Nghiên cứu ương cá hô (Catlocarpio siamensis) bột sử dụng hai loại thức ăn (Moina và Artemia + Moina) và ba mật độ ương (200, 400 và 600 cá/m2 ) trong 20 ngày. Artemia được sử dụng kết hợp với Moina trong 3 ngày đầu. Việc bổ sung Artemia với mật độ 1 con/ml trong 3 ngày ương đầu cho thấy có hiệu quả ở mật độ 400 và 600 con/m2.
Trang 1KẾT QUẢ ƯƠNG CÁ HÔ
TỪ GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG 10 VÀ 20 NGÀY TUỔI
VỚI THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
Đặng Văn Trường1*, Trịnh Quốc Trọng1, Nguyễn Văn Hiệp1,
Nguyễn Thanh Vũ1, Phạm Cử Thiện2
TÓM TẮT
Nghiên cứu ương cá hô (Catlocarpio siamensis) bột sử dụng hai loại thức ăn (Moina và Artemia + Moina) và ba mật độ ương (200, 400 và 600 cá/m2) trong 20 ngày Artemia được sử dụng kết hợp với Moina trong 3 ngày đầu Việc bổ sung Artemia với mật độ 1 con/ml trong 3 ngày ương đầu cho
thấy có hiệu quả ở mật độ 400 và 600 con/m2 Đối với khối lượng cá bột ở thời điểm 10 ngày tuổi,
ảnh hưởng của hai loại thức ăn (Moina và Moina+Artemia) (P<0,05) và ba mật độ ương (200, 400
và 600 con/m2) (P<0,01) đều có ý nghĩa thống kê, cho thấy có sự khác biệt về khối lượng cá giữa
hai loại thức ăn và giữa ba mật độ Tương tác giữa thức ăn và mật độ cũng rất có ý nghĩa thống kê
(P<0,001) Đối với khối lượng cá bột ở thời điểm 20 ngày tuổi, ảnh hưởng của mật độ (P<0,001)
và tương tác giữa mật độ×thức ăn là có ý nghĩa thống kê (P=0,011), nhưng ảnh hưởng của thức
ăn riêng rẽ thì không có ý nghĩa thống kê (P=0,356) (Bảng 5) Đối với tỉ lệ sống ở thời điểm 20
ngày tuổi (có chuyển đổi arcsin và không chuyển đổi), ảnh hưởng của mật độ có ý nghĩa thống kê
(P=0,0054 cho mô hình tuyến tính và P=0,0023 cho mô hình hồi quy logistic) trong khi ảnh hưởng của thức ăn không có ý nghĩa thống kê (P=0,2046 cho mô hình tuyến tính và P=0,7831 cho mô
hình hồi quy logistic)
Từ khóa: cá hô, Moina, Artemia, mật độ ương.
1 Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
* Email: truongria2@gmail.com
I GIỚI THIỆU
Cá hô (Catlocarpio siamensis, Boulenger,
1898) là loài cá đặc hữu sông Mêkông và được
xem là loài cá có vảy lớn nhất trong hệ thống
sông này Cá phân bố rộng, từ Thái Lan, Lào,
Campuchia đến Việt Nam (Mattson và ctv.,
2002) Thức ăn tự nhiên của cá hô là tảo, thực vật
phù du và trái cây chín (Mattson và ctv., 2002)
Trong ao nuôi, cá được cho ăn khô bắp, đậu
nành và đậu xanh (Mattson và ctv., 2002) Độ
tuổi trưởng thành của cá nuôi vào khoảng 7 năm
tuổi với khối lượng khoảng 9 kg (Sukumasavin,
1996), trong khi đó cá có thể đạt 60 kg trong
điều kiện tự nhiên ở cùng thời gian
Trước đây, sinh sản cá hô đã được thực hiện bằng cách lựa chọn cá tự nhiên từ sông
Leeapatra và ctv., (2000) báo cáo sinh sản nhân
tạo sử dụng GnRHA (Gonadotropin Releasing Hormon analogue) kết hợp với chất kháng dopamine (domperidone) Kích cỡ cá bột vào khoảng 6 mm Sau khi noãn hoàn tiêu biến, cá bột được cho ăn lòng đỏ trứng gà khoảng 3 ngày
và sau đó chuyển sang giai đoạn ương (Mattson
và ctv., 2002) Theo Leelapatra và ctv., (2000),
cá bột có thể được ương trong giai lưới đặt trong
ao, hoặc thả trực tiếp xuống ao Mật độ thả cá tùy thuộc vào chất lượng nước và kích cỡ cá Cá bột 3 ngày tuổi có thể thả ở mật độ 500–1.000
Trang 2con/m2 (Leelapatra và ctv., 2000) nhưng theo
Sihapitukgiant (liên hệ cá nhân, 2000; trích bởi
Mattson và ctv., 2002) thì mật độ thả chỉ là 30
con/m2 Sau đó, cá vẫn được cho ăn với lòng đỏ
trứng trong 4–5 ngày đầu rồi chuyển sang thức
ăn bột cám gạo hoặc hỗn hợp bột cá và bột cám
gạo Sau 30 ngày, tỷ lệ sống có thể đạt khoảng
20% (Mattson và ctv., 2002).
