Nghiên cứu biến động thành phần loài cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã được thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 10/2019. Ứng dụng GIS và quan trắc sản lượng khai thác được thực hiện với 7 trạm quan trắc thuộc 4 tỉnh, thành đại diện cho 4 vùng sinh cảnh khác nhau. Mục đích nghiên cứu là quan trắc sản lượng khai thác cá, xây dựng bản đồ phân bố và biến động số lượng, sản lượng các loài cá ở mức độ hộ và khu vực nghiên cứu.
Trang 1ỨNG DỤNG GIS THỂ HIỆN SỰ PHÂN BỐ, BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC CÁ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2017 – 2019
Huỳnh Hoàng Huy 1*, Nguyễn Nguyễn Du1 TÓM TẮT
Nghiên cứu biến động thành phần loài cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã được thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 10/2019 Ứng dụng GIS và quan trắc sản lượng khai thác được thực hiện với 7 trạm quan trắc thuộc 4 tỉnh, thành đại diện cho 4 vùng sinh cảnh khác nhau Mục đích nghiên cứu là quan trắc sản lượng khai thác cá, xây dựng bản đồ phân bố và biến động số lượng, sản lượng các loài cá ở mức độ
hộ và khu vực nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 178 loài cá, gồm 17 bộ và 48 họ phân bố ở 4 vùng sinh cảnh khác nhau Sản lượng khai thác cao nhất ở vùng ven biển trạm Cầu Quan chiếm 27% và thấp nhất ở trạm Vũng Liêm trong nội đồng chiếm 4% tổng sản lượng khai thác của các trạm Các trạm trên dòng chính, kênh rạch và vùng ngập lũ có số lượng loài đa dạng hơn so với các trạm trong vùng nội đồng và gần cửa sông, ven biển; cụ thể 113 loài so với 21 loài Nhóm cá trắng có sự đa dạng hơn về thành phần loài và phong phú hơn về sản lượng so với các nhóm cá khác Loài ngoại lai được tìm thấy chủ yếu
là cá lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) và cá rô phi (Oreochromis sp.), tập trung nhiều nhất ở trạm
Vàm Nao Nghiên cứu này đã xây dựng được bản đồ phân bố thành phần loài và biến động sản lượng cá, dựa trên sự tiện ích của công cụ GIS Bên cạnh đó, nghiên cứu cung cấp thêm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá
Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long, biến động, phân bố, GIS, sản lượng cá.
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
* Email: hhoanghuy.ct@gmail.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sông Mê Công chảy vào Việt Nam qua
2 nhánh sông Tiền (dài 150 km) và sông Hậu
(dài 190 km) tạo nên một lưu vực vùng Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện
tích gần 40.550 km2, chiếm khoảng 12% diện
tích cả nước Ngoài ra, ĐBSCL có một hệ thống
sông ngòi – kênh rạch dày đặc với tổng chiều
dài khoảng 4.900 km (Lê Song Giang, 2004)
Nguồn lợi thủy sản rất đa dạng và phong phú
Hiện nay, vùng ĐBSCL đã xác định được 322
loài cá thuộc 77 họ, trong đó 312 loài thu được
trong vùng nước ngọt và lợ, và có 10 loài thu
được ở vùng cửa sông (Trần Đắc Định và ctv.,
2013), thành phần loài cá chia thành 2 nhóm lớn
là nhóm cá nước ngọt sống trong sông, thường
được gọi là nhóm cá trắng và nhóm cá sống
nước tĩnh, còn gọi là cá đen; 18 loài tôm nước
