Nghiên cứu về sự phân bố và mức độ phong phú của cá Lau Kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) ở ĐBSCL được thực hiện từ 09/2012 đến tháng 06/2013 với các loại hình thủy vực được khảo sát là sông, kênh và ao tự nhiên tại 4 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Hậu Giang.
Trang 1SỰ PHÂN BỐ VÀ MỨC ĐỘ PHONG PHÚ CỦA CÁ LAU KIẾNG
(Pterygoplichthys disjunctivus) Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Nguyễn Nguyễn Du1
TÓM TẮT
Diện tích Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chỉ chiếm 12,24% diện tích cả nước, nhưng được đánh giá là vựa cá lớn nhất của cả nước Sinh vật ngoại lai được đánh giá là một trong những nguyên nhân tác động mạnh nhất đến tính đa dạng sinh học (đứng thứ hai sau yếu tố mất môi trường sống)
(IUCN 2004) Nghiên cứu về sự phân bố và mức độ phong phú của cá Lau Kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) ở ĐBSCL được thực hiện từ 09/2012 đến tháng 06/2013 với các loại hình thủy vực
được khảo sát là sông, kênh và ao tự nhiên tại 4 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Hậu Giang
Kết quả chỉ ra rằng cá Lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) là loài cá có nguồn gốc từ Nam
Mỹ và được di nhập vào Việt Nam từ những năm 1990, do thoát ra ngoài từ việc nuôi cá cảnh, kích thước lớn nhất ghi nhận được ở ĐBSCL là 1,2kg Phân bố của cá Lau kiếng rất rộng, chúng xuất hiện ở tất cả các loại hình thủy vực nước ngọt bao gồm sông (32%), kênh (20%) và ao tự nhiên (48%) Sự phong phú của cá Lau kiếng ở mức độ kém phong phú (mức 3) và đang tiến gần đến mức độ phong phú (mức 2) Đây cũng là loài cá ngoại lai xâm lấn, chúng có khả năng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh, và có một số đặc tính sinh học vượt trội so với các loài cá bản địa như chịu được khô hạn vẫn sống sót sau 10 ngày, sinh sản nhiều, tỉ lệ sống của cá con 70% (Oanh, 2012) Điều này
sẽ làm cho một số loài cá bản địa mất dần và làm cho mất cân bằng hệ sinh thái ở một số thủy vực
ở ĐBSCL (đặc biệt ở những đống chà ven sông) Cần có những biện pháp hữu hiệu hay biện pháp giảm nhẹ tác động của loài cá này
Từ khóa: cá Lau kiếng, phân bố, phong phú, thủy vực, ảnh hưởng
1 Phòng Nguồn lợi và Khai thác Thủy sản Nội địa, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
Email: didzu72@yahoo.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Diện tích Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) chỉ chiếm 12,24% diện tích cả nước,
nhưng được đánh giá là vựa cá lớn nhất của cả
nước Tổng sản lượng thuỷ sản ĐBSCL năm
2013 đạt 2.271.600 tấn, chiếm 38,24% tổng
sản lượng thuỷ sản của cả nước Nghề khai thác
cũng như nuôi trồng thuỷ sản đóng một vai trò
quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm và
kế sinh nhai cho hơn 17 triệu người dân địa
phương Do đó, bất kỳ một tác động nào mà ảnh
hưởng đến “vựa cá” này cần phải được đánh giá
