1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phân tích hiệu quả kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại đồng bằng sông Cửu Long

14 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất tôm thẻ chân trắng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để lựa chọn vùng khảo sát và trang trại/hộ nuôi để phỏng vấn.

Trang 1

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nguyễn Văn Phụng1*, Phan Thanh Lâm1

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất tôm thẻ chân trắng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để lựa chọn vùng khảo sát và trang trại/hộ nuôi để phỏng vấn Từ tháng 9 đến tháng 11 năm

2018, tiến hành điều tra phỏng vấn 120 trang trại/hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại 05 tỉnh ven biển

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hàm sản xuất để đưa ra các chỉ số chính làm cơ sở đề xuất các giải pháp Kết quả nghiên cứu cho thấy với việc gia tăng mật độ và cải thiện thiết kế hệ thống ao nuôi của nhóm ao lót bạt đạt năng suất (26,91 ± 9,95 tấn/ha/vụ) cao hơn so với nhóm ao đất (9,16±4,83 tấn/ha/vụ) Có khoảng 60%/trang trại/hộ nuôi không đánh giá được chất lượng nguồn giống Việc xả nước và bùn thải trực tiếp ra kênh rạch mà không qua bước xử lý vẫn còn đang tiếp diễn, với 40% số trang trại/hộ nuôi Điều này

có thể là một nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát các bệnh nguy hiểm trên tôm nuôi, và ảnh hưởng đến mất năng suất như bệnh gan tụy cấp (AHPND) và bệnh phân trắng (WFD), với tỷ lệ số trang trạị/hộ nuôi xác nhận gặp phải hai loại bệnh này lần lượt là 81,67% và 95,6% Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy mật độ thả giống ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất tôm nuôi so với các yếu tố còn lại Trong đó, biến diện tích ao nuôi

và FCR có tương quan nghịch với năng suất Các giải pháp cơ bản cần chú trọng: xây dựng cơ sở hạ tầng ao nuôi, mật độ thả hợp lý, phương pháp kiểm soát thức ăn và phòng trị bệnh

Từ khóa: ĐBSCL, năng suất, giải pháp kỹ thuật, tôm thẻ chân trắng

1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

* Email: nguyenvanphung_ts2003@yahoo.com

I GIỚI THIỆU

Tôm thẻ chân trắng (TCT) được xem là

loài có giá trị kinh tế quan trọng, được nuôi phổ

biến khắp 08 tỉnh ven biển ĐBSCL Theo Tổng

cục Thủy sản (2018) thống kê năm 2018 diện

tích nuôi tôm TCT cả nước lên đến 103.568 ha

mặt nước và tổng sản lượng đạt 464.924 tấn;

trong đó, ĐBSCL có diện tích nuôi lớn nhất với

khoảng 78.329 ha (chiếm 76%) và sản lượng

đạt 346.283 tấn (chiếm 74%)

Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được nghiên cứu

và áp dụng vào sản xuất như: cải tiến hệ thống

ao nuôi, sử dụng thức ăn và chế phẩm sinh học;

ứng dụng kỹ thuật tuần hoàn khép kín; kỹ thuật

semi-bioflocs; nuôi tôm hai giai đoạn; kỹ thuật

nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kín Với

những thành tựu trên đã làm thay đổi mạnh mẽ

năng suất và chất lượng tôm TCT thâm canh,

góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu

sản xuất theo hướng tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích sản xuất Kết quả nghiên cứu của Phan Thanh Lâm và ctv., (2018) ghi nhận tôm TCT ở hình thức thâm canh với năng suất trung bình đạt trên 8 tấn/ha/vụ Tuy nhiên,

sự phát triển nhanh về diện tích, quy mô đầu

tư và việc kiểm soát môi trường vùng nuôi còn nhiều hạn chế đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường nước dẫn đến gia tăng nguy

cơ bùng phát dịch bệnh trong vùng (Đinh Xuân Lập và ctv., 2018) Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và

mở rộng quy mô sản xuất của người nuôi tôm cũng còn nhiều mặt hạn chế Vì vậy, nghề nuôi tôm TCT hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro dịch bệnh và năng suất tôm nuôi không ổn định Trước những thực trạng trên, việc phân tích hiệu quả kỹ thuật của mô hình này là việc nghiên cứu cần thiết, với mục tiêu chính là nhằm đánh

Trang 2

giá lại hiện trạng nghề nuôi và đề xuất các giải

pháp kỹ thuật nhằm cải thiện năng suất, từ đó

làm cơ sở để xây dựng quy trình nuôi tôm TCT

thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất và bền

vững ở ĐBSCL

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện ở các tỉnh ven

biển của vùng ĐBSCL có diện tích và sản lượng

nuôi tôm thẻ chân trắng Tiến hành điều tra

phỏng vấn trang trại/hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến

Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau

Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 9 đến

tháng 11 năm 2018

2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các tài

liệu có liên quan đến tình hình sản xuất tôm

TCT ở quy mô thâm canh, gồm các báo cáo

tổng kết năm 2018 của Sở Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn, Chi Cục Thủy sản tại khu vực

nghiên cứu

Số liệu sơ cấp: phương pháp chọn mẫu ngẫu

nhiên phân tầng được áp dụng để lựa chọn mẫu

nghiên cứu (chọn vùng khảo sát, chọn trang trại/

hộ phỏng vấn) Việc chọn lựa nông hộ/trang trại

điều tra có tham khảo ý kiến tư vấn của các cán

bộ quản lý địa phương Thu thập dữ liệu thông

qua bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn để phỏng

vấn trực tiếp 120 nông hộ/trang trại nuôi tôm tại

05 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL Nội dung phiếu

điều tra nông hộ bao gồm các thông tin chính

như: hệ thống công trình, kỹ thuật cải tạo ao, xử

lý nước, gây màu, kỹ thuật ương tôm, sử dụng

các chất diệt khuẩn để xử lý nước, nguồn giống,

thức ăn và cho ăn, chăm sóc và quản lý, chế độ

thay nước, sử dụng thuốc và chế phẩm sinh học,

xử lý nước thải, thu hoạch, thuận lợi khó khăn

và các thách thức

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS v.20 Phương pháp thống kê mô tả (số trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất xuất hiện …) được

sử dụng nhằm đưa ra các đánh giá và so sánh

Sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi Mô hình trên được cụ thể hóa qua phương trình hồi quy lý thuyết như sau:

LnY = A 0 + β 1 LnX 1 + β 2 LnX 2 + β 3 LnX 3 +

…+ β n LnXn

Y: Năng suất tôm nuôi (kg/ha, là biến phụ thuộc)

X1→ Xn: là các biến độc lập (chỉ số đầu vào liên quan đến nuôi tôm)

Ao: Các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất

β1- βn: là các hệ số biến động của các biến

X1→ Xn Kết quả hàm sản xuất thể hiện ở các chỉ số: + Chỉ số R2 xác định % biến động của năng suất thông qua các biến trên

+ Hệ số β của một biến độc lập cho biết khi hằng số các biến độc lập khác không thay đổi, nếu biến đó tăng thêm 1% thì năng suất đầu ra

sẽ tăng (khi giá trị β>0) hoặc giảm (khi giá trị β<0) bằng hệ số β% tương ứng

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng sản xuất tôm

3.1.1 Hệ thống ao nuôi

Theo kết quả khảo sát từ nông hộ/trang trại cung cấp thông tin về các thông số kỹ thuật xây dựng trong hệ thống công trình ao nuôi được trình bày trong Bảng 1

Trang 3

Bảng 1 Thông tin về hệ thống công trình ao nuôi

Diện tích ao nuôi (ha/hộ)

Diện tích ao nuôi (ha/ao)

Mức giữ nước của ao (m)

Tỷ lệ diện tích ao nuôi/tổng

diện tích khu nuôi (%)

0,15 ± 0,2 (2) 5,8 ± 6,26 1,65 ± 0,20

0,21± 0,3(3) 8,61 ± 9,60 1,72 ± 0,20

0,17± 0,25 7,12 ± 8,43 1,60 ± 0,21

2,60 ± 2,11 0,23 ± 0,07 1,52 ± 0,18 65,5 ± 30,5

2,41 ± 1,70 0,21 ± 0,09 1,37 ± 0,15 45,5 ± 20,5

2,49 ± 1,89 0,22 ± 0,08 1,42 ± 0,17 55,5 ± 25,5

0,54 ± 0,94 (1) 20,0 ± 24,3

1,61 ± 0,22

0,68 ± 0,42 38,4 ± 69,2

1,71 ± 0,20

0,62 ±0,69 30,72 ± 58,33

1,60 ± 0,21

Mật độ 70-100 con/m 2 n=50

Mật độ 110-250 con/m 2 n=70

Giá trị Trung bình n=120

Ao nuôi

Ao chứa thải

Ao lắng

Hạng mục

Ghi chú: (1) n=42, (2) n=36, (3) n=65

Tùy thuộc vào địa hình của trang trại mà

hình dạng ao được thiết kế khác nhau Kết quả

cho thấy ao hình chữ nhật (63,0%) và hình vuông

(37,0%), ao được nuôi trên nền đáy đất chiếm

32% và có thiết kế ao ương chiếm khoảng 4%

ở nhóm ao nuôi mật độ thấp (70-100 con/m2)

Trong khi đó, ao mật độ cao (110-250 con/m2)

lần lượt chiếm 73%, 23% và 5% dành cho hình

vuông, chữ nhật và hình tròn, và phủ bạt đáy ao

chiếm 58% Hình dạng ao có mối quan hệ mật thiết với vị trí đặt máy sục khí, sự luân chuyển của dòng chảy và thu gom chất thải trong ao Xu hướng phổ biến nhất hiện nay là ao hình vuông

và hình chữ nhật đối với hai nhóm ao mật độ thấp và cao Ao hình vuông thì thuận lợi cho việc thu gom chất thải Với ao hình chữ nhật, để cải thiện dòng chảy người nuôi tôm thường đắp đất bo tròn góc ao để việc lưu chuyển dòng chảy

Trang 4

trong ao thuận tiện hơn cho việc xi phông chất

thải ở nền đáy

Kết quả cũng đã ghi nhận xu thế hiện

nay đang chuyển đổi sang diện tích ao thu nhỏ

khoảng 1.200-2.500 m2/ao, thấp hơn so với

nghiên cứu của Võ Nam Sơn và ctv., (2014) tại

Sóc Trăng là 0,57±0,09 ha/ao Sở dĩ có sự khác

biệt này là do gần đây việc ứng dụng các tiến

bộ kỹ thuật mới vào sản xuất đã mang lại nhiều

thành tựu nổi bật Trong đó, đánh dấu cho sự

thay đổi này là sự chuyển dần từ hình thức nuôi

ao đất sang ao lót bạt đáy với vật liệu HDPE, và

thả với mật độ khá cao từ 100-300 con/m2 Ao

đất (mật độ từ 70 -100 con/m2) tỷ lệ phần trăm

sử dụng diện tích dành cho ao lắng tương tự với

nghiên cứu của Võ Nam Sơn và ctv., (2014),

Phan (2014) và Lê Trần Tiểu Trúc và ctv.,

(2017) tại Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, lần

lượt là 20,20±9,51% diện tích ao nuôi; nhưng

thấp hơn các ao lót bạt đáy và bạt bờ (mật độ từ

110-250 con/m2)

3.1.2 Cải tạo và xử lý nước ao nuôi

Cải tạo ao có vai trò quan trọng nên được đa

số các hộ dân áp dụng sau mỗi vụ nuôi Trong

quá trình cải tạo, tất cả các hộ nuôi đều áp dụng

phương pháp cải tạo khô (100%) Đối với ao đất

công việc bón vôi cải tạo cũng được thực hiện,

tuy nhiên lượng vôi bón phụ thuộc vào độ pH

của từng loại đất khác nhau Với ao lót bạt thì

được xử lý sau mỗi vụ nuôi chủ yếu là vệ sinh

bạt Thời gian cải tạo ao phụ thuộc vào nhiều

yếu tố như thời tiết, mùa vụ… trung bình từ

10-15 ngày (90,0% số hộ liên quan) với ao đất và

ao lót bạt đáy khoảng 5-7 ngày

Trước khi thả giống, 100% các nông hộ/

trang trại tiến hành cấp nước qua túi lọc và lắng

lọc tự nhiên với khoảng thời gian từ 2-3 ngày,

sau đó xử lý nước bằng hóa chất nhằm tiêu diệt

các mầm bệnh Có khoảng 54,52% số hộ liên

quan sử dụng chlorin và 45,48% sử dụng loại

hóa chất khác để xử lý nước cấp cho ao nuôi Sở

dĩ người nuôi sử dụng các loại hóa chất có hoạt

chất sát khuẩn cao như chlorin để tiêu diệt các

mầm bệnh gây nguy hiểm trên tôm như bệnh

đốm trắng hay bệnh hoại tử gan tụy Kết quả này

cũng trùng hợp với nghiên cứu của Takahashi

và ctv., (1995), cho rằng đối với mô hình nuôi thâm canh, việc lấy bổ sung nước vào ao nuôi trong vụ nuôi là yếu tố nguy cơ gây tôm nuôi nhiễm bệnh đốm trắng

3.1.3 Chọn giống và mật độ thả

Hầu hết người nuôi tôm chọn kích cỡ tôm giống đạt tiêu chuẩn TCVN 10257:2014 Kích

cỡ giống thả nuôi từ PL10 đến PL15, trong đó PL12 được thả nuôi nhiều nhất chiếm 70,9% số

hộ liên quan Về chất lượng tôm giống, 62,1%

hộ nuôi không đánh giá được chất lượng tôm giống, 18,5% hộ muôi cho rằng nguồn giống tốt, còn lại là chất lượng kém (14%) Tôm giống

là một trong những yếu tố quyết định sự thành công vụ nuôi (Phan, 2014) Phần lớn, hiện nay ở ĐBSCL tôm giống có nguồn gốc từ miền Trung, trong khi công tác kiểm dịch chất lượng tôm giống còn nhiều hạn chế là trở ngại lớn cho việc phát triển bền vững nghề nuôi tôm (Tổng cục Thủy Sản, 2018)

Mật độ thả giống là thông số mà ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của các loài nuôi (Sookying và ctv., 2011) Mật độ thả dao động

từ 70-250 con/m2 tập trung ở hai nhóm: i) nhóm mật độ 70-100 con/m2 được nuôi phổ biến nhất cho hình thức ao đất; và ii) nhóm mật độ

110-250 con/m2 dành cho ao lót bạt bờ và đáy ao Phần lớn các ao nuôi là ao đất thì tôm giống được thả trực tiếp không qua ương giống (96,0%

số hộ liên quan) Theo Phùng Thị Hồng Gấm và ctv., (2014) ao nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ninh Thuận có mật độ trung bình là 87±10 con/m2; tương tự theo Võ Nam Sơn và ctv., (2014), tại Sóc Trăng mật độ 80,7±16,8 con/m2 Ở Thái Lan, với hình thức nuôi thâm canh thả mật độ giống dao động từ 120-200 con/m2 (Briggs, 2004) Riêng nhóm ao thả mật độ cao chú trọng hơn đến việc ương giống trước khi san thưa sang ao nuôi Hình thức ương chủ yếu là trong bể tròn, với diện tích khoảng 276,75±203,92 m2/ao và mật độ ương khoảng 2016,25±1082,31 con/m2 Thời gian ương trung bình khoảng 27,5±2,74 ngày, đạt tỷ lệ sống khoảng 82,5±8,45 Mật độ san ra ao nuôi trung bình khoảng 200 PL/m2

Trang 5

Phạm Thành Nhân và ctv., (2016) cho rằng áp

dụng hình thức ương tôm có triển vọng cho việc

rút ngắn chu kỳ nuôi thương phẩm, hạn chế rủi

ro từ bệnh tôm chết sớm (EMS)

3.1.4 Quản chất lượng nước và nước thải

Quản lý các yếu tố chất lượng nước là cực

kỳ quan trọng trong quá trình nuôi tôm Theo

Boyd và ctv., (1998) cho rằng chất lượng nước

(nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy hòa tan) biến

động lớn dẫn đến tôm dễ mẫn cảm với bệnh và

làm chậm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất

và sản lượng tôm nuôi Bảng 2 cho thấy rằng

hầu hết nông hộ/trang trại chú trọng đến việc

quản lý chất lượng nước bằng các biện pháp kỹ

thuật như: sử dụng vi sinh, vôi và khoáng và

đồng thời kiểm soát tảo độc bằng biệt pháp hóa

chất, vi sinh và thay nước khi tảo bùng phát

Bên cạnh đó, việc tầm soát vi khuẩn Vibrio spp

trong nước và kiểm tra các yếu tố thủy lý hóa được đa số người nuôi thực hiện Hiện nay, xu hướng ứng dụng men vi sinh giúp cải thiện chất

lượng nước, kiểm soát vi khuẩn Vibrio spp gây

bệnh trên tôm đã có nhiều công trình nghiên cứu đáng ghi nhận Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh và ctv., (2016) đã phân lập 09 chủng vi khuẩn có lợi

thuộc nhóm Bacillus và 01 chủng vi khuẩn lactic

để kiểm soát các tác nhân gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản Võ Hồng Phượng và ctv., (2018)

nghiên cứu chủng Bacillus S5 có khả năng kiểm soát sự bùng phát vi khuẩn V parahaemolyticus

gây bệnh gan tụy cấp trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng

Bảng 2 Thông tin về quản lý chất lượng nước và nước thải

Quản lý môi trường nước ao nuôi

Sử dụng vi sinh, vôi và khoáng để duy trì chất lượng nước

Kiểm soát vi khuẩn bằng chất khử trùng khi có dấu hiệu nhiễm

khuẩn

Sử dụng vi sinh định kỳ để lấn át vi khuẩn

Kiểm tra thông số môi trường nước và vi khuẩn vibrio định kỳ

Bổ sung nước cấp giai đoạn đầu và thay nước thường xuyên

sau 2 tháng tuổi

Xi phông định kỳ theo thời gian nuôi

Kiểm soát tảo bằng cách sử dụng hóa chất, vi sinh và thay nước

Quản lý nước thải

Nước thải sau vụ nuôi được giữ lại

Nước thải xả bỏ trực tiếp ra ngoài kênh rạch

Bùn thải đưa về khu chứa

Bùn thải xả thẳng ra kênh rạch

Số hộ (n=120)

Tỷ lệ (%)

Nội dung

112 88

79

111

87

75

115

55 72 48 65

93.33

73.33

64.17 92.50 72.50 62.50 92.83

42.34 60.00 40.00 54.05

Trang 6

Chất thải trong quá trình nuôi bao gồm chất

thải rắn, nước thải, rác thải sinh hoạt, bùn đáy

ao, các loại chất thải này sẽ được thu gom và xử

lý khác nhau Bùn đáy sẽ được nạo vét và vận

chuyển tới nơi tập trung Riêng nước thải trong

quá trình nuôi được thải thẳng ra môi trường

theo chu kỳ thủy triểu không qua xử lý Điều

này cũng xảy ra ở toàn bộ các hộ nuôi trong khu

vực Do vậy, đã làm phát sinh nhiều vấn đề môi

trường và bùng phát dịch bệnh thủy sản rất khó

kiểm soát Theo Pham và ctv., (2010) thì nước

thải và bùn đáy ao nuôi hầu như thải trực tiếp ra

môi trường không qua xử lý, và hiện cũng chưa

có một hệ thống kênh cấp thoát riêng biệt ở các

vùng nuôi; do vậy mầm bệnh từ ao bị nhiễm nếu

không được xử lý hoàn toàn sẽ dễ lan truyền

sang các ao nuôi khác Theo Tran và ctv., (2010)

thì mầm bệnh đốm trắng có thể lan truyền theo

chiều ngang thông qua nước và vật chủ sẽ ảnh

hưởng đến tôm nuôi, nó có thể làn truyền từ ao

này sang ao khác hoặc có thể lan truyền từ vụ

trước sang vụ nuôi kế tiếp

3.1.5 Cho ăn và quản lý thức ăn

Kết quả khảo sát cho thấy, thức ăn công

nghiệp có hàm lượng protein khá cao (từ

38-42%) Số lần cho ăn từ 3-4 lần/ngày tùy thuộc

vào giai đoạn tuổi tôm Khẩu phần cho tôm ăn

hàng ngày được điều chỉnh dựa vào sức ăn của

tôm thông qua việc kiểm tra sàng ăn Phần lớn,

trước đây các hộ nuôi cho tôm ăn với phương

pháp thủ công bằng tay, rải thức ăn xung quanh

ao và cách bờ khoảng 2-3 m để tôm vận động

liên tục bắt mồi Tuy nhiên, phương pháp này có

nhược điểm dễ để lại dư lượng thức ăn nếu như

sức ăn của tôm giảm do tôm bị stress bởi điều

kiện bất lợi của thời tiết hay môi trường nước

biến đổi Nếu như tình trạng này tiếp tục không

được kiểm soát tốt bởi người quản lý ao nuôi thì

dẫn đến chất lượng nước bị suy giảm Hiện nay,

để nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn và tăng

trưởng tôm có khoảng 60,65% hộ nuôi liên quan

có xu hướng chuyển dịch sang cho tôm ăn bằng máy cho ăn tự động Thức ăn được điều chỉnh thông qua thiết bị kỹ thuật số, người nuôi có thể cài đặt thời gian và lượng thức ăn theo sức

ăn của tôm hàng ngày Điều này sẽ giúp tôm ăn liên tục hạn chế thức ăn nằm lâu trong nước dễ tan rã và dư thừa gây ô nhiễm môi trường nước

ao nuôi Bên cạnh đó, ứng dụng máy cho ăn tự động không phải tắt hết các thiết bị quạt nước khi tôm ăn hạn chế thiếu hụt hàm lượng oxy giúp tôm ăn mạnh hơn Điều này giúp cải thiện

hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và tăng trưởng tôm Dileep Kumar Appana và ctv., (2016) cho rằng cho tôm ăn bằng máy tự động không chỉ kiểm soát thức ăn hiệu quả làm giảm lượng thức

ăn thừa (giảm FCR) mà còn tiết kiệm chi phí lao động Để việc ứng dụng và vận hành máy cho ăn tốt hơn người nuôi nên lựa chọn thiết bị máy cho ăn có công suất phù hợp với diện tích

và mật độ thả giống ao nuôi cũng như vị trí lắp đặt và cách vận hành máy Ngoài ra cần theo dõi biến động môi trường nước, thời tiết, tôm lột xác để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý để tránh dư thừa thức ăn

3.1.6 Quản lý sức khỏe và bệnh tôm

Bảng 3 cho thấy hầu hết người nuôi thường xuyên bổ sung các chất bổ trợ như: men vi sinh, acid hữu cơ, vitamin, hoạt chất kháng khuẩn có nguồn gốc từ thực vật, kháng sinh và khoáng

vi lượng chiếm 73,33% đến 95% để kiểm soát các tác nhân gây bệnh và giúp tôm tăng trưởng Trong đó, để kiểm soát các bệnh thường gặp, 75% hộ nuôi sử dụng kháng sinh để phòng và trị bệnh trong quá trình nuôi Xu hướng nuôi thâm canh trong thủy sản ngày càng phát triển

là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát phức tạp và thường xuyên hơn Kết quả điều tra cho thấy các bệnh nguy hiểm như bệnh phân trắng và bệnh hoại tử gan tụy cấp xuất hiện với tỷ lệ lớn nhất 81,67% đến 95,63%

Trang 7

Bảng 3 Phương pháp quản lý sức khỏe và một số bệnh tôm thường gặp

Bổ sung chất bổ trợ vào thức ăn

Men vi sinh

Acid hữu cơ

Vitamin

Hoạt chất kháng khuẩn từ thực vật

Kháng sinh

Khoáng vi lượng

Khác

Một số bệnh tôm thường gặp

Bệnh phân trắng

Bệnh hoại tử gan tụy cấp

Bệnh đốm trắng

Bệnh EHP

Bệnh khác

110

88

111

115

90

114

100

98

115

38

19

37

91,67

73,33

92,50

95,83

75,00

95,00

83,33

81,67

95,83

31,67

15,83

30,83

Số hộ (n=120)

Tỷ lệ (%)

Nội dung

(n=120)

Bệnh đốm trắng (WSSV) và vi bào tử trùng

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) chỉ chiếm

tỷ lệ thấp lần lượt 31,67% và 15,83% nhưng

thường gây thiệt hại lớn cho hộ nuôi Bệnh hoại

tử gan tụy cấp tính (AHPND) xuất hiện đầu tiên

ở Trung Quốc vào năm 2009, sau đó ở Việt Nam

vào năm 2010, rồi đến Thái Lan và Malaysia

vào năm 2011 (Lightner và ctv., 2012; Flegel,

2012) Thời gian xuất hiện dấu hiệu bệnh hoại

tử gan tụy cấp sớm nhất từ ngày nuôi thứ 17

và muộn nhất vào ngày thứ 77 (nhiều nhất

từ 20-45 ngày và tập trung ở giai đoạn 19-31

ngày tuổi), được ghi nhận trong đợt khảo sát ở

huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (Lê Hồng Phước

và ctv., 2012) Gần đây, vi bào tử trùng (EHP)

cũng được xem là có liên quan đến bệnh phân

trắng (WFD) trên tôm thẻ chân trắng ở Thái Lan

(Flegel, 2012)

Nhìn chung, các loại bệnh truyền nhiễm gây

bệnh trên tôm thường xuyên xảy ra trong thời gian khảo sát, tập trung vào những thời điểm bất lợi của diễn biến thời tiết như nắng nóng hay mưa lớn kéo dài làm cơ hội bùng phát dịch bệnh Bên cạnh đó, sự không tuân thủ đúng theo quy trình khuyến cáo của nhà chuyên môn của người nuôi tôm như thả nuôi không đúng thời

vụ, cải tạo ao nuôi không đúng quy trình, con giống không đạt tiêu chuẩn, quản lý chất lượng nước hay cho ăn không hợp lý….điều này góp phần gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh

3.1.7 Hiệu quả kỹ thuật

Bảng 4 cho thấy, lượng thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch và năng suất tôm thu hoạch giữa

2 nhóm mật độ cũng khác biệt tương đối lớn, ở mật độ trên 110-250 con/m2 cho năng suất cao nhất 26,91±9,95 tấn/ha/vụ, trong khi đó nhóm mật độ thấp 9,16±4,83 tấn/ha/vụ Tuy nhiên, tỷ

Trang 8

3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến

năng suất tôm nuôi

Việc xây dựng hàm sản xuất trở nên có ý

nghĩa quan trọng Phân tích hiệu quả sử dụng

yếu tố đầu vào của các đơn vị sản xuất đề xuất

các chính sách phát triển bền vững đã được áp

dụng rất rộng rãi trong ngành thủy sản (Lê Kim

Long và ctv., 2015) Thông qua hàm sản xuất sẽ

cho biết ứng với mỗi mức sử dụng yếu tố đầu

vào có giới hạn khác nhau sẽ tạo ra giới hạn đầu

ra khác nhau Kết quả phân tích hàm sản xuất

trong Bảng 5 với giá trị xác định R2 =0,83 cho

thấy có 83% sự thay đổi về năng suất tôm nuôi

(biến phụ thuộc) bị ảnh hưởng bởi các yếu tố

(biến độc lập) từ X1→ X14

Trước đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu

các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm thẻ

chân trắng nuôi thâm canh trong đó có nhiều

nhóm nhân tố như: mật độ giống, lao động, kinh

nghiệm, hình thức nuôi, xử lý ao nuôi, số vốn

bỏ ra trong mỗi vụ nuôi, hệ số thức ăn, độ trong,

độ mặn của ao nuôi và chất lượng tôm giống

thả nuôi (Đỗ Thị Hương và ctv., 2014; Hoàng

Bảng 4 Thông tin hiệu quả kỹ thuật của nuôi tôm thẻ chân trắng

Mật độ thả (con/m2)

Thời gian nuôi (ngày)

Kích cỡ tôm thu hoạch (g/con)

Tỷ lệ sống (%)

Hệ số thức ăn (g/g)

Năng suất (tấn/ha/vụ)

94,57 ± 9,18 76,65±34,71 64,32±45,86 83,86±10,68 1,05±0,5 9,16±4,83

164,68 ± 48,09 89,7 ± 23,62 45,17 ± 13,96 84,73 ± 6,88 1,2 ± 0,24 26,91 ± 9,95

129,62± 36,32 83,17 ± 29,18 54,74 ± 34,61 84,29 ± 8,72 1,12 ± 0,31 18,03 ± 7,32

Mật độ 70-100 con/m 2

Mật độ 110-250 con/m 2

Giá trị trung bình

Nội dung

(n=120)

Quang Thành và ctv., 2012) Kết quả trình bày

ở Bảng 5 cho thấy biến diện tích ao nuôi và FCR có tương quan nghịch với năng suất; trong khi, biến mật độ và nuôi 2 giai đoạn có tương quan thuận với năng suất và có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) Các biến đầu vào còn lại cũng có tương quan đến năng suất tôm nuôi, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), nhưng vẫn có giá trị tham khảo do phương trình hàm sản xuất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Với hệ

số quy mô sản xuất -0,92 do đó người dân cần xem xét và cân nhắc để không thêm quy mô sản xuất Như vậy, các biến mật độ thả giống, nuôi 2 giai đoạn, thời gian nuôi đều có ảnh hưởng theo hướng làm tăng năng suất tôm nuôi Ngược lại, biến diện tích ao nuôi và FCR làm giảm năng suất tôm nuôi Sở dĩ có sự khác biệt này là do hiện nay xu hướng dịch chuyển từ ao đất chuyển sang ao bạt đáy mà phổ biến nhất là kỹ thuật nuôi 2 giai đoạn đã được ứng dụng khá thành công và năng suất cao tại trang trại lớn của các công ty như CP, Nông Mạnh, Việt Úc… Với kỹ thuật này, tôm giống có kích thước lớn khi thả, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm, tiết kiệm được thức ăn và nâng cao tỷ lệ sống cho tôm nuôi làm gia tăng hiệu quả sản xuất

lệ sống giữa 2 nhóm mật độ 70-100 con/m2 và

110-250 con/m2 không có sự khác biệt Kết quả tương tự với báo cáo bởi Silva và ctv., (2015) và Sookying D và ctv., (2011)

Trang 9

Bảng 5 Tương quan đa biến giữa các biến độc lập và năng suất tôm nuôi

Trong các yếu tố đưa vào mô hình làm tăng

năng suất tôm thì yếu tố mật độ tác động ảnh

hưởng lớn nhất đến năng suất tôm nuôi so với

các yếu tố còn lại Với việc ứng dụng nuôi tôm

2 giai đoạn, nuôi ao lót bạt thì mật độ có thể

tăng thêm để đạt năng suất cao hơn Diện tích ao

hiện nay có thể làm ao nhỏ hơn thì năng suất sẽ

tốt hơn, tương tự thì hệ số FCR cần giữ ở mức

như hiện nay Mặt khác, các biến định tính danh

nghĩa: xử lý nước cấp, phương pháp sử dụng vi sinh và sử dụng đa men vi sinh, phương pháp điều chỉnh thức ăn, sử dụng máy cho ăn và sử dụng kháng sinh đều không có ý nghĩa thống kê Điều đó cho thấy đa phần các hộ khảo sát liên quan có trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi lâu năm cho nên biến này cũng ít có sự khác biệt ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi

Các biến

ảnh hưởng

Unstandardized

Hằng số

Diện tích ao nuôi (ha)

Mật độ thả (con/m2)

Thời gian nuôi (ngày/vụ)

Tỷ lệ sống (%)

Cỡ tôm thu hoạch (con/kg)

FCR

Hình dạng ao (1 Vuông; 0 Khác)

Vật liệu phủ bờ (1 Bạt; 0 Khác)

Nuôi 2 giai đoạn (1 Có; 0 Không)

Xử lý nước cấp (1 Có; 0 Không)

Phương pháp sử dụng vi sinh

(1 Có; 0 Không)

Sử dụng đa men vi sinh

(1 Có; 0 Không)

P.pháp đ/c thức ăn (1 Sàng; 0 Khác)

Sử dụng máy cho ăn (1 Có; 0 Không)

Sử dụng kháng sinh (1 Có; 0 Không)

-1,709 -0,393 0,550 0,829 0,657 -0,343 -2,923 -0,191 0,115 0,310 0,054 0,065 -0,002 0,404 0,107 -0,156

4,078 0,125 0,130 0,417 0,587 0,255 1,249 0,119 0,130 0,151 0,185 0,076 0,101 0,504 0,129 0,113

-,419 -3,144 4,216 1,990 1,119 -1,342 -2,341 -1,604 0,884 2,055 0,291 0,847 -0,022 0,801 0,828 -1,384

0,678 0,004 0,000 0,056 0,272 0,189 0,026 0,119 0,383 0,048 0,773 0,404 0,982 0,429 0,414 0,176

-0,311 0,375 0,396 0,138 -0,242 -0,295 -0,184 0,094 0,213 0,027 0,091 -0,002 0,106 0,095 -0,127

Ghi chú: Biến phụ thuộc: Năng suất tôm (tấn/ha); R 2 (0,83) với PF <0,05, n=120

Trang 10

3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng

suất tôm

Từ kết quả đánh giá thực trạng nghề nuôi

tôm và kết quả của mô hình nghiên cứu các yếu

tố ảnh hưởng đến đến năng suất tôm thẻ chân

trắng nuôi thâm canh, một số giải pháp đề xuất

như sau:

- Về cơ sở hạ tầng: diện tích ao nuôi nên

thiết kế ao nhỏ gọn nhằm tối ưu hóa hàm lượng

oxy hòa tan và thuận lợi cho việc thu gom chất

thải Với ao nuôi mật độ cao sự tích tụ bùn ở

đáy ao là một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng

đến chất lượng nước và nguy cơ bùng phát dịch

bệnh Trên diện tích ao nuôi nhỏ, bố trí hệ thống

quạt hợp lý chất thải sẽ dồn tụ vào khu vực giữa

ao, nơi bố trí hố thu gom chất thải và hệ thống xi

phông Điều này, giúp chất thải không có cơ hội

tích lũy, phân hủy trong môi trường ao nuôi Ao

nuôi nên thiết kế với diện tích từ 1.200-2.000

m2/ao, độ sâu mức nước ao nuôi từ 1,2-1,8 m

Tăng cường diện tích ao chứa/xử lý, lắng để chủ

động cho việc cấp nước sạch phục vụ cho ao

nuôi tôm được an toàn Tốt nhất diện tích ao

lắng/chứa chiếm >50% tổng diện tích khu nuôi

Để đảm bảo yêu cầu này, người nuôi tôm nên

chia các ao nuôi thành nhiều đợt nuôi để giúp

giảm quy mô dành diện tích ao chứa/xử lý, ao

lắng để xử lý nước cấp nước sạch tái sử dụng

cho ao nuôi

- Mật độ thả giống: tùy thuộc vào khu vực

nuôi và vùng miền khác nhau, kế hoạch và định

hướng thị trường và cơ sở hạ tầng cũng như kết

cấu nền đáy ao nuôi mà cơ sở hay người nuôi

tôm quyết định thả với mật độ hợp lý Đối với

ao đất nên thả mật độ từ 80-100 con/m2, ao lót

bạt đáy, bạt bờ dao động từ 120-200 con/m2

- Nuôi tôm hai giai đoạn: giai đoạn 1 là giai

đoạn ương, tôm giống được thả trong bể tròn

hoặc trong ao hình vuông, lót bạt HDPE, diện

tích từ 80-200 m2 Quá trình này được chăm

sóc và quản lý chất lượng nước phải nghiêm

ngặt Mật độ từ 2.500-3.000 con/m2 Thời gian

ương từ 22-34 ngày, kích cỡ tôm thường khoảng

1.800-2.000 con/kg, tỷ lệ sống trung bình

khoảng 80% Giai đoạn 2 là giai đoạn nuôi nuôi

thương phẩm thả với mật độ cao, tuy nhiên, tùy thuộc giá và hiệu quả kinh tế mà quyết định thu hoạch Tuy nhiên, giai đoạn này, có thể tiếp tục san thưa mật độ có thể về tôm lớn 20-30 con/kg

- Thức ăn: Kiểm soát thức ăn chặt chẽ thông qua khẩu phần ăn hàng ngày, tránh dư thừa gây

ô nhiễm chất lượng nguồn nước Để giúp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn có thể cho tôm ăn bằng máy tự động

- Quản lý chất lượng nước: duy trì chất lượng nước và ổn định màu nước thông qua việc bổ sung các các chế phẩm sinh học có chứa các nhóm vi khuẩn có lợi khác nhau để lấn át vi khuẩn có hại và phân hủy mùn bã hữu cơ (phân tôm, vỏ tôm, xác tảo tàn và thức ăn dư thừa) Tùy thuộc từng chủng loại chế phẩm sinh học

có những loại có thể bổ sung trực tiếp xuống

ao mà không cần kích hoạt và bên cạnh đó có những loại phải kích hoạt bào tử để tăng mật độ

vi sinh nhằm bổ sung cho ao nuôi xử lý nước hiệu quả hơn Có loài ủ ở điều kiện yếm khí, có loài ủ hiếu khí Do đó, cần phải phân biệt chủng loại dựa vào nhãn mác nhà sản xuất từ các nhà sản xuất có uy tín và chất lượng Sản phẩm được công bố theo quy định của Tổng cục Thủy sản Nên tầm soát trong nước vi khuẩn tổng vibrio định kỳ 3-5 ngày/lần Nếu mật độ vibrio tổng

>103 cfu/ml thì diệt khuẩn bằng iodine hoặc virkon 0,5-1 ppm, sau đó 24 giờ bổ sung lại vi sinh để ổn định chất lượng nước

- Quản lý bệnh tôm: bổ sung vào thức ăn cho tôm ăn hàng ngày các hoạt chất có nguồn gốc từ thảo dược có hoạt chất kháng khuẩn và các acid hữu cơ (acid lactic, acid formic aci butylic) giúp giảm pH trong ruột tôm để kiểm soát bệnh tôm do vi khuẩn gây bệnh Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh quá mức, không đúng quy định, có thể tác động đến môi trường

và đến hệ sinh thái Dư lượng kháng sinh còn

có thể tồn lưu trong môi trường nuôi hoặc thậm chí để lại dư lượng trong sản phẩm thủy sản dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh của các loài

vi khuẩn gây bệnh trên tôm, cá Do đó cần tầm

soát bệnh do vi khuẩn Vibrio spp trên tôm để có

giải pháp xử lý bệnh kịp thời Khi phát hiện dấu

Ngày đăng: 07/12/2020, 11:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w