1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kiểm chứng mô hình tương quan giữa độ tiêu hóa protein in vivo và in vitro trên thức ăn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)

15 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 372,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc thực hiện kiểm tra lại các mô hình này trên sáu mẫu thức ăn chế biến trong phòng thí nghiệm. Kết quả kiểm tra cho thấy tất cả các mô hình dự đoán đều cho số dư dự đoán và độ chệch cao chứng tỏ các mô hình này không phù hợp để dự đoán giá trị độ tiêu hóa protein protein, cần thiết phải xây dựng lại mô hình hồi quy phù hợp, không đi qua điểm 0.

Trang 1

KiỂm chỨng mô hình Tương QUan giỮa ĐỘ TiÊU hÓa

PRoTein IN VIVO VÀ IN VITRO TRÊn ThỨc ăn Tôm ThẺ

chÂn TRẮng (Litopenaeus vannamei)

Nguyễn Thị Lan Chi1*, Lê Thị Lâm1

TÓM TẮT

Các nhà quản lý chất lượng thức ăn thủy sản hiện đang tìm kiếm một công cụ nhằm kiểm tra độ tiêu hóa protein của thức ăn Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích đạm tiêu hóa trong thức

ăn thủy sản” được thực hiện ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 đã bước đầu xây dựng được

6 mô hình hồi quy mô tả mối tương quan giữa độ tiêu hóa in vitro và độ tiêu hóa in vivo với hệ số

tương quan khá cao (R 2 > 0,9) Tuy nhiên, để đạt được hệ số tương quan này, các mô hình dự đoán phải là đường cong phi tuyến và đi qua điểm 0 Đây là giả định rất khó xảy ra trong thực tế vì không

thể có mẫu cho độ tiêu hóa protein in vivo và in vitro bằng 0 Chính vì vậy, chúng tôi đã thực hiện

kiểm tra lại các mô hình này trên sáu mẫu thức ăn chế biến trong phòng thí nghiệm Kết quả kiểm tra cho thấy tất cả các mô hình dự đoán đều cho số dư dự đoán và độ chệch cao chứng tỏ các mô hình này không phù hợp để dự đoán giá trị độ tiêu hóa protein protein, cần thiết phải xây dựng lại

mô hình hồi quy phù hợp, không đi qua điểm 0.

Từ khóa: độ tiêu hóa protein, phương pháp in vitro, phương pháp in vivo, thức ăn tôm thẻ chân trắng.

1 Trung tâm Công nghệ sau thu hoạch, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2

* Email: lanchiria2@yahoo.com.vn

I MỞ ĐẦU

Do tính tiện dụng, nhanh và chi phí thấp

nên ngày nay đã có nhiều nhà khoa học trong

ngành thực phẩm và thức ăn thủy sản nghiên

cứu tìm cách sử dụng phương pháp in vitro

nhằm dự đoán giá trị độ tiêu hóa protein in vivo

của sản phẩm Trong đó, phương pháp pepsin

là phương pháp được các nhà nghiên cứu trong

lĩnh vực thực phẩm quan tâm nhất Phương

pháp này được sử dụng để đánh giá độ tiêu hóa

protein của các nguyên liệu đạm động vật như

bột cá, bột xương thịt, … và đã được chuẩn hóa

thành các phương pháp tiêu chuẩn như AOAC

971.09, ISO 6655:1997, 72/199/EEC và TCVN

9129:2011 Các phương pháp này sử dụng dung

dịch pepsin mạnh (0,2%) nên cho kết quả độ

tiêu hóa cao nhưng không phân biệt được chất lượng khác nhau giữa các loại bột cá (Miller

et al., 2002) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy

trình phân tích đạm tiêu hóa trong thức ăn thủy sản” đã sử dụng phương pháp AOAC 971.09

với dung dịch pepsin pha loãng (0,0002%) để xác định độ tiêu hóa pepsin Vì theo Siccardi III (2006), có một mối tương quan tuyến tính (R2 =

0,55) giữa giá trị độ tiêu hóa protein in vivo và

độ tiêu hóa pepsin khi sử dụng pepsin với nồng

độ 0,0002% Tuy nhiên, khi thực hiện xác định

độ tiêu hóa protein bằng phương pháp pepsin tiêu hóa với nồng độ pepsin 0,2% thì tác giả đã không tìm thấy tương quan giữa 2 giá trị protein

tiêu hóa in vivo và in vitro.

