1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ước tính thông số di truyền ở hai lứa tuổi khác nhau trên tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) chọn giống theo tính trạng tăng trưởng

9 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 320,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này trình bày các thông số di truyền trên tôm càng xanh bao gồm hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa các tính trạng kích thước cơ thể (trọng lượng thân, chiều dài chuẩn, chiều dài giáp đầu ngực, chiều dài thân, chiều rộng giáp đầu ngực, chiều rộng thân) ước tính ở hai lứa tuổi khác nhau là tuần nuôi thứ 10 và tuần nuôi thứ 18.

Trang 1

3 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - 1 - THÁNG 7/2013

1 Phịng Sinh Học Thực Nghiệm, Viện nghiên cứu Nuơi trồng Thủy sản 2

Email: dinhhungria2@gmail.com

ƯỚC TÍNH THƠNG SỐ DI TRUYỀN Ở HAI LỨA TUỔI

KHÁC NHAU TRÊN TƠM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) CHỌN GIỐNG THEO TÍNH TRẠNG TĂNG TRƯỞNG

Đinh Hùng1

TĨM TẮT

Nghiên cứu này trình bày các thơng số di truyền trên tơm càng xanh bao gồm hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa các tính trạng kích thước cơ thể (trọng lượng thân, chiều dài chuẩn, chiều dài giáp đầu ngực, chiều dài thân, chiều rộng giáp đầu ngực, chiều rộng thân) ước tính ở hai lứa tuổi khác nhau là tuần nuơi thứ 10 và tuần nuơi thứ 18 Số liệu sử dụng trong báo cáo báo này được thu

từ 4.650 cá thể (bao gồm 2.432 và 2.218 cá thể thu hoạch lần lượt ở tuần thứ 10 và thứ 18) thuộc thế

hệ F3 với thơng tin di truyền của 18.387 cá thể thuộc 4 thế hệ trong chương trình chọn giống tơm càng xanh Ước tính hệ số di truyền các tính trạng kích thước cơ thể ở mức trung bình (0,06 – 0,11

và 0,11 – 0,22 lần lượt ở tuần thứ 10 và thứ 18), khác biệt hệ số di truyền ước tính ở hai lứa tuổi khơng cĩ ý nghĩa thống kê Tương quan di truyền giữa các tính trạng trong cùng một lứa tuổi và của từng tính trạng giữa hai lứa tuổi khác nhau là tương quan chặt Kết quả nghiên cứu cho phép kết luận cơng tác chọn giống tơm càng xanh theo tính trạng trọng lượng thân cĩ thể tiến hành hiệu quả

ở giai đoạn sớm hơn so với tuổi thu-hoạch đang áp dụng

Từ khĩa: Macrobrachium rosenbergii, hệ số di truyền, tương quan di truyền, tuổi khác nhau

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chọn giống tơm càng xanh (Macrobrachium

rosenbergii) theo tính trạng tăng trưởng tiến

hành tại Viện nghiên cứu Nuơi trồng thủy sản

II dựa trên số liệu trọng lượng thânở tuổi thu

hoạch (market age, tuần nuơi thứ 10 đến 18)

Những nghiên cứu trước đây trên cá rơ phi

(Oreochromis niloticus) (Rutten và ctv, 2004)

và cá chép (Cyprinus carpio) (Ninh và ctv,

2011) cho thấy tương quan di truyền các tính

trạng kích thước cơ thể giữa các lứa tuổi khác

nhau là tương đối cao Chọn giống cĩ thể được

tiến hành ở tuổi sau-thu-hoạch (post-market

age) nhằm kết hợp các tính trạng như tính trạng

kháng bệnh hoặc các tính trạng liên quan đến

chất lượng sinh sản trong cùng một chương

trình chọn giống vì các tính trạng này thường

biểu hiện ở giai đoạn sau-thu-hoạch Tương

quan di truyền tính trạng trọng lượng thân giữa tuổi thu-hoạch và tuổi sau-thu-hoạch cũng thấp

trong các nghiên cứu trên tơm sú P monodon (Coman và ctv, 2010) và trên tơm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Argue và ctv, 2000)

Những nghiên cứu kể trên bước đầu cho phép kết luận chọn giống ở giai đoạn sau-thu-hoạch khơng đem lại nhiều lợi ích như theo lý thuyết Ngược lại, chọn giống cũng cĩ thể được tiến hành ở tuổi trước-thu-hoạch (pre-market age) nếu tương quan di truyền giữa trọng lượng

ở tuổi thu-hoạch và trước-thu-hoạch là cao Chọn lọc ở giai đoạn sớm sẽ đem lại lợi ích dễ nhận biết là giảm chi phí liên quan đến thức ăn, vật liệu, nhân cơng vv Tuy nhiên, lợi ích to lớn hơn là cĩ thể nâng cao hiệu quả chọn giống bằng cách rút ngắn khoảng cách chọn giống (generation interval) vì vậy cĩ thể chọn lọc

