Nghiên cứu này có mục tiêu là tạo tái tổ hợp ADN của gen VP28 ở virus trong tế bào nấm men nhằm thu được chủng nấm men có khả năng biểu hiện protein VP28 ngoại bào làm nguyên liệu cho việc điều chế vắc xin/tolerine phòng bệnh đốm trắng cho tôm nuôi.
Trang 1DÒNG HÓA VÀ BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA PROTEIN VỎ VP28 CỦA VIRUS GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG TRONG TẾ BÀO NẤM
MEN PICHCHIA PASTORIS
Ngô Thị Ngọc Thủy1, Nguyễn Viết Dũng2, Đặng Thị Trà My1
TÓM TẮT
Virus gây bệnh đốm trắng là loại virus phổ biến và là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm he trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nghiên cứu này có mục tiêu là tạo tái tổ hợp ADN của gen VP28 ở virus trong tế bào nấm men nhằm thu được chủng nấm men có khả năng biểu hiện protein VP28 ngoại bào làm nguyên liệu cho việc điều chế vắc xin/tolerine phòng bệnh đốm trắng cho tôm nuôi Đoạn gen VP28 đã được khuếch đại bằng kỹ thuật Polymerase chain reaction; sản phẩm khuếch đại sau đó được dòng hóa vào vector pPIC9K để tạo tái tổ hợp pPIC9K-VP28 rồi pPIC9K-VP28 được biến nạp vào tế bào nấm men
Pichia pastoris GS115 để biểu hiện protein mục tiêu và cảm ứng biểu hiện bằng methanol Quá trình sàng lọc
200 chủng nấm men sau biến nạp đã được thực hiện Kết quả thu được 5 chủng nấm men có mang pPICK9K-VP28 có khả năng cảm ứng biểu hiện protein pPICK9K-VP28 ngoại bào Áp dụng phương pháp Bradford để đo nồng
độ protein ngoại bào của 5 chủng nghiên cứu theo thời gian lên men P pastoris và lượng protein tổng số cao
nhất sau 72 giờ nuôi cấy là 106,9 μg/ml
Từ khóa: Pichia pastoris, protein, VP28, WSSV
1 Phân Viện Nghiên cứu Thuỷ sản Minh Hải, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
Email: thuyngo8@yahoo.com
2 Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
I MỞ ĐẦU
Virus gây hội chứng đốm trắng (White spot
syndrome virus - WSSV) xuất hiện đầu tiên
năm 1992 tại Trung Quốc (Chou và ctv, 1995)
là loại virus gây bệnh nghiêm trọng và phổ biến
nhất cho các loài tôm he Ở Việt Nam, virus
này được phát hiện năm 1993 và từ đó đến nay
chúng luôn là một trong những nguyên nhân
chủ yếu gây thiệt hại kinh tế lớn cho nghề nuôi
tôm Theo cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, năm 2012, bệnh đốm trắng đã
xuất hiện ở vùng nuôi tôm của 19 tỉnh thành
trên cả nước với tổng diện tích bệnh là 8.108,5
ha Bảy tháng đầu năm 2013, dịch bệnh đốm
trắng đã xuất hiện và lây lan nhanh tại 23 tỉnh
với tổng diện tích bệnh là 7.030 ha Nhằm giảm
thiểu thiệt hại do dịch bệnh đốm trắng gây ra,
các biện pháp phòng bệnh bằng thảo dược,
bằng chất kích thích miễn dịch và đặc biệt bằng protein/DNA tái tổ hợp (vắc xin/tolerine), đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhất là sau khi hiện tượng “đáp ứng miễn dịch” (quasi-immune response) trên tôm (Venegas và ctv, 2000) được công bố
Việc sử dụng kỹ thuật tạo protein DNA tái
tổ hợp đã được nghiên cứu ở Việt Nam với mục tiêu phát triển kháng thể đa dòng trong chẩn đoán bệnh đốm trắng (Nguyễn Quỳnh Anh 2006; Bùi Thị Bích Hằng, 2012) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào ứng dụng kỹ thuật này trong việc nghiên cứu chế tạo vắc xin/tolerine phòng bệnh đốm trắng trên tôm Nghiên cứu này là một phần của đề tài cấp Bộ: “Bước đầu nghiên cứu, sản xuất tolerin có khả năng hạn chế lây lan của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm Sú nuôi thương phẩm ở Đồng bằng sông
Trang 2Cửu Long” sẽ thực hiện việc dòng hóa và biểu
hiện gen mã hóa protein vỏ VP28 của virus gây
bệnh đốm trắng trong tế bào nấm men để làm
nguyên liệu cho việc chế tạo vắc xin/tolerine
phòng bệnh cho tôm
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Chủng virus đốm trắng được sử dụng
trong nghiên cứu này là chủng thu được tại
tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian dịch bệnh; là
loại virus đã dùng trong nghiên cứu của Dieu
(2010) được cung cấp bởi trường Đại học
Wageningen, Hà Lan
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Công việc được tiến hành tại Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 từ tháng 4/2013 đến
tháng 12/2013
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tạo vector tái tổ hợp
pPick9K-VP28
(1) Chuẩn bị gen VP 28 và vector
Khuếch đại và tinh sạch cấu trúc gen
VP28 (Jha và ctv, 2007)
Đoạn gen VP28 của virus được nhân lên về
số lượng bằng phương pháp polymerase chain
reaction (PCR) sử dụng cặp mồi VP28YE-FW
(5’-AAAGAATTCATGGATCTTTCTTTCA
CTCTTTCGGG-3’) mang trình tự
nhận biết enzyme cắt giới hạn EcoRI và
VP28YE-R-His (5’-GCGGCCGCATG
AT G AT G AT G AT G AT G C T C G G T C T C
AGTGCCAGAG-3’) có gắn trình tự nhận biết
của enzyme cắt giới hạn NotI và một trình tự mã
hóa liên tục 6 amino acid Histidine (phần gạch
chân) Điều kiện phản ứng: 94°C trong 3 phút
sau đó chu kỳ 95°C trong 30 giây, 55°C trong
45 giây, 72°C trong 60 giây được lặp lại 35 lần
và phản ứng được giữ ở 72°C trong 10 phút
trước khi kết thúc Sản phẩm phản ứng được
điện di trên gel agarose 1,5% và kiểm tra dưới
tia UV Sản phẩm PCR của gen VP28 là 650bp
Sản phẩm PCR sau đó được tinh sạch bằng cách
sử dụng bộ kit PCR purification (Invitrogen) và thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Tinh sạch plasmid pPICK9K
Plasmid pPIC9K trong vi khuẩn E coli
DH5α được tinh sạch bằng bộ kit Wizard® Plus SV Minipreps DNA Purification (A1330,
Promega, Mỹ) Cụ thể, một khuẩn lạc E coli
DH5α mang vector pPIC9K trên môi trường
LB có ampicilin được chọn và nuôi sinh khối trong môi trường LB lỏng có bổ sung ampicilin (100µg/ml), nuôi cấy lắc (200 vòng/phút) ở 37°C; sinh khối thu sau 18-24 giờ nuôi cấy Sau
đó, plasmid pPIC9K trong sinh khối vi khuẩn nuôi cấy được tinh sạch bằng kit theo hướng dẫn của nhà sản xuất Plasmid tinh sạch được bảo quản ở -20°C
Xử lý DNA VP28 và plasmid đã tinh sạch bằng enzyme cắt giới hạn
DNA VP28 và plasmid đã tinh sạch được
xử lý với enzyme cắt giới hạn EcoRI và NotI
Thành phần hóa chất tham gia quá trình phân cắt bao gồm: 1,6μl nước cất; 30,0μl DNA (VP28) hoặc pPIC9K; 4,0μl NEB Buffer 3 (10X); 2,0μl EcoRI (10.000U/μl, NEB); 2,0μl NotI (10.000U/ μl, NEB) và 0,4μl BSA 100X Hỗn hợp cắt được ủ qua đêm ở 37°C Toàn bộ sản phẩm sau phản ứng được điện di trên gel agarose 1% và sau đó tinh sạch lại bằng bộ hóa chất Wizard® SV Gel and PCR Clean-Up System (Promega, Mỹ) Sản phẩm sau tinh sạch được bảo quản ở -20°C
(2) Tạo vector tái tổ hợp pPIC9K-VP28
Gen VP28 và vector pPIC9K sau khi được
xử lý với 2 enzyme EcoRI và NotI sẽ được nối
bằng enzyme gắn kết T4 ligase (Promega, Mỹ) Phản ứng nối bao gồm các thành phần: 2μl nước cất, 1μl dung dịch đệm 10x, 1μl VP28/EcoRI-NotI, 5μl pPIC9K/EcoRI-VP28/EcoRI-NotI, 1,0μl T4 ligase,
ủ nhiệt độ phòng trong 2 giờ Bằng việc thiết lập pPICK9K-VP28 tại vị trí chèn của cặp enzyme EcoRI và NotI, hệ thống vector này sẽ cho phép biểu hiện protein VP28 tái tổ hợp mang trình
Trang 3tự peptide α-factor, protein VP28 với 6xHis
gắn ở đầu C-terminal sẽ được P pastoris tiết
ra môi trường nuôi cấy Trong quá trình tiết ra
môi trường, trình tự peptide α-factor sẽ tự động
được cắt bỏ
(3) Phương pháp hóa biến nạp và chọn
dòng vi khuẩn tái tổ hợp
Sử dụng phương pháp biến nạp bằng sốc
nhiệt để chuyển sản phẩm nối pPIC9K-Vp28
vào các tế bào khả nạp E coli JM109 (L2001,
Promega, Mỹ) Quy trình tóm tắt như sau: lấy
2μl sản phẩm nối pPIC9K-VP28 cho vào 50 μl
E coli giữ lạnh, khuấy nhẹ và ủ 15 phút trong
đá lạnh; rồi cho vào bể nhiệt ở 42°C trong 45
giây và ủ ngay lại trên đá lạnh trong 2 phút
Dung dịch sau đó được bổ sung 950μl môi
trường SOC lạnh và nuôi cấy lắc (200 vòng/
phút) trong 1 giờ ở 37°C Chia đều 1000μl
hỗn hợp thành hai phần và trải trên 2 đĩa môi
trường LB Agar có ampiciline (100 μg/ml) và
ủ ở 37°C qua đêm Sự hiện diện của
pPIC9K-VP28 trong vi khuẩn được kiểm tra bằng
phương pháp PCR với mồi VP28YE-FW và
VP28YE-R-His Đồng thời, sự hiện diện của
gen VP28 trong vector tái tổ hợp
pPICK9k-VP28 được xác định bằng máy giải trình tự AB
system với mồi giải trình tự AOX1 Reverse
5’-GCAAATG GCATTCTGACATCC-3’ và α
factor 5’-TACTATTGCCAGCATTGCTGC-3’
(Công ty Nam Khoa, Việt Nam)
2.3.2 Điện biến nạp pPICK9K-VP28 vào
tế bào nấm men
Vector tái tổ hợp pPIC9K-VP28 được mở
vòng bằng enzyme SalI nhằm tạo điều kiện cho
gene mục tiêu gắn chèn vào bộ gene P pastoris
GS115 ở vị trí gene HIS4 và giữ được gene
AOX1 nguyên vẹn Do đó, đa số các chủng nấm
men này là có kiểu hình Mut + - gen AOX1 tự
nhiên của nấm men còn nguyên vẹn - có thể
phát triển tốt trên môi trường có methanol Tuy
nhiên, do trong plasmid vẫn còn sự hiện diện
của trình tự AOX1 nên sự tái tổ hợp cũng có thể
xảy ra trên gene AOX1 làm bất hoạt gen, kết
quả các dòng nấm men này chỉ còn gene AOX2 nên quá trình biến dưỡng methanol sẽ kém đi và
được gọi là chủng Mut S Ngược lại, ở kiểu hình Muts gen AOX1 bị bất hoạt nên quá trình biến dưỡng methanol sẽ kém đi, làm nấm men phát triển kém trên môi trường có methanol
pPICK9K-VP28 và pPICK9K rỗng (không mang gen mục tiêu) ở dạng mạch thẳng sẽ
được điện biến nạp vào P pastoris GS115
(Invitrogen, Mỹ) Cụ thể, 10µg pPICK9K-VP28 hoặc pPICK9K mạch thẳng được trộn cùng 80µl tế bào nấm men khả biến đã tinh sạch trong cuvette điện biến nạp vô trùng Cuvette này được ủ đá trong 5 phút rồi tiến hành điện biến nạp ở 1500V trong 1,5 giây Sau đó, 100µl Sorbitol 1M lạnh được cho vào cuvette rồi tiến hành trải hỗn hợp tế bào sau điện nạp trên 2 đĩa môi trường MD, ủ đĩa ở 28°C Sau 2-3 ngày nuôi cấy, quan sát các khuẩn lạc mọc trên môi trường MD
2.3.3 Chọn lọc dòng P pastoris mang gen VP28 và có khả năng biểu hiện protein
(1) Chọn lọc dựa trên tốc độ tăng trưởng trên môi trường chứa methanol
Chuyển các chủng Pichia tái tổ hợp trên
môi trường Minimal dextrose (MD) sau điện biến nạp sang môi trường Minimal methanol (MM), MD và Yeast extract peptone dextrose (YPD), theo thứ tự Ủ các đĩa môi trường ở 28°C trong 2-3 ngày Các chủng Mut+ và MutS
được phân biệt dựa vào mức độ tăng sinh của nấm men: Mut+ tăng trưởng bình thường trên cả MM và MD, trong khi, MutS chỉ tăng trưởng trên môi trường MD mà không hoặc tăng trưởng yếu trên MM
(2) Chọn lọc dòng nấm men mang gene mục tiêu bằng PCR
Sự hiện diện của plasmid pPIC9K-VP28
trong các dòng P pastoris được xác định
bằng phương pháp PCR với cặp mồi AOX1-F ( 5 ’ G A C T G G T T C C A AT T G A C A A G C )
TGGCATTCTGACATCC) DNA từ các dòng
Trang 4nấm men được tách chiết bằng bộ kit DNeasy
Plant Mini (Qiagen) theo hướng dẫn của nhà
sản xuất Điều kiện phản ứng: 10ng DNA;
1,25µl mồi (10µM), 0,5µl dNTP mix (10mM),
2,5µl dung dịch đệm và MgCl2 (10x), 1µl Taq
polymerase (1U), ddH2O cho đủ 25µl Chế độ
nhiệt của phản ứng : 94°C trong 5 phút, sau đó
là 30 chu kỳ 94°C trong 5 giây, 55°C trong 30
giây, 72°C trong 2 phút 30 giây và cuối cùng là
chu kỳ 72°C trong 10 phút Kết quả được điện
di trên agarose gel 1%
(3) Chọn dòng P pastoris mang nhiều gen
VP28 trên môi trường YPD Geneticin
Vector pPICK9K có trình tự mã hóa cho
gen kanamycine, gen này không kháng kháng
sinh kanamycine mà kháng G418 Mức kháng
G418 phụ thuộc vào số lượng gen kanamycine
tích hợp trong P pastoris Giữa gen kanamycine
và “cassette biểu hiện” có một mối liên hệ di
truyền, dựa vào đó người ta có thể suy luận rằng
những dòng có khả năng kháng G418 ở nồng
độ cao thường chứa nhiều bản sao của gen được
biến nạp vào và do đó khả năng biểu hiện protein
cao hơn Do đó, các dòng P pastoris
pPIC9K-VP28 đã chọn lọc theo 2 phương pháp trên sẽ
được chuyển sang môi trường YPD có G418
nồng độ 2, 4, 6mg/ml Chọn dòng P pastoris
pPIC9K-VP28 có khả năng kháng G418 ở nồng
độ cao nhất
2.3.4 Biểu hiện protein
Các dòng P pastoris pPIC9K-VP28 mọc
tốt trên môi trường YPD Geneticin 6mg và dòng
đối chứng (mang plasmid rỗng) sẽ được chọn
để cảm ứng biểu hiện protein trong môi trường
có bổ sung 2% methanol Cụ thể, các khuẩn
lạc đơn của nấm men được nuôi cấy trong môi
trường BMGY ở 28°C có lắc (250 vòng/phút)
cho đến khi OD600nm đạt 2-6 được thu sinh khối
bằng cách ly tâm môi trường nuôi cấy ở 1500g
trong 5 phút ở nhiệt độ phòng và được huyền
phù trong môi trường BMMY sao cho OD600nm
của dịch nuôi cấy bằng 1 Tiếp theo, môi trường
nuôi cấy sẽ được bổ sung methanol 100% để
đạt nồng độ cuối cùng là 2% rồi được ủ ở 28°C
có lắc (250 vòng/phút) Sau mỗi 24 giờ nuôi cấy, methanol 100% lại được bổ sung vào môi trường (nồng độ cuối cùng 2%) nhằm cảm ứng
sự biểu hiện protein Sau 24, 48, 72 giờ nuôi cấy tiến hành thu dịch nuôi cấy và xác tế bào bằng cách ly tâm; sản phẩm được bảo quản ở -80°C
Sự hiện diện của protein VP28 trong xác
tế bào và dịch nuôi cấy được kiểm tra bằng SDS-PAGE và khẳng định lại bằng phương pháp Western blot với kháng thể đặc hiệu VP28 (Invitrogen, Mỹ); hàm lượng protein được đo bằng phương pháp Bradford
III KẾT QUẢ 3.1 Tạo dòng vector tái tổ hợp
pPIC9K-VP28 trong tế bào E.coli JM109
Kết quả nhân dòng gen mã hóa protein VP28 được thể hiện trong Hình 1 Theo đó đoạn gen được khuyếch đại có độ dài khoảng
650 bp tương đương với độ dài của đối chứng dương là chủng virus WSSV nhận được từ
ĐH Arizone (Mỹ) và phù hợp với chiều dài
lý thuyết của sản phẩm khuếch đại là 645 bp Sau xử lý với enzyme cắt giới hạn, băng DNA VP28/EcoRI-NotI và pPIC9K/EcoRI-NotI được phân tách trên gel agarose 1,2% và được cắt ra để tinh sạch nhằm loại bỏ những DNA tạp không mong muốn Kết quả kiểm tra kích thước, độ sạch của VP28/EcoRI-NotI và pPIC9K /EcoRI-NotI được thể hiện ở Hình 2 Theo đó băng VP28/EcoRI-NotI và pPIC9K/ EcoRI-NotI có kích thước tương ứng với
lý thuyết là 645bp và 9276bp và không tạp nhiễm với DNA có kích thước khác
Vector tái tổ hợp PIC9K-VP28 được chuyển
vào E coli JM109 bằng kỹ thuật sốc nhiệt và vi
khuẩn sau biến nạp được trải trên môi trường thạch LB bổ sung ampicilin 50µg.10-1ml Sáu khuẩn lạc được chọn để kiểm tra sự hiện diện của gen VP28 bằng phương pháp PCR với bộ mồi VP28YE-FW và VP28YE-R-His Kết quả
Trang 5phân tích (Hình 3) cho thấy cả 6 dòng vi khuẩn
6-11 đều cho kết quả dương tính với gen VP28
Trong đó hai khuẩn lạc 7 và 11 cho kết quả
khuyếch đại tốt hơn nên được chọn cho phân
tích tiếp theo với enzyme cắt giới hạn
Hình 1 Kết quả khuyếch đại gen VP28 bằng
phương pháp PCR
Giếng M: Thang DNA 100bp Giếng Pos:
chứng dương; Giếng Neg: chứng âm; W: chủng
virus WSSV sử dụng làm khuôn mẫu.
Hình 2 VP28 và pPIC9K sau khi xử lý với
enzyme EcoRI và Not I
Giếng M1: thang DNA 1Kb Giếng M2:
thang DNA 100bp
Hình 3 Kết quả phân tính dòng vi khuẩn mang
vector tái tổ hợp pPIC9K-VP28
Giếng 6-11: Khuẩn lạc E coli sau biến nạp
với pPIC9KVP28 Giếng M: Thang DNA Giếng Pos: Chứng dương với WSSV Giếng Neg: Chứng âm với vi khuẩn E.coli
Sự hiện diện của vector tái tổ hợp pPIC9K-VP28 trong hai khuẩn lạc 7 và 11 được kiểm
tra bằng cắt giới hạn với cặp enzyme EcoRI
và NotI Kết quả cho thấy vector tái tổ hợp
pPIC9K-VP28 của dòng vi khuẩn 7 và 11 sau khi xử lý bằng enzyme cắt giới hạn cho hai băng sản phẩm, băng có kích thước nhỏ tương
ứng với kích thước của gen VP28/EcoRI-NotI
và băng có kích thước lớn tương đương kích
thước của pPIC9K/EcoRI-NotI (Hình 4); ngoài
ra không có vạch phụ xuất hiện, vậy phản ứng cắt đã được thực hiện hoàn toàn
Hình 4 Kết quả cắt pPIC9K-VP28 với
EcoRI và NotI
Giếng M1, M2: thang DNA 1kb và 100bp Giếng 1, 2: Gen VP28/EcoRI-NotI; pPIC9K/EcoRI-NotI;
Giếng 3, 5, 4, 6: pPIC9K-VP28 của vi khuẩn 7 và 11 chưa và đã xử lý enzyme
Trang 6Để kiểm tra độ chính xác của trình tự
gen VP28 và vị trí nối với vector pPIC9K,
plasmid tái tổ hợp tách từ hai dòng 7
và 11 được chọn giải trình tự tại công ty
Nam Khoa (Việt Nam) Kết quả cho thấy
giải trình tự gen VP28 của 2 dòng giống
nhau và tương đồng 100% với các chủng
WSSV được phân lập từ nhiều quốc gia
gồm Hàn quốc (JX515788.1), Trung Quốc
(AF332093.2), Nhật Bản (AY249443.1), Mỹ (AY249442.1), Indonesia (AY249441.1), Ấn Độ (DQ681069.1), Việt Nam (AY168644)
đã được công bố trên ngân hàng dữ liệu NCBI Ngoài ra, phân tích dịch mã cho thấy gen VP28 đặt trong vector pPIC9K-VP28 cho phép mã hóa một protein tái tổ hợp có
204 a.a và được gắn thêm 6 Histidine vào đầu C-terminal của protein này (Hình 5)
Hình 5 Trình tự nucleotide và trình tự amino acid giả định protein VP28 được định mã từ
vector pPIC9K-VP28 của dòng vi khuẩn 7 và 11
Từ những kết quả trên, chúng tôi có thể
khẳng định đã tạo được hai dòng vi khuẩn E.coli
JM109 mang vector pPIC9k chứa gen mã hóa
protein VP28 của virus WSSV Trên vector
pPIC9K, đoạn gen mã hóa protein VP28 được
gắn thêm một trình tự nucleotide mã hóa 6xHis
ở đầu 3’ đã được chèn vào vị trí ngay sau trình
tự mã hóa peptide α-factor
3.2 Kết quả chuyển plasmid
pPIC9K-VP28 vào nấm men P pastoris GS115
Vector pPIC9K thuộc dạng vector sát nhập,
khi biến nạp sẽ sát nhập vào bộ gen của tế bào
chủ thông qua tái tổ hợp tương đồng Tế bào
nấm men sau điện biến nạp được trải trên môi
trường MD không có histidin và ủ trong 2-3
ngày Kết quả ghi nhận được có 400 khuẩn lạc
mọc trên môi trường MD sau điện biến nạp
3.3 Kết quả sàng lọc các dòng P pastoris
GS115 mang nhiều bản sao gen VP28
Hai trăm khuẩn lạc mọc tốt, to, tròn, rời
trên môi trường MD (trong đó có 100 khuẩn
lạc clone 7 và 100 khuẩn lạc clone 11) được chọn để kiểm tra kiểu hình bằng cách nuôi cấy lần lượt trên 3 môi trường MM, MD và YPD ở 28°C trong 3 ngày Kết quả nuôi cấy cho thấy
182 khuẩn lạc có khả năng mọc tốt trên cả 3 môi trường chọn lọc; các khuẩn lạc này sẽ được dùng cho quá trình chọn lọc tiếp theo
Hình 6 Sự hiện diện của gene VP28 trong genome của 1 số chủng nấm men Giếng M: Thang DNA 100bp Giếng pPIC9K: plasmid pPIC9K
Giếng p-VP28: plasmid pPIC9K-VP28
Trang 7Giếng P.P: Pichia pastoris
Giếng P.pPIC9K: P.pastoris –pPIC9K
Giếng 120, 120A, 125, 126, 179: chủng số 120,
120A, 125, 126, 179
Sự hiện diện của gen VP28 trong 182
khuẩn lạc nấm men chọn lọc được kiểm tra
bằng phương pháp PCR với cặp mồi AOX1-F
và AOX1-R dựa trên khuôn mẫu là DNA tổng
số của tế bào nấm men Kết quả cho thấy các
chủng nghiên cứu đều cho 2 vạch: khoảng 1.117
bp (kích thước của gen VP28 thêm 492bp - kích
thước từ vị trí bắt cặp của mồi trên hệ gen P
pastoris đến vị trí gắn chèn) và khoảng 2,2
kb - kích thước của gen AOX1 (Hình 6) Như
vậy, tất cả các chủng nấm men kiểm tra đều
có chứa pPICK9K-VP28 trong genome; nói
cách khác, gen VP28 đã được biến nạp thành
công vào bộ gen của nấm men P pastoris với
kiểu hình Mut+
Sau khi tạo dòng thành công, quá trình sàng
lọc dòng P.pastoris có khả năng biểu hiện
pro-tein VP28 cao nhất được thực hiện bằng cách
cấy chuyển 182 khuẩn lạc sang môi trường YDP
có bổ sung G418 ở các nồng độ 4mg/l và 6mg/l
Kết quả sàng lọc đã xác định được 123/182 khuẩn
lạc có khả năng kháng Geneticin 418 ở nồng độ
4mg/l và 62 khuẩn lạc kháng G418 ở nồng độ
6mg/l (Hình 7) Theo lý thuyết, 62 khuẩn lạc này
có chứa 14-18 copy gene VP28 trong genome và
chúng được sử dụng để kiểm tra khả năng biểu
hiện protein VP28
Hình 7 Kết quả chọn lọc dòng P pastoris
mang tái tổ hợp pPIC9K-VP28 kháng 6ppm
Geneticin
3.4 Kết quả sàng lọc các dòng P
pastoris GS115 có khả năng tiết protein
VP28 ngoại bào
Sáu mươi hai chủng nấm men mang pPIC9K-VP28 đã qua sàng lọc và 1 chủng nấm men mang pPICK9K (đối chứng âm) được cảm ứng biểu hiện protein trên môi trường nuôi cấy sinh khối BMGY và kích thích methanol 2% trên môi trường BMMY trong 72 giờ Sự hiện diện của protein VP28 trong dịch nuôi cấy được phân tích bằng kỹ thuật Western blot với kháng thể đặc hiệu của VP28 Kết quả biểu hiện protein đã xác định được 25 chủng có sự hiện diện của protein VP28 trong dịch nuôi cấy Tuy nhiên, chỉ 5 chủng: 120, 120A, 125, 126, 179 cho vạch rõ ràng ở kích thước khoảng 28 kDa trên bản gel chạy Western blot với kháng thể kháng VP28 được dùng để nghiên cứu tiếp theo
Hình 8 Protein VP28 trong dịch nuôi cấy
nấm men M: Thang protein;
120, 120A, 125, 126, 179: các chủng nấm men Ctrl(-): Chứng âm-nấm men có pPICK9K rỗng
3.5 Kết quả biểu hiện protein
Năm chủng nấm men có chứa pPICK9k-VP28 trong genome có khả năng tiết protein ngoại bào được cảm ứng biểu hiện và lượng protein tiết ra trong dịch nuôi cấy được xác định theo thời gian: 24, 48 và 72 giờ Kết quả đo hàm lượng protein theo thời gian trong quá trình nuôi cấy cho thấy cả 5 chủng nghiên cứu đều có khả năng tiết protein ngoại bào và lượng protein tiết
ra tăng dần theo thời gian lên men từ 24 đến 72
Trang 8giờ (Đồ thị 1); Trong đó, chủng 126 có khả năng
tiết ra lượng protein cao nhất (106,9μg/ml) sau
72 giờ nuôi cấy
Đồ thị 1 Nồng độ protein tổng số của các
chủng nghiên cứu ở các thời điểm khác nhau
trong quá trình lên men
IV THẢO LUẬN
Trên thế giới, nhiều tác giả đã dòng hóa và
biểu hiện protein VP28 trong tế bào vi khuẩn
khả biến E.coli để làm nguyên liệu để chế tạo
vắc xin/tolerine (Witteveldt và ctv., 2004; 2006;
Satoh và ctv., 2008) Ngoài E coli, một số nhà
nghiên cứu còn sử dụng các vi khuẩn khả biến
khác như: vi khuẩn gram dương Brevibacillus
brevis (Caipang et al., 2008), hoặc tế bào côn
trùng (Du et al., 2006) để dòng hóa các gen vỏ
của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm nuôi
Ở Việt Nam, Nguyễn Quỳnh Anh (2006), Bùi