ngọt (Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc
Phú, 2004)
Tổng sản lượng khai thác thủy sản (KTTS), bao gồm khai thác biển và nội địa vùng ĐBSCL năm 2018 đạt 1,443 triệu tấn, chiếm 40,02% tổng sản lượng KTTS cả nước Đối với nghề KTTS nội địa, sản lượng vùng ĐBSCL năm
2018 đạt 465.451 tấn, chiếm 48,14% tổng sản lượng KTTS nội địa cả nước (Tổng cục Thống
kê, 2018) Hơn 120 loại ngư cụ KTTS nội địa vùng ĐBSCL đã được miêu tả và chia thành 13 nhóm (Nguyễn Nguyễn Du và ctv., 2006) Hầu hết các loại ngư cụ đều rất thô sơ, ngư dân có thể tự chế tạo Nghề KTTS nội địa vùng ĐBSCL mang đặc tính quy mô nhỏ nhưng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và cung cấp thực phẩm hàng ngày cho hàng triệu người dân địa phương Tuy nhiên, sản lượng KTTS đang có khuynh hướng giảm rõ rệt trong những năm gần đây vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau Nhìn chung các yếu tố này đều liên quan đến việc khai thác quá mức, môi trường sống bị
Trang 2thu hẹp, ngăn chặn đường di cư của cá, và chất
lượng môi trường sống bị suy giảm Bên cạnh đó,
tầm quan trọng của ngành thủy sản đối với kinh
tế cả nước ngày càng được khẳng định, trong đó
nghề cá ĐBSCL giữ một vị trí rất quan trọng
GIS (Geographic Information System) đã
được ứng dụng trong ngành thủy sản kể từ giữa
những năm 1980 Đầu thập niên 90, GIS mới áp
dụng rộng rãi vào nghiên cứu các vùng nuôi trồng
thủy sản (Aguilar – Manjarrez và Ross, 1995) Ở
Việt Nam, GIS đã được ứng dụng trong đánh giá
tình hình nuôi cá điêu hồng trong lồng bè ở sông
Tiền vùng thượng nguồn tỉnh Vĩnh Long (Trần
Văn Việt, 2016), trong hiện trạng phân bố không
gian nuôi trồng thủy sản khu vực Cần Thơ, An
Giang và Đồng Tháp giai đoạn từ 2010 đến 2014
(Nguyễn Thị Hồng Điệp và ctv., 2016), trong
điều tra hiện trạng nuôi trồng thủy sản lợ mặn
vùng cao triều ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế (Trương Văn Đàn và ctv.,
2018) Do có khả năng cập nhật, truy xuất dữ liệu
nhanh và chính xác, phân tích và biểu diễn dữ
liệu không gian và thuộc tính được tổng hợp từ
nhiều nguồn khác nhau nên GIS ngày càng được
ứng dụng trong việc quản lý, lập quy hoạch, hỗ
trợ ra quyết định phát triển và khai thác cũng như bảo tồn nguồn lợi thủy sản
Tuy nhiên, các chương trình nghiên cứu trước đây về thủy sản vùng ĐBSCL chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề cụ thể, các báo cáo tổng hợp số liệu thống kê chuyên ngành thủy sản và hệ thống hóa cơ sở về nghề cá chỉ mới được tiến hành ở một vài dự án phát triển và còn khá rời rạc Vì vậy, một công cụ quản lý, cập nhật thông tin và truy xuất dữ liệu nhanh là rất quan trọng GIS là một trong những công cụ có thể đáp ứng nhu cầu đó, nên nghiên cứu này là thực sự cần thiết nhằm giúp các nhà quản lý tham khảo, nhìn nhận tổng quan, xem xét và cân nhắc trong việc đề ra các giải pháp khai thác và quản
lý nguồn lợi thủy sản cho mục tiêu phát triển bền vững vùng ĐBSCL
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Thời gian và địa điểm
Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian
từ tháng 01/2019 đến tháng 10/2019 ở 7 trạm quan trắc vùng ĐBSCL trên 2 nhánh sông chính: sông Tiền và sông Hậu (Hình 1)
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Hình 1 Hệ thống trạm quan trắc KTTS vùng ĐBSCL
Trang 3Số liệu được ghi chép hàng ngày vào sổ nhật
ký của 21 hộ ngư dân tại 7 trạm quan trắc trong
thời gian từ tháng 01/2019 – 10/2019 được sử
dụng làm vật liệu nghiên cứu Ngoài ra, chúng
tôi cũng sử dụng số liệu nghiên cứu của chương
trình quan trắc sản lượng cá khai thác năm 2017
và năm 2018 do Ủy Hội sông Mê Công (MRC)
tài trợ thực hiện bởi chính nhóm tác giả để đánh
giá xu hướng biến động qua các năm
Trước khi triển khai chương trình quan trắc
này, tất cả ngư dân được tập huấn trong việc ghi
chép số liệu vào sổ nhật ký Tất cả các thông tin
liên quan đến việc KTTS được ngư dân ghi chép
chi tiết vào sổ nhật ký hàng ngày Ngoài ra, ngư
dân được cung cấp các vật liệu như: cân, thước,
sổ nhật ký, tập, viết và bộ Atlas hình màu các loài
cá vùng ĐBSCL để giúp nhận diện được chính
xác thành phần loài cá khai thác được Định kỳ
triển khai 4 lần/năm để kiểm tra và thu số liệu
ghi chép của ngư dân Ngoài ra, việc trao đổi qua
điện thoại cũng được duy trì thường xuyên để số
liệu thu thập được một cách chính xác nhất
2.3 Phân tích số liệu
Cơ sở dữ liệu (CSDL) được xây dựng trên
MS Access 2019 và chuẩn hóa cho các năm kế
tiếp, nhằm hệ thống hóa và đánh giá tốt hơn về
xu hướng biến động KTTS và nguồn lợi cá vùng ĐBSCL
Phương pháp thống kê mô tả được phân tích bằng phần mềm MS Excel 2019
2.4 Phương pháp thiết lập bản đồ
Chuẩn bị: máy định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System), bản đồ nền dạng số xã Nhơn Hội (huyện An Phú), xã Tân Trung (huyện Phú Tân), thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn), xã
Mỹ Khánh (huyện Phong Điền), xã Thanh Bình (huyện Vũng Liêm), thị trấn Cầu Quan (huyện Tiểu Cần) và xã Long Đức (thành phố Trà Vinh),
tỷ lệ 1:750.000, sử dụng phép chiếu WGS 1984 UTM Zone 48N, phần mềm ArcGIS 10.4.1 Tiến hành: sau khi đã có các kết quả phân tích về sản lượng khai thác cá ở 7 trạm quan trắc vùng ĐBSCL, sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu ArcCatalog để quản lý các thông tin thuộc tính dưới dạng các shapefile (*.shp) Sau đó, đưa
dữ liệu dưới dạng shapefile và các bản đồ nền vào phần mềm ArcMap để tiến hành các thao tác phân tích và thiết lập bản đồ
Tích hợp dữ liệu không gian và CSDL hình thành nên các thuộc tính/lớp (Layers), mỗi thuộc tính/lớp xuất ra 1 bản đồ, quy trình thực hiện theo
sơ đồ dưới đây:
Hình 2 Quy trình thu thập số liệu, xử lý thông tin
truy xuất ảnh và bản đồ
Số liệu quan trắc KTTS tại 7 trạm, thông tin vị trí các trạm quan trắc
Dữ liệu đầu vào
S ố hóa, số liệu quan trắc và cập nhật: cơ cấu thành phần loài, sản lượng giữa các nhóm cá qua
3 n ăm từ 01/2017 đến 10/2019 Phân tích, tích hợp giữa dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệu cho từng thuộc tính Bản đồ nền
Truy xuất bản đồ cho từng thuộc tính: biến động thành phần loài, biến động cá thể loài ngoại lai
ph ổ biến và biến động sản lượng khai thác trung bình 100 m 2