Trang 2

được nhiều thế hệ hơn trong cùng khoảng thời

gian Ở giai đoạn trước-thu-hoạch, tỷ lệ sống

đạt được cũng luôn cao hơn vì vậy có thể nâng

cường độ chọn lọc (selection intensity) và qua

đó sẽ nâng cao hiệu quả chọn giống Trong

nghiên cứu trên cá hồi vân (Oncorhynchus

mykiss), Su và ctv (2002) công bố tương quan

di truyền giữa trọng lượng thân ở các lứa tuổi

trước-thu-hoạch cao hơn ở các lứa tuổi

sau-thu-hoạch Hiện tượng này cũng xảy ra trên

tôm sú (Coman và ctv, 2010; Kenway và ctv,

2006) và tôm thẻ chân trắng (Pérez-Rostro và

Ibarra, 2003) với tương quan di truyền giữa

tuổi thu-hoạch và tuổi trước-thu-hoạch ở mức

trung bình - khá (0,56 - 0,77) Những kết quả

trên cho thấy ở một số loài chọn giống có thể

tiến hành ở giai đoạn trước-thu-hoạch tuy

nhiên cần khảo sát ở các lứa tuổi khác nhau để

đạt được kết quả mong muốn

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm kiểm

chứng giả thuyết: chọn giống trên tôm càng

xanh có thể tiến hành hiệu quả ở tuổi

trước-thu-hoạch (10 tuần) mà không cần phải nuôi tôm

đến tuổi thu-hoạch (18 tuần) và thông qua đó

nâng cao hiệu quả của chương trình chọn giống

hiện tại

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu và sản xuất gia đình

Vật liệu ban đầu dùng trong chương trình

chọn giống bao gồm hai nhóm tôm được thu

thập từ hai hệ thống sông tách biệt ở Việt Nam

bao gồm nhóm Mekong và nhóm Đồng Nai (thu

thập từ sông Mekong và sông Đồng Nai) và

nhóm tôm thứ ba là nhóm tôm nhập từ Malaysia

(nhóm Malaysia) Để tạo vật liệu ban đầu (F0)

có tính đa dạng di truyền cao cho chọn giống

chúng tôi tiến hành lai tổ hợp hoàn toàn bao

gồm 9 (3 x 3) phép lai Trong những thế hệ tiếp

theo (F1 đến F3) các phép lai được tiến hành

giữa những cá thể không liên quan về mặt di

truyền nhằm tạo ra các gia đình cùng cha cùng

mẹ (full-sib) và các gia đình cùng cha khác mẹ

(paternal half-sib)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Kỹ thuật ương riêng rẽ các gia đình

Ấu trùng từ các gia đình được ương nuôi riêng rẽ trong các xô nhựa 70 l (F0 đến F2) hoặc trong bể composite 1 m3 (F3) Ấu trùng tôm càng xanh được ương theo qui trình quy trình nước trong hở có sử dụng vi sinh Trong 10 ngày đầu, ấu trùng được cho ăn 3 lần/ngày bằng

ấu trùng Artemia mới nở sau đó là sự kết hợp

giữa ấu trùng artemia và thức ăn chế biến (làm

từ hỗn hợp trứng gà, bột sữa, thịt tôm, mực, dầu

cá, vitamin, …vvv…) (Thành và ctv, 2009)

Hậu ấu trùng (postlarvae, PL) thường bắt đầu xuất hiện sau từ 20 đến 30 ngày trong các bể ương

ấu trùng và tất cả ấu trùng chuyển hoàn toàn thành

PL sau từ 25 đến 40 ngày ương nuôi.Hậu ấu trùng

từ các gia đình được ương riêng rẽ trong các bể composite 1m3 trong 2 tuần tiếp theo với mật độ là 1.000 PL/m3 sử dụng thức ăn viên dùng cho tôm

sú ở giai đoạn ương giống Sau 2 tuần, các gia đình được chuyển ra ương tiếp trong các giai lưới mịn kích thước 4 m2 trong ao đất ở mật độ ương 150 con/m2 sử dụng thức ăn viên 40% protein dành cho tôm càng xanh của công ty Uni-President

2.2.2 Kỹ thuật đánh dấu

Sau từ 6 đến 8 tuần nuôi trong giai, tôm giống từ các gia đình đạt kích thước/trọng lượng phù hợp cho đánh dấu (khoảng 2 g) sẽ được đánh dấu theo gia đình (2 dấu, 5 màu khác nhau) bằng phẩm màu huỳnh quang (VIE) theo

mô tả chi tiết trong nghiên cứu của Hùng và ctv,

(2012) 2.2.3 Kỹ thuật nuôi chung trong ao Sau khi đánh dấu, khoảng 120 cá thể bắt ngẫu nhiên từ mỗi gia đình sẽ được thả nuôi chung trong 2 ao (Ao 1 và Ao 2) có diện tích 3.500 m2/

ao Giai đoạn nuôi chung này không cần sục khí, chất lượng nước ao nuôi được kiểm tra thường xuyên và thay nước được tiến hành định kỳ 2 lần/ tháng theo thủy triều hoặc thay nước khi cần thiết bằng máy bơm Thức ăn sử dụng là thức ăn viên dành cho tôm càng xanh có hàm lượng protein 35% ở giai đoạn đầu và giảm xuống còn khoảng 30% ở tháng nuôi cuối cùng trước khi thu hoạch