chi tiết, tìm ra các phương án thích hợp vàbền
vững nhất nhằm giảm thiểu tác động Tác động của các sinh vật ngoại lai là một trong những tác động đáng chú ý đến đa dạng sinh học thuỷ sản
và hệ sinh thái vùng ĐBSCL
IUCN (2004) nhấn mạnh rằng sinh vật ngoại lai được đánh giá là một trong những nguyên nhân tác động mạnh nhất đến tính đa dạng sinh học (đứng thứ hai sau yếu tố mất môi trường sống) Những loài này được di nhập bằng nhiều cách khác nhau và với các mục đích khác nhau Trong nhiều trường hợp, loài ngoại lai có thể sinh sản và sinh trưởng rất nhanh ở hệ sinh thái mới do có sự phong phú hơn về thức
Trang 2ăn hay loài cạnh tranh hay thiên địch ít, cho nên
chúng chiếm ưu thế về số lượng quần đàn, đến
một lúc nào đó chúng làm phá vỡ cân bằng hệ
sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của
con người
Trường hợp điển hình là cá Lau kiếng
(Pterygoplichthys disjunctivus) ở ĐBSCL Loài
cá này được di nhập vào Việt Nam từ những
năm 1990 thông qua đường nuôi và kinh doanh
cá cảnh Hiện nay, cá Lau kiếng đã và đang phân
bố rất phổ biến ở vùng ĐBSCL, trong tất cả
các thủy vực sông kênh rạch và vùng ngập lụt,
ngay cả vùng ven biển cũng bắt gặp và chiếm
một tỷ trọng đáng kể trong tổng sản lượng khai
thác của ngư dân (Vũ Vi An và Đoàn Văn Tiến,
2012) Bên cạnh đó, cá Lau kiếng còn xuất hiện
trong ao nuôi cá của người dân địa phương với
mật độ cao và ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng sản xuất kinh doanh của nông hộ
Mặc dù cá Lau kiếng đã bùng phát khắp
vùng ĐBSCL ở mức đáng báo động, nhưng tác
động của cá Lau kiếng đến đa dạng sinh học
thuỷ sản mới chỉ dừng lại ở mức cảnh báo và
nhận định ban đầu Đặc biệt cá Lau kiếng đã
được liệt kê vào danh sách các loại ngoại lai
xâm lấn trên thế giới và khuyến cáo không nên
di nhập do có tác động đến đa dạng sinh học
thuỷ sản và môi trường sống các loài bản địa
Đối với một số quốc gia đã di nhập loài cá này
cho thấy đã xác định được các hậu quả nghiêm
trọng tác động đến hệ sinh thái và các loài thuỷ
sản bản địa do cá Lau kiếng gây ra Trong khi
đó, cá Lau kiếng đã di nhập vào Việt Nam và đã
có những tác động nhất định đến đa dạng sinh
học thuỷ sản Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
kết quả nghiên cứu nào về sự phân bố của cá
Lau kiếng ở ĐBSCL Vì vậy, việc triển khai
đề tài “Sự phân bố và mức độ phong phú của
cá Lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus)
ở Đồng bằng sông Cửu Long” là rất cấp thiết
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng, đánh giá sự phân
bố, mức độ phong phú và sự xuất hiện của cá
Lau kiếng ở vùng ĐBSCL, đề tài làm cơ sở đề
xuất các giải pháp giảm thiểu thích hợp nhằm
hạn chế sự bùng phát cũng như giảm thiểu các tác động do cá Lau kiếng gây ra đến hệ sinh thái
và đa dạng sinh học động vật thuỷ sản
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng chính là mẫu vật cá Lau kiếng
(Pterygoplichthys disjunctivus).