l ưới qua các năm
Ph ương pháp
Kết quả
Trang 4III KẾT QUẢ
3.1 Thành phần loài và cơ cấu sản lượng
giữa các nhóm cá
Kết quả quan trắc sản lượng khai thác qua
3 năm 2017, 2018 và 2019 đã chỉ ra rằng có tất
cả 178 loài cá, gồm 17 bộ và 48 họ phân bố ở 4
vùng sinh thái khác nhau Trong đó, số lượng loài
cao nhất thuộc về kênh rạch với 113 loài (chiếm
63,48% tổng số loài khai thác bắt gặp), kế đến là
dòng chính với 108 loài (chiếm 60,67%), vùng
ven biển với 55 loài (chiếm 30,90%) và thấp
nhất với 21 loài (chiếm 11,80%) ở vùng đồng
ruộng, ngập lụt (Hình 3a) Diễn biến biến động
số lượng loài qua các năm có xu hướng giảm
rõ rệt ở hầu hết các loại hình sinh cảnh, như:
vùng đồng ruộng 21 loài (2017) giảm còn 12
loài (2019), vùng ven biển 49 loài (2017) giảm
còn 15 loài (2019) Tuy nhiên ở khu vực dòng
chính số lượng loài cá ít có sự biến động lớn
Cơ cấu thành phần loài giữa các nhóm cá
ở các vùng sinh cảnh khác nhau được thể hiện trong (Hình 3b) Đối với khu vực kênh rạch và dòng chính nhóm cá trắng chiếm chủ yếu lần lượt là 29% và 46% Đối với khu vực ven biển thì nhóm cá nước lợ và nhóm cá trắng chiếm chủ yếu lần lượt với 26% và 28%, không thấy xuất hiện nhóm cá đen Ở khu vực vùng đồng ruộng, ngập lụt (ngập sâu và ngập nông) chỉ có nhóm cá trắng và nhóm cá đen chiếm lần lượt với 35% và 65% Kết quả cho thấy chỉ có dòng chính xuất hiện đủ tất cả các nhóm cá Bên cạnh
đó, nhóm cá trắng xuất hiện ở tất cả các sinh cảnh khác nhau
Sản lượng của nhóm cá di cư (cá trắng) chiếm gần một nửa trong tổng sản lượng khai thác của ngư dân và chiếm 49% tổng sản lượng khai thác, nhóm cá ít hay không di cư (cá đen)
chỉ chiếm 8% Trong khi đó, nhóm cá nước lợ
và nhóm cá nước mặn chiếm tỷ lệ tương đương
nhau trong tổng sản lượng lần lượt là 13% và
15% (Hình 4a) Xu hướng sản lượng khai thác 5
nhóm cá được thể hiện qua (Hình 4b), trong đó
sản lượng khai thác nhóm cá đen có xu hướng
giảm (10% năm 2017 giảm còn 4% năm 2019),
nhóm cá nước mặn có xu hướng tăng (12% năm
2017 tăng lên 29% vào năm 2019), các nhóm cá
còn lại ổn định, ít có biến động
Đáng chú ý thành phần loài cá ngoại lai
chiếm 5,01% tổng số loài và chiếm 0,37% trong
tổng số lượng cá thể khai thác của ngư dân, số lượng này chủ yếu tập trung ở kênh rạch, dòng chính và vùng đồng ruộng, ngập lụt, trong khi
đó ở vùng cửa sông, ven biển rất ít bắt gặp loài
cá ngoại lai
Biến động số loài và số lượng cá thể các loài
cá ngoại lai thể hiện ở (Hình 5) Nhìn chung, số loài và số lượng cá thể các loài ngoại lai có xu hướng giảm trong những năm gần đây và tập trung nhiều ở dòng chính, kênh rạch trong nội đồng Trong nghiên cứu này sử dụng ngư cụ để quan trắc sản lượng KTTS là lưới bén và lưới ba
Hình 3 Biến động thành phần loài (a) và cơ cấu thành phần loài giữa các
nhóm cá ở các vùng sinh cảnh khác nhau (b) qua năm 2017, 2018 và 2019
Trang 5Hình 4 Cơ cấu sản lượng giữa các nhóm cá (a) và xu hướng sản lượng khai
thác 5 nhóm cá (b) qua năm 2017, 2018 và 2019
3.2 Biến động sản lượng khai thác trung
bình 100 m 2 lưới theo ngư cụ
Kết quả quan trắc qua các năm có sự khác