Trang 3

5 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - 1 - THÁNG 7/2013

2.2.4 Thu thập số liệu

Thời gian nuơi được thiết kế khoảng 10 đến

18 tuần(trọng lượng trung bình khi thu hoạch

khoảng 50 g) mơ phỏng theo quy trình nuơi tơm

trong thực tế tại nơng hộ Khi thu hoạch tất cả

tơm được thu hoạch bằng lưới, sau đĩ sẽ được

cân (trọng lượng thân – BW, g), đo (chiều dài

chuẩn – BL, cm; chiều dài giáp đầu ngực – CL,

cm; chiều dài thân – AL, cm; chiều rộng giáp

đầu ngực – CW, cm; chiều rộng thân – AW, cm),

tổ hợp dấu, kiểu hình trên tơm đực (mtype) và

tình trạng sinh sản trên tơm cái (ftype), giới tính

(sex; đực, cái), ao nuơi (pond; Ao 1, Ao 2), thời

gian nuơi (age, ngày) Kiểu hình tơm đực bao

gồm: càng xanh (BC), càng cam (OC), đực nhỏ

(SM) Tình trạng sinh sản trên tơm cái bao gồm:

trứng bụng (BF), trứng đầu (MOF) và khơng

trứng (SF) Trong thế hệ F3,Ao 1 (2.432 cá thể)

và Ao 2 (2.218 cá thể) lần lượt được thu hoạch

ở tuần nuơi thứ 10 tuần nuơi thứ 18 Các cá thể

trong hai ao đại diện cho tất cả các gia đình cĩ

trong thế hệ chọn giống F3 được sinh ra từ 91

con tơm đực và 170 con tơm cái

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Mơ hình tốn

Tất cả các tính trạng kích thước cơ thể

trước khi phân tích đều được khảo sát phân bố

bằng mơ hình đường thẳng tuyến tính (General

Linear Model, GLM) với phần mềm SAS (SAS

9.1 Institute, Inc, 1997) Do sự sai khác lớn về

trọng lượng trung bình giữa các kiểu hình trên

tơm đực nên tính trạng trọng lượng thân tạo ra

phân bố khơng chuẩn (khơng theo phân bố hình

chuơng) vì vậy tính trạng này được chuyển đổi

theo các dạng như logarit tự nhiên, căn bậc hai,

căn bặc 3 và thuật tốn box-cox trước khi phép

chuyển đổi căn bậc hai (square root - sqrt) được

lựa chọn Các yếu tố ảnh hưởng cố định (fixed

effects) được trình bày trong Bảng 1, mức độ

ý nghĩa của từng yếu tố được kiểm định bằng

kiểm định Wald (Wald tests) với phần mềm

AS-Reml (Gilmour và ctv 2009) Mơ hình tốn ước

tính phương sai, hiệp phương sai như sau:

y ijklmn = µ + S i + L j + Mtype k (M) + Ftype l (F) + Age ijklmn (S,P) + a m + d n + e ijklmn [1]

Trong đĩ y ijklmn là kích thước cơ thể, µ là trung bình chung, S i là ảnh hưởng cố định của

giới tính (đực hoặc cái), L j là ảnh hưởng cố định

của dịng (chọn lọc hoặc đối chứng), Mtype k

ảnh hưởng cố định của kiểu hình (k = 1, 2, 3) đối với tơm đực (M), Ftype l là tình trạng sinh

sản (l = 1, 2, 3) đối với tơm cái (F), P m là ảnh

hưởng cố định của ao (m = 1,2), Age ijklmn là ảnh

hưởng cố định của ngày nuơi, a m là ảnh hưởng

di truyền cộng gộp ngẫu nhiên, d n là ảnh hưởng

ngẫu nhiên của con mẹ, e ijklmn là sai số ngẫu

nhiên

2.2.2 Ước tính hệ số di truyền và tương quan giữa các tính trạng

Hệ số di truyền được ước tính từ cơng thức [1] Tương quan kiểu hình và tương quan di truyền được ước tính từ phân tích phương sai hai hoặc ba tính trạng trong đĩ cĩ tính trạng trọng lượng thân nhằm hạn chế sai số (Kennedy, 1990) Hệ số di truyền được tính tốn theo cơng

2 2

ˆ ˆ ˆ

ˆ

+ +

con mẹ và các yếumơi trường nuơi chung được

e 2 c 2

2 c 2

ˆ ˆ

c

σ σ σ

σ

+ +

a

σ phương sai

di truyền cộng gộp, phương sai ảnh hưởng chung của con mẹ và mơi trường ( 2

c

σ ) và sai số

của mơ hình ( 2

e

σ ) Tương quan di truyền, kiểu

hình được tính tốn theo cơng thức: σ 2 σ 2

σ

=

trong đĩ σ12 là hiệp phương sai di truyền và kiểu hình giữa 2 tính trạng, 2

1

2

σ lần lượt là

phương sai di truyền và kiểu hình của tính trạng

1 và tính trạng 2

III KẾT QUẢ

Các yếu tố ảnh hưởng cố định đến mơ hình tốn được trình bày trong Bảng 1 trong đĩ giới tính (sex), dịng (line), kiểu hình tơm đực (mtype) và tình trạng sinh sản tơm cái (ftype)

cố định trong giới tính cĩ ảnh hưởng cĩ ý nghĩa đến hầu hết các tính trạng

12

Trang 4

Thống kê các tính trạng ở 2 lứa tuổi khác

nhau trược trình bày trong Bảng 2 Trọng lượng

trung bình tăng 64,6% từ tuần nuôi thứ 10 đến

tuần thứ 18 Các tính trạng khác cũng tăng trong

cùng khoảng thời gian nhưng ở mức thấp hơn từ

Bảng 1: Ảnh hưởng cố định của các yếu tố ở 2 lứa tuổi khác nhau

Tuần 10 Tuần 18 Tuần 10 Tuần 18 Tuần 10 Tuần 18 Tuần 10 Tuần 18 Tuần 10 Tuần 18 Tuần 10 Tuần 18

