễn biến hàm lượng ammonia nguồn nước cấp khu vực
nuôi cá tra theo năm còn cho thấy giá trị ammonia trong hai năm 2017 và 2018 không có
chênh lệch đáng kể Các điểm quan trắc thuộc trung và hạ nguồn (Cần Thơ, Bến Tre, Trà
Vinh) có giá trị ammonia thấp hơn các điểm quan trắc thượng nguồn sông Mekong (An
Giang, Đồng Tháp)
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm khoa học kỹ thuật và môi trường của Đại học
Thanh Toàn và ctv., 2007) Vậy hàm lượng ammonia ở hầu hết các điểm quan trắc đều chưa
gây ảnh hưởng đến nuôi thủy sản nước ngọt
Hình 5: Diễn biến hàm lượng Ammonia nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Nitrite (NO 2- -N)
0
0.5
1
1.5
2
2.5
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre
Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0
0.5
1
1.5
2
2.5
CẦN THƠ
Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 0.5 1 1.5 2 2.5
ĐỒNG THÁP
Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 0.5 1 1.5 2 2.5
VĨNH LONG-BẾN TRE
8
Hình 4: Diễn biến Ammonia (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Hàm lượng ammonia trong các kênh cấp đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và 6 hàng năm và sau đó giảm dần Ngoài ra diễn biến hàm lượng ammonia nguồn nước cấp khu vực
nuôi cá tra theo năm còn cho thấy giá trị ammonia trong hai năm 2017 và 2018 không có
chênh lệch đáng kể Các điểm quan trắc thuộc trung và hạ nguồn (Cần Thơ, Bến Tre, Trà
Vinh) có giá trị ammonia thấp hơn các điểm quan trắc thượng nguồn sông Mekong (An
Giang, Đồng Tháp)
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm khoa học kỹ thuật và môi trường của Đại học
Thanh Toàn và ctv., 2007) Vậy hàm lượng ammonia ở hầu hết các điểm quan trắc đều chưa
gây ảnh hưởng đến nuôi thủy sản nước ngọt
Hình 5: Diễn biến hàm lượng Ammonia nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Nitrite (NO 2- -N)
0
0.5
1
1.5
2
2.5
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre
Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0
0.5
1
1.5
2
2.5
CẦN THƠ
Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 0.5 1 1.5 2 2.5
ĐỒNG THÁP
Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 0.5 1 1.5 2 2.5
VĨNH LONG-BẾN TRE
Hàm lượng ammonia trong các kênh cấp
đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và 6 hàng năm
và sau đó giảm dần Ngoài ra diễn biến hàm
lượng ammonia nguồn nước cấp khu vực
nuôi cá tra theo năm còn cho thấy giá trị
ammonia trong hai năm 2017 và 2018 không
có chênh lệch đáng kể Các điểm quan trắc
thuộc trung và hạ nguồn (Cần Thơ, Bến Tre,
Trà Vinh) có giá trị ammonia thấp hơn các
điểm quan trắc thượng nguồn sông Mekong (An Giang, Đồng Tháp)
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm khoa học kỹ thuật và môi trường của Đại học Wilkes, hàm lượng NH4+ gây độc đối với các loài thủy sản dao động từ 0,53 – 22,8 mg/l (Võ Thanh Toàn và ctv., 2007) Vậy hàm lượng ammonia ở hầu hết các điểm quan trắc đều chưa gây ảnh hưởng đến nuôi thủy sản nước ngọt
Hình 5: Diễn biến hàm lượng Ammonia nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Trang 772 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Nitrite (NO 2 - -N)
Hàm lượng nitrite cao từ tháng 4 đến đầu
tháng 6 trong các thủy vực được quan trắc trên
cả hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Đặc biệt
trong thời điểm giao mùa, hàm lượng nitrite cao
hơn các các tháng còn lại (Hình 6) Hàm lượng
