1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ảnh hưởng của tảo Haematococcus pluvialis lên hệ miễn dịch tự nhiên và sức đề kháng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) kháng bệnh gan thận mủ

12 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 465,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu là nhằm đánh giá ảnh hưởng của tảo Haematococcus pluvialis lên khả năng tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên và đồng thời tăng cường sức đề kháng của cá tra kháng bệnh gan thận mủ gây ra bởi vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.

Trang 1

1 Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2 Email: sonvm.ria2@mard.gov.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chất kích thích miễn dịch (immunostimulant)

là các hợp chất hóa học hay sinh học, có khả

năng làm tăng cường đáp ứng miễn dịch tự

nhiên (innate immune responses) và có thể làm

cho các động vật tăng khả năng kháng bệnh vi

khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng (Anderson,

1992) Theo Bricknell và Dalmo (2005) diễn

tả immunostimulant là hợp chất từ tự nhiên có

khả năng điều chỉnh hệ miễn dịch bằng cách gia tăng sức đề kháng của vật chủ chống lại bệnh

mà hầu hết các trường hợp gây ra bởi mầm bệnh Theo Sakai (1999) phân loại chất kích thích hệ miễn dịch (immunostimulant) thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào nguồn góc: nhóm hóa chất tổng hợp (Levamisole, FK-565, Muramyl dipeptide, CpG oligodeoxynucleotides, )

và nhóm hoạt chất sinh học từ thành tế bào nấm, vi khuẩn Gram âm và dương (β-glucan,

ẢNH HƯỞNG CỦA TẢO Haematococcus pluvialis

LÊN HỆ MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus) KHÁNG BỆNH GAN THẬN MỦ

Võ Minh Sơn1, Văn Thị Thuý1

TÓM TẮT

Astaxanthin không những ứng dụng dùng làm chất bổ sung vào thức ăn giúp tăng cường màu sắc của cá cảnh, tăng hàm lượng astaxanthin trong thịt cá hồi mà còn là một trong những chất tăng cường hệ miễn dịch cho các động vật thủy sản Mục đích của nghiên cứu là nhằm đánh giá ảnh

hưởng của tảo Haematococcus pluvialis lên khả năng tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên và đồng thời tăng cường sức đề kháng của cá tra kháng bệnh gan thận mủ gây ra bởi vi khuẩn Edwardsiella ictaluri Các thông số đáp ứng miễn dịch tự nhiên (hoạt động thực bào, sản sinh oxy hoạt hoá, ly-sozyme), tính mẫn cảm với E ictaluri và màu sắc thịt của cá tra được xác định sau khi cho ăn thức

ăn trộn H pluvialis (HP) với hàm lượng 0,5% và 1% HP trong 28 ngày Kết quả thu được tỉ lệ thực

bào (PA) của cá tra được ăn với thức ăn trộn HP (0,5% và 1%) cao khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) và tăng 3,78 và 3,29 lần so với đối chứng, theo trình tự Tuy nhiên chỉ số thực bào (PI) khác biệt không

có ý nghĩa giữa các nghiệm thức có bổ sung HP và đối chứng Hoạt tính sản sinh oxy hoạt hóa của

tế bào bạch cầu của cá tra được cho ăn 1% HP tăng 1,84 lần và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với đối chứng Tuy nhiên hoạt tính lysozyme khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức có

bổ sung HP và đối chứng Tỉ lệ sống của cá tra ở nghiệm thức bổ sung HP (0,5% và 1%) cao khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) và tăng 26,6% và 23,3% cao hơn so với đối chứng theo thứ tự, sau khi cảm

nhiễm với E ictaluri Thêm nữa, sử dụng HP không ảnh hưởng đến màu sắc (đỏ và vàng) của thịt

cá tra sau 28 ngày cho ăn Tóm lại, thức ăn có bổ sung HP với hàm lượng 0,5% và 1% có khả năng

tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên và tăng tỉ lệ sống của cá tra sau khi cảm nhiễm với E ictaluri và

đồng thời không ảnh hưởng đến màu sắc thịt cá tra

Từ khoá: Haematococcus pluvialis, miễn dịch tự nhiên, bệnh gan thận mủ, astaxanthin, Edwardsi-ella ictaluri

Trang 2

Peptidoglucan, lipopolysaccharide, ); dịch chết

từ động-thực vật (Ete, Hde, Glycyrrhizin );

chất dinh dưỡng (vitamin C và E); hormone

và cytokine (lactoferrin, interferon, growth

hormone ); polysaccharide (chitin, chitosan,

oligosaccharide ), beta-caroten và astaxanthin

được tách chiết từ vi tảo Haematococcus

pluvialis (Lorenz và Cysewski, 2000)

Astaxanthin hay ketocarotenoid là một

trong những chất chiếm ưu thế trong các động

vật thuỷ sản sống trong môi trường biển, chúng

là nguồn nguyên liệu tạo màu đỏ hồng cho thịt

các loài cá (salmon, trout, red sea bream), cá

cảnh và nhiều loài giáp xác khác (Cysewski

và Lorenz, 2004) Các loài động vật thủy sản

không có khả năng tổng hợp astaxanthin trong

tế bào, do đó chúng hấp thu astaxanthin từ thức

ăn (Goodwin, 1984) Trong môi trường biển,

astaxathin được sinh tổng hợp từ các loài vi tảo

hay thực vật phù du Astaxanthin được ứng dụng

nhiều trong nuôi trồng thủy sản như là chất bổ

sung vào thức ăn nhằm mục đích cung cấp sắc

tố, cải thiện sức đề kháng, tăng khả năng sinh

sản, tăng trưởng, thành thục cho các động vật

thuỷ sản (Cysewski và Lorenz, 2004)