Sex 1,9 8,5 ** 12,7 *** 5,6 ** 4,8 * 6,2 ** 14,7 *** 4,0 * 5,3 * 10,0 *** 7,0 ** 0,5 Line 37,8 *** 49,3 *** 30,1 *** 46,1 *** 26,6 *** 48,7 *** 25,5 *** 37,2 *** 26,7 *** 38,2 *** 33,0 *** 46,3 ***

Mtype(M) 476,5 *** 201,8 *** 571,9 *** 272,6 *** 386,2 *** 277,3 *** 452,9 *** 215,9 *** 501,2 *** 246,7 *** 395,0 *** 221,5 ***

Ftype(F) 13,7 *** 11,8 *** 14,0 *** 4,0 * 7,1 *** 6,7 ** 13,8 *** 1,2 0,7 7,0 *** 71,1 *** 136,8 ***

Age(Sex,Pond) 3,0 7,2 ** 4,3 * 5,3 ** 4,4 * 5,1 * 3,6 * 4,4 * 2,9 7,2 *** 4,1 * 2,5

*: P<0,05; **: P<0,01; ***: P<0,001; Kết quả trình bày trong bảng là hệ số ước tính của kiểm định Wald

7,5 đến 22,7% Hệ số phân tán khá cao (48%) đối với tính trạng trọng lượng cơ thể nhưng thấp hơn đối với các tính trạng khác (10,2 đến 18,7%) Hệ số phân tán giảm nhẹ từ tuần thứ 10 đến tuần thứ 18 đối với tất cả các tính trạng

Bảng 2: Cỡ mẫu (N), giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD) và hệ số phân tán (CV, %)

các tính trạng kích thước cơ thể theo lứa tuổi

BW Tuần 10 2.432 30,8 14,8 48,0

Tuần 18 2.218 50,7 24,4 48,1

BL Tuần 10 2.432 9,0 1,3 13,9

Tuần 18 2.218 10,1 1,3 12,8

CL Tuần 10 2.432 3,7 0,7 18,0

Tuần 18 2.218 4,4 0,7 16,9

AL Tuần 10 2.432 5,3 0,7 12,4

Tuần 18 2.218 5,7 0,6 10,2

CW Tuần 10 2.432 2,2 0,4 18,7

Tuần 18 2.218 2,7 0,5 17,2

AW Tuần 10 2.432 1,7 0,2 11,6

Tuần 18 2.218 2,0 0,2 11,3

Sự khác nhau giữa tỷ lệ phần trăm các

nhóm kiểu hình tôm đực và tình trạng sinh sản

tôm cái ở 2 lứa tuổi khác nhau được trình bày

trong Bảng 3 Sự khác nhau về tỷ lệ phần trăm

giữa 3 nhóm liên quan đến tình trạng sinh sản

khác nhau (MOF, BF và SF) ở tôm cái là không lớn giữa tuần nuôi thứ 10 và tuần thứ 18 Ngược lại, sự khác nhau giữa 3 nhóm kiểu hình (SM,

OC và BC) ở tôm đực ở cả tuần nuôi thứ 10 và tuần thứ 18 là khá lớn

Bảng 3: Tỷ lệ (%) kiểu hình tôm đực và tình trạng sinh sản tôm cái ở 2 lứa tuổi khác nhau

Giới tính Cái Đực Nhóm MOF BF SF Tổng SM OC BC Tổng Tuần 10 29,5 30,0 40,5 100,0 4,7 75,7 19,6 100,0 Tuần 18 33,3 32,3 34,4 100,0 3,0 39,0 58,0 100,0

Trang 5

7 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - 1 - THÁNG 7/2013

Tơm đực nhỏ (SM) xuất hiện với tỷ lệ nhỏ

(3 – 5%) ở cả 2 lứa tuổi cho thấy hầu hết tơm đực

đã vượt qua giai đoạn tơm nhỏ ở tuần nuơi thứ

10 nhưng tỷ lệ này khơng giảm đáng kể ở 8 tuần

nuơi sau đĩ và luơn cịn một tỷ lệ nhất định tơm

nhỏ ở tuổi thu hoạch Cĩ sự chuyển dịch từ tơm

đực càng cam (OC) thành tơm đực càng xanh

(BC) trong thời gian trên Ở tuần 10, khi quần

đàn tơm đực đang ở giai đoạn tăng trưởng nhanh

thì hầu hết tơm đực (76%) là càng cam trong khi

ở tuần nuơi thứ 18 là lứa tuổi thu-hoạch, phần

lớn tơm đực (58%) là càng xanh (BC) Điều này

cho thấy cùng với thời gian nuơi, tỷ lệ tơm đực

càng cam tăng lên, đạt đến ngưỡng sau đĩ giảm

dần Trong khi đĩ, tỷ lệ tơm càng xanh tăng dần

và đạt ngưỡng ở giai đoạn thu hoạch

Hệ số di truyền các tính trạng kích thước cơ thể ở cả 2 lứa tuổi đều ở mức trung bình (Bảng 4) và nằm trong khoảng 0,06 đến 0,11; 0,11 đến 0,22 lần lượt ở tuần thứ 10 và tuần thứ 18 Hệ số

di truyền trọng lượng thân ở tuần thứ 18 ở mức trung bình cho phép dự đốn tính trạng này cĩ thể được cải thiện thơng qua chọn giống Ảnh hưởng của con mẹ và yếu tố mơi trường nuơi chung đĩng vai trị rất nhỏ khoảng 0,00 đến 0,03 đối với tất cả các tính trạng Hệ số di truyền của các tính trạng ở tuần thứ 18 đều cao hơn ở tuần nuơi thứ 10 nhưng sai khác khơng cĩ ý nghĩa

(P > 0,05) ngoại trừ tính trạng chiều rộng thân

(AW)

Bảng 4: Phương sai (V a , V c , V e ), hệ số di truyền (h 2 ) và ảnh hưởng con mẹ và các yếu tố nuơi chung (c 2 ) của các tính trạng kích thước cơ thể ở tuần nuơi thứ 10 và 18.