nitrite dao động từ 0 – 0,413 mg/L, trung bình 0,039 ± 0,048 mg/L Tần suất hàm lượng nitrite vượt giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại An Giang chiếm 41%, Cần Thơ chiếm 35%, Đồng Tháp chiếm 13%, Vĩnh Long chiếm 15% và Bến Tre chỉ chiếm 3%
Hình 6: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
9
Hàm lượng nitrite cao từ tháng 4 đến đầu tháng 6 trong các thủy vực được quan trắc trên cả hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Đặc biệt trong thời điểm giao mùa, hàm lượng
nitrite cao hơn các các tháng còn lại (Hình 6) Hàm lượng nitrite dao động từ 0 – 0,413 mg/L,
trung bình 0,039 ± 0,048 mg/L Tần suất hàm lượng nitrite vượt giới hạn cho phép theo
QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại An Giang chiếm 41%, Cần Thơ chiếm 35%, Đồng Tháp
chiếm 13%, Vĩnh Long chiếm 15% và Bến Tre chỉ chiếm 3%
Hình 6: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Hàm lượng nitrite trong các thủy vực thuộc An Giang và Cần Thơ cao hơn so với các điểm quan trắc thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Bến Tre và Vĩnh Long Ngoài ra chưa ghi nhận
hiện tượng tích lũy nitrite qua các năm, hàm lượng nitrite trung bình từng tháng năm 2018
xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng thời kỳ Theo Boyd và Tucker (1998), chất lượng nước cho
nuôi thủy sản có hàm lượng nitrite < 0,5 mg/L được xem là tốt và từ 0,5 – 2 mg/L được xem
là trung bình Vậy hầu hết các lượt quan trắc đều có hàm lượng nitrite được xem là ở mức
trung bình và tốt cho nuôi thủy sản
Dưới tác dụng của một số vi sinh, ammonia được hình từ quá trình amôn hoá sẽ được
sau đó là vi khuẩn Nitrobacter Các quá trình chuyển hóa ammonia đều cần sự tham gia của
ôxy và độ kiềm của nước Do đó, kết quả cho thấy hàm lượng nitrite trong thủy vực có mối
tương quan với hàm lượng oxy trong thủy vực, khi DO giảm hàm lượng nitrite tăng
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre
Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45
CẦN THƠ
Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45
ĐỒNG THÁP
Kênh Long An Sông Sa Đéc Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45
VĨNH LONG-BẾN TRE
Phú Túc Thạnh Phú Đông Tiên Long
Hàm lượng nitrite trong các thủy vực
thuộc An Giang và Cần Thơ cao hơn so với
các điểm quan trắc thuộc các tỉnh Đồng
Tháp, Bến Tre và Vĩnh Long Ngoài ra chưa
ghi nhận hiện tượng tích lũy nitrite qua các
năm, hàm lượng nitrite trung bình từng tháng
năm 2018 xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng
thời kỳ Theo Boyd và Tucker (1998), chất
lượng nước cho nuôi thủy sản có hàm lượng
nitrite < 0,5 mg/L được xem là tốt và từ 0,5 –
2 mg/L được xem là trung bình Vậy hầu hết
các lượt quan trắc đều có hàm lượng nitrite
được xem là ở mức trung bình và tốt cho nuôi thủy sản
Dưới tác dụng của một số vi sinh, ammonia được hình từ quá trình amôn hoá sẽ được tiếp tục chuyển hóa thành nitrite (NO2-) rồi thành nitrate (NO3-) nhờ vi khuẩn Nitrosomonas sau đó là vi khuẩn Nitrobacter Các quá trình chuyển hóa
ammonia đều cần sự tham gia của ôxy và độ kiềm của nước Do đó, kết quả cho thấy hàm lượng nitrite trong thủy vực có mối tương quan với hàm lượng oxy trong thủy vực, khi DO giảm hàm lượng nitrite tăng
Hình 7: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
10
Hình 7: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Phosphate (PO 43- -P)
Hàm lượng phosphate trong các thủy vực quan trắc dao động từ 0 – 0,51 mg/L, trong
đó các thủy vực thuộc An Giang có hàm lượng phosphate trung bình là 0,055 ± 0,069 mg/L,
Cần Thơ là 0,063 ± 0,075 mg/L, Đồng Tháp là 0,043 ± 0,046 mg/L, Vĩnh Long là 0,035 ±