Huỳnh Hữu Ngãi và ctv., (2009) báo cáo tỉ
lệ sống của phương pháp ương một giai đoạn
trong ao đất năm 2005 là 1,27% (mật độ 200
con/m2), năm 2006 là 21,5% (150 con/m2) và
6,4% (200 con/m2), năm 2007 là 15,2% (200
con/m2) và năm 2008 là 54,8% (100 con/m2)
Khi ương hai giai đoạn (ngày 1–30 trên bể xi
măng với mật độ 400–1.000 con/m2; ngày 31–
60 trong ao với mật độ 50–200 con/m2) thì tỉ
lệ sống dao động từ 4,3–72,1% Trong phương
pháp ương 2 giai đoạn thì Moina được đề nghị
sử dụng cho giai đoạn đầu, nhưng nhìn chung
thì tỉ lệ sống dao động lớn và không ổn định
(Huỳnh Hữu Ngãi và ctv., 2009) Mục tiêu của
nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả ương khi
thay thế một phần Moina bằng Artemia trong 3
ngày đầu tiên
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng là cá hô bột một ngày tuổi, được sản xuất từ cá bố mẹ thuộc đề tài “Khai
thác và phát triển nguồn gen cá hô (Catlocarpio
siamensis)” Nghiên cứu được thực hiện từ tháng
03/2013 đến tháng 08/2014 tại Trung tâm Quốc gia giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, trực thuộc Viện nghiên Cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
2.2 Bố trí thí nghiệm
Có 2 nghiệm thức, được đặt tên là (1)
Moina và (2) Moina+Artemia Đối với nghiệm
thức Moina, trong 10 ngày đầu tiên, cho cá ăn
Moina (mật độ 3 con/ml nước) và thức ăn bột
40% đạm (5 g/m3 nước) Đối với nghiệm thức
Moina+Artemia, trong 3 ngày đầu cho ăn Moina
(2 con/ml) + Artemia (1 con/ml); từ ngày 4–10 cho ăn Moina (2 con/ml) + thức ăn bột (5 g/
m3) Cho cả 2 nghiệm thức, từ ngày 11–20 cho
ăn thức ăn mảnh 40% đạm (10 g/m3) (Bảng 1) Tương ứng với 1 loại thức ăn và 1 mật độ thì
có 3 bể ương (24 m3), tức là, một tổ hợp (thức ăn×mật độ) được lặp lại 3 lần
Bảng 1 Loại và lượng thức ăn trong 20 ngày ương
Loại thức ăn Ngày ương
Moina Moina (3 con/ml),bột (5 g/m3) Moina (3 con/ml),bột (5 g/m3) Mảnh (10 g/m3)
Moina+Artemia Moina (2 con/ml), Artemia (1 con/ml) Moina (2 con/ml), bột (5 g/m3) Mảnh (10 g/m3)
Ghi chú: bột và mảnh là thức ăn công nghiệp với 40% đạm.