Sqrt(BW) Tuần 10 0,0533 0,0000 0,4519 0,11±0,02 0,00±0,00

Tuần 18 0,1201 0,0176 0,6514 0,15±0,07 0,02±0,03

BL Tuần 10 0,0492 0,0006 0,4436 0,10±0,04 0,00±0,07

Tuần 18 0,0878 0,0105 0,4505 0,16±0,07 0,02±0,03

CL Tuần 10 0,0091 0,0000 0,1366 0,06±0,01 0,00±0,00

Tuần 18 0,0310 0,0007 0,1230 0,20±0,08 0,00±0,03

AL Tuần 10 0,0138 0,0064 0,1660 0,07±0,04 0,03±0,07

Tuần 18 0,0164 0,0041 0,1314 0,11±0,07 0,03±0,03

CW Tuần 10 0,0057 0,0007 0,0476 0,10±0,04 0,01±0,07

Tuần 18 0,0122 0,0000 0,0535 0,19±0,03 0,00±0,00

AW Tuần 10 0,0023 0,0007 0,0203 0,10±0,04 0,03±0,07

Tuần 18 0,0063 0,0000 0,0219 0,22±0,04 * 0,00±0,00

*: P < 0,05; V a : phương sai di truyền cộng gộp, V c : phương sai ảnh hưởng con mẹ và các yếu

tố nuơi chung, V e : phương sai ảnh hưởng gây ra do các yếu tố mơi trường.

Tương quan di truyền và kiểu hình giữa các

tính trạng ở 2 lứa tuổi khác nhau được trình bày

trong Bảng 5 Nhìn chung, tương quan di truyền ở

tuần nuơi thứ 10 và 18 đều ở mức cao gần như bằng

1 và khơng cĩ sự sai khác cĩ ý nghĩa giữa tuần thứ

10 (0,65 đến 0,99) so với tuần 18 (0,89 đến 0,98)

Bảng 5: Tương quan kiểu hình (phía trên) và di truyền (dưới) giữa các tính trạng theo lứa tuổi

Sqrt(BW) 0,67±0,04 0,77±0,01 0,68±0,01 0,77±0,01 0,68±0,01

BL 0,99±0,32 0,87±0,02 0,88±0,01 0,77±0,01 0,73±0,01

CL 0,92±0,08 0,97±0,04 0,54±0,03 0,70±0,01 0,67±0,01

AL 0,99±0,27 0,99±0,09 0,99±0,04 0,64±0,01 0,61±0,01

CW 0,92±0,08 0,72±0,03 0,99±0,02 0,65±0,15 0,76±0,01

AW 0,99±0,27 0,86±0,13 0,87±0,11 0,86±0,02 0,83±0,12

Tuần 18

Trang 6

Tương tự tương quan di truyền, tương quan

kiểu hình giữa các tính trạng ở tuần thứ 10 (0,54

đến 0,88) và tuần thứ 18 (0,79 to 0,94) cũng

đều cao mặc dù thấp hơn so với tương quan di

truyền ở 2 lứa tuổi

Bảng 6: Tương quan di truyền (r g ) và ảnh hưởng

chung của con mẹ và môi trường nuôi (r c ) của

các tính trạng ở tuần thứ 10 và tuần thứ 18

Sqrt(BW) 0,97±0,19 0,99±0,03

BL 0,98±0,26 0,94±0,03

CL 0,93±0,22 0,97±0,03

AL 0,98±0,25 0,81±0,03

CW 0,98±0,30 0,85±0,03

AW 0,99±0,26 0,96±0,03

Tương quan di truyền của các tính trạng ở 2

lứa tuổi cũng cao, gần như bằng 1 (Bảng 6) mặc

dù sai số chuẩn trong các giá trị ước tính này

khá cao Tương quan di truyền về trọng lượng

thân giữa tuần thứ 10 và thứ 18 cũng ở mức cao

(0,97±0,19)

IV THẢO LUẬN

Tương quan di truyền cao giữa các tính

trạng kích thước cơ thể ở từng lứa tuổi và tính

trạng trọng lượng thân giữa hai lứa tuổi trên tôm

càng xanh trong nghiên cứu này tương tự với

kết quả được công bố trên tôm thẻ chân trắng

(Pérez-Rostro và Ibarra, 2003) và tôm càng

xanh (Kitcharoen và ctv, 2011) Kết quả nghiên

cứu của Hùng và ctv (in review) trên tôm càng

xanh cũng cho thấy tương quan di truyền cao

về trọng lượng thân giữa 2 giới tính ở tuổi

thu-hoạch Những kết quả này có thể do các tính

trạng kích thước cơ thể liên quan di truyền chặt

chẽ với nhau và được điều khiển bởi cùng một

nhóm gien Tương quan di truyền gần bằng 1

giữa hai lứa tuổi trên tôm càng xanh cao hơn so

với tôm sú P monodon (Coman và ctv, 2010; Kenway và ctv, 2006) Trong nghiên cứu trên cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) Su và ctv (2002)

khi theo dõi trọng lượng trước-thu-hoạch một cách liên tục hơn (mỗi 28 ngày) cho thấy tương quan di truyền giữa các lứa tuổi trước-thu-hoạch với trọng lượng thân ở 1 năm tuổi tăng dần từ 0,24 đến 0,93 từ ngày nuôi 168 đến ngày nuôi