- Ngư cụ thu mẫu là lưới kéo tay (dùng trong các ao tự nhiên) và lưới cào khung (dùng trong sông và kênh) được thuê trực tiếp từ ngư dân tại khu vực khảo sát
- Máy định vị toàn cầu (GPS) và các vật liệu hỗ trợ cần thiết khác (formol, thau, xô, keo đựng mẫu, giấy, bút)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thu mẫu trên các lọai hình thủy vực được khảo sát là sông, kênh và ao tự nhiên tại 4 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Hậu Giang Mỗi loại hình thủy vực được tiến hành thu 3 mẫu ngẫu nhiên (Hình 1)
2.2.2 Thời gian thu mẫu
Mẫu vật được thu từ tháng 12/2012 đến tháng 6/2013 chia làm 4 đợt vào các tháng 12/2012, tháng 2/2013, tháng 3/2013 và tháng 6/2013
2.3 Phương pháp phân tích
2.3.1 Phương pháp xác định sự phân bố và mức độ phong phú
Phương pháp diện tích quét được sử dụng
để xác định sự phân bố và mức độ phong phú
Để xác định vùng phân bố và mức độ phong phú của cá Lau kiếng so với các lòai cá bản địa
có giá trị kinh tế, đề tài này áp dụng phương pháp diện tích quét của lưới kéo để xác định vùng phân bố và chỉ số sản lượng trên một đơn
vị diện tích (CPUA, kg/m2) và chỉ số sản lượng trong 1 giờ kéo lưới trên ngư cụ (CPUE, kg/ giờ/cào) để xác định mức độ phong phú (King, 1995) của cá Lau kiếng
Trang 3- Xác định diện tích quét của lưới kéo a
(m2): a = R * D *V
Trong đó: R là chiều rộng của lưới kéo (m)
D là thời gian dắt lưới (≈ 30 phút)
V là tốc độ dắt lưới (m/s) được xác định
bằng GPS
- Xác định sản lượng khai thác trên một đơn
vị diện tích (CPUA, kg/m2)
CPUA = W*v / a
Trong đó: CPUA (kg/m2) là sản lượng trên
một đơn vị khai thác
W(kg) là sản lượng của một mẽ khai thác
v là hệ số xác suất khai thác (v = 0,5 ; King,
1995)
a là diện tích quét của lưới kéo (m2)
- Xác định sản lượng khai thác trong 1 giờ
kéo lưới trên ngư cụ (CPUE, kg/giờ/cào)
CPUE = C/n/h
Trong đó: CPUE (kg/giờ/cào) là sản lượng
trong 1 giờ kéo lưới trên ngư cụ
C(kg) là tổng sản lượng của các mẽ khai thác
n là tổng số chuyến cào
h là tổng số giờ khai thác
- Xác định tỉ lệ về sản lượng của cá Lau kiếng so với các loài cá bản địa có giá trị P1(%):
P 1 (%) = (W lk / W bđ ) * 100
Trong đó: Wlk (kg) là sản lượng cá Lau kiếng tại mỗi vị trí thu mẫu
Wbđ (kg) là sản lượng của các lòai cá bản địa có giá trị kinh tế tại mỗi vị trí thu mẫu
- Xác định tỉ lệ về cá thể của cá Lau kiếng
so với các loài cá bản địa có giá trị P2(%):
P 2 (%) = (N lk / N bđ ) * 100
Trong đó: Nlk (cá thể) là số cá thể cá Lau kiếng tại mỗi vị trí thu mẫu
Nbđ (cá thể) là số cá thể của các lòai cá bản địa có giá trị kinh tế tại mỗi vị trí thu mẫu Ngoài ra, để đánh giá mức độ phong phú của loài, mức độ phong phú của từng loài được
Hình 1 Bản đồ vị trí các điểm thu mẫu (Nguồn: Ủy hội sông Mekong)
Trang 4xác định dựa vào tần số bắt gặp cũng như số
lượng cá trong mẻ khai thác ở ba mức độ khác
sau (Hoàng Thị Hiệp và Phạm Văn Hiệp 2009):
- Mức 1: Rất đa phong phú: xuất hiện hầu
hết trong mẻ khai thác với tần suất bắt gặp từ
51% đến 100%
- Mức 2: Phong phú: khi có tần suất bắt gặp
từ 25 % đến 50%
- Mức 3: Kém phong phú: khi có tần suất
bắt gặp nhỏ hơn 25%
2.3.2 Phương pháp xác định sự ảnh hưởng
của cá Lau kiếng đến nguồn lợi thủy sản tự