Trong nuôi trồng thủy sản, astaxanthin

được ứng dụng phổ biến và dùng làm thức

ăn cho các trang trại nuôi cá hồi, cá dìa và cá

cảnh nhằm tăng cường màu sắc thịt và ngoại

hình (Lorenz và Cysewski, 2000) Astaxanthin

và beta-carotene (100-200 mg/kg thức ăn) từ

tảo Dunaliella salina và nấm men đỏ Phaffia

rhodozyma có khả năng kích thích hệ miễn

dịch tự nhiên của cá hồi (Oncorhynchus mykiss

Walbaum) (Amar và ctv., 2004) Cùng tác giả

Amar và ctv (2000, 2001) cũng nghiên cứu sử

dụng beta-carotene và astaxanthin tổng hợp có

khả năng làm tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên

trên cá hồi Mới đây một nghiên cứu chứng

minh rằng astaxanthin có khả năng tăng cường

hệ miễn dịch tự nhiên và tăng sức đề kháng của

cá bơn Nhật bản (Paralichthys olivaceus) kháng

bệnh gây ra bởi Edwardsiella tarda (Kim và

ctv., 2012)

Tế bào bạch cầu (leucocyte) của cá rất

đa dạng bao gồm monocyte, macrophage, granulocyte và đóng góp trong hệ miễn dịch không đặc hiệu của cá (Secombes, 1996) Tế bào thực bào bao gồm (neutrophil và macrophage) đóng vai trò quan trọng như là bức tường đầu tiên ngăn chặn lại các tấn công của các vi sinh vật gây bệnh (Ellis, 1999)

Respiratory burst được định nghĩa như là sự bùng nổ oxy hoá (oxidative burst) là quá trình sản sinh các chất oxy hoạt hoá ROS (reactive oxygen species) bởi tế bào thực bào phagocyte (hay tế bào bạch cầu, leucocyte) có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh trong suốt quá trình thực bào, và

đó là một cơ bảo vệ vật chủ xảy ra thường xuyên nhằm chống lại khả năng xâm nhiễm của mầm bệnh Tuy nhiên, sự hoạt động quá mức của các chất oxy hóa mạnh (superoxide anion production

O2-, hydroxyl peroxide H2O2, hydroxy free radical OH-, hypoharous acids OCl-) dẫn xuất từ oxygen (reactive oxygen intermediates, ROIs)

có thể gây hại và độc cho tế bào vật chủ (Dalmo

và ctv., 1997; Ellis, 1999) Do đó, tế bào vật chủ có cơ chế bảo vệ và chuyển hóa các chất độc (như superoxide radicals) được tạo ra từ quá trình ROIs bằng các enzyme chống oxy hóa (antioxidants) như Superoxide dismutase (SOD) chuyển hóa O2- thành H2O2, glutathione peroxidase (GPx) và catalase (CAT) chuyển hóa

H2O2 thành nước có lợi cho tế bào (Sampaio và ctv., 2008; Scandalios, 2005)

Lysozyme là enzyme đóng vai trò rất quan trọng trong đáp ứng miễn dịch tự nhiên

và nó được phân bố ở động vật có xương và không xương sống (Magnadóttir và ctv., 2005) Lysozyme được tìm thấy ở dịch nhầy (mucus),

mô lymphoid, huyết thanh, tế bào trứng, và trong dịch của cơ thể ở động vật thuỷ sản nước ngọt

và mặn (Magnadóttir và ctv., 2005; Yano, 1996) Lysozyme là enzyme có khả năng diệt khuẩn,

nó phân cắt nối β (1,4) giữa N-acetylmuramic acid và N-acetylglucosamine là hai phân tử cấu thành tế bào peptidoglycans của vi khuẩn gram dương (Ellis, 1999) và còn có khả năng phân

Trang 3

giải vi khuẩn gram âm, ký sinh trùng và nấm

(Dalmo và ctv., 1997; Saurabh và Sahoo, 2008)

Do đó việc ứng dụng các hoạt chất sinh học có

khả năng kích thích hệ miễn dịch tự nhiên của

các loài động vật thuỷ sản đã nhận được sự quan

tâm của các nhà khoa học

Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng

tỏ ảnh hưởng của Haematococcus pluvialis lên

đáp ứng hệ miễn dịch tự nhiên bao gồm các

thông số như hoạt động thực vào (phagocytic

activity), sản sinh oxy hoạt hoá (superoxide

anion production), lysozyme; và sức đề kháng

của cá tra kháng bệnh gan thận mủ gây ra bởi E

ictaluri Đồng thời ảnh hưởng của HP lên màu

sắc thịt của cá tra

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu

Tảo Haematococcus fluvialis (HP) chứa 2%

hàm lượng astaxanthin, được cung cấp từ phòng

Công nghệ tảo, Viện Công nghệ Sinh học,

Viện Nghiên cứu KHCN Việt Nam Vi khuẩn

gây bệnh gan thận mủ (Edwardsiella ictaluri

Gly09M) trên cá tra nhận từ Trung Tâm Quốc

Gia Quan Trắc Cảnh Báo Môi Trường và Phòng

Ngừa Dịch Bệnh Thủy Sản Khu Vực Nam Bộ

Cá tra giống Pangasianodon hypophthalmus

(18,7±2,1 g/con) được chuyển từ Trung Tâm

Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ

Địa điểm nghiên cứu: Viện Nghiên cứu

Nuôi trồng Thủy sản 2

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chuẩn bị thức ăn thí nghiệm

Thức ăn tổng hợp Green Feed (protein 28%,

chất béo 5%, tro 12%, chất xơ 7%, độ ẩm 10%)