0,021 mg/L và Bến Tre là 0,048± 0,042 mg/L Ngoài ra Hình 8 ghi nhận một số điểm như
kênh Cái Sao, Kênh Tây An, Kênh Long An, Bến đò Số 1, Bến đò Thuận Hưng có hàm lượng
phosphate vượt giới hạn theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại một số thời điểm khảo sát
trong năm (tháng 5, tháng 6 và tháng 7)
Hình 8: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Tương tự nitrite, ammmonia và COD, Hình 9 cho thấy hàm lượng phosphate không có chênh lệch đáng kể so với năm 2017, chưa ghi nhận hiện tượng tích lũy phosphate trong thủy
vực theo năm Bên cạnh đó Hình 9 còn thể hiện hàm lượng phosphate trong các thủy vực
thuộc An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ cao hơn các tỉnh còn lại
0 0.050.1
0.150.2
0.25
0.3
0.35
0.4
0.45
0.5
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre
Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0 0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
0.3
0.35
0.4
0.45
0.5
CẦN THƠ
Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45 0.5
ĐỒNG THÁP
Kênh Long An Sông Sa Đéc Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.250.3 0.35 0.4 0.45 0.5
VĨNH LONG-BẾN TRE
Phú Túc Thạnh Phú Đông Tiên Long
Trang 873 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Phosphate (PO 4 3- -P)
Hàm lượng phosphate trong các thủy vực
quan trắc dao động từ 0 – 0,51 mg/L, trong đó
các thủy vực thuộc An Giang có hàm lượng
phosphate trung bình là 0,055 ± 0,069 mg/L,
Cần Thơ là 0,063 ± 0,075 mg/L, Đồng Tháp là
0,043 ± 0,046 mg/L, Vĩnh Long là 0,035 ± 0,021
mg/L và Bến Tre là 0,048± 0,042 mg/L Ngoài ra Hình 8 ghi nhận một số điểm như kênh Cái Sao, Kênh Tây An, Kênh Long An, Bến đò Số 1, Bến
đò Thuận Hưng có hàm lượng phosphate vượt giới hạn theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại một số thời điểm khảo sát trong năm (tháng 5, tháng 6 và tháng 7)
Hình 8: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
10
Hình 7: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Phosphate (PO 43- -P)
Hàm lượng phosphate trong các thủy vực quan trắc dao động từ 0 – 0,51 mg/L, trong
đó các thủy vực thuộc An Giang có hàm lượng phosphate trung bình là 0,055 ± 0,069 mg/L, Cần Thơ là 0,063 ± 0,075 mg/L, Đồng Tháp là 0,043 ± 0,046 mg/L, Vĩnh Long là 0,035 ± 0,021 mg/L và Bến Tre là 0,048± 0,042 mg/L Ngoài ra Hình 8 ghi nhận một số điểm như kênh Cái Sao, Kênh Tây An, Kênh Long An, Bến đò Số 1, Bến đò Thuận Hưng có hàm lượng phosphate vượt giới hạn theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại một số thời điểm khảo sát trong năm (tháng 5, tháng 6 và tháng 7)
Hình 8: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Tương tự nitrite, ammmonia và COD, Hình 9 cho thấy hàm lượng phosphate không có chênh lệch đáng kể so với năm 2017, chưa ghi nhận hiện tượng tích lũy phosphate trong thủy vực theo năm Bên cạnh đó Hình 9 còn thể hiện hàm lượng phosphate trong các thủy vực thuộc An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ cao hơn các tỉnh còn lại
0
0.050.1
0.150.2
0.25
0.3
0.350.4
0.45
0.5
AN GIANG
Vĩnh Xương Cồn Khánh Hòa Vịnh Tre
Chữ S Bến đò Chùa Bến đò Sơn Đốt
Kênh Tây An Kênh Cái Sao Cầu Kênh Ông Cò
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.250.3
0.350.4
0.450.5
CẦN THƠ
Bến Đò Số 1 Phà Trà Uối
Bến đò Thuận Hưng Trạm giao thông đường thủy
0 0.05 0.1 0.15 0.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.45 0.5
ĐỒNG THÁP
Kênh Long An Sông Sa Đéc Sông Tiền - Tân Hòa Sông Tiền - Tân Khánh Đông Sông Tiền - Tân Mỹ Sông Tiền - Tân Thuận Tây
0 0.05 0.1 0.150.2 0.25 0.3 0.35 0.4 0.450.5