nhiên.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp để xác
định ảnh hưởng của cá Lau kiếng đến nguồn lợi
thủy sản tự nhiên
Điều tra khảo sát các loại ngư cụ khai thác
thuỷ sản về sản lượng khai thác của cá Lau
kiếng và sản lượng những loài cá khác trong mẻ
khai thác Đây là nội thông tin rất quan trọng để
đánh giá mức độ phổ biến của cá Lau kiếng ở
các thuỷ vực tự nhiên Ngoài ra, các thông tin
liên quan cũng được thu thập từ những ngư dân
địa phương như: sự xuất hiện của cá Lau kiếng,
xu hướng biến động sản lượng của cá Lau kiếng
và các loài thuỷ sản bản địa, những loài bản địa
ít bắt gặp hoặc không còn bắt gặp, cách khắc
phục v.v
Xây dựng phiếu điều tra, phỏng vấn ngư
dân khai thác ở các lọai hình thủy vực sông,
kênh/rạch và ao đầm tự nhiên với tất cả các loại
hình ngư cụ (chà, lưới đăng, câu ) đang hoạt
động trên các thủy vực đó Số lượng ngư dân
được phỏng vấn tùy thuộc vào điều kiện thực tế
nhưng không vượt quá 30 ngư dân tại mỗi điểm
thu mẫu
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Phần mềm MS Excel, MS Word được sử
dụng để lưu trữ, phân tích dữ liệu và viết báo
cáo tổng hợp
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nguồn gốc xuất hiện cá Lau Kiếng
Cá Lau kiếng hiện nay rất phổ biến và hầu như có mặt khắp vùng ĐBSCL Cá Lau kiếng bắt đầu xuất hiện khá nhiều ở các thuỷ vực tự nhiên vùng ĐBSCL từ những năm 1990 cho đến nay Nguồn gốc xuất hiện của loài cá này được cho là từ việc nuôi cá cảnh của người dân Kết quả khảo sát cho thấy cá Lau kiếng xuất hiện ngoài từ nhiên ở ĐBSCL vào từ năm 2001 và
sự phổ biến của cá này được biết nhiều nhất tập trung vào năm 2005
Vị trí cá Lau kiếng trong Hệ thống phân loại cá:
Bộ: Siluriformes Họ: Loricariidae
Họ phụ: Hypostominae
Giống: Pterygoplichthys Loài: Pterygoplichthys disjunctivus (Weber,
1991) Tên tiếng Việt: Cá Lau kiếng hay cá cọ bể Tên tiếng Anh: Vermiculated sailfin catfish (Nguồn: Mô tả định loại cá Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, 2013)
Hình 2 Cá Lau kiếng Pterygoplichthys
disjunctivus (Weber, 1991)
Đặc điểm chính để nhận dạng loài cá này là:
có 1 vi mỡ; vi lưng có 10 – 14 tia vi; vi hậu môn:
3 – 5 tia vi; vi ngực: 6 – 7 tia vi; vi bụng 5 – 6 tia
vi (Fishbase, 2013) Ngoài ra, cá còn có những đặc điểm nhận dạng khác: có các vẩy sừng trên thân, có vây mỡ, miệng dưới, môi có gai thịt, vi lưng có 12 - 14 tia, có nhiều sọc hoa văn ở mặt
bụng (Định và et al., 2013).
Trang 5Đặc điểm sinh học của cá Lau kiếng:
Đây là loài đẻ trứng trong hang và cá đực có
nhiệm vụ canh giữ tổ trứng Chỉ số đa dạng phát
sinh loài cao (PD50 = 0,50); Mức dinh dưỡng =
2,0; khả năng thích ứng cao, quần đàn có thể
tăng gấp đôi trong thời gian 1,4 – 4,4 năm; khả
năng bị tác động thấp (30/100) (Fishbase, 2013)
Cá Lau kiếng sinh trưởng nhanh trong 2
năm đầu: chiều dài đạt hơn 35cm sau 2 tuổi và
kích thước lớn nhất ghi nhận được là 70cm Cá
thường sinh sản ở kích thước 25cm (Mendoza
et al., 2009) Sức sinh sản cũng cao với 472 –
1.283 – 3.000 trứng/cá thể, đặc biệt cá có kích
thước càng lớn thì sức sinh sản càng cao (Devick
1988, 1989; Mendoza et al., 2009) Mùa vụ sinh
sản tập trung trong mùa hè, nhưng cũng sinh sản
quanh năm (Mendoza et al., 2009).