được sử dụng làm thức ăn cho tất cả các thí

nghiệm Tảo khô Haematococcus pluvialis được

trộn vào thức ăn với hàm lượng 0,5% (tương

đương astaxanthin 100 mg/kg thức ăn) và 1%

(tương đương astaxanthin 200 mg/kg thức ăn)

bằng cách hòa tan trong nước muối sinh lý NaCl

0,85%, trộn đều, sau đó trộn vào thức ăn và để

khô trong 15 phút ở nhiệt độ phòng, sau đó áo

thức ăn bằng dầu mực (5% v/w lượng thức ăn) Thức ăn đối chứng sử dụng dầu mực với lượng thể tích tương đương với thức ăn thí nghiệm

2.2.2 Nuôi cấy vi khuẩn gây bệnh

Vi khuẩn gây bệnh E ictaluri Gly09M

được nuôi trên môi trường thạch máu (bổ sung 5% máu cừu), ủ 28oC trong 30-36 giờ Dùng tăm bông gạt khuẩn lạc và huyền phù trong dung dịch đệm PBS (10mM sodium phosphate, 150mM sodium chloride, pH 7,2) Sau đó dựa vào đường chuẩn để xác định mật độ vi khuẩn

2.2.3 Phương pháp xác định LD50 Xác định mật độ vi khuẩn E ictaluri gây

chết 50% (LD50) cá tra dựa trên phương pháp của Reed và Muench (1938) Khảo sát tỉ lệ chết của cá sau khi gây nhiễm với vi khuẩn

E ictaluri Gly09M (tiêm vào xoang bụng)

với mật độ: 1x103, 1x104, 1x105, 1x106 cfu/cá (trọng lượng trung bình 18g/cá) Từ đó xác định liều gây chết gấp 2xLD50 cho thí nghiệm cảm nhiễm (Newaj-Fyzul và ctv., 2007)

2.2.4 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng lên hệ miễn dịch tự nhiên và cảm nhiễm

Cá có trọng lượng trung bình 18,7±2,1 g/ con được thuần 2 tuần trong bể composite 20

m3, cho ăn bằng thức ăn Green Feed

Giai đoạn cho cá ăn thức ăn bổ sung HP trong 28 ngày: Thí nghiệm được tiến hành trong

bể kính 100 lít (dung tích 150 lít), mỗi bể chứa

30 cá, mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần với nghiệm thức đối chứng dương (thức ăn không bổ sung HP), nghiệm thức bổ sung 0,5% HP (w/w) và 1% HP, và nghiệm thức đối chứng âm (thức ăn

bổ sung 1% HP) Cá được cho ăn theo tỉ lệ 5% trọng lượng thân, cho ăn 2 lần/ngày Nước thay 20-30%/tuần Sau 28 ngày cho ăn, cá được phân

bổ lại trong bể với 15 con/bể, dùng phương pháp tiêm vào xoang bụng tiêm 0,2ml dịch vi khuẩn (7,65x104 cfu/ml) tương đương với 1,53x104 cfu/

cá cho nghiệm thức đối chứng dương và nghiệm thức thử nghiệm, riêng nghiệm thức đối chứng

âm được tiêm NaCl 0,85% thay cho dịch vi khuẩn gây bệnh Hàng ngày đếm số cá chết trong mỗi

Trang 4

bể và thu mẫu cá vừa chết kiểm tra vi khuẩn gây

bệnh trong thận và gan Thí nghiệm kết thúc khi

cá trong cá nghiệm thức không chết trong vòng 3

ngày liên tục Xác định tỉ lệ bảo hộ RPS (relative

percentage of survival) theo công thức sau:

RPS = [1 – (số cá chết ở nghiệm thức cho

ăn thức ăn thí nghiệm/số cá chết ở nghiệm thức

cho ăn thức ăn đối chứng)] x 100

2.2.5 Phương pháp đo các thông số miễn

dịch

Các thông số miễn dịch tự nhiên của cá tra

sau khi cho ăn bằng thức ăn có trộn HP được

xác định tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm và sau

28 ngày cho ăn

Máu của mỗi con cá được lấy bằng ống

tiêm 3ml (24-Gauge) để riêng biệt Mẫu máu

được để nhiệt độ phòng khoảng 30 phút và sau

đó giữ ở nhiệt độ 4oC Thu huyết thanh bằng

cách ly tâm ở 4000 ×g khoảng 15 phút ở 4oC

sau 2 giờ ủ đông, sau đó giữ trong tủ lạnh -80oC

cho đến khi sử dụng Huyết thanh được dùng để

đo lysozyme

2.2.5.1 Phương pháp tách tế bào bạch cầu

Thận trước (head kidney) của cá tra được

thu và rửa bằng L-15 (L1518, Sigma) hai lần và

nghiền trong 3ml dung dịch L-15 Dịch nghiền

của thận được lọc qua lưới (100µm) và nhỏ từ từ

vào ống ly tâm gradian tỉ trọng với 37% và 51%

Pecoll (P4937, Sigma), ly tâm 400 ×g khoảng

30 phút ở 4oC Tế bào bạch cầu (Leucocyte)