2.3 Thu thập và xử lý số liệu
Các chỉ tiêu nhiệt độ, pH và DO được đo
hàng ngày (6 giờ sáng và 2 giờ chiều), NH3-N
và NO2-N một lần/tuần (6 giờ sáng và 2 giờ
chiều) Xác định khối lượng thân ở ngày ương
thứ 10 và 20
Số liệu được quản lý và kiểm tra bằng phần mềm Microsoft Excel® 2010, sau đó được phân tích bằng phần mềm R phiên bản 3.0.3 (R Core Team, 2012) Đối với khối lượng cá ở ngày tuổi
thứ 10 và 20, ảnh hưởng của hai loại thức ăn
(Moina và Moina + Artemia) và ba mật độ ương (200, 400, 600 con/m 2 ) được đánh giá bằng
phương trình tuyến tính
Trang 3Khối lượng ijk = m + thức ăn i + mật độ j + (thức ăn × mật độ) k + e ijk (Mô hình 1)
Nhiệt độ sáng và chiều của bể ương gần
tương đương nhau, dao động trong khoảng từ
29,2–31,5°C, chênh lệch nhiệt độ trong ngày
khoảng 2°C Nồng độ oxy hòa tan nằm trong
khoảng thích hợp (> 4) Tuy nhiên, nồng độ
tối ưu cho ương cá chép được khuyến cáo nên
trên 5 mg/l (Laszlo và ctv., 2005) Nồng độ NO2
và NH3 tổng số ở mức thấp và ít có biến động
trong ngày, lần lượt là 0,0 và 0,2 mg/l nằm trong
khoảng tối ưu cho cá
3.2 Khối lượng cá và tỉ lệ sống khi ương
bằng hai loại thức ăn và ba mật độ ương
Khối lượng trung bình của cá 10 ngày tuổi
khi ương bằng 2 loại thức ăn ở 3 mật độ được trình bày trong Bảng 3 Ảnh hưởng của cả
thức ăn (Moina và Moina+Artemia) (P<0,05)
và mật độ (200, 400 và 600 con/m2) (P<0,01)
đều có ý nghĩa thống kê, cho thấy có sự khác biệt về khối lượng cá giữa hai loại thức ăn và
giữa ba mật độ Thức ăn Moina+Artemia cho
kết quả (khối lượng cá 10 ngày tuổi) tốt hơn
Moina (p = 0,012) Mật độ ương 200 cho kết
quả tăng trưởng tốt hơn so với 2 mật độ ương còn lại là 400 và 600 con/m2 (p < 0,0001); và
mật độ ương 400 cũng tốt hơn so với ương ở 600/m2 (p = 0,0003).
trong đó khối lượng i là khối lượng của cá thể k
tại thời điểm 10 và 20 ngày tuổi, m là trung bình
của quần thể, thức ăn i là ảnh hưởng 2 loại thức
ăn (Moina và Moina+Artemia), mật độ j là ảnh
hưởng của 3 mật độ ương (200, 400, 600 con/
m2), (thức ăn × mật độ) k là tương tác giữa hai
loại thức ăn và mật độ ương, và e ijk là số dư
Tỉ lệ sống sau 20 ngày ương được phân tích theo hai cách
Cách thứ nhất, tỉ lệ sống được chuyển đổi thành arcsin và được phân tích bằng mô hình tuyến tính thông thường như sau:
Tỉ lệ sống ij = m + thức ăn i + mật độ j + e ij (Mô hình 2)
trong đó là tỉ lệ sống ijk của từng tổ hợp (thức
ăn×mật độ) ương tại thời điểm 20 ngày tuổi, m
là trung bình của quần thể, thức ăn i là ảnh hưởng
hai loại thức ăn (Moina và Moina+Artemia),
mật độ j là ảnh hưởng của 3 mật độ ương (200,
400, 600 con/m2)
Cách thứ hai là tỉ lệ sống (không chuyển đổi) được phân tích bằng phương trình hồi quy logistic:
Log(odd ratio) ij = m + thức ăn i + mật độ j + e ij (Mô hình 3)
trong đó log(odd ratio) ij là log(khả năng sống
sót) của từng tổ hợp (thức ăn×mật độ) ương k
tại thời điểm 20 ngày tuổi, các ảnh hưởng khác
tương tự như Mô hình 2