Cá Lau kiếng thích nghi tốt trong điều kiện
môi trường khắc nghiệt Cá có thể phân bố trong
môi trường có nồng độ oxy hoà tan trong nước
rất thấp (Fishbase, 2013) Thực tế cho thấy cá
Lau kiếng có thể sống trong môi trường ẩm
thấp, ngay cả khi mực nước thấp hơn miệng
hang (Burgess, 1989; Sandford và Crow, 1991)
Những đặc điểm này giúp cá Lau kiếng có thể
lấn át và vượt trội so với những loài thuỷ sản
khác trong môi trường tự nhiên và nhân tạo
3.2 Phạm vi phân bố của cá Lau kiếng
Kết quả chỉ ra rằng cá Lau kiếng xuất hiện
ở tất cả các loại hình thủy vực được khảo sát
(Hình 3) Số lượng cá Lau kiếng đánh bắt được
nhiều nhất ở loại hình ao tự nhiên (48%), thấp
nhất là ở kênh (20%), còn lại 32% tổng số lượng
cá bắt được là ở sông
Trên địa bàn tỉnh An Giang xuất hiện cá Lau
kiếng với mật độ dày ở hầu hết các sông, kênh,
rạch, ao, hồ… Cá Lau kiếng chiếm tỷ lệ cao
trong sản phẩm thu hoạch của ngư dân qua các
nghề khai thác truyền thống như: Chất chà, cất
vó, chài, kéo lưới (Báo An Giang, 18/12/2013)
Hình 3 Tỉ lệ số lượng cá thể cá Lau kiếng bắt
được ở các loại hình thủy vực
3.3 Mức độ phong phú của cá Lau kiếng
Nhìn chung, mức độ phong phú của cá Lau kiếng ở các loại hình thủy vực ở mức kém phong phú (mức 3) Hình 4 cho thấy rằng cá Lau kiếng ở mức độ kém phong phú nhất ở loại hình thủy vực ao tự nhiên Tuy nhiên, cũng nên chú ý ở hai loại hình thủy vực sông và kênh, sự phong phú của cá Lau kiếng đang gần tiến tới mức độ phong phú
Hình 4 Phần trăm mức độ phong phú của cá
Lau kiếng ở các thủy vực
Kết quả phân tích sản lượng khai thác trên một đơn vị diện tích (CPUA, g/m2) của cá Lau kiếng ở các loại hình thủy vực cho thấy CPUA rất thấp, thấp nhất ở ao tự nhiên CPUA = 0,0007 g/m2 , còn ở sông và kênh tương đương nhau, lần lượt là 0,31 g/m2 và 0,34 g/m2 (Hình 5)
Trang 6Hình 5 CPUA ở các thủy vực
Hình 6 CPUE ở các thủy vực
Tương tự, sản lượng khai thác cá Lau kiếng
trong 1 giờ kéo lưới ở ngư cụ cào (CPUE, g/giờ/
cào) cũng rất thấp, ở sông CPUE = 3,26 g/giờ/
cào, tuy nhiên ở kênh CPUE cao hơn với 3,57 g/
giờ/cào (Hình 6)
So sánh sản lượng của cá Lau kiếng so với
sản lượng các loài cá bản địa cho thấy tỉ lệ này
rất thấp chiếm khoảng 3% (Hình 7)
Hình 7 Tỉ lệ trọng lượng cá Lau kiếng so với
các loài cá bản địa
Bên cạnh đó, số lượng cá thể của cá Lau
kiếng so với số lượng cá thể các loài cá bản địa
có chiếm tỉ lệ cực kỳ thấp chỉ1% (Hình 8)
Hình 8 Tỉ lệ cá thể cá Lau kiếng so với các
loài cá bản địa
3.4 Ảnh hưởng của cá Lau kiếng đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên
Trong rất nhiều trường hợp tác động của các loài cá ngoại lai khó đánh giá, khó định lượng hay dự báo tác động đến nguồn lợi thủy sản và môi trường tự nhiên (Moyle và Light 1996)