được thu hoạch ở khoảng giữa hai lớp Percoll

và rửa lại hai lần bằng L-15 ở 2000 rpm khoảng

10 phút ở 4oC Tế bào sống được kiểm tra bằng

dung dịch 0,1% trypan blue (T6146, Sigma),

tế bào sống sẽ không nhuộm màu xanh, tế bào

chết nhuộm màu xanh Mật độ tế bào được điều

chỉnh 2x106 tế bào/ml trong dung dịch L-15 và

được dùng tất cả các thông số đo như hoạt động

thực bào, oxy hoạt hóa (Yeh và ctv., 2008)

2.2.5.2 Hoạt động thực bào (phagocytic

activity)

Phương pháp xác định PA và PI được mô tả

bởi nghiên cứu trước bởi Yeh và ctv (2008) Cụ

thể, dịch tế bào bạch cầu thận trước (500 µl của 2x106 tế bào/ml trong dung dịch L-15) được hút vào đĩa nhựa nuôi cấy tế bào 12-giếng, và được

ly tâm 400×g khoảng 20 phút ở 4oC Loại bỏ tế bào không dính bằng cách rửa 3 lần với L-15 Nhỏ 500 µl dịch Fluorescent latex beat (mật

độ hạt 2x107 hạt/ml trong dung dịch L-15) vào giếng chứa tế bào bạch cầu và ủ 2 giờ ở 28oC Tiếp tục rửa 3 lần với PBS để loại bỏ các hạt không được thực bào bởi tế bào bạch cầu Sau

đó cố định các tế bào bằng dung dịch formalin (10%) khoảng 30 phút, sau đó rửa lại 3 lần với PBS Tế bào cố định được nhuộm với 0,1% propidium iodide (81845, Fluka) trong bóng tối Các tế bào bạch cầu có màu đỏ và hạt latex có màu xanh Phần trăm của tế bào thực bào (PA) được tính toán trên 100 tế bào dưới kính hiển vi huỳnh quang (Olympus IX50, Tokyo, Japan) và chỉ số thực bào (PI) được định nghĩa như là số lượng trung bình của các hạt được thực bào bởi một tế bào

2.2.5.3 Sản sinh oxy hoạt hóa (superoxide anion production)

Hoạt động oxy hoạt hóa (respiratory burst activity or superoxide anion production) được sản sinh từ tế bào bạch cầu của thận trước được phân tích theo phương pháp Cook và ctv (2001) như đã mô tả nghiên cứu trước đây bởi Yeh và ctv (2008) bằng cách khử nitroblue tetrazolium (NBT) tạo thành formazan để đo hàm lượng superoxide Tóm tắt như sau: dung dịch tế bào bạch cầu thận trước (100 µl với mật độ 2x106 tế bào/ml trong dung dịch L-15) được cho vào dĩa nhựa (96-giếng, Flat bottom, Nunclon surface, Denmark) đã được phủ trước với 0,2% poly-L-lysine (P2636, Sigma) để cải thiện sự bám dính

tế bào lên bề mặt giếng Đĩa được ly tâm 700

×g khoảng 20 phút ở 4oC Sau đó những loại

bỏ những tế bào không bám dính và rửa lại với HBSS (H6648, Sigma) Zymozan (100 µl của 0,1% zymozan trong dung dịch HBSS) được cho vào giếng để cho phản ứng xảy ra khoảng

30 phút ở nhiệt độ phòng Sau đó rửa zymozan bằng 100 µl dung dịch HBSS Sau đó tế bào

Trang 5

được nhuộm với 100 µl 0,3% NBT (N5514,

Sial) khoảng 30 phút ở nhiệt độ phòng NBT

được loại bỏ và dừng phản ứng bằng 100 µl

100% methanol Fomazan được hòa tan bằng

120 µl dung dịch 2M KOH và 140 µl dung dịch

DMSO (D2650, Sigma) Sau đó đo độ hấp thu

ở bước sóng 630 nm bằng máy ELISA reader

Oxy hoạt hóa (RBA) được tính như sau: RBA

= OD 630 mẫu kích thích (bổ sung zymosan) –

OD 630 mẫu trắng (không bổ sung zymosan)

2.2.5.4 Hoạt tính lysozyme

Hoạt động lysozyme (serum lysozyme

activity) trong huyết thanh được diễn tả bởi

Ellis (1990) và Obach và ctv (1993) Phương

pháp cụ thể được trình bày trong nghiên cứu

trước bởi Yeh và ctv (2008) Tóm tắt, 10 µl của

huyết thanh cá được trộn với 200 µl dung dịch

Micrococcus luteus (M3770, Sigma) (0,2mg/ml

trong dung dịch đệm 0,05M sodium phosphate,

pH 6,2) Hỗn hợp được ủ ở nhiệt độ 27oC và

giá trị OD được đo sau 1 và 6 phút ở bước sóng

530nm bằng cách sử dụng ELISA reader Một

đơn vị lysozyme được định nghĩa như là lượng

enzyme làm giảm độ hấp thu OD 0,001/phút/ml

huyết thanh Hàm lượng lysozyme được tính dựa

vào đường chuẩn của lysozyme (L4631, Sigma)

2.2.6 Phương pháp đo màu sắc của thịt cá

tra

Cá ở các nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức bổ sung 0,5% và 1% HP vào thức ăn sau khi cho ăn 28 ngày, chọn 6 con cho mỗi nghiệm thức tiến hành phi lê và đo màu sắc của thịt Mỗi con cá được đo tại 2 vị trí ở phần gần đầu

và phần gần đuôi Xác định màu bằng thiết bị NIPPON DENSHOKU NR 300 Các giá trị đo

được thể hiện bằng hệ màu L*, a*, b* (CIE, 1976) trong đó L* biểu thị độ sáng (lighness)

với thang đo từ màu đen đến màu trắng (0-100), a* biểu thị tọa độ màu trên trục đỏ với giá trị dương (+) và lục với giá trị âm (-), b* tọa độ màu trên trục màu vàng với giá trị dương (+) và xanh với giá trị âm (-)

2.3 Xử lý số liệu

Multiple comparation (Tukey’s test) được

sử dụng để kiểm tra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức bằng phần mềm SPSS 13.0 (SPSS Inc., 1989-2004) Số liệu phần trăm (tỉ

lệ sống và tỉ lệ thực bào) được chuẩn hóa bằng hàm acrsin trước khi xử lý bằng SPSS Mức khác biệt có ý nghĩa thống kê được đề nghị là

p < 0,05.

III KẾT QUẢ 3.1 Ảnh hưởng của HP lên hệ miễn dịch

tự nhiên

3.1.1 Hoạt động thực bào

Hình 1 Tỉ lệ thực bào (A) và chỉ số thực bào (B) của cá tra được cho ăn thức ăn trộn HP sau 28 ngày Mỗi cột biểu thị số trung bình của 3 lần lặp lại và sai số chuẩn (SE) Số liệu ở cùng thời điểm

thu mẫu có kí hiệu chữ cái khác nhau biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05).

Trang 6

Hoạt động thực bào (PA) của tế bào bạch

cầu (leucocyte) của cá tra được cho ăn với thức

ăn có bổ sung tảo HP với hàm lượng 0,5% và

1% tăng cao khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so

với đối chứng sau 28 ngày cho ăn, và tăng 3,78

và 3,29 lần so với đối chứng (Hình 1A), theo

thứ tự Tuy nhiên, PA của các nghiệm thức có

bổ sung HP (0,5% và 1%) khác biệt không có ý

nghĩa (p > 0,05) Chỉ số thực bào (PI) của cá tra

ăn thức ăn có bổ sung HP khác biệt không có ý

nghĩa giữa các nghiệm thức (Hình 1B)

3.1.2 Sản sinh oxy hoạt hóa (superoxide

anion production)

Sản sinh oxy hoạt hóa của tế bào bạch cầu của cá tra sau khi cho ăn thức ăn có bổ sung HP

ở nồng độ 1% tăng cao khác biệt có ý nghĩa (p

< 0,05) và tăng 1,84 lần so với đối chứng (Hình 2A) Tuy nhiên, hoạt động oxy hoạt hóa của tế bào bạch cầu ở các nghiệm thức có bổ sung HP khác biệt không có ý nghĩa (p > 0,05)

3.1.3 Hoạt tính lysozyme (Lysozyme activity)

Hoạt tính lysozyme trong huyết thanh của

cá tra sau khi cho ăn thức ăn bổ sung HP khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (Hình 2B)

Hình 2 Sản sinh oxy hoạt hoá (A) và hoạt tính lysozyme (B) của cá tra được cho ăn thức ăn trộn HP sau 28 ngày Mỗi cột biểu thị số trung bình của 3 lần lặp lại và sai số chuẩn (SE) Số liệu

ở cùng thời điểm thu mẫu có kí hiệu chữ cái khác nhau biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0.05)

3.2 Xác định liều gây chết 50% (LD50) trên cá tra giống bằng phương pháp tiêm

Bảng 1 Liều gây chết 50% (LD50) của cá tra sau khi gây nhiễm với E ictaluri

Liều gây nhiễm

(cfu/cá) Tổng số cá chết Tổng số cá sống chết cộng dồnTổng số cá sống cộng dồnTổng số cá Tỉ lệ chết cộng dồn (%)

Trang 7

Sau khi cảm nhiễm E ictaluri ở nồng độ

103, 104, 105, 106 cfu/cá (trọng lượng trung bình

18,7g/con) Kết quả cho thấy liều gây chết 50%

(LD50) của E ictaluri là 1,53x103 cfu/cá sau 8

ngày cảm nhiễm (Bảng 1) Do đó liều vi khuẩn

gây bệnh E ictaluri dùng cho thí nghiệm cảm

nhiễm chính thức gấp 2 lần LD50, cụ thể là

1,53x104 cfu/cá

3.3 Khả năng bảo vệ cá tra kháng bệnh

gan thận mủ

Tất cả cá ở nghiệm thức đối chứng âm (tiêm

nước muối sinh lý) có tỉ lệ sống 100% sau 8 ngày (Hình 3) Tất cả cá ở những nghiệm thức

có tiêm E ictaluri sống sót 100% sau 2 ngày

Tuy nhiên, bắt đầu vào ngày thứ 3, cá chết được ghi nhận ở nghiệm thức đối chứng dương và nghiệm thức bổ sung 200 mg/kg thức ăn Từ ngày thứ 6 đến thứ 8, tỉ lệ sống của cá tra ở nghiệm thức bổ sung 0,5% HP (86,7 ± 3,3%)

và 1% HP (83,3 ± 3,3%) khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) và tăng 26,6% và 23,3% cao hơn so với đối chứng (60,0 ± 5,8%) và có tỉ lệ bảo hộ (RPS) đạt 67% và 58% theo thứ tự