VĨNH LONG-BẾN TRE
Long Hồ Mang Thít Vũng Liêm Phú Túc Thạnh Phú Đông Tiên Long
Tương tự nitrite, ammmonia và COD, Hình
9 cho thấy hàm lượng phosphate không có
chênh lệch đáng kể so với năm 2017, chưa ghi
nhận hiện tượng tích lũy phosphate trong thủy
vực theo năm Bên cạnh đó Hình 9 còn thể hiện hàm lượng phosphate trong các thủy vực thuộc
An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ cao hơn các tỉnh còn lại
Hình 9: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
11
Hình 9: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng lân hòa tan thích hợp cho ao nuôi cá là 0,005 – 0,2 mg/L Đây là nguồn dinh dưỡng để thực vật phù du phát triển, tảo sẽ không phát triển khi phosphate thấp hơn 0,005 mg/L và sẽ nở hoa khi cao hơn 0,02 mg/L Kết quả ghi nhận hàm lượng phosphate có xu hướng tăng khi COD tăng Phosphate là một trong những thông
số chất lượng nước thể hiện sự phú dưỡng của thủy vực do đó hàm lượng phosphate cao cho thấy thủy vực có sự ô nhiễm hữu cơ, ngược lại khi hàm lượng phosphate thấp thực vật phù du
sẽ bị hạn chế gây thiếu thức ăn tự nhiên trong thủy vực
Năm 2018 thuốc bảo vệ thực vật được quan trắc tần suất 2 lần trong năm, vào mùa khô (tháng 4) và mùa mưa khi nước lũ rút (tháng 10) với các họ thuốc bảo vệ thực vật gốc carbamate và họ cúc Kết quả cho thấy trong các thủy vực được quan trắc chưa ghi nhận sự hiện diện của các loại thuốc bảo vệ thực vật kể trên và chưa ghi nhận sự hiện diện của Hg, Pb
và Cd
Vi khuẩn Aeromonas trong nguồn nước có nhiều khả năng gây bệnh trên cá, đây là nhóm vi khuẩn cơ hội khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh Mật độ Aeromonas tổng số
trung bình toàn vùng quan trắc là 1,5x103 ± 2,9x103 CFU/mL Tỷ lệ mật độ Aeromonas cao
hơn 103 CFU/mL là 50% số lượt quan trắc trên nhánh sông Hậu và 18% trên nhánh sông
Tiền Trong đó ghi nhận các thủy vực thuộc Cần Thơ có tần suất mật độ Aeromonas cao hơn
103 CFU/mL cao hơn các tỉnh còn lại (chiếm 56% số lần quan trắc của tỉnh), trung bình dao động 1,8x103 ± 2,2x103 CFU/mL Aeromonas tổng số trong các kênh cấp được quan trắc
thuộc tỉnh An Giang là 2,3x103 ± 3,8x103 CFU/mL, Bến Tre là 4,8x102 ± 8,2x102 CFU/mL, Vĩnh Long là 2,2x102 ± 3,2x102 CFU/mL và Đồng Tháp là 1,2x103 ± 2,5x103 CFU/ml
Mật độ Aeromonas tổng số trong các thủy vực thuộc An Giang, Cần Thơ và Đồng
Tháp năm 2018 xấp xỉ bằng trung bình cùng kỳ nhiều năm Tuy nhiên Bảng 3 cho thấy tần
suất dương tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila khá cao, từ 67-100% số lượt quan trắc
Trang 974 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng
lân hòa tan thích hợp cho ao nuôi cá là 0,005
– 0,2 mg/L Đây là nguồn dinh dưỡng để thực
vật phù du phát triển, tảo sẽ không phát triển
khi phosphate thấp hơn 0,005 mg/L và sẽ nở
hoa khi cao hơn 0,02 mg/L Kết quả ghi nhận
hàm lượng phosphate có xu hướng tăng khi
COD tăng Phosphate là một trong những thông
số chất lượng nước thể hiện sự phú dưỡng của
thủy vực do đó hàm lượng phosphate cao cho
thấy thủy vực có sự ô nhiễm hữu cơ, ngược lại
khi hàm lượng phosphate thấp thực vật phù du
sẽ bị hạn chế gây thiếu thức ăn tự nhiên trong
thủy vực
* Các chỉ tiêu về kim loại nặng và thuốc
bảo vệ thực vật
Năm 2018 thuốc bảo vệ thực vật được quan
trắc tần suất 2 lần trong năm, vào mùa khô
(tháng 4) và mùa mưa khi nước lũ rút (tháng 10)
với các họ thuốc bảo vệ thực vật gốc carbamate
và họ cúc Kết quả cho thấy trong các thủy vực
được quan trắc chưa ghi nhận sự hiện diện của
các loại thuốc bảo vệ thực vật kể trên và chưa