336, tương quan này chỉ vượt 0,7 sau ngày nuôi

280 Kết quả này cho thấy tương quan di truyền không chỉ phụ thuộc vào giai đoạn nuôi mà còn phụ thuộc vào khoảng cách giữa các lần cân đo Tương quan di truyền thường ở mức thấp đến trung bình trong giai đoạn sớm và tăng dần khi sinh vật càng gần đến tuổi thu-hoạch Vì vậy, chọn lọc nếu áp dụng ở giai đoạn quá sớm, kích thước sinh vật còn quá nhỏ so với kích thước thu-hoạch, khi mà ảnh hưởng của con mẹ và các yếu tố nuôi chung còn chi phối mạnh có thể sẽ mang lại hiệu quả không cao Trong nghiên cứu này, tương quan di truyền giữa các tính trạng tuy khá cao nhưng cũng chỉ khảo sát ở duy nhất một lứa tuổi trước-thu-hoạch Để tìm được lứa tuổi phù hợp nhất áp dụng chọn lọc cần có những khảo sát ở nhiều lứa tuổi trước-thu-hoạch khác nhau khác

Hệ số di truyền tính trạng trọng lượng thân

ở thế hệ F3 trong nghiên cứu này tương đương với hệ số di truyền tính toán ở 4 thế hệ trên cùng

nguồn vật liệu (Hùng và ctv, in review) Trong

cả 2 nghiên cứu, hệ số di truyền ước tính là cao hơn so với những nghiên cứu trước đó trên

cùng loài (M rosenbergii) (Kitcharoen và ctv, 2011; Luan và ctv, 2012; Malecha và ctv, 1984) Kitcharoen và ctv, (2011) công bố hệ số di truyền trọng lượng thân h 2 = 0,11±0,08 ở 5 tháng tuổi;

BL 0,93±0,01 0,90±0,01 0,86±0,01 0,89±0,01 0,80±0,01

CL 0,98±0,02 0,94±0,01 0,94±0,01 0,89±0,01 0,83±0,01

AL 0,98±0,02 0,98±0,02 0,79±0,01 0,86±0,01 0,79±0,01

CW 0,88±0,10 0,97±0,02 0,92±0,06 0,81±0,01 0,86±0,01

AW 0,98±0,02 0,97±0,04 0,97±0,04 0,90±0,08 0,82±0,01

0,95±0,04 0,98±0,04 0,92±0,05 0,97±0,04 0,89±0,07

Trang 7

9 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - 1 - THÁNG 7/2013

h 2 = 0,07±0,04; h 2 = 0,20±0,71 (khơng khác biệt

so với 0) ở 6 tháng tuổi khi nuơi chung và nuơi

riêng rẽ theo cá thể Tuy nhiên các nghiên cứu

trên tơm càng xanh trước đây thường chỉ dựa

trên số lượng mẫu khá khiêm tốn của một thế hệ

và các nghiên cứu tiến hành trong điều kiện thí

nghiệm trong bể nuơi chứ khơng phải điều kiện

nuơi thực tế ngồi ao, vì vậy tăng trưởng của tơm

là thấp hơn rất nhiều lần so với điều kiện thực

tế Hệ số di truyền trọng lượng thân tăng nhẹ từ

tuổi trước-thu-hoạch đến tuổi thu-hoạch trong

nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu

trên tơm thẻ chân trắng (Pérez-Rostro và Ibarra,

2003; Pérez-Rostro và ctv, 1999) nhưng ngược

lại với kết quả trên tơm sú (Coman và ctv, 2010;

Kenway và ctv, 2006) Hệ số di truyền trọng

lượng thân ở tuổi thu-hoạch (0,15±0,07) trong

nghiên cứu này cũng thấp hơn so với một số lồi

thủy sản khác như tơm thẻ chân trắng (Argue và

ctv, 2002; Castillo-Juárez và ctv, 2007; Gitterle

và ctv, 2005), tơm sú (Coman và ctv, 2010;

Kenway và ctv, 2006; Macbeth và ctv, 2007),

tơm he Nhật Bản (P japonicus) (Hetzel và ctv,

2000), crayfish (Jones và ctv, 2000; McPhee

và ctv, 2004), cá rơ phi GIFT (Nguyên và ctv,

2007) và cá tra (Sáng, 2010) Tuy nhiên, cần lưu

ý rằng các kết quả cơng bố trên tơm thường là

những ước tính cĩ sai lệch tăng (overestimated)

bởi những nghiên cứu này khơng thể phân tách

ảnh hưởng của con mẹ và các yếu tố nuơi chung

ra khỏi biến dị di truyền cộng gộp và vì vậy làm

cho ước tính hệ số di truyền thiếu chính xác

Nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên đưa hai

yếu tố ảnh hưởng cố định là kiểu hình trên tơm

đực và tình trạng sinh sản trên tơm cái vào mơ

hình tốn Kiểu hình của tơm đực là kết quả do

ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến cấu trúc

quần đàn tơm đực, một đặc điểm rất riêng biệt

chỉ cĩ ở tơm càng xanh (Karplus và ctv, 1991)