Cho cả 3 mô hình thì ảnh hưởng của thức ăn,
mật độ hoặc tương tác (thức ăn×mật độ) được
xác định bằng Type III Sum of Square Nếu ảnh
hưởng nào có ý nghĩa thống kê (P<0,05) thì sự
khác biệt giữa từng nhóm được thực hiện bằng cách so sánh cặp, sử dụng package ‘multcomp’
(Hothorn và ctv, 2008) với phương pháp hiệu
chỉnh Tukey ở mức độ tin cậy 95%
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các yếu tố môi trường
Bảng 2 Các yếu tố môi trường trên bể ương
Nhiệt độ pH DO (mg/l) NH3-N (mg/l) NO2-N(mg/l)
Trang 4Bảng 3 Trung bình (± độ lệch chuẩn) của khối lượng cá 10 ngày tuổi (g) khi ương bằng hai loại
thức ăn (Moina và Moina+Artemia) ở ba mật độ ương (200, 400 và 600 con/m2)
Mật độ (con/m2)
Moina 0,06 ± 0,03 0,03 ± 0,01 0,03 ± 0,01
Ngoài ra, tương tác giữa thức ăn và mật
độ cũng rất có ý nghĩa thống kê (P<0,001) Sự
tương tác thức ăn×mật độ được minh họa trong
Hình 1 Ở mật độ 200 con/m2 thì khối lượng
trung bình cá bột nuôi bằng Moina lớn hơn so với cá nuôi bằng Moina+Artemia, nhưng ở mật
độ 400 và 600 thì ngược lại (Hình 1)
Hình 1 Ảnh hưởng tương tác giữa hai loại thức ăn (Mo = Moina, ArMo = Moina+Artemia) và ba
mật độ (200, 400, 600 con/m2) lên khối lượng cá 10 ngày tuổi
Mức độ ý nghĩa của sự khác biệt (đánh giá
bằng giá trị P) giữa các đơn vị thí nghiệm (các
cặp thức ăn – mật độ) được trình bày trong Bảng
4 Ngoại trừ các cặp (Moina, 200 con/m2) với
(Moina+Artemia, 200); (Moina+Artemia, 600) với (Moina, 400) và (Moina, 600), thì sự khác
biệt giữa các cặp còn lại đều rất có ý nghĩa thống
kê (Bảng 4)
Trang 5Bảng 4 Giá trị P của sự khác biệt về khối lượng cá 10 ngày tuổi giữa hai loại thức ăn (Moina và
Moina+Artemia) và ba mật độ ương (200, 400 và 600 con/m2)
Moina,
200
Moina,
400
Moina,
600
Artemia+Moina,
200
Artemia+Moina,
400
Artemia+Moina,
600
Artemia+Moina,
Artemia+Moina,
Artemia+Moina
600
Khối lượng trung bình của cá 20 ngày tuổi
khi ương bằng hai loại thức ăn ở ba mật độ được
trình bày trong Bảng 5 Lúc này, ảnh hưởng
của mật độ (P<0,001) và tương tác giữa mật
độ×thức ăn là có ý nghĩa thống kê (P=0,011),
nhưng ảnh hưởng của thức ăn riêng rẽ thì không
có ý nghĩa thống kê (P=0,356) (Bảng 5) Sự tương tác giữa mật độ×thức ăn được minh họa
trong Hình 2
Bảng 5 Trung bình (± độ lệch chuẩn) của khối lượng cá 20 ngày tuổi (g) khi ương bằng hai loại
thức ăn (Moina và Moina+Artemia) ở ba mật độ ương (200, 400 và 600 con/m2)
Mật độ (con/m2)
Artemia+Moina 0,08 ± 0,04 0,06 ± 0,03 0,04 ± 0,02
Hình 2 Ảnh hưởng tương tác giữa hai loại thức ăn (Mo = Moina, ArMo = Moina+Artemia) và ba
mật độ (200, 400, 600 con/m2) lên khối lượng cá 20 ngày tuổi
Trang 6Tỉ lệ sống của từng tổ hợp (thức ăn×mật độ)
ương được trình bày trong Bảng 6 Đối với Mô
hình 2 (tỉ lệ sống được chuyển đổi arcsin), chỉ
có ảnh hưởng của mật độ là có ý nghĩa thống
kê (P=0,0054), còn ảnh hưởng của thức ăn là
không có ý nghĩa (P=0,2046) Đối với Mô hình