Trang 2

Ngoài phương pháp pepsin, đề tài còn áp

dụng phương pháp pH drop và phương pháp pH

stat với hệ 3 và hệ 4 ezyme Kết quả cho thấy

khi xem xét mối tương quan giữa phương pháp

in vitro và phương pháp in vivo trên thức ăn tôm

thẻ chân trắng, tất cả các phương pháp đều cho

mối tương quan không đáng kể khi thực hiện

xử lý số liệu với mô hình hồi quy tuyến tính

hoặc với mô hình hồi quy phi tuyến (R2 < 0,3)

Tuy nhiên, khi chuyển sang xử lý số liệu với

mô hình hồi quy phi tuyến kết hợp với giả định

đồ thị đi qua điểm 0 thì tất cả các phương pháp

đều cho mối tương quan đáng kể (R2 > 0,9) Các

mối tương quan này được mô tả bởi các phương

trình hồi quy phi tuyến như hàm hữu tỷ [y = (a

+ bx)/(1 + cx + dx2)], hàm đa thức [y = a + bx

+ cx2 + dx3 hay y = a + bx + cx2] hoặc hàm mũ

[y = a (1 – e-bx)] Trong đó, phương pháp pepsin

là phương pháp dự đoán độ tiêu hóa protein in

vivo tốt nhất với hệ số xác định cao nhất (R2

= 0,93) (Trần Thị Lệ Trinh & Nguyễn Thị Lan

Chi, 2013) Tuy nhiên, vẫn chưa thể sử dụng

phương pháp này như là phương pháp chuẩn để

kiểm tra độ tiêu hóa protein của thức ăn thương

mại, vì giả định đi qua điểm 0 là một giả định

khó chấp nhận xét về mặt sinh học Chính vì

vậy, chúng tôi đã thực hiện kiểm tra lại các mô

hình này trên một số mẫu thức ăn chế biến trong

phòng thí nghiệm Việc kiểm tra được thực hiện

bằng cách xác định độ tiêu hóa protein dự đoán

khi thế các giá trị in vitro vào mô hình, và so

sánh giá trị này với độ tiêu hóa protein xác định

bằng phương pháp in vivo.

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu

Thức ăn chuẩn bị trong PTN: các mô hình

tương quan được thực hiện kiểm chứng thông

qua 6 mẫu thức ăn chế biến trong phòng thí

nghiệm có thành phần thay thế bột cá bằng bánh

chứng, thức ăn thay thế 20%, 40%, 60%, 80%

và 100%)

Tôm thẻ chân trắng: tôm nuôi thương

phẩm (trọng lượng tôm từ 8–10g/con) được thu tại Trung tâm Quốc gia giống thủy hải sản Nam

Bộ, Bà Rịa Vũng Tàu (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II) sau khi kiểm tra không có mầm bệnh nguy hiểm

Enzyme: enzyme tinh khiết hoặc hỗn hợp

enzyme được chiết tách từ vi sinh vật của các hãng Himedia (Ấn Độ), Sigma-Aldrich (Mỹ)

và Novozyme (Đan Mạch): Pepsin tinh khiết, hoạt độ 1:10000 (RM1251, Himedia); Trypsin

từ tụy heo, loại IX-S, hoạt độ: 13.000 - 20.000 (T0303, Sigma-Aldrich); α-chymotrypsin từ tụy

bò, loại II, hoạt độ: ≥ 40.000 (C4129,

Sigma-Aldrich); Protease từ Streptomyces griseus, loại

XIV, hoạt độ ≥ 3,5 (P5147, Sigma-Aldrich); Flavourzyme® 500 mg (Novozyme)

Các thí nghiệm được thực hiện từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 03 năm 2014, tại phòng thí nghiệm Hóa sinh, Vi sinh và phòng thí nghiệm dinh dưỡng động vật nuôi thủy sản thuộc Trung tâm Công nghệ sau thu hoạch (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chuẩn bị mẫu thức ăn

có công thức được thiết lập

Với mục đích tạo ra những thức ăn có thành phần khác nhau, chất lượng khác nhau nhằm kiểm chứng độ phù hợp của các mô hình, sáu khẩu phần được thiết lập có cùng mức đạm khoảng 40% và tỷ lệ protein thô/năng lượng (P/E) khoảng 102 mg P/Kcal gồm: khẩu phần đối chứng - TĐC, khẩu phần thay thế 20%, 40%, 60%, 80% và 100% bột cá Chi lê bằng bánh dầu đậu nành (T20, T40, T60, T80 và T100, tương ứng) (Bảng 1) Thành phần nguyên liệu tham khảo từ dự án nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyện (2012)