ghi nhận sự hiện diện của Hg, Pb và Cd
* Các chỉ tiêu về vi sinh
Vi khuẩn Aeromonas trong nguồn nước có
nhiều khả năng gây bệnh trên cá, đây là nhóm
vi khuẩn cơ hội khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ
gây bệnh Mật độ Aeromonas tổng số trung bình
toàn vùng quan trắc là 1,5x103 ± 2,9x103 CFU/
mL Tỷ lệ mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/
mL là 50% số lượt quan trắc trên nhánh sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền Trong đó ghi nhận các thủy vực thuộc Cần Thơ có tần suất
mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/mL cao hơn các tỉnh còn lại (chiếm 56% số lần quan trắc của tỉnh), trung bình dao động 1,8x103 ± 2,2x103
CFU/mL Aeromonas tổng số trong các kênh cấp
được quan trắc thuộc tỉnh An Giang là 2,3x103 ± 3,8x103 CFU/mL, Bến Tre là 4,8x102 ± 8,2x102
CFU/mL, Vĩnh Long là 2,2x102 ± 3,2x102 CFU/
mL và Đồng Tháp là 1,2x103 ± 2,5x103 CFU/ml
Mật độ Aeromonas tổng số trong các thủy
vực thuộc An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp năm 2018 xấp xỉ bằng trung bình cùng kỳ nhiều năm Tuy nhiên Bảng 3 cho thấy tần suất dương
tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila khá
cao, từ 67-100% số lượt quan trắc
Hình 10: Diễn biến Aeromonas tổng (CFU/mL) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
12
Hình 10: Diễn biến Aeromonas tổng (CFU/mL) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm
2016-2018
E ictaluri là tác nhân gây bệnh gan thận mủ, gây tỷ lệ chết cao Trong năm 2017 chỉ
ghi nhận rải rác ở một số kênh cấp dương tính với vi khuẩn E ictaluri và xuất hiện nhiều
trong mùa mưa, đặc biệt đợt quan trắc 9/10/2017 Tuy nhiên, trong năm 2018 ghi nhận sự
xuất hiện E, ictaluri với tần suất 20% số lượt quan trắc trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5
và tập trung nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5 (Bảng 3)
Bảng 3: Tần suất dương tính với Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila
A hydrophila E ictaluri
An Giang
0
5000
10000
15000
20000
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
E ictaluri là tác nhân gây bệnh gan thận
mủ, gây tỷ lệ chết cao Trong năm 2017 chỉ ghi
nhận rải rác ở một số kênh cấp dương tính với
vi khuẩn E ictaluri và xuất hiện nhiều trong
mùa mưa, đặc biệt đợt quan trắc 9/10/2017 Tuy
nhiên, trong năm 2018 ghi nhận sự xuất hiện E,
ictaluri với tần suất 20% số lượt quan trắc trong
thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5 (Bảng 3)
Trang 1075 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Bảng 3: Tần suất dương tính với Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila
An Giang
Cần Thơ
Trạm giao thông đường thủy 13/15 1/11 Tháng 4
Đồng Tháp
Sông Tiền - Tân Khánh Đông 12/15 2/11 Tháng 3,4
Sông Tiền - Tân Thuận Tây 10/15 5/11 Tháng 3,4,5,7,8
Vĩnh Long
Bến Tre
3.3 Đánh giá chung
Bảng 4 cho thấy giá trị pH thấp hơn 7 chỉ gặp
ở An Giang và Đồng Tháp, chiếm tỷ lệ 12,5%,
tập trung vào khoảng thời gian tháng 6 đến
tháng 10 Ngoài ra nồng độ các chất ammonia,
nitrite, phosphate, COD cao rải rác các thời
điểm trong năm, tuy nhiên các thông số này đạt
giá trị cao nhất tập trung trong khoảng thời gian
từ tháng 5 và tháng 6 Các thông số vi sinh như
Aeromonas hydrophilla dương tính hầu hết các
thời điểm khảo sát trong năm (86,2% dương
tính) và Edwardsiella ictaluri (23,8% dương
tính) từ tháng 2 đến tháng 8 Nhìn chung, các thông số chỉ thị ô nhiễm có tỷ lệ vượt ngưỡng đạt giá trị cao lần lượt là nitrite, ammonia, TSS tương ứng với 25,5%, 15,2% và 12,7%