Từ những phân tích và đánh giá về sản lượng khai thác, các đặc điểm sinh học và các nhận định về các tác động của cá Lau kiếng đến nguồn lợi thủy sản địa phương thông qua khảo sát ngư dân, chúng tôi nhận định rằng: quần đàn
cá Lau kiếng phát triển nhanh, có thể phát tán và sinh trưởng ở tất cả các thủy vực, và sẽ đe dọa đến tính bền vững nguồn lợi thủy sản và tính
đa dạng sinh học ở các thủy vực tự nhiên Thực
tế khảo sát tại các bến cá và chợ địa phương cho thấy, cá Lau kiếng được đánh bắt rất nhiều (Hình 9)
Hình 9 Thu mua cá Lau kiếng từ các ngư
dân khai thác ở Thốt Nốt
Trang 7Cá Lau kiếng có tính cạnh tranh cao về thức
ăn và nơi cư trú đến các loài cá khác và sự xuất
hiện của loài cá này làm giảm đi sự xuất hiện
của những loài cá khác, đặc biệt là ở những
đống chà ven sông (11% ngư dân được phỏng
vấn) Do đó, sự xuất hiện của cá Lau kiếng sẽ đe
dọa đến sự tồn tại của các loài cá khác
Sự xuất hiện của cá Lau kiếng có một số lợi
ích tức thời về mặt kinh tế xã hội của nông hộ
Hiện loài cá này có giá ở thị trường từ 10 – 20
ngàn đồng/kg và được người tiêu thụ ưa chuộng
do thịt ngon, có thể chế biến các món ăn như
làm chả cá, nướng, luộcvà hầm với sả
IV THẢO LUẬN
Cá lau kiếng phân bố chủ yếu ở vùng nước
ngọt, nhưng chúng cũng bắt gặp ở cả vùng nước
lợ, gần cửa sông ven biển (Vũ Vi An và Đoàn
Văn Tiến, 2012) Cũng trong nghiên cứu này
cho thấy sản lượng khai thác cá lau kiếng chiếm
2,68% tổng sản lượng khai thác đối với các loại
lưới bén và lưới ba màng Đối với một số loại
ngư cụ khác thì sản lượng cao hơn nhiều, ví dụ
như dỡ chà: sản lượng cá lau kiếng trung bình
chiếm 23,5% tổng sản lượng khai thác (Phạm
Văn Khánh và Thi Thanh Vinh, 2005)
Cá lau kiếng còn khá phổ biến trong các
ao nuôi cá vùng ĐBSCL Ví dụ như ao nuôi
cá tra (1.200m2) ở An Giang: khi thu hoạch đã
bắt được khoảng 400kg cá Lau kiếng trong ao
Khoảng 90% số ao khi nuôi cá khi thu hoạch
đều có sự xuất hiện của cá Lau kiếng (Đức
Vịnh, 2012)
Cá Lau kiếng sinh sản rất nhanh, lượng
trứng rất nhiều 250.000 – 300.000 trứng (Oanh,
2012) và chúng có khả năng sống sót sau 10
ngày trong điều kiện khô cạn không có nước ở
các thủy vực nông Đây là loài cá thích nghi cao
ở vùng nhiệt đới như ở ĐBSCL
Quần đàn cá Lau kiếng đang phân bố rộng
ở ĐBSCL sẽ tiếp tục tăng nhanh về số lượng,
đến một lúc nào đó chúng lấn át các loài cá bản
địa khác thông qua cạnh tranh về môi trường
sống và nơi cư trú, có thể trong tương lai gần,
sản lượng khai thác thủy sản ở ĐBSCL chủ yếu
là cá Lau kiếng, ngược lại một số loài cá địa phương đang phổ biến hiện nay như cá Linh, Rô, Lăng và cá Bống tượng sẽ có thể giảm nghiêm trọng Do đó, người dân không nên phát tán cá Lau kiếng ra sông, rạch; khi đánh bắt được loại
cá này nên tiêu hủy hoặc tiêu thụ làm thức ăn
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận
Cá Lau kiếng (Pterygoplichthys
disjunctivus) là loài cá có nguồn gốc từ Nam Mỹ