nhau giữa các trạm và đã chỉ ra rằng sản lượng
khai thác trung bình 100 m2 lưới có xu hướng
giảm ở lưới bén và tăng ở loại lưới ba màng Cụ
thể, khai thác bằng lưới bén cao nhất tại trạm
Long Trị đạt gần 70 g/100 m2 lưới/ngư dân/
năm, thấp nhất ở khu vực trạm An Phú xấp xỉ 7
g/100 m2 lưới/ngư dân/năm và ở lưới ba màng
với sản lượng cao nhất tại trạm Vàm Nao đạt hơn 500 g/100 m2 lưới/ngư dân/năm, thấp nhất tại trạm Vũng Liêm chỉ đạt gần 6 g/100 m2 lưới/ ngư dân/năm (Hình 6)
Kết quả cũng cho thấy, trong năm 2017 giữa các tháng có xu hướng tăng dần từ 0,13 g/100 m2 lưới/ngư dân/tháng (tháng 1) lên 0,21 g/100 m2 lưới/ngư dân/tháng (tháng 12) Trong năm 2018 và năm 2019 không biến động nhiều giữa các tháng và giữ mức ổn định (Hình 7)
Hình 5 Biến động số loài và số cá thể cá ngoại lai qua
năm 2017, 2018 và 2019
màng, một số loại ngư cụ khác như dỡ chà, 12
cửa ngục,… thì sản lượng cá ngoại lai, đặc biệt là cá lau kiếng sẽ cao hơn rất nhiều (phỏng vấn từ ngư dân của 7 trạm quan trắc)
Trang 6Hình 6 Biến động sản lượng khai thác trung bình 100 m2
lưới bén và ba màng 2017, 2018 và 2019
Hình 7 Xu hướng sản lượng khai thác trung bình 100 m2
lưới giữa các tháng 2017, 2018 và 2019
3.3 Hiện trạng biến động thành phần
loài, sản lượng khai thác theo không gian và
thời gian khu vực nghiên cứu
3.3.1 Sự biến động thành phần loài theo
không gian và thời gian khu vực nghiên cứu
Biến động đa dạng thành phần loài theo
không gian và thời gian được thể hiện trong
(Hình 8) Thành phần loài có xu hướng giảm ở
phần lớn các trạm trong thời gian nghiên cứu,
tuy nhiên trạm Cầu Quan có sự giảm đáng kể
từ 94 loài (năm 2017) còn 28 loài (năm 2019) Nguyên nhân có thể do biến đổi khí hậu, lũ diễn biến thất thường, xây dựng các công trình cống ngăn mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp tại vùng cửa sông, ven biển, việc ghi chép nhật ký ngư dân hạn chế (không tập trung khai thác cá thường xuyên, giảm tần suất các chuyến đánh bắt) do nhu cầu sinh kế nên phải linh hoạt hơn trong nhiều ngành khác nhau vì nếu KTTS với quy mô nhỏ lẻ, không tập trung sẽ mang lại lợi nhuận không cao
Trang 7Hình 8 Sự biến động thành phần loài qua năm 2017,
2018 và 2019
3.3.2 Sự biến động loài ngoại lai theo
không gian và thời gian khu vực nghiên cứu
Đáng chú ý đã xác định được 9 loài cá
ngoại lai trong thời gian nghiên cứu, trong đó
cá lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus) và
cá rô phi (Oreochromis sp.) chiếm tỷ lệ cao nhất
với 46% tổng số cá thể loài ngoại lai, cá chép
(Cyprinus carpio) , cá chim trắng (Piaractus
brachypomus) và các loài cá ngoại lai khác
chiếm tỷ lệ khá thấp dưới 6% tổng số cá thể loài ngoại lai được tìm thấy Sự phân bố cá lau kiếng
và cá rô phi theo không gian và thời gian được thể hiện trong (Hình 9) Theo không gian, các loại cá ngoại lai chủ yếu phân bố ở khu vực nội đồng, kênh rạch và dòng chính, không thấy xuất hiện ở các khu vực cửa sông, ven biển và không
có sự giảm qua các năm
Hình 9 Phân bố, biến động số lượng cá lau kiếng và cá
rô phi khai thác năm 2017, 2018 và 2019
Trang 8Hình 10 Biến động sản lượng khai thác trung bình 100