3 (mô hình hồi quy logistic), kết quả cũng tương
tự: ảnh hưởng của mật độ có ý nghĩa thống kê (P=0,0023) trong khi ảnh hưởng của thức ăn không có ý nghĩa (P=0,7831) Ảnh hưởng của tương tác thức ăn×mật độ là không có ý nghĩa
thống kê, nên đã được loại bỏ khỏi Mô hình 2 và
3 (kết quả không trình bày)
Bảng 6 Tỉ lệ sống (%±độ lệch chuẩn) của cá ương bằng hai loại thức ăn (Moina và
Moina+Artemia) ở ba mật độ (200, 400 và 600 con/m2)
IV THẢO LUẬN
Hiện chưa có công bố nào về các chỉ tiêu
chất lượng nước tối ưu cho ương cá hô Nhiệt
độ thích hợp cho ấp trứng nở là từ 28–29°C đã
được báo cáo bởi Nukulluk và Tangtrongpiros
(1975) (trích bởi Mattson và ctv., 2002) Đối với
nhiều loài cá chép, nhiệt độ ghi nhận phát triển
tốt nhất là trên 20°C (Laszlo, 2002) Cũng theo
Laszlo (2005) ngưỡng pH tối ưu cho ương nuôi
các loài cá chép là từ 7,0 – 8,5, nồng độ NO2 tối
ưu < 0,5 mg/l, NH3-N < 2,0 mg/l, nồng độ oxy
hòa tan từ 5 – 12 mg/l khi ương giống và từ 3 – 4
g/l khi nuôi trong ao
Việc thay thế Artemia với mật độ 1 con/ml
trong 3 ngày ương đầu cho thấy có hiệu quả ở
mật độ 400 và 600 con/m2, tuy chưa mang lại
hiệu quả như mong muốn ở mật độ 200 con/m2
Điều này được thể hiện qua ảnh hưởng của thức
ăn là có ý nghĩa đối với khối lượng cá 10 ngày
tuổi (P<0,05), nhưng không có ý nghĩa đối với
khối lượng cá 20 ngày tuổi (P=0,356) Ngược
lại, mật độ có ảnh hưởng đến khối lượng của cá
ở cả hai thời điểm 10 và 20 ngày tuổi, tức là,
mật độ càng thấp thì tăng trưởng càng tốt
Tương tác giữa thức ăn và mật độ là rất có
ý nghĩa lên tăng trưởng ở cả hai thời điểm 10 và
20 ngày tuổi Artemia có khả năng sống trong
môi trường nước ngọt kém, sẽ chết sau khoảng
1 giờ nên có thể cho rằng thức ăn đóng vai trò
chủ đạo vẫn là Moina, điều này có thể giải thích
ở mật độ 200, nghiệm thức cho ăn Artemia +
Moina cho tăng trưởng kém hơn chỉ cho ăn Moina Tuy nhiên, ở mật độ cá cao hơn (400
và 600 con/m2), lượng Artemia bổ sung có lẽ
đã được cá sử dụng tốt nên tăng trưởng của cá ương ở hai mật độ này ở 10 và 20 ngày tuổi đều
cao hơn khi chỉ có Moina
Tuy mật độ ương là khác nhau nhưng lượng thức ăn ban đầu là như nhau (vì tính cho đơn vị thể tích nước chứ không tính cho số lượng cá) nên cá thả ở mật độ thưa hơn sẽ có nhiều thức ăn hơn Điều này giải thích cho vì sao cá nuôi thưa lại có tốc độ tăng trưởng tốt hơn cá nuôi dày
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận
Việc thay thế Artemia với mật độ 1 con/ml
trong 3 ngày ương đầu cho thấy có hiệu quả ở mật độ 400 và 600 con/m2, tuy chưa mang lại hiệu quả như mong muốn ở mật độ 200 con/m2 Đối với khối lượng cá bột ở thời điểm
10 ngày tuổi, ảnh hưởng của hai loại thức ăn
(Moina và Moina+Artemia) (P<0,05) và ba mật
độ ương (200, 400 và 600 con/m2) (P<0,01) đều
có ý nghĩa thống kê, cho thấy có sự khác biệt về khối lượng cá giữa hai loại thức ăn và giữa ba mật độ Tương tác giữa thức ăn và mật độ cũng
rất có ý nghĩa thống kê (P<0,001).
