Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất tôm thẻ chân trắng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để lựa chọn vùng khảo sát và trang trại/hộ nuôi để phỏng vấn.
Trang 1PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nguyễn Văn Phụng1*, Phan Thanh Lâm1
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất tôm thẻ chân trắng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để lựa chọn vùng khảo sát và trang trại/hộ nuôi để phỏng vấn Từ tháng 9 đến tháng 11 năm
2018, tiến hành điều tra phỏng vấn 120 trang trại/hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại 05 tỉnh ven biển
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hàm sản xuất để đưa ra các chỉ số chính làm cơ sở đề xuất các giải pháp Kết quả nghiên cứu cho thấy với việc gia tăng mật độ và cải thiện thiết kế hệ thống ao nuôi của nhóm ao lót bạt đạt năng suất (26,91 ± 9,95 tấn/ha/vụ) cao hơn so với nhóm ao đất (9,16±4,83 tấn/ha/vụ) Có khoảng 60%/trang trại/hộ nuôi không đánh giá được chất lượng nguồn giống Việc xả nước và bùn thải trực tiếp ra kênh rạch mà không qua bước xử lý vẫn còn đang tiếp diễn, với 40% số trang trại/hộ nuôi Điều này
có thể là một nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát các bệnh nguy hiểm trên tôm nuôi, và ảnh hưởng đến mất năng suất như bệnh gan tụy cấp (AHPND) và bệnh phân trắng (WFD), với tỷ lệ số trang trạị/hộ nuôi xác nhận gặp phải hai loại bệnh này lần lượt là 81,67% và 95,6% Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy mật độ thả giống ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất tôm nuôi so với các yếu tố còn lại Trong đó, biến diện tích ao nuôi
và FCR có tương quan nghịch với năng suất Các giải pháp cơ bản cần chú trọng: xây dựng cơ sở hạ tầng ao nuôi, mật độ thả hợp lý, phương pháp kiểm soát thức ăn và phòng trị bệnh
Từ khóa: ĐBSCL, năng suất, giải pháp kỹ thuật, tôm thẻ chân trắng
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
* Email: nguyenvanphung_ts2003@yahoo.com
I GIỚI THIỆU
Tôm thẻ chân trắng (TCT) được xem là
loài có giá trị kinh tế quan trọng, được nuôi phổ
biến khắp 08 tỉnh ven biển ĐBSCL Theo Tổng
cục Thủy sản (2018) thống kê năm 2018 diện
tích nuôi tôm TCT cả nước lên đến 103.568 ha
mặt nước và tổng sản lượng đạt 464.924 tấn;
trong đó, ĐBSCL có diện tích nuôi lớn nhất với
khoảng 78.329 ha (chiếm 76%) và sản lượng
đạt 346.283 tấn (chiếm 74%)
Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được nghiên cứu
và áp dụng vào sản xuất như: cải tiến hệ thống
ao nuôi, sử dụng thức ăn và chế phẩm sinh học;
ứng dụng kỹ thuật tuần hoàn khép kín; kỹ thuật
semi-bioflocs; nuôi tôm hai giai đoạn; kỹ thuật
nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kín Với
những thành tựu trên đã làm thay đổi mạnh mẽ
năng suất và chất lượng tôm TCT thâm canh,
góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu
sản xuất theo hướng tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích sản xuất Kết quả nghiên cứu của Phan Thanh Lâm và ctv., (2018) ghi nhận tôm TCT ở hình thức thâm canh với năng suất trung bình đạt trên 8 tấn/ha/vụ Tuy nhiên,
sự phát triển nhanh về diện tích, quy mô đầu
tư và việc kiểm soát môi trường vùng nuôi còn nhiều hạn chế đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường nước dẫn đến gia tăng nguy
cơ bùng phát dịch bệnh trong vùng (Đinh Xuân Lập và ctv., 2018) Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và
mở rộng quy mô sản xuất của người nuôi tôm cũng còn nhiều mặt hạn chế Vì vậy, nghề nuôi tôm TCT hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro dịch bệnh và năng suất tôm nuôi không ổn định Trước những thực trạng trên, việc phân tích hiệu quả kỹ thuật của mô hình này là việc nghiên cứu cần thiết, với mục tiêu chính là nhằm đánh
Trang 2giá lại hiện trạng nghề nuôi và đề xuất các giải
pháp kỹ thuật nhằm cải thiện năng suất, từ đó
làm cơ sở để xây dựng quy trình nuôi tôm TCT
thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất và bền
vững ở ĐBSCL
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở các tỉnh ven
biển của vùng ĐBSCL có diện tích và sản lượng
nuôi tôm thẻ chân trắng Tiến hành điều tra
phỏng vấn trang trại/hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến
Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 9 đến
tháng 11 năm 2018
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các tài
liệu có liên quan đến tình hình sản xuất tôm
TCT ở quy mô thâm canh, gồm các báo cáo
tổng kết năm 2018 của Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, Chi Cục Thủy sản tại khu vực
nghiên cứu
Số liệu sơ cấp: phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên phân tầng được áp dụng để lựa chọn mẫu
nghiên cứu (chọn vùng khảo sát, chọn trang trại/
hộ phỏng vấn) Việc chọn lựa nông hộ/trang trại
điều tra có tham khảo ý kiến tư vấn của các cán
bộ quản lý địa phương Thu thập dữ liệu thông
qua bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn để phỏng
vấn trực tiếp 120 nông hộ/trang trại nuôi tôm tại
05 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL Nội dung phiếu
điều tra nông hộ bao gồm các thông tin chính
như: hệ thống công trình, kỹ thuật cải tạo ao, xử
lý nước, gây màu, kỹ thuật ương tôm, sử dụng
các chất diệt khuẩn để xử lý nước, nguồn giống,
thức ăn và cho ăn, chăm sóc và quản lý, chế độ
thay nước, sử dụng thuốc và chế phẩm sinh học,
xử lý nước thải, thu hoạch, thuận lợi khó khăn
và các thách thức
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS v.20 Phương pháp thống kê mô tả (số trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất xuất hiện …) được
sử dụng nhằm đưa ra các đánh giá và so sánh
Sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi Mô hình trên được cụ thể hóa qua phương trình hồi quy lý thuyết như sau:
LnY = A 0 + β 1 LnX 1 + β 2 LnX 2 + β 3 LnX 3 +
…+ β n LnXn
Y: Năng suất tôm nuôi (kg/ha, là biến phụ thuộc)
X1→ Xn: là các biến độc lập (chỉ số đầu vào liên quan đến nuôi tôm)
Ao: Các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất
β1- βn: là các hệ số biến động của các biến
X1→ Xn Kết quả hàm sản xuất thể hiện ở các chỉ số: + Chỉ số R2 xác định % biến động của năng suất thông qua các biến trên
+ Hệ số β của một biến độc lập cho biết khi hằng số các biến độc lập khác không thay đổi, nếu biến đó tăng thêm 1% thì năng suất đầu ra
sẽ tăng (khi giá trị β>0) hoặc giảm (khi giá trị β<0) bằng hệ số β% tương ứng
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng sản xuất tôm
3.1.1 Hệ thống ao nuôi
Theo kết quả khảo sát từ nông hộ/trang trại cung cấp thông tin về các thông số kỹ thuật xây dựng trong hệ thống công trình ao nuôi được trình bày trong Bảng 1
Trang 3Bảng 1 Thông tin về hệ thống công trình ao nuôi
Diện tích ao nuôi (ha/hộ)
Diện tích ao nuôi (ha/ao)
Mức giữ nước của ao (m)
Tỷ lệ diện tích ao nuôi/tổng
diện tích khu nuôi (%)
0,15 ± 0,2 (2) 5,8 ± 6,26 1,65 ± 0,20
0,21± 0,3(3) 8,61 ± 9,60 1,72 ± 0,20
0,17± 0,25 7,12 ± 8,43 1,60 ± 0,21
2,60 ± 2,11 0,23 ± 0,07 1,52 ± 0,18 65,5 ± 30,5
2,41 ± 1,70 0,21 ± 0,09 1,37 ± 0,15 45,5 ± 20,5
2,49 ± 1,89 0,22 ± 0,08 1,42 ± 0,17 55,5 ± 25,5
0,54 ± 0,94 (1) 20,0 ± 24,3
1,61 ± 0,22
0,68 ± 0,42 38,4 ± 69,2
1,71 ± 0,20
0,62 ±0,69 30,72 ± 58,33
1,60 ± 0,21
Mật độ 70-100 con/m 2 n=50
Mật độ 110-250 con/m 2 n=70
Giá trị Trung bình n=120
Ao nuôi
Ao chứa thải
Ao lắng
Hạng mục
Ghi chú: (1) n=42, (2) n=36, (3) n=65
Tùy thuộc vào địa hình của trang trại mà
hình dạng ao được thiết kế khác nhau Kết quả
cho thấy ao hình chữ nhật (63,0%) và hình vuông
(37,0%), ao được nuôi trên nền đáy đất chiếm
32% và có thiết kế ao ương chiếm khoảng 4%
ở nhóm ao nuôi mật độ thấp (70-100 con/m2)
Trong khi đó, ao mật độ cao (110-250 con/m2)
lần lượt chiếm 73%, 23% và 5% dành cho hình
vuông, chữ nhật và hình tròn, và phủ bạt đáy ao
chiếm 58% Hình dạng ao có mối quan hệ mật thiết với vị trí đặt máy sục khí, sự luân chuyển của dòng chảy và thu gom chất thải trong ao Xu hướng phổ biến nhất hiện nay là ao hình vuông
và hình chữ nhật đối với hai nhóm ao mật độ thấp và cao Ao hình vuông thì thuận lợi cho việc thu gom chất thải Với ao hình chữ nhật, để cải thiện dòng chảy người nuôi tôm thường đắp đất bo tròn góc ao để việc lưu chuyển dòng chảy
Trang 4trong ao thuận tiện hơn cho việc xi phông chất
thải ở nền đáy
Kết quả cũng đã ghi nhận xu thế hiện
nay đang chuyển đổi sang diện tích ao thu nhỏ
khoảng 1.200-2.500 m2/ao, thấp hơn so với
nghiên cứu của Võ Nam Sơn và ctv., (2014) tại
Sóc Trăng là 0,57±0,09 ha/ao Sở dĩ có sự khác
biệt này là do gần đây việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất đã mang lại nhiều
thành tựu nổi bật Trong đó, đánh dấu cho sự
thay đổi này là sự chuyển dần từ hình thức nuôi
ao đất sang ao lót bạt đáy với vật liệu HDPE, và
thả với mật độ khá cao từ 100-300 con/m2 Ao
đất (mật độ từ 70 -100 con/m2) tỷ lệ phần trăm
sử dụng diện tích dành cho ao lắng tương tự với
nghiên cứu của Võ Nam Sơn và ctv., (2014),
Phan (2014) và Lê Trần Tiểu Trúc và ctv.,
(2017) tại Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, lần
lượt là 20,20±9,51% diện tích ao nuôi; nhưng
thấp hơn các ao lót bạt đáy và bạt bờ (mật độ từ
110-250 con/m2)
3.1.2 Cải tạo và xử lý nước ao nuôi
Cải tạo ao có vai trò quan trọng nên được đa
số các hộ dân áp dụng sau mỗi vụ nuôi Trong
quá trình cải tạo, tất cả các hộ nuôi đều áp dụng
phương pháp cải tạo khô (100%) Đối với ao đất
công việc bón vôi cải tạo cũng được thực hiện,
tuy nhiên lượng vôi bón phụ thuộc vào độ pH
của từng loại đất khác nhau Với ao lót bạt thì
được xử lý sau mỗi vụ nuôi chủ yếu là vệ sinh
bạt Thời gian cải tạo ao phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như thời tiết, mùa vụ… trung bình từ
10-15 ngày (90,0% số hộ liên quan) với ao đất và
ao lót bạt đáy khoảng 5-7 ngày
Trước khi thả giống, 100% các nông hộ/
trang trại tiến hành cấp nước qua túi lọc và lắng
lọc tự nhiên với khoảng thời gian từ 2-3 ngày,
sau đó xử lý nước bằng hóa chất nhằm tiêu diệt
các mầm bệnh Có khoảng 54,52% số hộ liên
quan sử dụng chlorin và 45,48% sử dụng loại
hóa chất khác để xử lý nước cấp cho ao nuôi Sở
dĩ người nuôi sử dụng các loại hóa chất có hoạt
chất sát khuẩn cao như chlorin để tiêu diệt các
mầm bệnh gây nguy hiểm trên tôm như bệnh
đốm trắng hay bệnh hoại tử gan tụy Kết quả này
cũng trùng hợp với nghiên cứu của Takahashi
và ctv., (1995), cho rằng đối với mô hình nuôi thâm canh, việc lấy bổ sung nước vào ao nuôi trong vụ nuôi là yếu tố nguy cơ gây tôm nuôi nhiễm bệnh đốm trắng
3.1.3 Chọn giống và mật độ thả
Hầu hết người nuôi tôm chọn kích cỡ tôm giống đạt tiêu chuẩn TCVN 10257:2014 Kích
cỡ giống thả nuôi từ PL10 đến PL15, trong đó PL12 được thả nuôi nhiều nhất chiếm 70,9% số
hộ liên quan Về chất lượng tôm giống, 62,1%
hộ nuôi không đánh giá được chất lượng tôm giống, 18,5% hộ muôi cho rằng nguồn giống tốt, còn lại là chất lượng kém (14%) Tôm giống
là một trong những yếu tố quyết định sự thành công vụ nuôi (Phan, 2014) Phần lớn, hiện nay ở ĐBSCL tôm giống có nguồn gốc từ miền Trung, trong khi công tác kiểm dịch chất lượng tôm giống còn nhiều hạn chế là trở ngại lớn cho việc phát triển bền vững nghề nuôi tôm (Tổng cục Thủy Sản, 2018)
Mật độ thả giống là thông số mà ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của các loài nuôi (Sookying và ctv., 2011) Mật độ thả dao động
từ 70-250 con/m2 tập trung ở hai nhóm: i) nhóm mật độ 70-100 con/m2 được nuôi phổ biến nhất cho hình thức ao đất; và ii) nhóm mật độ
110-250 con/m2 dành cho ao lót bạt bờ và đáy ao Phần lớn các ao nuôi là ao đất thì tôm giống được thả trực tiếp không qua ương giống (96,0%
số hộ liên quan) Theo Phùng Thị Hồng Gấm và ctv., (2014) ao nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ninh Thuận có mật độ trung bình là 87±10 con/m2; tương tự theo Võ Nam Sơn và ctv., (2014), tại Sóc Trăng mật độ 80,7±16,8 con/m2 Ở Thái Lan, với hình thức nuôi thâm canh thả mật độ giống dao động từ 120-200 con/m2 (Briggs, 2004) Riêng nhóm ao thả mật độ cao chú trọng hơn đến việc ương giống trước khi san thưa sang ao nuôi Hình thức ương chủ yếu là trong bể tròn, với diện tích khoảng 276,75±203,92 m2/ao và mật độ ương khoảng 2016,25±1082,31 con/m2 Thời gian ương trung bình khoảng 27,5±2,74 ngày, đạt tỷ lệ sống khoảng 82,5±8,45 Mật độ san ra ao nuôi trung bình khoảng 200 PL/m2
Trang 5Phạm Thành Nhân và ctv., (2016) cho rằng áp
dụng hình thức ương tôm có triển vọng cho việc
rút ngắn chu kỳ nuôi thương phẩm, hạn chế rủi
ro từ bệnh tôm chết sớm (EMS)
3.1.4 Quản chất lượng nước và nước thải
Quản lý các yếu tố chất lượng nước là cực
kỳ quan trọng trong quá trình nuôi tôm Theo
Boyd và ctv., (1998) cho rằng chất lượng nước
(nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy hòa tan) biến
động lớn dẫn đến tôm dễ mẫn cảm với bệnh và
làm chậm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất
và sản lượng tôm nuôi Bảng 2 cho thấy rằng
hầu hết nông hộ/trang trại chú trọng đến việc
quản lý chất lượng nước bằng các biện pháp kỹ
thuật như: sử dụng vi sinh, vôi và khoáng và
đồng thời kiểm soát tảo độc bằng biệt pháp hóa
chất, vi sinh và thay nước khi tảo bùng phát
Bên cạnh đó, việc tầm soát vi khuẩn Vibrio spp
trong nước và kiểm tra các yếu tố thủy lý hóa được đa số người nuôi thực hiện Hiện nay, xu hướng ứng dụng men vi sinh giúp cải thiện chất
lượng nước, kiểm soát vi khuẩn Vibrio spp gây
bệnh trên tôm đã có nhiều công trình nghiên cứu đáng ghi nhận Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh và ctv., (2016) đã phân lập 09 chủng vi khuẩn có lợi
thuộc nhóm Bacillus và 01 chủng vi khuẩn lactic
để kiểm soát các tác nhân gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản Võ Hồng Phượng và ctv., (2018)
nghiên cứu chủng Bacillus S5 có khả năng kiểm soát sự bùng phát vi khuẩn V parahaemolyticus
gây bệnh gan tụy cấp trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Bảng 2 Thông tin về quản lý chất lượng nước và nước thải
Quản lý môi trường nước ao nuôi
Sử dụng vi sinh, vôi và khoáng để duy trì chất lượng nước
Kiểm soát vi khuẩn bằng chất khử trùng khi có dấu hiệu nhiễm
khuẩn
Sử dụng vi sinh định kỳ để lấn át vi khuẩn
Kiểm tra thông số môi trường nước và vi khuẩn vibrio định kỳ
Bổ sung nước cấp giai đoạn đầu và thay nước thường xuyên
sau 2 tháng tuổi
Xi phông định kỳ theo thời gian nuôi
Kiểm soát tảo bằng cách sử dụng hóa chất, vi sinh và thay nước
Quản lý nước thải
Nước thải sau vụ nuôi được giữ lại
Nước thải xả bỏ trực tiếp ra ngoài kênh rạch
Bùn thải đưa về khu chứa
Bùn thải xả thẳng ra kênh rạch
Số hộ (n=120)
Tỷ lệ (%)
Nội dung
112 88
79
111
87
75
115
55 72 48 65
93.33
73.33
64.17 92.50 72.50 62.50 92.83
42.34 60.00 40.00 54.05
Trang 6Chất thải trong quá trình nuôi bao gồm chất
thải rắn, nước thải, rác thải sinh hoạt, bùn đáy
ao, các loại chất thải này sẽ được thu gom và xử
lý khác nhau Bùn đáy sẽ được nạo vét và vận
chuyển tới nơi tập trung Riêng nước thải trong
quá trình nuôi được thải thẳng ra môi trường
theo chu kỳ thủy triểu không qua xử lý Điều
này cũng xảy ra ở toàn bộ các hộ nuôi trong khu
vực Do vậy, đã làm phát sinh nhiều vấn đề môi
trường và bùng phát dịch bệnh thủy sản rất khó
kiểm soát Theo Pham và ctv., (2010) thì nước
thải và bùn đáy ao nuôi hầu như thải trực tiếp ra
môi trường không qua xử lý, và hiện cũng chưa
có một hệ thống kênh cấp thoát riêng biệt ở các
vùng nuôi; do vậy mầm bệnh từ ao bị nhiễm nếu
không được xử lý hoàn toàn sẽ dễ lan truyền
sang các ao nuôi khác Theo Tran và ctv., (2010)
thì mầm bệnh đốm trắng có thể lan truyền theo
chiều ngang thông qua nước và vật chủ sẽ ảnh
hưởng đến tôm nuôi, nó có thể làn truyền từ ao
này sang ao khác hoặc có thể lan truyền từ vụ
trước sang vụ nuôi kế tiếp
3.1.5 Cho ăn và quản lý thức ăn
Kết quả khảo sát cho thấy, thức ăn công
nghiệp có hàm lượng protein khá cao (từ
38-42%) Số lần cho ăn từ 3-4 lần/ngày tùy thuộc
vào giai đoạn tuổi tôm Khẩu phần cho tôm ăn
hàng ngày được điều chỉnh dựa vào sức ăn của
tôm thông qua việc kiểm tra sàng ăn Phần lớn,
trước đây các hộ nuôi cho tôm ăn với phương
pháp thủ công bằng tay, rải thức ăn xung quanh
ao và cách bờ khoảng 2-3 m để tôm vận động
liên tục bắt mồi Tuy nhiên, phương pháp này có
nhược điểm dễ để lại dư lượng thức ăn nếu như
sức ăn của tôm giảm do tôm bị stress bởi điều
kiện bất lợi của thời tiết hay môi trường nước
biến đổi Nếu như tình trạng này tiếp tục không
được kiểm soát tốt bởi người quản lý ao nuôi thì
dẫn đến chất lượng nước bị suy giảm Hiện nay,
để nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn và tăng
trưởng tôm có khoảng 60,65% hộ nuôi liên quan
có xu hướng chuyển dịch sang cho tôm ăn bằng máy cho ăn tự động Thức ăn được điều chỉnh thông qua thiết bị kỹ thuật số, người nuôi có thể cài đặt thời gian và lượng thức ăn theo sức
ăn của tôm hàng ngày Điều này sẽ giúp tôm ăn liên tục hạn chế thức ăn nằm lâu trong nước dễ tan rã và dư thừa gây ô nhiễm môi trường nước
ao nuôi Bên cạnh đó, ứng dụng máy cho ăn tự động không phải tắt hết các thiết bị quạt nước khi tôm ăn hạn chế thiếu hụt hàm lượng oxy giúp tôm ăn mạnh hơn Điều này giúp cải thiện
hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và tăng trưởng tôm Dileep Kumar Appana và ctv., (2016) cho rằng cho tôm ăn bằng máy tự động không chỉ kiểm soát thức ăn hiệu quả làm giảm lượng thức
ăn thừa (giảm FCR) mà còn tiết kiệm chi phí lao động Để việc ứng dụng và vận hành máy cho ăn tốt hơn người nuôi nên lựa chọn thiết bị máy cho ăn có công suất phù hợp với diện tích
và mật độ thả giống ao nuôi cũng như vị trí lắp đặt và cách vận hành máy Ngoài ra cần theo dõi biến động môi trường nước, thời tiết, tôm lột xác để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý để tránh dư thừa thức ăn
3.1.6 Quản lý sức khỏe và bệnh tôm
Bảng 3 cho thấy hầu hết người nuôi thường xuyên bổ sung các chất bổ trợ như: men vi sinh, acid hữu cơ, vitamin, hoạt chất kháng khuẩn có nguồn gốc từ thực vật, kháng sinh và khoáng
vi lượng chiếm 73,33% đến 95% để kiểm soát các tác nhân gây bệnh và giúp tôm tăng trưởng Trong đó, để kiểm soát các bệnh thường gặp, 75% hộ nuôi sử dụng kháng sinh để phòng và trị bệnh trong quá trình nuôi Xu hướng nuôi thâm canh trong thủy sản ngày càng phát triển
là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát phức tạp và thường xuyên hơn Kết quả điều tra cho thấy các bệnh nguy hiểm như bệnh phân trắng và bệnh hoại tử gan tụy cấp xuất hiện với tỷ lệ lớn nhất 81,67% đến 95,63%
Trang 7Bảng 3 Phương pháp quản lý sức khỏe và một số bệnh tôm thường gặp
Bổ sung chất bổ trợ vào thức ăn
Men vi sinh
Acid hữu cơ
Vitamin
Hoạt chất kháng khuẩn từ thực vật
Kháng sinh
Khoáng vi lượng
Khác
Một số bệnh tôm thường gặp
Bệnh phân trắng
Bệnh hoại tử gan tụy cấp
Bệnh đốm trắng
Bệnh EHP
Bệnh khác
110
88
111
115
90
114
100
98
115
38
19
37
91,67
73,33
92,50
95,83
75,00
95,00
83,33
81,67
95,83
31,67
15,83
30,83
Số hộ (n=120)
Tỷ lệ (%)
Nội dung
(n=120)
Bệnh đốm trắng (WSSV) và vi bào tử trùng
Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) chỉ chiếm
tỷ lệ thấp lần lượt 31,67% và 15,83% nhưng
thường gây thiệt hại lớn cho hộ nuôi Bệnh hoại
tử gan tụy cấp tính (AHPND) xuất hiện đầu tiên
ở Trung Quốc vào năm 2009, sau đó ở Việt Nam
vào năm 2010, rồi đến Thái Lan và Malaysia
vào năm 2011 (Lightner và ctv., 2012; Flegel,
2012) Thời gian xuất hiện dấu hiệu bệnh hoại
tử gan tụy cấp sớm nhất từ ngày nuôi thứ 17
và muộn nhất vào ngày thứ 77 (nhiều nhất
từ 20-45 ngày và tập trung ở giai đoạn 19-31
ngày tuổi), được ghi nhận trong đợt khảo sát ở
huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (Lê Hồng Phước
và ctv., 2012) Gần đây, vi bào tử trùng (EHP)
cũng được xem là có liên quan đến bệnh phân
trắng (WFD) trên tôm thẻ chân trắng ở Thái Lan
(Flegel, 2012)
Nhìn chung, các loại bệnh truyền nhiễm gây
bệnh trên tôm thường xuyên xảy ra trong thời gian khảo sát, tập trung vào những thời điểm bất lợi của diễn biến thời tiết như nắng nóng hay mưa lớn kéo dài làm cơ hội bùng phát dịch bệnh Bên cạnh đó, sự không tuân thủ đúng theo quy trình khuyến cáo của nhà chuyên môn của người nuôi tôm như thả nuôi không đúng thời
vụ, cải tạo ao nuôi không đúng quy trình, con giống không đạt tiêu chuẩn, quản lý chất lượng nước hay cho ăn không hợp lý….điều này góp phần gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh
3.1.7 Hiệu quả kỹ thuật
Bảng 4 cho thấy, lượng thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch và năng suất tôm thu hoạch giữa
2 nhóm mật độ cũng khác biệt tương đối lớn, ở mật độ trên 110-250 con/m2 cho năng suất cao nhất 26,91±9,95 tấn/ha/vụ, trong khi đó nhóm mật độ thấp 9,16±4,83 tấn/ha/vụ Tuy nhiên, tỷ
Trang 83.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất tôm nuôi
Việc xây dựng hàm sản xuất trở nên có ý
nghĩa quan trọng Phân tích hiệu quả sử dụng
yếu tố đầu vào của các đơn vị sản xuất đề xuất
các chính sách phát triển bền vững đã được áp
dụng rất rộng rãi trong ngành thủy sản (Lê Kim
Long và ctv., 2015) Thông qua hàm sản xuất sẽ
cho biết ứng với mỗi mức sử dụng yếu tố đầu
vào có giới hạn khác nhau sẽ tạo ra giới hạn đầu
ra khác nhau Kết quả phân tích hàm sản xuất
trong Bảng 5 với giá trị xác định R2 =0,83 cho
thấy có 83% sự thay đổi về năng suất tôm nuôi
(biến phụ thuộc) bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
(biến độc lập) từ X1→ X14
Trước đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm thẻ
chân trắng nuôi thâm canh trong đó có nhiều
nhóm nhân tố như: mật độ giống, lao động, kinh
nghiệm, hình thức nuôi, xử lý ao nuôi, số vốn
bỏ ra trong mỗi vụ nuôi, hệ số thức ăn, độ trong,
độ mặn của ao nuôi và chất lượng tôm giống
thả nuôi (Đỗ Thị Hương và ctv., 2014; Hoàng
Bảng 4 Thông tin hiệu quả kỹ thuật của nuôi tôm thẻ chân trắng
Mật độ thả (con/m2)
Thời gian nuôi (ngày)
Kích cỡ tôm thu hoạch (g/con)
Tỷ lệ sống (%)
Hệ số thức ăn (g/g)
Năng suất (tấn/ha/vụ)
94,57 ± 9,18 76,65±34,71 64,32±45,86 83,86±10,68 1,05±0,5 9,16±4,83
164,68 ± 48,09 89,7 ± 23,62 45,17 ± 13,96 84,73 ± 6,88 1,2 ± 0,24 26,91 ± 9,95
129,62± 36,32 83,17 ± 29,18 54,74 ± 34,61 84,29 ± 8,72 1,12 ± 0,31 18,03 ± 7,32
Mật độ 70-100 con/m 2
Mật độ 110-250 con/m 2
Giá trị trung bình
Nội dung
(n=120)
Quang Thành và ctv., 2012) Kết quả trình bày
ở Bảng 5 cho thấy biến diện tích ao nuôi và FCR có tương quan nghịch với năng suất; trong khi, biến mật độ và nuôi 2 giai đoạn có tương quan thuận với năng suất và có ý nghĩa thống
kê (p<0,05) Các biến đầu vào còn lại cũng có tương quan đến năng suất tôm nuôi, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), nhưng vẫn có giá trị tham khảo do phương trình hàm sản xuất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Với hệ
số quy mô sản xuất -0,92 do đó người dân cần xem xét và cân nhắc để không thêm quy mô sản xuất Như vậy, các biến mật độ thả giống, nuôi 2 giai đoạn, thời gian nuôi đều có ảnh hưởng theo hướng làm tăng năng suất tôm nuôi Ngược lại, biến diện tích ao nuôi và FCR làm giảm năng suất tôm nuôi Sở dĩ có sự khác biệt này là do hiện nay xu hướng dịch chuyển từ ao đất chuyển sang ao bạt đáy mà phổ biến nhất là kỹ thuật nuôi 2 giai đoạn đã được ứng dụng khá thành công và năng suất cao tại trang trại lớn của các công ty như CP, Nông Mạnh, Việt Úc… Với kỹ thuật này, tôm giống có kích thước lớn khi thả, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm, tiết kiệm được thức ăn và nâng cao tỷ lệ sống cho tôm nuôi làm gia tăng hiệu quả sản xuất
lệ sống giữa 2 nhóm mật độ 70-100 con/m2 và
110-250 con/m2 không có sự khác biệt Kết quả tương tự với báo cáo bởi Silva và ctv., (2015) và Sookying D và ctv., (2011)
Trang 9Bảng 5 Tương quan đa biến giữa các biến độc lập và năng suất tôm nuôi
Trong các yếu tố đưa vào mô hình làm tăng
năng suất tôm thì yếu tố mật độ tác động ảnh
hưởng lớn nhất đến năng suất tôm nuôi so với
các yếu tố còn lại Với việc ứng dụng nuôi tôm
2 giai đoạn, nuôi ao lót bạt thì mật độ có thể
tăng thêm để đạt năng suất cao hơn Diện tích ao
hiện nay có thể làm ao nhỏ hơn thì năng suất sẽ
tốt hơn, tương tự thì hệ số FCR cần giữ ở mức
như hiện nay Mặt khác, các biến định tính danh
nghĩa: xử lý nước cấp, phương pháp sử dụng vi sinh và sử dụng đa men vi sinh, phương pháp điều chỉnh thức ăn, sử dụng máy cho ăn và sử dụng kháng sinh đều không có ý nghĩa thống kê Điều đó cho thấy đa phần các hộ khảo sát liên quan có trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi lâu năm cho nên biến này cũng ít có sự khác biệt ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi
Các biến
ảnh hưởng
Unstandardized
Hằng số
Diện tích ao nuôi (ha)
Mật độ thả (con/m2)
Thời gian nuôi (ngày/vụ)
Tỷ lệ sống (%)
Cỡ tôm thu hoạch (con/kg)
FCR
Hình dạng ao (1 Vuông; 0 Khác)
Vật liệu phủ bờ (1 Bạt; 0 Khác)
Nuôi 2 giai đoạn (1 Có; 0 Không)
Xử lý nước cấp (1 Có; 0 Không)
Phương pháp sử dụng vi sinh
(1 Có; 0 Không)
Sử dụng đa men vi sinh
(1 Có; 0 Không)
P.pháp đ/c thức ăn (1 Sàng; 0 Khác)
Sử dụng máy cho ăn (1 Có; 0 Không)
Sử dụng kháng sinh (1 Có; 0 Không)
-1,709 -0,393 0,550 0,829 0,657 -0,343 -2,923 -0,191 0,115 0,310 0,054 0,065 -0,002 0,404 0,107 -0,156
4,078 0,125 0,130 0,417 0,587 0,255 1,249 0,119 0,130 0,151 0,185 0,076 0,101 0,504 0,129 0,113
-,419 -3,144 4,216 1,990 1,119 -1,342 -2,341 -1,604 0,884 2,055 0,291 0,847 -0,022 0,801 0,828 -1,384
0,678 0,004 0,000 0,056 0,272 0,189 0,026 0,119 0,383 0,048 0,773 0,404 0,982 0,429 0,414 0,176
-0,311 0,375 0,396 0,138 -0,242 -0,295 -0,184 0,094 0,213 0,027 0,091 -0,002 0,106 0,095 -0,127
Ghi chú: Biến phụ thuộc: Năng suất tôm (tấn/ha); R 2 (0,83) với PF <0,05, n=120
Trang 103.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng
suất tôm
Từ kết quả đánh giá thực trạng nghề nuôi
tôm và kết quả của mô hình nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến đến năng suất tôm thẻ chân
trắng nuôi thâm canh, một số giải pháp đề xuất
như sau:
- Về cơ sở hạ tầng: diện tích ao nuôi nên
thiết kế ao nhỏ gọn nhằm tối ưu hóa hàm lượng
oxy hòa tan và thuận lợi cho việc thu gom chất
thải Với ao nuôi mật độ cao sự tích tụ bùn ở
đáy ao là một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng
đến chất lượng nước và nguy cơ bùng phát dịch
bệnh Trên diện tích ao nuôi nhỏ, bố trí hệ thống
quạt hợp lý chất thải sẽ dồn tụ vào khu vực giữa
ao, nơi bố trí hố thu gom chất thải và hệ thống xi
phông Điều này, giúp chất thải không có cơ hội
tích lũy, phân hủy trong môi trường ao nuôi Ao
nuôi nên thiết kế với diện tích từ 1.200-2.000
m2/ao, độ sâu mức nước ao nuôi từ 1,2-1,8 m
Tăng cường diện tích ao chứa/xử lý, lắng để chủ
động cho việc cấp nước sạch phục vụ cho ao
nuôi tôm được an toàn Tốt nhất diện tích ao
lắng/chứa chiếm >50% tổng diện tích khu nuôi
Để đảm bảo yêu cầu này, người nuôi tôm nên
chia các ao nuôi thành nhiều đợt nuôi để giúp
giảm quy mô dành diện tích ao chứa/xử lý, ao
lắng để xử lý nước cấp nước sạch tái sử dụng
cho ao nuôi
- Mật độ thả giống: tùy thuộc vào khu vực
nuôi và vùng miền khác nhau, kế hoạch và định
hướng thị trường và cơ sở hạ tầng cũng như kết
cấu nền đáy ao nuôi mà cơ sở hay người nuôi
tôm quyết định thả với mật độ hợp lý Đối với
ao đất nên thả mật độ từ 80-100 con/m2, ao lót
bạt đáy, bạt bờ dao động từ 120-200 con/m2
- Nuôi tôm hai giai đoạn: giai đoạn 1 là giai
đoạn ương, tôm giống được thả trong bể tròn
hoặc trong ao hình vuông, lót bạt HDPE, diện
tích từ 80-200 m2 Quá trình này được chăm
sóc và quản lý chất lượng nước phải nghiêm
ngặt Mật độ từ 2.500-3.000 con/m2 Thời gian
ương từ 22-34 ngày, kích cỡ tôm thường khoảng
1.800-2.000 con/kg, tỷ lệ sống trung bình
khoảng 80% Giai đoạn 2 là giai đoạn nuôi nuôi
thương phẩm thả với mật độ cao, tuy nhiên, tùy thuộc giá và hiệu quả kinh tế mà quyết định thu hoạch Tuy nhiên, giai đoạn này, có thể tiếp tục san thưa mật độ có thể về tôm lớn 20-30 con/kg
- Thức ăn: Kiểm soát thức ăn chặt chẽ thông qua khẩu phần ăn hàng ngày, tránh dư thừa gây
ô nhiễm chất lượng nguồn nước Để giúp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn có thể cho tôm ăn bằng máy tự động
- Quản lý chất lượng nước: duy trì chất lượng nước và ổn định màu nước thông qua việc bổ sung các các chế phẩm sinh học có chứa các nhóm vi khuẩn có lợi khác nhau để lấn át vi khuẩn có hại và phân hủy mùn bã hữu cơ (phân tôm, vỏ tôm, xác tảo tàn và thức ăn dư thừa) Tùy thuộc từng chủng loại chế phẩm sinh học
có những loại có thể bổ sung trực tiếp xuống
ao mà không cần kích hoạt và bên cạnh đó có những loại phải kích hoạt bào tử để tăng mật độ
vi sinh nhằm bổ sung cho ao nuôi xử lý nước hiệu quả hơn Có loài ủ ở điều kiện yếm khí, có loài ủ hiếu khí Do đó, cần phải phân biệt chủng loại dựa vào nhãn mác nhà sản xuất từ các nhà sản xuất có uy tín và chất lượng Sản phẩm được công bố theo quy định của Tổng cục Thủy sản Nên tầm soát trong nước vi khuẩn tổng vibrio định kỳ 3-5 ngày/lần Nếu mật độ vibrio tổng
>103 cfu/ml thì diệt khuẩn bằng iodine hoặc virkon 0,5-1 ppm, sau đó 24 giờ bổ sung lại vi sinh để ổn định chất lượng nước
- Quản lý bệnh tôm: bổ sung vào thức ăn cho tôm ăn hàng ngày các hoạt chất có nguồn gốc từ thảo dược có hoạt chất kháng khuẩn và các acid hữu cơ (acid lactic, acid formic aci butylic) giúp giảm pH trong ruột tôm để kiểm soát bệnh tôm do vi khuẩn gây bệnh Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh quá mức, không đúng quy định, có thể tác động đến môi trường
và đến hệ sinh thái Dư lượng kháng sinh còn
có thể tồn lưu trong môi trường nuôi hoặc thậm chí để lại dư lượng trong sản phẩm thủy sản dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh của các loài
vi khuẩn gây bệnh trên tôm, cá Do đó cần tầm
soát bệnh do vi khuẩn Vibrio spp trên tôm để có
giải pháp xử lý bệnh kịp thời Khi phát hiện dấu