Hình 3 Tỉ lệ sống của cá tra được cho ăn thức ăn trộn HP (0,5% và 1%) trong 28 ngày sau khi

cảm nhiễm với E ictaluri Số liệu (trung bình ± sai số chuẩn, n=3) ở cùng một thời điểm có ký tự

khác nhau biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) giữa các nghiệm thức

3.4 Ảnh hưởng của HP lên màu sắc của

thịt cá tra

Giá trị L* biểu thị độ sáng của thịt cá tra,

kết quả ở Bảng 2 cho thấy khi cá tra được cho

ăn thức ăn có bổ sung 0,5% HP có thịt sáng

hơn và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác Tuy nhiên, giá trị a* (màu đỏ) và b* (màu vàng) khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức Do vậy khi sử dụng HP trộn vào thức ăn cho cá tra không ảnh hưởng đến màu sắc thịt cá tra

Trang 8

IV THẢO LUẬN

Nhiều nghiên cứu chứng minh β-carotene

và astaxanthin có khả năng kích thích hệ miễn

dịch tự nhiên của động vật thuỷ sản Amar và

ctv (2001) nghiên cứu ảnh hưởng carotenoid

tổng hợp (sử dụng riêng lẻ astaxanthin,

canthaxanthin, β-carotene với hàm lượng 100

mg/kg) lên hệ miễn dịch cá hồi (Oncorhynchus

mykiss, 140g) và cho ăn trong 9 tuần, kết quả

cho thấy 3 loại carotenoid có khả năng tăng hoạt

động thực bào (PA) nhưng khác biệt không có

ý nghĩa so với đối chứng Trong khi đó chỉ có

β-carotene có khả năng tăng cường chỉ số thực

bào (PI) khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng

Cùng tác giả Amar và ctv (2004) khi nghiên cứu

bổ sung β-carotene (tảo biển Dunaliella salina)

và astaxanthin (từ nấm đỏ Phaffia rhodozyma)

với hàm lượng 100 mg/kg và 200 mg/kg khoảng

9 tuần cho cá hồi (Oncorhynchus mykiss, 50g)

Kết quả cho thấy hoạt động thực bào (PA) và

chỉ số thực bào (PI) tăng ở nghiệm thức bổ sung

β-carotene và astaxanthin khác biệt có ý nghĩa

so với đối chứng Điều này cũng được chứng

minh trong nghiên cứu này, hoạt động thực

bào tăng gấp 3,78 và 3,29 lần (0,5% và 1% HP

tương đương với astaxanthin 100 mg/kg và 200

mg/kg) khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng

Tuy nhiên, chỉ số thực bào (PI) của tế bào bạch

cầu cá tra khác biệt không có ý nghĩa giữa các

nghiệm thức

Carotenoid tổng hợp (sử dụng riêng lẻ

astaxanthin, canthaxanthin, β-carotene với hàm

lượng 100 mg/kg) được trộn vào thức ăn cho

cho cá hồi (Oncorhynchus mykiss, 140g) ăn

trong thời gian 9 tuần, kết quả cho thấy oxy

hoạt hoá không khác biệt giữa các nghiệm thức (Amar và ctv., 2001) Kết quả tương tự khi sử dụng carotenoid tự nhiên (β-carotene từ tảo

biển Dunaliella salina và astaxanthin từ nấm đỏ Phaffia rhodozyma) dùng làm thức ăn bổ sung cho cá hồi (Oncorhynchus mykiss Walbaum)

(Amar và ctv., 2004) Theo nghiên cứu gần đây nhất của Kim và ctv (2012) khi sử dụng bột astaxanthin trộn vào thức ăn cho cá bơn Nhật

bản (Paralichthys olivaceus) trong 15 ngày

Kết quả cho thấy sản sinh oxy hoạt hoá của tế bào bạch cầu của cá sau khi cho ăn 3 giờ và 24 giờ giảm khác biệt không có ý nghĩa so với đối chứng, nhưng sau thời gian cho ăn 6 giờ và 12 giờ thì tăng khác biệt có nghĩa so với đối chứng Trong nghiên cứu này, sản sinh oxy hoạt hóa của

tế bào bạch cầu của cá tra sau khi cho ăn thức

ăn có bổ sung HP ở nồng độ 1% (tương đương astaxanthin 200 mg/kg) tăng cao khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với đối chứng Điều này có thể giải thích rằng ảnh hưởng kích thích hệ miễn dịch tự nhiên của astaxanthin tuỳ thuộc vào vật chủ, trọng lượng, loại carotenoid và nguồn gốc, hàm lượng, thời gian cho ăn và thời gian thu mẫu sau khi cho ăn

Amar và ctv (2004) sử dụng carotenoid tự

nhiên (β-carotene 34,5% từ tảo biển Dunaliella salina; và astaxanthin 0,5% và xanthophyll 0,87% từ nấm đỏ Phaffia rhodozyma) dùng làm thức ăn bổ sung cho cá hồi (Oncorhynchus mykiss Walbaum, 125g) cho ăn trong 9 tuần, có

khả năng tăng hàm lượng lysozyme ở nghiệm thức bổ sung β-carotene khác biệt có nghĩa so với đối chứng Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chứng minh lysozyme không ảnh hưởng khi

Bảng 2 Màu sắc của thịt cá tra phi lê sau khi cho ăn thức ăn bổ sung HP (0,5% và 1%) sau 28 ngày

Nghiệm thức Màu sắc thịt của cá tra phi lê sau 28 ngày cho ăn với HP

Đối chứng 49,4 ± 2,4b 8,6 ± 2,2a 11,0 ± 2,5a

100 mg/kg 54,3 ± 3,4a 9,1 ± 2,1a 13,3 ± 3,2a

200 mg/kg 51,1 ± 2,9b 8,4 ± 3,3a 11,0 ± 1,5a

Trang 9

bổ sung β-carotene/astaxanthin Hoạt tính

lysozyme tăng ở các nghiệm thức bổ sung

β-carotene (40-400mg/kg thức ăn) nhưng khác

biệt không có ý nghĩa so với đối chứng sau khi

bổ sung vào thức ăn cho cá hồi (Oncorhynchus

mykiss) cho ăn 12 tuần (Amar và ctv., 2000)

Theo Thompson và ctv (1995) nghiên cứu bổ

sung astaxanthin và vitamin A vào thức ăn cho

cá hồi (Oncorhynchus mykiss) khoảng 4 tháng,

kết quả cho thấy lysozyme huyết thanh không bị

ảnh hưởng Tuy nhiên, khi nghiên cứu sử dụng

kết hợp giữa astaxanthin và vitamin cho kết quả

dương tính lysozyme Amar và ctv (2001) thử

nghiệm bổ sung các loại carotenoid tổng hợp như

astaxanthin, canthaxanthin, β-carotene (100mg/

kg) và vitamin A, C, E cho cá hồi (Oncorhynchus

mykiss) ăn trong 9 tuần Kết quả cho thấy

lysozyme huyết thanh ở nghiệm thức có bổ sung

vitamin và astaxanthin/β-carotene tăng cao khác

biệt có ý nghĩa so với đối chứng Tuy nhiên ở

nghiệm thức sử dụng astaxanthin/ β-carotene

không bổ sung vitamin, lysozyme huyết thanh

khác biệt không có nghĩa so với đối chứng

Tăng cường hệ miễn dịch và đồng thời

tăng cường tỉ lệ sống vật chủ sau khi cảm

nhiễm với các vi khuẩn gây bệnh thông qua

bổ sung các chất tăng cường hệ miễn dịch

(immunostimulator) trong đó có nhóm vitamin

B, vitamin C, vitamin E (Galaz và ctv., 2010;

Sakai, 1999) và β-carotene, astaxanthin (Kim

và ctv., 2012; Supamattaya và ctv., 2005) Theo

nghiên cứu gần đây nhất của Kim và ctv (2012)

khi sử dụng bột astaxanthin trộn vào thức ăn

cho cá bơn Nhật bản (Paralichthys olivaceus)

trong 15 ngày, kết quả cho thấy astaxanthin

có khả năng tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên

và tăng sức đề kháng của cá bơn Nhật bản

(Paralichthys olivaceus) kháng bệnh gây ra bởi

Edwardsiella tarda (Kim và ctv., 2012) Một

nghiên cứu khác sử dụng dịch chiết tảo biển

Dunaliella (chứa hàm lượng β-carotene 2%)

trên tôm sú (Penaeus monodon) có khả năng

tăng cường sức đề kháng và tỉ lệ sống của tôm

kháng virus gây hội chứng đốm trắng WSSV

(Supamattaya và ctv., 2005) khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng, với RPS đạt 25% Kết quả tương tự khi tiêm astaxanthin cho tôm càng

xanh (Macrobrachium rosenbergii) làm tăng tỉ

lệ sống khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng sau khi cảm nhiễm với với vi khuẩn gây bệnh

Lactococcus garvieae với RPS đạt 35% Điều

này phù hợp trong nghiên cứu này, khi sử dụng

Haematococcus pluvialis trộn vào thức ăn cho

cá tra ăn 28 ngày làm tăng cường miễn dịch tự nhiên đồng thời tăng tỉ lệ sống của cá khác biệt

có ý nghĩa so với đối chứng sau khi cảm nhiễm

với E ictaluri và đạt RPS 58% ở nghiệm thức

1% HP (200 mg astaxanthin/kg thức ăn) và 67%

ở nghiệm thức 0,5% HP (100 mg astaxanthin/ kg) thức ăn

Nghiên cứu ảnh hưởng carotenoid (β-carotene, lutein, zeaxanthin, canthaxanthin, astaxanthin) lên màu sắc của da và thịt phi lê, nồng độ carotenoid trong thịt của cá nheo Mỹ

(Ictalurus, punctatus) trong khoảng 12 tuần

cho ăn Kết quả cho thấy cá nheo Mỹ có thể tích luỹ sắc tố vàng (lutein và zeaxanthin), sắc

tố đỏ hay tím (canthaxanthin và astaxanthin) trong thịt và cho màu vàng (Li và ctv., 2007) Trong nghiên cứu này, khi thức ăn trộn với

Haematococcus pluvialis 0,5% và 1% (với hàm

lượng astaxanthin 100 và 200 mg/kg thức ăn) cho cá tra ăn trong thời gian 4 tuần không ảnh hưởng đến màu sắc của thịt cá tra Điều này có thể thời gian cho ăn ngắn nên cá tra chưa tích luỹ được màu của astaxanthin