Trang 7Đối với khối lượng cá bột ở thời điểm 20
ngày tuổi, ảnh hưởng của mật độ (P<0,001) và
tương tác giữa mật độ×thức ăn là có ý nghĩa
thống kê (P=0,011), nhưng ảnh hưởng của
thức ăn riêng rẽ thì không có ý nghĩa thống kê
(P=0,356) (Bảng 5).
Đối với tỉ lệ sống ở thời điểm 20 ngày tuổi
(có chuyển đổi arcsin và không chuyển đổi),
ảnh hưởng của mật độ có ý nghĩa thống kê
(P=0,0054 cho mô hình tuyến tính và P=0,0023
cho mô hình hồi quy logistic) trong khi ảnh
hưởng của thức ăn không có ý nghĩa thống kê
(P=0,2046 cho mô hình tuyến tính và P=0,7831
cho mô hình hồi quy logistic)
5.2 Đề xuất
Khuyến cáo chỉ cần sử dụng Moina để ương
cá hô với mật độ khoảng 200 con/m2 trên bể
Nếu mật độ cao hơn nên bổ sung thêm Artemia
trong ít nhất 3 ngày ương đầu tiên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Huỳnh Hữu Ngãi, Phạm Văn Khánh, Thi Thanh Vinh,
Đặng Văn Trường, Hà Thị Ngọc Nga, Đinh Văn
Chơn, Nguyễn Thanh Nhân, Trịnh Quốc Trọng,
Nguyễn Thành Kim, 2009 Thuần dưỡng, tái tạo
và phát triển nguồn gien cá hô Tuyển tập nghề cá
sông Cửu Long, trang 198-207.
Tài liệu tiếng Anh
Evangelista, A D., Fortes, N R., and Santiago, C B.,
2005 Comparison of some live organisms and
artificial diet as feed for Asian catfish Clarias
macrocephalus (Gunther) larvae J Appl
Ichthyol 21: 437–433.
Hothorn, T., Bretz, F and Westfall, P., 2008
Simultaneous Inference in General Parametric
Models Biometrical Journal 50 (3), 346-363.
Laszlo Horvath, Gizella Tamas and Chris Seagrave,
2002 Carp and pond fish culture Blackwell
Publishing, 185 pp.
Mattson, Niklas S., Kongpheng Buakhamvongsa,
Naruepon Sukumasavin, Nguyen Tuan, and Ouk
Vibol, 2002 Cambodia Mekong giant fish species:
on their management and biology MRC Technical Paper No 3, Mekong River Commission, Phnom Penh pp 29 ISSN: 1683-1489.
Sukumasavin, N., 1996 Induced spawning of giant
carp, Catlocarpio siamensis, from the brood
stock permanently reared in earthen pond Thai Fisheries Gazette, 1996 49 (1): 23-26.
Trang 8NURSING RESULTS OF CATLOCARPIO SIAMENSIS FROM THE
FRY STAGE TO 10 AND 20 DAYS OLD WITH DIFFERENT FEED AND
STOCKING DENSITY
Dang Van Truong1*, Trinh Quoc Trong1, Nguyen Van Hiep1,
Nguyen Thanh Vu1, Pham Cu Thien2
ABSTRACT
Research on nursing of Catlocarpio siamensis fry by using Moina and Artemia + Moina with three
in the first three days The supplement of 1 Artemia/ml in the first 3 days of nursing showed the
sig-nificantly different between two kinds of feed (Moina and Moina+Artemia) (P<0.05) and among 3
also had significant difference (P<0.001) For the weight of 20-day-old fry, the impact of density (P<0.001) and the interaction between density x feed were significantly different (P=0.011), but there was no significant in feed (P=0.356) The survival rate of 20-day nursing (with and without
transfer data into arcsin) was significantly different from the 3 densities when applying logistic
regression analysis (P=0,0023) while there was no siginficantly different for the feed treatment (P>0.05)
Keywords: Catlocarpio siamensis, Moina, Artemia, nursing density.
Người phản biện: TS Nguyễn Văn Hảo
Ngày nhận bài: 10/8/2014 Ngày thông qua phản biện: 28/8/2014
Ngày duyệt đăng: 05/9/2014
1 National Breeding Center for Southern Freshwater Aquaculture, Research Institute for Aquaculture No.2
2 Research Institute for Aquaculture No.2
* Email: truongria2@gmail.com