m2 lưới qua năm 2017, 2018 và 2019
3.3.3 Sự biến động sản lượng khai thác
trung bình 100 m 2 lưới theo không gian và
thời gian khu vực nghiên cứu
Kết quả quan trắc sản lượng khai thác trung
bình 100 m2 lưới qua các năm nhìn chung không
biến động nhiều theo không gian và thời gian (Hình 10) Riêng trạm Núi Sập có sự tăng mạnh
từ 30,8 g/100 m2 lưới/ngư dân/năm (2017) lên 159,4 g/100m2 lưới/ngư dân/năm (năm 2019)
IV THẢO LUẬN
Có hơn 90% người khai thác cho rằng
nguồn lợi thủy sản mùa lũ năm 2019 giảm 50 –
70% so với 10 năm trước đây Nguyên nhân do
việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng
nhiều trong canh tác nông nghiệp, đặc biệt là
thuốc trừ ốc bươu vàng Sử dụng ngư cụ bắt cá
nhỏ, cá bố mẹ, các loại ngư cụ có kích thước mắt
lưới nhỏ như dớn và lú, theo Trương Thị Nga và
ctv., (2007) thì việc khai thác này đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản Theo
Nguyễn Nguyễn Du và ctv., (2018) cho rằng
hầu hết ngư dân đều cho rằng sản lượng KTTS
đã suy giảm trong 5 năm gần đây, kích thước
cá – tôm cũng ngày càng giảm và đây được xem
như một yếu tố cho biết dấu hiệu của nguồn lợi
suy giảm Có nhiều nguyên nhân tác động đến
việc suy giảm sản lượng KTTS, nhưng ngư dân
cho rằng có hai nguyên nhân chính đó là việc
hiện nay rất nhiều người tham gia KTTS, lũ về thất thường với lượng nước thấp hơn hằng năm
và thời gian lũ kéo dài ngắn hơn Ngoài ra, còn các lý do khác như: khai thác cá con, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, kiểm soát lũ gia tăng canh tác 3 vụ, vấn đề ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động ngành công nghiệp khác, những tác động tiêu cực do xây dựng thủy điện từ thượng nguồn và các công trình thủy lợi như xây cống ngăn mặn
Nghiên cứu qua các năm 2017, 2018 và
2019 đã xác nhận có 178 loài cá so với công
bố trước đây của Trần Đắc Định và ctv., (2013)
đã mô tả được 322 loài cá, trong đó có 186 loài
cá nước ngọt Như vậy, có sự sai khác về thành phần loài giữa hai thời điểm nghiên cứu, có thể
do có nhiều loài cá đã không còn bắt gặp nữa hoặc ngư cụ KTTS của người dân trong nghiên cứu này là có tính chọn lọc quá cao hoặc vị trí
Trang 9đặt trạm quan trắc là chưa đa dạng về chủng loại
và chưa phong phú về số lượng Nhiều loài cá
hiện nay được người dân cho rằng hiếm khi bắt
gặp được, bao gồm cá cóc (Cyclocheilichthys
enoplos) , cá heo cái (Botia modesta) và cá mè
hôi (Osteochilus melanopleura) Ngoài ra, 3
loài cá được nhiều người dân cho rằng sản lượng
ngoài tự nhiên rất nhiều so với trước đây gồm
cá lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus), cá
chim trắng (Piaractus brachypomus) và cá rô
phi (Oreochromis sp.) với lý do chính do việc
di nhập, thoát ra ngoài tự nhiên từ nuôi trồng
thủy sản và có thể do thức ăn, môi trường phù
hợp đã làm những loài cá này thích nghi tồn
tại, sinh sản, sinh trưởng và phát triển (Nguyễn
Nguyễn Du và ctv., 2018) Theo Tăng Bảo
Toàn và Trần Văn Việt (2015), một số loài chỉ
xuất hiện vùng thượng nguồn như: cá mè lúi
(Osteochilus microcephalus) , cá ngựa (Hampala
macrolepidota) , cá heo (Yasuhikotakia modesta),
cá chốt giấy (Mystus albolineatus), cá mè hôi
(Osteochilus melanopleura) Tuy nhiên, một số
loài xuất hiện ở cả thượng nguồn và giữa nguồn
như: cá lóc (Channa striata), cá rô (Anabas
testudineus) , cá sặc (Trichopodus spp), cá lòng
tong (Rasbora spp), cá rằm (Puntius brevis), cá
trê lai (Clarias macrocephalus x C.gariepinus),
cá chốt (Mystus spp), cá chạch (Macrognathus
spp) Số lượng loài năm 2014 ít hơn các năm
trước, theo Thái Ngọc Trí và ctv., (2012) đã
xác định được 111 loài ở vùng thượng nguồn
của tỉnh An Giang (Búng Bình Thiên) và ở tỉnh
Đồng Tháp là khoảng 159 loài cá (Ủy ban nhân
dân tỉnh Đồng Tháp, 2014)
Bên cạnh đó, hệ thống đê bao trong quản
lý nông nghiệp, hệ thống đê bao chống lũ ngày
càng phát triển và hoàn thiện nhằm tăng vụ và
dân sinh, tuy nhiên đã ảnh hưởng rất lớn đến
nguồn lợi thủy sản Theo Lê Anh Tuấn (2009)
thì nước lũ đã tạo ra 650.000 lao động nông
thôn trong tỉnh An Giang và mùa lũ mang lại
khoảng 1.500 tỷ đồng từ khai thác và nuôi trồng
thủy sản mùa lũ Ngoài ra, canh tác nông nghiệp
ngày càng theo hướng thâm canh hóa và thuốc
diệt tạp trong nuôi trồng thủy sản
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận
Nghiên cứu đã xây dựng được bản đồ phân
bố thành phần loài và sản lượng khai thác của
178 loài cá, phân bố ở 4 vùng sinh thái khác nhau, số lượng loài cao nhất thuộc về kênh rạch với 113 loài và thấp nhất với 21 loài ở vùng đồng ruộng, ngập lụt Ngoài ra, việc ứng dụng GIS cũng thể hiện được bản đồ phân bố của 2
loài cá ngoại lai: cá lau kiếng (Pterygoplichthys
disjunctivus) và cá rô phi (Oreochromis sp.), số
lượng loài này chủ yếu tập trung ở kênh rạch, dòng chính và vùng ngập lụt, trong khi đó ở vùng ven biển thì không bắt gặp được cá ngoại lai Diễn biến biến động thành phần loài và sản lượng khai thác có xu hướng giảm theo không gian và thời gian
5.2 Đề xuất
Trong thời gian tới tiếp tục có những nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ về ảnh hưởng
và tác động của các công trình chống lũ, công trình xây dựng đập thủy điện ở thượng nguồn
và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để có biện pháp giảm nhẹ tác động và có phương án sử dụng tài nguyên đất và nước bền vững, thành lập các khu sinh thái đất ngập nước để bảo vệ, bảo tồn các loài thuỷ sinh vật, phát triển nghề nuôi thuỷ sản trong vùng ngập lũ để giảm áp lực khai thác thủy sản, xây dựng khung pháp lý về phân quyền quản lý vùng nước để thực hiện các
dự án đồng quản lý trong KTTS vùng nước nội địa Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cụ thể phục vụ việc xây dựng các khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn, các đối tượng đặc hữu cần bảo vệ
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Ủy Hội sông Mê Công (MRC) đã hỗ trợ kinh phí thực hiện quan trắc này
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt
Lê Anh Tuấn, 2009 Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam, Hội thảo “Cùng nỗ lực để thích
Trang 10ứng biến đổi khí hậu” CSRD – Acacia – Both
ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam 11–13
tháng 5.
Lê Song Giang, 2004 Nghiên cứu bằng mô hình toán
môi trường sông rạch Nam Sông Hậu Nhiệm vụ
quan trắc, cảnh báo môi trường và dich bệnh các
tỉnh Nam Sông Hậu Đề tài nghiên cứu khoa học
Tp Hồ Chí Minh.
Nguyễn Nguyễn Du, Claire Smallwood, Nguyễn Văn
Hảo, Nguyễn Xuân Trinh và Nguyễn Trọng Tín,
2006 Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng Đồng bằng
sông Cửu Long Nhà xuất bản Lao Động Tp Hồ
Chí Minh.
Nguyễn Nguyễn Du, Phan Thanh Lâm, Đoàn Văn
Bảy, Nguyễn Văn Phụng, Đinh Trang Điểm,
Huỳnh Hoàng Huy, Trần Thúy Vy, Nguyễn Trung
Hiếu và Vũ Vi An, 2018 Báo cáo tổng kết nhiệm
vụ thường xuyên theo chức năng năm 2018 Quan
trắc biến động nguồn lợi thủy sản nội địa ở vùng
Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công tác
nghiên cứu và quản lý Nhà nước Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thủy sản II.
Nguyễn Thị Hồng Điệp, Phan Kiều Diễm và Huỳnh
Minh Thiện, 2016 Tạp chí Kỷ yếu Hội thảo GIS
toàn quốc Trang 608 – 614.
Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú, 2004
Giáo trình ngư loại II (Giáp xác và Nhuyễn thể)
Đại Học Cần Thơ.
Tăng Bảo Toàn và Trần Văn Việt, 2015 Đánh giá tình
hình khai thác thủy sản mùa lũ ở vùng Đồng bằng
sông Cửu Long Tạp chí Khoa học, Trường Đại
học Cần Thơ 40b: 83 – 89.
Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt và Nguyễn Văn Sang,
2012 Nghiên cứu sự đa dạng sinh học khu hệ cá
ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, Tỉnh An
Giang Tạp chí Sinh học, 34 (3SE): 21 – 29.
Tổng cục Thống Kê, 2018 Ngày truy cập:
01/10/2019 https://www.gso.gov.vn/
Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu và Utsugi Kenzo, 2013 Mô tả định loại cá Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam NXB Đại học Cần Thơ 174 trang.
Trần Văn Việt, 2016 Đánh giá tình hình nuôi cá
Điêu hồng (Oreochromis spp.) trong lồng bè ở
sông Tiền vùng thượng nguồn tỉnh Vĩnh Long Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ 47b: 110 – 118.
Trương Thị Nga, Nguyễn Công Thuận và Nguyễn Minh Thư, 2007 Hiện trạng khai thác thủy sản
và nhận thức của người dân về chính sách bảo
vệ nguồn lợi thủy sản ở ấp Bình An – Thạnh Lợi,
xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, (7): 112 – 120.
Trương Văn Đàn, Nguyễn Thành Luân, Mạc Như Bình, Phạm Thị Ái Niệm, Hà Nam Thắng và Vũ Ngọc Út, 2018 Điều tra hiện trạng nuôi trồng thủy sản lợ mặn cao triều ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ 54 (7B):
126 – 137.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2014 Triển khai Chương trình Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 theo Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, 10 trang.
Tài liệu tiếng Anh
Aguilar – Manjarrez, J., and Ross, L.G., 1995 Geographic information system GIS enviromental models for aquaculture development in Sinaloa Sate, Mexico Aquaculture International, 3(2):
103 – 115.