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Sử dụng Haematococcus pluvialis với

liều lượng 0,5% và 1% (100 mg và 200 mg astaxanthin/kg thức ăn) có khả năng tăng cường

hệ miễn dịch tự nhiên như tăng hoạt động thực bào gấp 3,78 và 3,29 lần so với đối chứng theo thứ tự, hoạt tính sản sinh oxy hoạt hóa của cá tra được cho ăn 1% HP tăng 1,84 lần và khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng và đồng thời

tỉ lệ sống của cá tra tăng 26,6% và 23,3% cao hơn so với đối chứng theo thứ tự, sau khi cảm

nhiễm với E ictaluri Ngoài ra sử dụng tảo H

Trang 10

pluvialis ảnh hưởng đến màu sắc (đỏ và vàng)

sau khi cho ăn 28 ngày Tóm lại, H pluvialis có

tiềm năng dùng làm chất tăng cường hệ miễn

dịch tự nhiên và tăng cường sức đề kháng của

cá tra kháng bệnh gan thận mủ

Cần tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng thời

gian cho ăn, tần suất cho ăn lên chất lượng thịt

cá tra

PHẦN CẢM ƠN

Công trình được hoàn thành với sự hỗ trợ

kinh phí từ đề tài ″Nghiên cứu công nghệ nuôi

vi tảo Haematococcus pluvialis và công nghệ

chiết xuất astaxanthin″ cấp Bộ Nông Nghiệp

và Phát Triển Nông Thôn thuộc chương trình

công nghệ sinh học thuỷ sản năm 2010-2012

Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Sinh học thực

nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản

2 và các bạn bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi

trong quá trình thực hiện đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Amar, E C., Kiron, V., Satoh, S., Okamoto, N., and

Watanabe, T., 2000 Effects of dietary β-carotene

on the immune response of rainbow trout

Oncorhynchus mykiss Fisheries Science 66,

1068-1075.

Amar, E C., Kiron, V., Satoh, S., and Watanabe, T.,

2001 Influence of various dietary synthetic

carotenoids on bio-defence mechanisms in

rainbow trout, Oncorhynchus mykiss (Walbaum)

Aquaculture Research 32, 162-173.

Amar, E C., Kiron, V., Satoh, S., and Watanabe,

T., 2004 Enhancement of innate immunity in

rainbow trout (Oncorhynchus mykiss Walbaum)

associated with dietary intake of carotenoids from

natural products Fish & Shellfish Immunology

16, 527-537.

Anderson, D P., 1992 Immunostimulants, adjuvants,

and vaccine carriers in fish: application to

aquaculture Anual Review of Fish Diseases 2,

281-307.

Bricknell, I., and Dalmo, R A., 2005 The use of

immunostimulants in fish larval aquaculture Fish

& Shellfish Immunology 19, 457-472.

CIE, 1976 Official Recommendations on Uniform

Color Space, Color Difference Equations

and Metric Color Terms Suppl No 2 to CIE

Publication No 15 Colorimetry Commission International de l’Eclairage Paris.

Cook, M T., Hayball, P J., Hutchinson, W., Nowak, B., and Hayball, J D., 2001 The efficacy of a commercial β-glucan preparation, EcoActiva™,

on stimulating respiratory burst activity of

head-kidney macrophages from pink snapper (Pagrus auratus), Sparidae Fish & Shellfish Immunology

11, 661-672.

Cysewski, G R., and Lorenz, R T., 2004 Industrial production of microalgal cell-mass and secondary

products-species of high potential Haematococcus

In: Richmond, A Handbook of microalgal culture: Biotechnology and applied phycology Blackwell Science Ltd, USA pp: 1-566

Dalmo, R A., Ingebrigtsen, K., and Bøgwald, J., 1997 Non-specific defence mechanisms

in fish, with particular reference to the reticuloendothelial system (RES) Journal of Fish Diseases 20, 241-273.

Ellis, A., 1990 Lysozyme assay p: 101-103 In: Stolen J.S., D.P Fletcher, B.S Anderson, and B.S Robertson (eds) Techniques in fish immunology USA: SOS Publication.

Ellis, A E., 1999 Immunity to bacteria in fish Fish & Shellfish Immunology 9, 291-308.

Reed, L J., and Muench, H., 1938 A simple method

of estimating fifty percent endpoints American Journal of Epidemiology 27, 493-497.

Galaz, G B., Kim, S S., and Lee, K J., 2010 Effects

of different dietary vitamin E levels on growth performance, non-specific immune responses,

and disease resistance against Vibrio anguillarum

in parrot fish (Oplegnathus fasciatus)

Asian-Australasian Journal of Animal Sciences 23, 916-923

Goodwin, T W., 1984 In: The Biochemistry of the carotenoids Volume I & II Chapman & Hall, London.

Kim, S.-S., Song, J.-W., Kim, W., and Lee, K.-J., 2012 Effects of Dietary Astaxanthin on Innate Immunity and Disease Resistance against

Edwardsiella tarda in Olive Flounder Paralichthys olivaceus The Israeli Journal of Aquaculture -

Bamidgeh 740.

Li, M H., Robinson, E H., Oberle, D F., and Zimba, P V., 2007 Effects of Various Dietary Carotenoid Pigments on Fillet Appearance and

Pigment Absorption in Channel Catfish, Ictalurus punctatus Journal of the World Aquaculture

Society 38, 557-563.

Ngày đăng: 07/12/2020, 12:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w