Tình trạng sinh sản của tơm cái cũng đã được

đề cập trong các nghiên cứu của một số tác giả

(Aflalo và ctv, 2012; Hùng và ctv, in review;

Thành và ctv, 2009) nhưng cả 2 yếu tố này chưa

bao giờ được đưa vào mơ hình tốn mặc dù

chúng cĩ ảnh hưởng cĩ ý nghĩa và vì vậy khơng thể bỏ qua trong mơ hình tốn trên tơm càng xanh nhằm hạn chế sai lệch

Tương quan di truyền cao giữa các tính trạng kích thước đo đạt, cho phép chúng

ta kết luận rằng chọn lọc tính trạng trọng lượng cơ thể sẽ mang lại hiệu quả chọn lọc cao cho các kích thước cơ thể cịn lại, hay nĩi cách khác tơm tăng trưởng đồng đều (cân đối) theo các chi tiêu chiều dài, chiều ngang

và khối lượng

V KẾT LUẬN

Ước tính hệ số di truyền ở cả hai lứa tuổi trước-thu-hoạch và thu-hoạch đều ở mức trung bình Tương quan di truyền cao giữa trọng lượng thân ở hai lứa tuổi này cho phép dự đốn hiệu quả chọn lọc tương đương nếu chọn lọc áp dụng ở giai đoạn trước-thu-hoạch Tương quan

di truyền cao giữa các tính trạng kích thước cơ thể ở cả hai lứa tuổi trên tơm càng xanh cũng cho phép dự đốn các tính trạng này cĩ thể được

di truyền cùng nhau trong quá trình chọn giống

VI ĐỀ XUẤT

Tiếp tục khảo sát hệ số di truyền tính trạng trọng lượng thân ở các lứa tuổi khác nhau để cĩ thể xác định lứa tuổi thu hoạch tơm càng xanh hợp lý nhất cho việc chọn giống

LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Viện NCNT Thủy sản II, Trung tâm Quốc Gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ và các đồng nghiệp Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Trung

Ký, Kiều Thị Nguyệt Nga trong thực hiện thí nghiệm và thu thập số liệu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aflalo, E D., Raju, D V S N., Bommi, N A., Verghese, J T., Samraj, T Y C., Hulata, G., Ovadia, O and Sagi, A, 2012 Toward a sustainable production of genetically improved

all-male prawn (Macrobrachium rosenbergii):

Evaluation of production traits and obtaining neo-females in three Indian strains Aquaculture, 338-341, 197-207.

Trang 8

Argue, B J., Arce, S M., Lotz, J M and Moss, S M.,

2002 Selective breeding of Pacific white shrimp

(Litopenaeus vannamei) for growth and resistance

to Taura Syndrome Virus Aquaculture, 204(3-4),

447-460.

Argue, B J., Arce, S M and Moss, S M., 2000

Correlation between two size classes of Pacific

white shrimp Litopenaeus vannamei and its

potential implications for selective breeding

programs Journal of the World Aquaculture

Society, 31(1), 119-122.

Castillo-Juárez, H., Casares, J C Q., Campos-Montes,

G., Villela, C C., Ortega, A M and Montaldo, H

H., 2007 Heritability for body weight at harvest size

in the Pacific white shrimp, Penaeus (Litopenaeus)

vannamei, from a multi-environment experiment

using univariate and multivariate animal models

Aquaculture, 273(1), 42-49.

Coman, G J., Arnold, S J., Wood, A T and Kube, P

D., 2010 Age: Age genetic correlations for weight

of Penaeus monodon reared in broodstock tank

systems Aquaculture, 307(1-2), 1-5.

Gilmour, A R., Gogel, B J., Cullis, B R., Welham,

S J and Thompson, R., 2009 ASReml User

Guide Release 2.1 VSN International Ltd, Hemel

Hemptead, HP1 1ES, UK.

Gitterle, T., Rye, M., Salte, R., Cock, J., Johansen,

H., Lozano, C., Arturo Suárez, J and Gjerde,

B., 2005 Genetic (co)variation in harvest body

weight and survival in Penaeus (Litopenaeus)

vannamei under standard commercial conditions

Aquaculture, 243(1-4), 83-92.

Hetzel, D J S., Crocos, P J., Davis, G P., and Preston,

N C., 2000 Response to selection and heritability

for growth in the Kuruma prawn, Penaeus

japonicus Aquaculture, 181(3-4), 215-223.

Hùng, D., Coman, G., Hurwood, D and Mather, P.,

2012 Experimental assessment of the utility

of VIE tags in a stock improvement program

for giant freshwater prawn (Macrobrachium

rosenbergii) in Vietnam Aquaculture Research,

43, 1471–1479.

Hùng, D., Vu, N T., Nguyên, N H., Ponzoni, R

W., Hurwood, D and Mather, P., in review

Quantitative genetic parameter estimates for body

and carcass weight traits in a cultured stock of giant

freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii)

selected for fast growth Aquaculture.

Jones, C M., McPhee, C P and Ruscoe, I M., 2000

A review of genetic improvement in growth rate

in redclaw crayfish Cherax quadricarinatus (von

Martens) (Decapoda: Parastacidae) Aquaculture Research, 31(1), 61-67.