Trang 3

Quy trình chuẩn bị: các nguyên liệu thô

được xay mịn, rây qua rây 0,5mm trước khi

phối trộn Cân các nguyên liệu khô trước (gồm

bột cá, bột gan mực, bánh dầu đậu nành, wheat

gluten, bột mì, dicalcium phosphate (CaHPO4),

premix khoáng/vitamin, cholesterol,

methionine, lysine, choline chloride, stay

C, chất hấp dẫn, chống mốc, chống oxi hóa,

Cr2O3), trộn đều các nguyên liệu này với

nhau trong khoảng 10 phút, xay lại hỗn hợp

nguyên liệu cho mịn trước khi cho lecithin và

dầu gan mực vào Tiếp tục trộn thêm 5 phút

Thêm khoảng 30% nước cất vào, nhào đều, rồi

đem hấp trong 30 phút Sau khi hấp, thêm từ

từ khoảng 25% nước cất đã được đun sôi vào; trộn đều và nhồi cho đến khi thức ăn thành một hỗn hợp đặc, sệt; nén, bóp lại thành từng cục

Sử dụng máy xay thịt (Meat mincing machine TJ12-B) để ép 02 lần cho trộn đều trước khi

ép thành viên thức ăn có đường kính lỗ khuôn

là 2mm Sau đó, sấy khô ở 60oC trong 24 giờ, thỉnh thoảng mở cửa tủ sấy Trong quá trình sấy, kiểm tra nhanh độ ẩm của viên thức ăn, nếu độ ẩm < 10% là đạt Cuối cùng thức ăn được cắt nhỏ thành viên có kích thước khoảng

5 mm Thức ăn được bảo quản ở -20oC cho đến khi sử dụng

Bảng 1 Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm

* Premix khoáng/vitamin (Bauer et al., 2012): Vitamin A (500.000 UI/kg), Vitamin D3 (250.000 UI/kg), Vitamin E (5.000 mg/kg), Vitamin K3 (500 mg/kg), Vitamin B1 (1.000 mg/kg), Vitamin B2 (1.000 mg/kg), Vitamin B6 (1.000 mg/kg), Vitamin B12 (2.000 μg/kg), Niacin (2.500 mg/kg), Calcium pantothenate (4.000 mg/kg), Folic acid (500 mg/kg), Biotin (10 mg/kg), Vitamin

C (10.000 mg/kg), Choline (100.000 mg/kg), Inositol (1.000 mg/kg), Selen (30 mg/kg), Sắt (5.000 mg/kg), Đồng (1.000 mg/kg), Mangan (5.000 mg/kg), Kẽm (9.000 mg/kg), Cobalt (50 mg/kg), Iodine (200 mg/kg).

** Chất hấp dẫn Aquatrac do công ty GePro (Đức) cung cấp.

Trang 4

Bảng 2 Thành phần hóa học của các nguyên liệu chính được sử dụng tạo thức ăn thí nghiệm Nguyên liệu Ẩm (%) Protein (%) Lipid (%) Tro (%) Xơ (%) Bột cá Chilê 65% 7,95 ± 0,01 65,37 ± 0,52 7,17 ± 0,61 16,09 ± 0,01 0,98 ± 0,24 Bột gan mực 6,67 ± 0,01 45,16 ± 0,27 16,47 ± 0,47 7,75 ± 0,06 6,45 ± 0,55 BDĐN 45% 10,08 ± 0,14 48,80 ± 0,17 2,70 ± 0,54 6,18 ± 0,08 7,89 ± 0,07 Wheat gluten 7,84 ± 0,07 77,54 ± 0,36 0,78 ± 0,13 0,74 ± 0,25 0,38 ± 0,16 Bột mì 12,06 ± 0,06 11,23 ± 0,22 1,47 ± 0,32 0,58 ± 0,05 0,51 ± 0,11

2.2.2 Phương pháp pH drop 3 enzyme

Theo Hsu et al., (1977) và Lazo et al.,

(1998), phương pháp pH drop 3 enzyme được

thực hiện như sau: cân mẫu thức ăn và casein

sao cho mẫu chứa 6,25 mg protein Thêm 10ml

nước cất vào các cốc, lắc đều trong 1 giờ, ở nhiệt

độ phòng Điều chỉnh pH dung dịch về pH 8,0

bằng NaOH 0,1N Thêm 1,0ml hỗn hợp enzyme

(1,6 mg/ml trypsin + 3,1 mg/ml chymotrypsin +

1,6 mg/ml Flavourzyme® 500MG), lắc đều, đo

lại pH sau 10 phút Kết quả xác định độ tiêu hóa

tương đối như sau:

Độ tiêu hóa protein

tương đối (RPD, %) =

(-∆pH mẫu)

x 100 (-∆pH casein)

2.2.3 Phương pháp pH drop 4 enzyme:

(Satterlee et al., 1979; Lazo et al., 1998)

Chuẩn bị mẫu tương tự pH drop 3 enzyme

Sau đó, thêm 1,0 ml dung dịch A (1,6 mg/ml

trypsin + 3,1 mg/ml chymotrypsin + 1,6 mg/ml

Flavourzyme® 500MG), lắc đều trong 10 phút

Thêm 1,0 ml dung dịch B (7,95 mg/ml protease

từ Streptomyces griseus), lắc đều và chuyển vào

bể ủ nhiệt, ủ ở 55oC trong 9 phút Lấy cốc ra để

ở nhiệt độ phòng và ghi nhận giá trị pH sau 1 phút Độ tiêu hóa tương đối được tính tương tự

pH drop 3 enzyme

2.2.4 Phương pháp pH stat 3 enzyme:

(Pedersen & Eggum, 1983) Cân mẫu thức ăn sao cho mẫu chứa 18,75

mg protein Thêm 30 ml nước cất vào các cốc, lắc đều trong 1 giờ, ở nhiệt độ phòng Điều chỉnh pH dung dịch về pH 8,0 bằng NaOH 0,1N Thêm 3,0 ml hỗn hợp 3 enzyme (1,6 mg/ml trypsin + 3,1 mg/ml chymotrypsin + 1,6 mg/ml Flavourzyme® 500MG), lắc đều và duy trì pH của dung dịch ở pH 8,0 bằng cách thêm NaOH 0,1N từ máy chuẩn độ điện thế tự động Radiometer TritraLab 865, trong 3 giờ Sau đó, ghi nhận lại thể tích NaOH 0,1N đã

sử dụng

Độ thủy phân (DH, %) = BxNBx1/αx1/

MPx1/htotx100

Trang 5

Trong đó: B: thể tích NaOH 0,1N đã sử dụng

(ml); NB: Nồng độ đương lượng của NaOH (N);

1/α: Hệ số thuỷ phân của nhóm α -amin phụ

thuộc pK amin ở điều kiện nhiệt độ và pH thực

nghiệm; MP: lượng protein trong phản ứng (%);

1/htot: tổng số liên kết peptide của các mẫu

pro-tein khác nhau (meq/g)

Hình 1 Máy chuẩn độ điện thế tự động

2.2.5 Phương pháp pH stat 4 enzyme:

(Ezquerra et al., 1997)

Thực hiện tương tự phương pháp pH stat 3 enzyme, tuy nhiên enzyme sử dụng là hỗn hợp 4 enzyme (1,6 mg/ml trypsin + 3,1 mg/ml chymo-trypsin + 1,6 mg/ml Flavourzyme® 500MG +

7,95 mg/ml protease từ Streptomyces griseus),

thời gian phản ứng là 2 giờ Kết quả xác định độ thủy phân (DH) được tính theo công thức như trong phương pháp pH stat 3 enzyme

2.2.6 Phương pháp pepsin tiêu hóa:

(Siccardi III, 2006; AOAC, 971.09) Ban đầu mẫu được khử béo bằng cách chiết mẫu với ether dầu bằng Soxhlet

Cân 0,5 g mẫu đã khử béo, cho vào ống máy xoay cùng với 150 ml dung dịch pepsin 0,0002% (trong HCl 0,075N) Ủ ở 45oC, tốc độ xoay: 15 vòng/phút, trong 16 giờ

Sau khi ủ, để lắng, lọc bằng giấy lọc đã cân trọng lượng qua phễu buchner Rửa lại 2 lần với acetone, mỗi lần 15 ml acetone

Xác định protein thô trên cặn thu được (Protein thô của cặn không tiêu hóa)

Protein tiêu hóa (%) = 100 - Protein thô cặn thu được x 100

Protein thô của mẫu Nếu xem xét hàm lượng Nitơ phi protein:

Protein tiêu hóa (%) = 100 - Protein thô của mẫu – (Nitơ phi protein x 6,25)Protein thô cặn thu được x 100

2.2.7 Quy trình nuôi thử nghiệm in vivo

Chọn tôm thí nghiệm có kích cỡ đồng

đều (8 – 10g), khỏe mạnh Tôm được bố trí

vào 18 bể kính có đánh số, mật độ 10 con/

bể, thể tích chứa nước 70 lít, nước nuôi tôm

có độ mặn 18‰ Hệ thống lọc nước chỉ được

sử dụng vào ban đêm Định kỳ một tuần thay

nước một lần, thay khoảng 50% thể tích nước

của bể Thử nghiệm bao gồm 6 nghiệm thức,

mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Trước

khi thí nghiệm tôm được nuôi dưỡng trong

vòng một tháng để thích nghi với môi trường, cho ăn cùng một loại thức ăn thương mại Sau

đó tập cho tôm ăn thức ăn thí nghiệm trong vòng 3 ngày rồi mới tiến hành thu phân Khi tiến hành thử nghiệm cho tôm ăn 03 lần/ngày, cho ăn 4 - 6% trọng lượng thân, lượng thức ăn được điều chỉnh sao cho tôm ăn hết tránh để thức ăn còn dư trong bể Sau 30 phút cho ăn kiểm tra lại lượng thức ăn đã cho ăn Tiến hành siphong thu phân, ngày thu phân 2 lần Tôm được nuôi khoảng 1 tháng

Trang 6

Trong thời gian thí nghiệm các chỉ tiêu môi

trường như: pH, to, DO, N-NH3, N-NO2- được

theo dõi thường xuyên: pH, nhiệt độ đo mỗi ngày

1 lần; DO, N-NH3, N-NO2- đo mỗi tuần 1 lần

Phân thu được được bảo quản ở -20oC cho đến khi tiến hành sấy đông khô Sau khi sấy đông khô, phân được đem xác định độ ẩm, protein thô và hàm lượng Cr2O3

Độ tiêu hóa protein

khả kiến APD (%) = 100

-% Cr2O3thức ăn

x % Protein phân x 100

% Cr2O3phân % Protein thức ăn

2.2.8 Phương pháp phân tích

Hàm lượng protein thô được xác định theo

TCVN 4328-1:2007

Hàm lượng lipid thô được xác định theo

TCVN 4331:2001

Hàm lượng tro được xác định theo TCVN

4327:2007

Độ ẩm được xác định theo TCVN

4326:2001

Hàm lượng Nitơ phi protein xác định theo

TCVN 8801:2011

Hàm lượng Cr2O3 được xác định theo

phương pháp của Furukawa & Tsukahara, 1966

Hàm lượng N-NO2-xác định theo phương

pháp APHA 2005.4500.NO2B

Hàm lượng N-NH3 xác định theo phương pháp APHA 2005.4500.NH3 F

2.2.9 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích thống kê Khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% (P < 0,05)

Để kiểm chứng các mô hình tương quan, chúng tôi đã sử dụng 6 mẫu thức ăn chế biến trong phòng thí nghiệm Kết quả kiểm tra được đánh giá dựa trên số dư dự đoán, và độ chệch

khi thế các giá trị in vitro vào mô hình và so sánh với giá trị in vivo thu nhận được Theo

Lemos et al., (2009), số dư dự đoán được tính như sau:

Số dư dự đoán = APD dự đoán từ in vitro - APD xác định từ in vivo

Độ chệch (%) = APD dự đoán từ in vitro – APD xác định từ in vivoAPD xác định từ in vivo x 100

III KẾT QUẢ

3.1 Kết quả phân tích thành phần dinh

dưỡng trong các mẫu thức ăn chế biến trong

PTN

Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng

của các mẫu thức ăn chế biến từ bảng 3 cho thấy

hàm lượng protein không khác nhau có ý nghĩa

thống kê trong tất cả các khẩu phần Trong khi

đó, hàm lượng lipid có dao động và có khuynh hướng giảm nhẹ khi tăng phần trăm thay thế bột

cá bằng bánh dầu đậu nành Do bánh dầu đậu nành (lipid 2,70%) có hàm lượng lipid thấp hơn

so với bột cá (7,17%) nên khi tăng phần trăm bánh dầu đậu nành thì hàm lượng lipid giảm

Trang 7

Bảng 3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn chế biến trong PTN (n = 3)

TT Mẫu Protein

(%, VCK)

Lipid (%, VCK)

Tro (%, VCK)

Xơ (%, VCK) Tỷ lệ Ca/P

1 TĐC 44,36a ± 0,35 5,87c ± 0,13 11,38e ± 0,02 2,46a ± 0,12 1,48

2 T20 44,00a ± 0,52 5,57bc ± 0,24 10,89d ± 0,05 3,27b ± 0,20 1,48

3 T40 44,73a ± 0,35 5,45abc ± 0,11 10,60c ± 0,02 3,98bc ± 0,34 1,52

4 T60 44,49a ± 0,73 5,52abc ± 0,29 10,61c ± 0,01 4,70cd ± 0,18 1,45

5 T80 44,54a ± 0,37 5,00ab ± 0,27 10,03b ± 0,03 5,14de ± 0,26 1,29

6 T100 44,64a ± 0,25 4,95a ± 0,09 9,39a ± 0,01 5,79e ± 0,32 1,52

* Các giá trị trong cùng một cột có ký hiệu mũ khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P

< 0,05)

Khi xét các thành phần khác thì thành

phần tro và xơ thay đổi đáng kể Khi tăng

phần trăm thay thế bột cá bằng bánh dầu đậu

nành thì hàm lượng xơ tăng và hàm lượng

tro giảm Điều này được giải thích do bánh

dầu đậu nành có hàm lượng xơ (7,89%) cao

và tro (6,18%) thấp hơn so với bột cá (xơ

0,98% và tro 16,09%) Xét tỷ lệ Ca/P cho

thấy, tất cả các khẩu phần đều có tỷ lệ Ca/P

≥ 1 Theo Davis et al., (1993), nếu Ca hiện

diện 1% thì hàm lượng phosphor từ 0,5 –

1%, nếu là 2% thì hàm lượng phosphor 1

– 2% Như vậy, tỷ lệ Ca/P trong các mẫu

thức ăn thí nghiệm đều thỏa điều kiện tăng

trưởng của tôm thẻ

So sánh với quy định tạm thời về thức ăn tôm thẻ chân trắng (thông tư 73/2009/BNNPTNT, ngày 20/11/2009), các thành phần dinh dưỡng của các mẫu thức ăn thí nghiệm đều thỏa mãn tiêu chuẩn dành cho tôm giai đoạn từ 3 – 12,g (đây cũng là giai đoạn tôm nuôi thí nghiệm), chỉ

có hàm lượng xơ của thức ăn T60, T80 và T100

là cao hơn ngưỡng cho phép (> 4%)

3.2 Độ tiêu hóa protein in vivo của thức

ăn chế biến trong PTN

Trong thời gian nuôi thử nghiệm, các yếu

tố môi trường đều nằm trong khoảng thuận lợi cho sự sinh trưởng của tôm, trong đó nhiệt độ

từ 28,0 – 30,7oC; pH: 7,1 – 8,3; DO: 6,5 – 7,4 mg/l; N-NH3: 0,001 – 0,013 mg/l; N-NO2-: 0,002 – 0,015 mg/l

Trang 8

Kết quả cho thấy hệ số biến động (CV) khi

thực hiện nuôi thử nghiệm in vivo vẫn nằm trong

giới hạn cho phép (< 5%), độ biến động không

cao, kết quả có thể tin cậy được Khi xét kết

quả độ tiêu hóa protein in vivo, có thể nhận thấy

độ tiêu hóa protein in vivo của mẫu thức ăn đối

chứng tương đối thấp (62,09 ± 2,03%) Do các

mẫu thức ăn được chế biến trong điều kiện PTN,

trộn bằng tay và ép bằng máy xay thịt nên có độ

tiêu hóa kém hơn so với các mẫu thức ăn thương

mại có cùng hàm lượng protein Các mẫu thức

ăn thương mại được sản xuất trong nhà máy với

các thiết bị máy móc hiện đại, nguyên liệu được

xay mịn hơn, trộn đều hơn Ngoài ra, các mẫu

thức ăn thương mại còn trải qua các giai đoạn

chịu nhiệt, làm chín và nén ép, rất khác biệt so

với thức ăn chế biến trong phòng thí nghiệm,

cho nên các mẫu thức ăn này có độ bền cao và

độ tiêu hóa protein cao hơn hẳn

Khi tăng phần trăm thay thế bột cá bằng

bánh dầu đậu nành thì độ tiêu hóa protein in

vivo giảm Đặc biệt ở tỷ lệ 80 và 100% thì độ

tiêu hóa in vivo giảm đáng kể và khác biệt có ý

nghĩa so với các tỷ lệ còn lại Năm 1990, Lim

& Dominy cũng đã nghiên cứu đánh giá tỷ lệ

thay thế bột cá bằng bánh dầu đậu nành Kết

quả cho thấy khi thay thế bột cá đến 40% thì trọng lượng tôm không khác nhau có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên khi tăng phần trăm thay thế thì trọng lượng tôm giảm đáng kể Trong nghiên cứu này, tác giả đã không đánh giá

sự thay đổi của độ tiêu hóa protein in vivo,

tuy nhiên, tác giả có khảo sát hệ số sử dụng protein (apparent net protein utilization) Kết quả cho thấy các khẩu phần thay thế đến 80% thì thay đổi không khác biệt có ý nghĩa thống

kê, chỉ có khẩu phần thay thế 100% mới giảm đáng kể Kết quả này cũng khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của đề tài khi khẩu phần T100 có giá trị APD thấp hơn đáng kể so với các khẩu phần còn lại

3.3 Kiểm chứng mô hình tương quan

Kết quả nghiên cứu từ đề tài “Nghiên cứu

xây dựng quy trình phân tích đạm tiêu hóa trong thức ăn thủy sản” cho thấy có 6 phương

trình hồi quy phi tuyến có hệ số tương quan cao (Bảng 5) khi thực hiện xử lý số liệu hồi quy phi tuyến có bổ sung điểm 0, nhằm đánh

giá mối tương quan giữa phương pháp in vitro

và phương pháp in vivo với số liệu của 40

mẫu thức ăn thương mại (Trần Thị Lệ Trinh & Nguyễn Thị Lan Chi, 2013)

Bảng 4 Độ tiêu hóa protein in vivo của thức ăn chế biến tại PTN

Mẫu

APD* (%) CV (%)

Cr2O3

(%, VCK)

Protein thô (%, VCK)

Cr2O3 (%, VCK) Protein thô (%, VCK) TĐC 1,00 ± 0,02 44,36 ± 0,19 2,67 ± 0,06 45,05 ± 1,84 62,09a ± 2,03 3,28 T20 1,00 ± 0,04 44,00 ± 0,26 2,37 ± 0,19 39,84 ± 3,33 61,79a ± 1,29 2,09 T40 0,94 ± 0,15 44,73 ± 0,05 2,36 ± 0,09 43,84 ± 1,52 60,78a ± 1,58 2,59 T60 0,98 ± 0,01 44,49 ± 0,21 2,41 ± 0,15 43,64 ± 0,06 59,76ab ± 2,70 4,52 T80 1,02 ± 0,01 44,54 ± 0,25 2,32 ± 0,05 45,23 ± 0,85 55,41bc ± 0,21 0,38 T100 0,95 ± 0,01 44,64 ± 0,54 1,87 ± 0,05 40,42 ± 1,02 53,93c ± 2,19 4,06

* Các giá trị trong cùng một cột có ký hiệu mũ khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)

Trang 9

Bảng 5 Các phương trình tương quan giữa phương pháp in vitro và in vivo

với giả thiết đi qua điểm 0 Phương pháp in vitro Phương trình hồi quy Hằng số Hệ số tương quan, R2 Pepsin y = a + bx + cx2

a = -0,20244

b = 1,87624

c = -0,01118

0,963

Pepsin - NPP y = a + bx + cx2

a = 0,05873

b = 2,01401

c = -0,01287

0,963

pH drop 3 enzyme

a = 0,00394

b = 3,07784

c = -0,00170

d = 0,00042

0,963

pH drop 4 enzyme y = a + bx + cx2 + dx3

a = -0,00196

b = 4,03978

c = -0,06426

d = 0,00032

0,954

pH stat 3 enzyme y = a (1 – e-bx) a= 77,85977

b = 0,30111 0,953

pH stat 4 enzyme y = a (1 – e-bx) a = 79,74929

b = 0,16573 0,956

Để kiểm chứng các mô hình trên, đề tài đã

sử dụng 6 mẫu thức ăn chế biến trong phòng

thí nghiệm Kết quả đánh giá số dư dự đoán, độ

chệch và độ đúng khi thế các giá trị in vitro vào

mô hình và so sánh với giá trị in vivo, được thể

hiện trong các bảng sau:

Bảng 6 Kết quả số dư dự đoán, độ chệch và độ đúng khi kiểm chứng mô hình tương quan giữa

phương pháp pepsin tiêu hóa và in vivo

Mẫu Độ tiêu hóa pepsin (%) APD dự đoán (%) APD xác định (%) Số dư dự đoán Độ chệch (%) Độ đúng (%) TĐC 59,11 ± 0,31 71,63 62,09 ± 2,03 9,54 15,36 115,36 T20 54,61 ± 1,73 68,91 61,79 ± 1,29 7,12 11,53 111,53 T40 59,87 ± 0,03 72,05 60,78 ± 1,58 11,27 18,54 118,54 T60 61,23 ± 2,89 72,76 59,76 ± 2,70 13,00 21,75 121,75 T80 59,21 ± 0,03 71,69 55,41 ± 0,21 16,28 29,37 129,37 T100 30,65 ± 5,00 46,80 53,93 ± 2,19 -7,13 -13,22 86,78

Trang 10

Bảng 7 Kết quả số dư dự đoán, độ chệch và độ đúng khi kiểm chứng mô hình tương quan giữa

phương pháp pepsin tiêu hóa – NPP và in vivo

Mẫu Độ tiêu hóa pepsin (%) đoán (%)APD dự APD xác định (%) Số dư dự đoán Độ chệch (%) Độ đúng (%) TĐC 51,59 ± 0,37 69,71 62,09 ± 2,03 7,61 12,26 112,26 T20 47,00 ± 2,02 66,28 61,79 ± 1,29 4,49 7,27 107,27 T40 53,30 ± 0,30 70,84 60,78 ± 1,58 10,06 16,55 116,55 T60 54,99 ± 3,12 71,89 59,76 ± 2,70 12,13 20,29 120,29 T80 53,43 ± 0,30 70,93 55,41 ± 0,21 15,51 28,00 128,00 T100 19,15 ± 6,05 33,91 53,93 ± 2,19 -20,02 -37,12 62,88

Từ bảng 6 và 7 có thể nhận thấy với các

khẩu phần có chứa bột cá (TĐC, T20 – T80)

thì phương pháp pepsin (không tính và có tính

hàm lượng NPP) cho kết quả độ tiêu hóa pepsin

tương tự nhau, chỉ có khẩu phần thay thế bột

cá hoàn toàn (T100) mới có độ tiêu hóa pepsin

thấp Điều này cho thấy phương pháp pepsin

(không tính và có tính hàm lượng NPP) chỉ có

thể phân biệt giữa thức ăn không chứa bột cá

và thức ăn có chứa bột cá, chứ không thể đánh

giá chất lượng giữa các khẩu phần có độ tiêu

hóa khác nhau khi các khẩu phần này có chứa

bột cá Khi thế giá trị độ tiêu hóa pepsin vào

mô hình tương quan thì kết quả cho thấy số dư

dự đoán tăng dần khi tăng phần trăm thay thế bột cá bằng bánh dầu đậu nành Tuy nhiên, khi thay thế hoàn toàn bột cá bằng bánh dầu đậu nành (T100) thì cho số dư dự đoán âm Điều này chứng tỏ mô hình tương quan được xây dựng giữa phương pháp pepsin tiêu hóa và phương pháp in vivo chỉ phù hợp để dự đoán những thức

ăn có thành phần protein có nguồn gốc động vật, khi mẫu thức ăn có thành phần protein có nguồn gốc thực vật cao thì khả năng dự đoán không còn chính xác nữa

Bảng 8 Kết quả số dư dự đoán, độ chệch và độ đúng khi kiểm chứng mô hình tương quan giữa

phương pháp pH drop 3 enzyme và in vivo

Mẫu RPD (%) APD dự đoán (%) APD xác định (%) Số dư dự đoán Độ chệch (%) Độ đúng (%) TĐC 68,02 ± 2,69 74,56 62,09 ± 2,03 12,46 20,07 120,07 T20 68,44 ± 2,50 74,40 61,79 ± 1,29 12,61 20,41 120,41 T40 73,89 ± 3,76 72,33 60,78 ± 1,58 11,55 18,99 118,99 T60 67,44 ± 1,88 74,76 59,76 ± 2,70 15,00 25,10 125,10 T80 55,03 ± 6,28 78,21 55,41 ± 0,21 22,80 41,15 141,15 T100 67,40 ± 1,65 74,78 53,93 ± 2,19 20,85 38,65 138,65

Ngày đăng: 07/12/2020, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w