Thị Bích Hằng (2012) cũng đã thành công trong
việc dòng hóa gen VP28 của virus đốm trắng
vào tế bào khả biến E.coli để tạo kháng thể ứng
dụng trong việc chẩn đoán nhanh bệnh Việc
dùng tế bào nấm men để dòng hóa và biểu hiện
protein chỉ được 1 nhóm nhỏ các nhà nghiên
cứu quan tâm nhưng hiệu quả bảo vệ của loại
vắc xin/tolerine - sản phẩm của quá trình dòng
hóa này - mang lại cao hơn và cho thời gian
bảo hộ dài hơn các loại vắc xin/tolerine khác
Cụ thể, Jha và ctv (2006, 2007) đã xác định
dùng rVP28 biểu hiệu qua tế bào nấm men bằng
phương pháp tiêm hoặc cho ăn đều đem lại hiệu
quả bảo vệ cho crayfish trước bệnh đốm trắng sau 3 ngày và kéo dài tới 21 ngày sau khi dùng rVP28 Trong khi đó, thời gian bảo hộ của rVP28
biểu hiện bằng vi khuẩn gram âm E.coli hoặc vi khuẩn gram dương Brevibacillus choshinensis
và B brevis trên tôm lần lượt là 10 ngày, 7 ngày
và 14 ngày (Caipang et al., 2008; Mavichak
et al., 2009; Witteveldt et al., 2006) Chính vì vậy, việc tạo ra nguyên liệu là dòng nấm men có mang pPICK9K-VP28 có khả năng tiết protein ngoại bào là bước khởi đầu cho những nghiên cứu về vắc xin/tolerine phòng bệnh đốm trắng cho tôm nuôi ở Việt Nam
V KẾT LUẬN
Đoạn gen VP28 của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm đã được nhân bản, gắn với plasmid pPICK9K và dòng hóa thành công vào
vi khuẩn khả nạp E coli JM109 và tế bào nấm men P pastoris GS 115
Năm chủng nấm men Pichia patoris có chứa
pPICK9K-VP28 trong bộ gen có khả năng biểu hiện được protein mục tiêu VP28 dạng ngoại bào trong điều kiện cảm ứng bằng methanol với nồng độ 2% và lượng protein tổng số tiết ra cao nhất sau 72 giờ nuôi cấy là 106,9 μg/ml
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt
Nguyễn Quỳnh Anh, 2006 Báo cáo đề tài: “Dòng hoá và biểu hiện Gen mã hoá Protein vỏ VP28 và VP281 của Virus gây hội chứng đốm trắng ( WSSV ) trong
E.coli”.
Bùi Thị Bích Hằng, 2012 Tạo tái tổ hợp DNA VP28 của virus gây bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm
sú Tạp chí khoa học 2012:22a 1-7 Trường Đại Học Cần Thơ.
Cục Thúy Y- Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,
2012 Báo cáo Hội nghị tổng kết nuôi tôm nước
lợ Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi năm 2012
và triển khai kế hoạch năm 2013.
Cục Thú Y - Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,
2013 Báo cáo Tình hình dịch bệnh, dịch tễ
Trang 9bệnh đốm trắng (WSD) và hoại tử gan tụy cấp
(AHPND) ở tôm nuôi 7 tháng đầu năm 2013 và
một số đề xuất quản lý rủi ro đối với AHPND Tài
liệu phục vụ Hội nghị tại Bạc Liêu – 6/8/2013.
Tài liệu tiếng Anh
Caipang, C.M.A., Verjan, N., Ooi, E.L., Kondo,
H., Hirono, I., Aoki, T., Kiyono, H., Yuki, Y.,
2008 Enhanced survival of shrimp, Penaeus
(Marsupenaeus) japonicus from white spot
syndrome disease after oral administration of
recombinant VP28 expressed in Brevibacillus
brevis Fish & Shellfish Immunology 25, 315-320.
Chou, H.Y., Huang, C.Y., Wang, C.H., Chiang, H.C
and Lo, C.F, 1995 Pathogenicity of a baculovirus
infection causing white spot syndrome in
cultured penaeid shrimp in Taiwan Diseases of
Aquatic Organisms 23(3):p 165-173.Du, H.H.,
Xu, Z R., Wu, X F., Li, W F., Dai, W., 2006
Increased resistance to white spot syndrome virus
in Procambarus clarkii by injection of envelope
protein VP28 expressed using recombinant
baculovirus Aquaculture, 2006 260(1-4), p 39-43.
Huang, J., Song, X.L., Yu, J., Yang, C.H., 1994
Baculoviral hypodermal and haematopoietic
necrosis-pathology of the shrimp explosive
epidermic disease Yellow Sea Fishery Research
Institute, Qingdae, P.R China.Jha, R.K., Xu, Z
R., Bai, S J., Sun, J Y., Li, W F., Shen, J., 2007
Protection of Procambarus clarkii against white
spot syndrome virus using recombinant oral
vac-cine expressed in Pichia pastoris Fish & Shellfish
Immunology, 2007 22(4), p 295-307.
Jha, R.K., Xu, Z.R., Pandey, A., 2006 The efficacy
of recombinant vaccines against white spot
syn-drome virus in Procambarus clarkii Immunology
Letters, 2006 105(1), p 68-76.
Mavichak, R K., Hirino, H., Aoki, I., Kiyono, T.,
Yuki, Y., 2009 Protection of pacific white shrimp,
Liptopenaeus vannamei against white spot virus
following administration of N-terminus truncated
recombinant VP28 protein expressed in Gram
positive bacteria, Brevibacillus choshinensis
Aquaculture Science 57:83-90 Satoh, J., T
Nishizawa, Yoshimizu, M., 2008 “Protection against white spot syndrome virus (WSSV) infection in kuruma shrimp orally vaccinated with WSSV rVP26 and rVP28.” Diseases of Aquatic Organisms 82(2), 89-96.
Takahashi Y., Itami T., Kondo M., Maeda M., Fujii R., Tomonaga S., Supamattaya K., Boonyaratpalin S.,
1994 Electron microscopy evidence of bacilliform
virus infection in Kuruma shrimp (Penaeus
Japonicus) Fish Pathol 29:121-125.Venegas,
C A., L Nonaka, Mushiake, K., Nishizawa, T., Muroga, K., 2000 “Quasi-immune response of
Penaeus japonicus to penaeid rod-shaped DNA
virus (PRDV).” Diseases of Aquatic Organisms 42(2), 83-89.
Van Hulten M.C., Westenberg M., Goodall S.D., Vlak J.M., 2000 Identification of two major virion protein genes of white spot syndrome virus of shrimp Virology 266, 227-36.
Wang, C., Lo, C., Leu, J., Chou, C., Yeh, P., Chou, H., Tung, M., Chang, C., Su, M and Kou, G., 1995 Purification and genomic analysis of baculovirus associated with white spot syndrome (WSBV)
of Penaeus monodon Diseases of Aquatic
Organisms, 1995 23, 239-242.
Witteveldt, J., J M Vlak, van Hulten, M C W., 2004
“Protection of Penaeus monodon against white
spot syndrome virus using a WSSV subunit vác xin.” Fish & Shellfish Immunology 16(5), 571-579 Witteveldt, J., J M Vlak, van Hulten, M C W., 2006
“Increased tolerance of Litopenaeus vannamei
to white spot syndrome virus (WSSV) infection after oral application of the viral envelope protein VP28.” Diseases of Aquatic Organisms 70(1-2), 167-170.
Wongteerasupaya C., Vicker J.E., Sriurairatana S., Nash G.L., Akarajarmorn A., Boonsaeng V., Panyim S., Tassanakajon A., Withyachumnarnkul B., Flegel T.W., 1995 A nonoccluded, systemic baculovirus that occurs in cells of ectodermal and mesodermal origin and causes high mortality in
the black tiger prawn Penaeus monodon Disease
of Aquatic Organism 21, 69–77
Trang 10DEVELOP DNA RECOMBINANT VP28 OF WHITE SPOT SYNDROME
VIRUS IN YEAST PICHIA PASTORIS
Ngo Thi Ngoc Thuy1, Nguyen Viet Dung2, Dang Thi Tra My1
ABSTRACT
White spot syndrome virus (WWSSV) is a popular and devastating virus to Penaeus shrimp-culture industry worldwide The aim of this study is to develope DNA recombinant VP28 of the virus in yeast P pastoris for
expressing protein VP28 extracellularly in order to make materials for recombinant protein vaccine/tolerine against WSSV in shrimp DNA fragment content of VP28 was amplified from WSSV and its product was
di-gested by restriction enzyme EcoRI and NotI; then cloned into plasmid pPICK9K to make recombinant vector pPICK9K-VP28 This vector, after that was transformed into Pichia pastoris GS115 to express protein VP28
The screening of 200 yeast clones after transformation was conducted and 5 yeast clones which expressed protein VP28 extracellular were selected for Bradford assay The results indicated that the total extracellular protein containing VP28 increased with fermentation periods of 24, 48 and 72 hours and the highest concen-tration of total protein reached to 106.9 μg.ml-1
Keywords: Pichia pastoris, protein, VP28 , WSSV
Người phản biện: ThS Nguyễn Thị Hiền
Ngày nhận bài: 10/02/2014 Ngày thông qua phản biện: 28/02/2014
Ngày duyệt đăng: 30/3/2014
1 Minh Hai Sub-Institute for Fisheries Research, Research Institute for Aquaculture No 2
Email: thuyngo8@yahoo.com
2 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic, Research Institute for Aquaculture No 2