và được di nhập vào Việt Nam từ những năm
1990, do thoát ra ngoài từ việc nuôi cá cảnh Đây là loài cá có kích thước lớn, kích thước lớn nhất nghi nhận được ở ĐBSCL là 1,2kg, người dân cho rằng kích thước cá Lau kiếng còn lớn hơn nhiều, tuy nhiên thông tin này chưa được kiểm chứng
Phân bố của cá Lau kiếng rất rộng, chúng xuất hiện ở tất cả các loại hình thủy vực nước ngọt Sự phong phú của cá Lau kiếng ở mức độ kém phong phú (mức 3) và đang tiến gần đến mức độ phong phú (mức 2)
Đây là loài cá ngoại lai xâm lấn, quần đàn
cá phát triển nhanh, có thể phát tán và sinh trưởng ở tất cả các thủy vực nước ngọt, và sẽ
đe dọa đến tính bền vững nguồn lợi thủy sản và tính đa dạng sinh học ở các thủy vực tự nhiên Điều này sẽ làm cho một số loài cá bản địa mất dần và làm cho mất cân bằng hệ sinh thái ở một
số thủy vực ở ĐBSCL
5.2 Đề xuất
Đây là loài cá ngoại lai xâm lấn có tác động mạnh mẽ đến nguồn lợi thủy sản địa phương và tính đa dạng sinh học, do đó không nên phân tán loài cá này đến những thủy vực khác và cần có những biện pháp hữu hiệu hay biện pháp giảm nhẹ tác động của loài cá này
Tiếp tục hợp tác với các cơ quan nghiên cứu hay trường đại học để theo dõi và nghiên cứu tác động của loài cá ngoại lai xâm lấn này
Trang 8nhằm tư vấn cho chính quyền địa phương có
biện pháp giảm nhẹ tác động kịp thời
Ngoài ra để hạn chế sự phát tán các loài cá
ngoại lai nên tăng cường quản lý và xây dựng
các văn bản pháp lý các loài cá nhập nội, tăng
cường khung luật pháp cũng như hợp tác quốc
tế trong việc phòng ngừa việc du nhập, kiểm
soát và tiêu diệt các loài ngoại lai xâm hại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Đức Vịnh, 2012 Tràn ngập … cá Lau Kiếng Báo tuổi
trẻ Online ngày 29/12/2003.
Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng, Bùi Lai, Trần Mai
Thiên, 1979 Ngư loại học NXB Đại Học và
Trung Học Chuyên Nghiệp Hà Nội 235 trang.
Phạm Văn Khánh, Thi Thanh Vinh, 2005 Đánh
giá ảnh hưởng của loài tỳ bà hay cá Lau kiếng
(Hypostomus plecostomus) xâm nhập lên nghề
nuôi cá truyền thống và đa dạng sinh học tại Châu
thổ sông Mekong, Việt Nam Báo cáo kết quả
khảo nghiệm 11 trang.
Trần Đắc Định, K Shibukawa, P.T Nguyen, H.P Ha,
L.X Sinh, H.V mai and Utsugi, 2013 Mô tả định
lọai cá Đồng bằng sông Cửu long, Việt Nam Nhà
xuất bản Đại học Cần thơ 174 trang.
Huỳnh Thị Hoàng Oanh, 2012 Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học của cá Lau kính (Pterygoplichthys
disjunctivus) Luận văn tốt nghiệp Cao học 79
trang.
http://m.baoangiang.com.vn /newsdetails / 1247ECEF
DDCC / Xuat_hien_nhieu_ca_lau_kieng_cuoi_
mua_lu.aspx (18/12/2013)
Tài liệu tiếng Anh
IUCN, 2004 A global species assessment 2004 IUCN
Red list of threatened species.
Fishbase, 2013 Fishbase (http://www.fishbase.org/
search.php) Cập nhật ngày 04/06/2013.
Devick, W S., 1989 Disturbances and fluctuations
in the Wahiawa Reservoir ecosystem Project F-14-R-13 Job 4 Study I Division of Aquatic Re sources Hawaii Department of Land and Natural Resources 189-213.
Mendoza, R.E., Cudmore, B., Orr, R., Balderas, S.C., Courtenay, W.R., Osorio, P.K., Mandrak, N., Torres, P.A., Damian, M.A., Gallardo, C.E., Sanguines, A.G., Greene, G., Lee, D., Orbe-Mendoza, A., Martinez, C.R., and Arana, O.S,
2009 Trinational Risk Assessment Guidelines for Aquatic Alien Invasive Species Commission for Environmental Cooperation 393 rue St-Jacques Ouest Bureau 200 Montréal (Québec) Canada ISBN 978-2-923358-48-1.
Burgess, W E., 1989 An atlas of freshwater and marine catfishes – A preliminary survey of the Siluriformes TFH Publications Neptune City NJ.
Sandford, G., and Crow, R., 1991 The manual of tank busters Tetra Press Morris Plains NJ.
Moyle, P.B., Light, T., 1996 Biological invasions of freshwater: emperical rules and assembly theory
Biological Conservation, vol 78, 149-161.
Hubilla, M., Kis, F., & Primavera, J., 2007 Janitor
Fish Pterygoplichthys disjunctivus in the Agusan
Marsh: a Threat to Freshwater Biodiversity Journal
of Environmental Science and Management 10(1), 10-23.
Nico, L., 1999 Pterygoplichthys disjunctivus (Weber
1991) Nonindigenous aquatic species fact sheet 766.” United States Geological Survey.
A Key to the Genera of Loricariidae http://www.auburn edu/academic/science_math/cosam/collections/ fish/lor_key/key.html Update 04/06/2013.
Key to the Species of Pterygoplichthys by J.W
Armbruster and L.M Page (partially modified
from Weber, 1992) http://www.auburn.edu/
academic/science_math/res_area/loricariid/fish_ key/pterygo/pterygo.html Update 04/06/2013.
Trang 9DISTRIBUTION AND ABUNDANCE OF VERMICULATED SAILFIN CATFISH
(Pterygoplichthys disjunctivus) IN THE MEKONG DELTA, VIETNAM
Nguyen Nguyen Du1
ABSTRACT
Mekong Delta is about 12.24% area of Vietnam but it was considered as the biggest fish house of whole country Invasive species is one of the causes of affecting to biodiversity (the second after loss live habitat) (IUCN, 2004) Study of distributions and abundance of Vermiculated sail fin
cat-fish (Pterygoplichthys disjunctivus) in the Mekong Delta was carried out from September 2012 to
June 2013 included river, canal and wild pond at An Giang, Dong Thap, Can Tho and Hau Giang
provinces Result showed that (Pterygoplichthys disjunctivus) is original from South America was
imported to Vietnam in 1990s They are exited out wild habitat from aquarium The biggest weight was 1.2kg recorded in Mekong Delta Distribution of mouth sucker was very broad, they presented
in almost of fresh-water body Abundance of mouth sucker was at low level and this advances to abundance level This is a invasive species, they is grow and spawn rapidly, their bio-characteristics are higher than native species such as high sustained ability with out of water conditions in 10 days, much breeding, alive rate of larvae with 70% (Oanh, 2012) This causes that native fishes will disap-pear in the future and it will be unbalance of eco-systems in fresh-water bodies Mekong Delta This suggests that useful solutions will propound and mitigate impact of this fish
Keywords: mouth sucker, distribution, abundance, water body, evaluation
Người phản biện: TS Nguyễn Minh Niên
Ngày nhận bài: 10/02/2014 Ngày thông qua phản biện: 28/02/2014
Ngày duyệt đăng: 30/3/2014
1 Inland Fisheries Resources and Capture Division, Research Institure for Aquaculture No2
Email: didzu72@yahoo.com