Karplus, I., Barki, A., Israel, Y and Cohen, S , 1991

Social control of growth in Macrobrachium rosenbergii II The “leapfrog” growth pattern

Aquaculture, 96(3-4), 353-365.

Kennedy, B W., 1990 Use of mixed model methodology in analysis of designed experiments

In Advances in Statistical Methods for Genetic Improvement of Livestock (D Gianola and K Hammond, eds): Springer-Verlag, Berlin, 77-97 Kenway, M., Macbeth, M., Salmon, M., McPhee, C., Benzie, J., Wilson, K and Knibb, W., 2006 Heritability and genetic correlations of growth and

survival in black tiger prawn Penaeus monodon

reared in tanks Aquaculture, 259(1-4), 138-145 Kitcharoen, N., Rungsin, W., Koonawootrittriron, S and Na-Nakorn, U., 2011 Heritability for growth

traits in giant freshwater prawn, Macrobrachium rosenbergii (de Mann 1879) based on best linear

unbiased prediction methodology Aquaculture Research, 1-7.

Luan, S., Yang, G., Wang, J., Luo, K., Zhang, Y., Gao, Q., Hu, H and Kong, J., 2012 Genetic parameters and response to selection for harvest body weight

of the giant freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii Aquaculture, 262-263, 88-96.

Macbeth, M., Kenway, M., Salmon, M., Benzie, J., Knibb, W and Wilson, K., 2007 Heritability of reproductive traits and genetic correlations with

growth in the black tiger prawn Penaeus monodon reared in tanks Aquaculture, 270(1-4), 51-56.

Malecha, S R., Masuno, S and Onizuka, D., 1984 The feasibility of measuring the heritability of growth pattern variation in juvenile freshwater prawns, Macrobrachium rosenbergii (de Man) Aquaculture, 38(4), 347-363.

McPhee, C P., Jones, C M and Shanks, S A., 2004 Selection for increased weight at 9 months in

redclaw crayfish (Cherax quadricarinatus)

Aquaculture, 237(1-4), 131-140.

Nguyên, N H., Khaw, H L., Ponzoni, R W., Hamzah,

A and Kamaruzzaman, N., 2007 Can sexual dimorphism and body shape be altered in Nile

tilapia (Oreochromis niloticus) by genetic means?

Aquaculture, 272(Supplement 1), S38-S46 Ninh, N H., Ponzoni, R W., Nguyen, N H., Woolliams, J A., Taggart, J B., McAndrew, B

J and Penman, D J., 2011 A comparison of communal and separate rearing of families in

selective breeding of common carp (Cyprinus

Trang 9

11 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - 1 - THÁNG 7/2013

carpio): Estimation of genetic parameters

Aquaculture, 322-323(0), 39-46.

Pérez-Rostro, C I and Ibarra, A M., 2003 Quantitative

genetic parameter estimates for size and growth

rate traits in Pacific white shrimp, Penaeus

vannamei (Boone 1931) when reared indoors

Aquaculture Research, 34(7), 543-553.

Pérez-Rostro, C I., Ramirez, J L and Ibarra, A

M., 1999 Maternal and cage effects on genetic

parameter estimation for Pacific white shrimp

Penaeus vannamei Boone Aquaculture Research,

30(9), 681-693.

Rutten, M J M., Bovenhuis, H and Komen, H., 2004

Modeling fillet traits based on body measurements

in three Nile tilapia strains (Oreochromis niloticus

L.) Aquaculture, 231(1-4), 113-122.

Sang, N V., 2010 Genetic studies on improvement of

striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)

for economically important traits Unpublished Docterial thesis, Norwegian University of Life Sciences, Aas, Norway.

Su, G.-S., Liljedahl, L.-E and Gall, G A E., 2002 Genetic correlations between body weight at different ages and with reproductive traits in rainbow trout Aquaculture, 213(1-4), 85-94 Thành, N M., Ponzoni, R W., Nguyen, N H., Vu, N T., Barnes, A and Mather, P B., 2009 Evaluation

of growth performance in a diallel cross of three

strains of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii) in Vietnam Aquaculture, 287(1-2),

75-83.

QUANTITATIVE GENETIC PARAMETERS FOR BODY TRAITS AT DIFFERENT AGES IN A CULTURED STOCK OF GIANT FRESHWATER

PRAWN A (Macrobrachium rosenbergii) SELECTED FOR FAST GROWTH

Dinh Hung1

ABSTRACT

The data set consisted of 4,650 body records collected at weeks 10 and 18 in the full pedigree comprising a total of 18,387 records Variance and covariance components were estimated using restricted maximum like-lihood fitting a multi-trait animal model Estimates of heritability for body traits were moderate and ranged from 0.06 to 0.11 and 0.11 to 0.22 at weeks 10 and 18, respectively Genetic correlations between body traits within age and genetic correlations for body traits between ages were generally high Results suggest that selection for high growth rate in GFP can be undertaken successfully before full market size has been reached.

Key words: Macrobrachium rosenbergii, heritability, genetic correlation, different age.

Người phản biện: ThS Phan Minh Quý

Ngày nhận bài: 6/6/2013 Ngày thơng qua phản biện: 29/6/2013

Ngày duyệt đăng: 8/7/2013

1 Department of Experimental Biology, Research Institute for Aquaculture No.2

Email: dinhhungria2@gmail.com

Ngày đăng: 07/12/2020, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm