Hiện nay, việc nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An mang tính tự phát và chưa có quy hoạch sắp xếp. Việc đề xuất phương án sắp xếp vùng nuôi cá lồng bè trên hồ là mục tiêu chính của đề án đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt thực hiện. Cách tiếp cận chính để xây dựng phương án là tiếp cận liên ngành, liên vùng và dựa vào cộng đồng.
Trang 1ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP VÙNG NUÔI CÁ LỒNG BÈ
TRÊN HỒ TRỊ AN
Nguyễn Nguyễn Du1* & Phan Thanh Lâm1 TÓM TẮT
Hiện nay, việc nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An mang tính tự phát và chưa có quy hoạch sắp xếp Việc đề xuất phương án sắp xếp vùng nuôi cá lồng bè trên hồ là mục tiêu chính của đề án đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt thực hiện Cách tiếp cận chính để xây dựng phương án là tiếp cận liên ngành, liên vùng và dựa vào cộng đồng Trong tháng 7/2019, đã tiến hành thu mẫu chất lượng nước và trầm tích tại 10 điểm đại diện cho các vùng nuôi; đồng thời, tiến hành điều tra 200 hộ về hiện trạng kỹ thuật nuôi cá lồng bè Kết quả cho thấy điều kiện tự nhiên khu vực lòng hồ khá thuận lợi cho việc nuôi cá lồng bè Điều kiện kinh tế xã hội đã tác động tương đối lớn đến việc nuôi cá lồng bè do việc phát triển nhiều nhà máy, xí nghiệp gần khu vực gây nên những tác động bất lợi cho việc nuôi cá lồng bè vào thời điểm giao mùa Các chỉ tiêu chất lượng nước hiện nay vẫn nằm trong ngưỡng cho phép đối với nuôi cá lồng bè, ngoại trừ một số chỉ tiêu trầm tích như xyanua và asen có giá trị vượt quá giới hạn cho phép Các chỉ tiêu kỹ thuật về mật độ thả, thức ăn, FCR, tỷ
lệ sống và năng suất nuôi đều còn chưa hiệu quả Dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp, vùng đề xuất với tổng chiều dài của bờ sông, hồ tại mực nước thấp nhất là 34.186 m, và được chia thành 8 vùng nuôi lồng bè Phương án đề xuất sẽ duy trì 537 bè và 1.236 lồng; và số lồng dôi dư không được tiếp tục nuôi cá là 1.599 Các khu vực nuôi đều phải thực hiện việc sắp xếp lại lồng bè để đảm bảo tuân thủ QCVN 02-22:2015/BNNPTNT và yêu cầu cơ sở đủ điều kiện nuôi cá lồng bè trong Nghị định 26/2019/NĐ-CP.
Từ khóa: Hồ Trị An, phương án, lồng bè, sắp xếp.
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
* Email: didzu72@yahoo.com
I GIỚI THIỆU
Hồ Trị An là hồ nước nhân tạo nằm trên
sông Đồng Nai và sông La Ngà với chức năng
chính cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị
An Tỉnh Đồng Nai nói riêng và các tỉnh miền
Đông Nam bộ nói chung, nhân dân đã và đang
tận dụng nguồn nước ngọt, mặt nước hồ sẵn có
để nuôi trồng thủy sản, đây là nguồn lợi to lớn
để phát triển kinh tế của địa phương Việc nuôi
cá lồng bè của người dân trên hồ Trị An thời
gian qua mang tính tự phát, chưa có quy hoạch
sắp xếp cụ thể, các hình thức nuôi thủy sản ở
đây còn nhiều bất cập Hiện nay, mật độ và vị trí
đặt lồng, bè cũng mang tính tự phát nên đã gây
ảnh hưởng không nhỏ đến một số hộ nuôi do cá
chết hàng loạt không kiểm soát kịp, ảnh hưởng
đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên, ô nhiễm môi
trường nước; và vi phạm quy chế quản lý hồ Trị
An, gây khó khăn trong công tác quản lý của
chính quyền địa phương (Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn Hóa Đồng Nai, 2019)
Bên cạnh đó, việc nuôi thủy sản lồng bè của các hộ dân được xếp dọc theo bên tuyến sông (chủ yếu là sông La Ngà) với mật độ rất dày (Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Đồng Nai, 2019) Vào mùa khô, lòng sông này bị thu hẹp lại có những chỗ chỉ còn khoảng 50 m (chỗ hẹp nhất) đã gây cản trở rất nhiều cho các phương tiện giao thông thủy nội địa, đặc biệt gây cản trở cho các phương tiện đi lại của chính quyền địa phương, Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai và các phương tiện của dịch vụ
du lịch (Nguyễn Nguyễn Du và ctv., 2019) Do
đó, đề xuất phương án sắp xếp vùng nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An này là rất cần thiết nhằm phát triển nuôi thủy sản lồng bè trên cơ sở khai thác, tận dụng tiềm năng và sử dụng hiệu quả mặt nước hồ thủy điện Trị An nhằm tạo sinh
Trang 2kế và tăng thu nhập cho người dân, góp phần
phát triển du lịch và đáp ứng đa mục tiêu trong
việc sử dụng hồ chứa Phương án sắp xếp vùng
nuôi này là một trong những mục tiêu chính của
Đề án đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt
theo Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày
20/5/2019; và là công việc cần thiết và cấp bách
trong giai đoạn hiện nay, qua đó xác định được
phạm vi và khả năng nuôi trồng thủy sản lồng
bè trên hồ Trị An
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài cá đã và đang
được nuôi trong lồng bè, các hộ dân liên quan và
toàn bộ sinh cảnh thuộc khu vực hồ Trị An
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thu mẫu môi
trường được thực hiện trong vùng quy hoạch
phân khu chức năng dịch vụ hành chánh của hồ
Trị An (Nguyễn Nguyễn Du và ctv., 2019; Quyết
định số 3188/QĐ-UBT, ngày 10/10/2019)
Trong khi khảo sát đánh giá hiện trạng nuôi cá
lồng bè được thực hiện tại tất cả các vùng nuôi
hiện nay trên hồ Trị An Thời gian nghiên cứu
tiến hành từ 5-30/7/2019
Phương pháp nghiên cứu: Tiến hành thu
mẫu để đánh giá các chỉ tiêu liên quan về cơ sở
thức ăn tự nhiên, chất lượng nước và trầm tích
tại 10 điểm đại diện đặc trưng cho từng vùng của
hồ Trị An Thu mẫu phiêu sinh động, thực vật
nổi được thu bằng lưới hình chóp chuyên dụng,
mẫu động vật đáy được thu bằng gàu Perteson,
tất cả các mẫu đều được thu định tính và định
lượng Sử dụng các tài liệu chuyên ngành để
phân tích thủy sinh vật phù du như: Dương Đức
Tiến, Võ Hành (1997); Đặng Ngọc Thanh và
Hồ Thanh Hải (2001); Nguyễn Xuân Quýnh
(2001); Nguyễn Văn Tuyên (2003); Nguyễn
Văn Thường và Trương Quốc Phú (2009) Đồng
thời cũng thu mẫu nước và trầm tích bằng các
dụng cụ chuyên dụng để đánh giá các chỉ tiêu
như: nhiệt độ, độ dẫn điện, TDS, pH, DO, Pb,
As, Zn, Ni, Cr, phenol, xyanua Các mẫu trên
được phân tích tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm Tp Hồ Chí Minh
Thu thập số liệu thứ cấp liên quan từ Sở ban ngành và chính quyền địa phương Bên cạnh đó, tiến hành thu thập số liệu thứ cấp bằng phỏng vấn trực tiếp 200 nông hộ đang nuôi cá lồng bè; lựa chọn hộ để phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng từ danh sách tất cả các hộ nuôi cá và sử dụng phiếu điều tra soạn sẵn để thu thập số liệu
Phân tích đánh giá tổng hợp trên phương diện tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực Tổng hợp các tài liệu thứ cấp, cơ sở pháp lý liên quan từ cấp Trung ương đến cấp địa phương, các đánh giá về điều kiện tự nhiên, điều kiện môi trường, hiện trạng nuôi cá lồng bè và các công nghệ mới, phương pháp GIS, và các dự báo các điều kiện phát triển để phân tích tính toán khả năng đặt bè, vị trí đặt bè, đánh giá loài cá, đối tượng
và hiệu quả kinh tế nuôi cá lồng bè trên hồ Việc
đề xuất phương án sắp xếp số lượng lồng bè, thể tích kích cỡ thì căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Đồng Nai (QĐ 3476/QĐ-UBND, ngày 27/11/2012) và các quy định của ngành nông nghiệp có liên quan như Thông tư 16/2015/TT-BNNPTNT, Nghị định số 26/2019/ NĐ-CP
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phần mềm GIS, Mapinfor và MS Excel được sử dụng để thiết kế, lưu trữ, phân tích dữ liệu và viết báo cáo tổng hợp Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả (số trung bình, độ lêch chuẩn, tần suất xuất hiện…) để phân tích các chỉ số từ điều tra khảo sát và đưa ra các nhận định đánh giá
III KẾT QUẢ 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội (KTXH) liên quan đến phát triển nuôi
cá lồng bè
3.1.1 Điều kiện tự nhiên liên quan đến phát triển nuôi cá lồng bè
a) Đặc điểm thủy văn hồ Trị An
Diện tích hồ Trị An lớn nhất ở cao trình cote 62 vào thời điểm tháng 10 đến tháng 12
Trang 3hàng năm là 32.519 ha với thể tích 2,8 tỷ m2
Diện tích mặt nước nhỏ nhất ở cao trình cote
50 vào thời điểm 30 tháng 6 là khoảng 6.300 ha
với thể tích là 218 triệu m3 nước, mức nước sâu
trung bình 8,5m, chiều dài khoảng 44 km, chiều
rộng 10 km và diện tích lưu vực xấp xỉ 14.800
km2 (Nguyễn Nguyễn Du và ctv., 2019) Diện
tích mặt nước trong hồ biến động qua các tháng
trong năm do lượng nước được cung cấp từ các
sông ở đầu nguồn và do sự điều tiết nước của
Nhà máy thủy điện Trị An
b) Đặc điểm cơ sở thức ăn tự nhiên
Kết quả thu mẫu và phân tích (tháng 7/2019)
về cơ sở thức ăn tự nhiên của hồ Trị An được thể
hiện như sau:
Thực vật nổi: có 119 loài thuộc 6 ngành tảo,
tập trung chủ yếu vào ngành tảo lam (43 loài
chiếm 36,1%), kế đến là ngành tảo lục (38 loài
chiếm 32%), tảo silic (22 loài chiếm 18,5%),
các ngành tảo còn lại chiếm từ 1- 6% tổng số
loài Mật độ tế bào thực vật nổi phân bố không
đồng đều dao động từ 574 - 2.658.497 tế bào/lít
Không thấy xuất hiện các loài tảo độc trong các
mẫu thu được
Động vật nổi: có 47 loài thuộc 6 nhóm loài
Chiếm ưu thế nhất là nhóm Rotifera (Trùng bánh
xe) có 19 loài chiếm 40,4%, nhóm Cladocera
(Giáp xác râu ngành) có 10 loài chiếm 21,3%,
nhóm Copepoda (Giáp xác chân chèo) có 9
loài chiếm 19,2%, Larva (Ấu trùng) có 5 loài,
Protozoa (Động vật nguyên sinh) có 3 loài và
nhóm Ostracoda (Giáp xác có vỏ) 1 loài Mật
độ cá thể dao động từ 600 cá thể/m3 đến 46.000
cá thể/m3, trung bình 12.505 cá thể/m3 Trong đó
tổng mật độ cá thể nhóm Cladocera nhiều nhất,
kế tiếp là Copepoda và Rotifera, các nhóm khác
với mật độ thấp không đáng kể Đây là nguồn
thức ăn tốt và phong phú cho nuôi trồng thủy sản
Động vật đáy: Có 11 loài thuộc 5 lớp, 3
ngành, bao gồm ngành thân mềm (Mollusca),
ngành giun đốt (Annelida) và ngành chân khớp (Arthropoda) Trong đó, ngành thân mềm
có số loài cao nhất với 7 loài, ngành chân khớp với 2 loài và ngành giun đốt với 2 loài Mật độ phân bố dao động từ 20-500 cá thể/m2, sinh khối dao động từ 0,02-383,82 g/m2
c) Đặc điểm chất lượng nước và trầm tích
Kết quả khảo sát và đo đạc các chỉ tiêu chất lượng nước tại các điểm trên hồ Trị An cho thấy những chỉ tiêu chất lượng nước như pH, nhiệt độ (oC), độ dẫn điện (uS/cm), hàm lượng oxy hòa tan DO (mg/L), tổng chất rắn hòa tan trong nước TDS (mg/L) nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT Nhìn chung, chất lượng nước trong thời điểm đo đạc phù hợp cho việc nuôi thủy sản Bên cạnh đó, các chỉ tiêu trầm tích đất tại các điểm thu mẫu trong hồ Trị An căn cứ theo QCVN 43:2017/ BTNMT cho thấy những chỉ tiêu xyanua (CN) vượt quá giới hạn cho phép (<0,1 mg/kg) ở các điểm thu mẫu số 3, 9 và 10; hàm lượng asen (As) đều vượt quá giới hạn cho phép (<17 mg/ kg) ở tất cả các điểm khảo sát, và vượt từ 1,02-3,96 lần ngưỡng cho phép (Bảng 1) Tất cả các mẫu đất và mẫu trầm tích được lấy tại khu vực này có thể liên quan đến ô nhiễm dioxin trước đây Theo tổng hợp đánh giá từ kết quả quan trắc mẫu nước tại các khu vực hồ Trị An trong giai đoạn 2016-2018 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cũng đã cho thấy: i) chất lượng nước: hàm lượng tổng chất rắn lơ lững (TSS), tiêu hao oxy hóa học (COD), Nitrit (N-NO2-) và sắt (Fe) là những yếu tố có giá trị vượt quá giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT; và ii) trầm tích: hàm lượng xyanua và asen luôn vượt quá giới hạn cho phép theo QCVN 43:2017/BTNMT Chất lượng nước và trầm tích tại các vùng nuôi phù hợp với việc cá lồng bè Tuy nhiên, cần quan tâm và chú trọng hơn vào thời điểm nước thấp nhất và giao mùa (mùa khô chuyển sang mùa mưa) đặc biệt là khu vực ở đoạn sông La Ngà
Trang 4Bảng 1 Các chỉ tiêu chất lượng nước tại các điểm trong hồ (tháng 7/2019)
Tóm lại, điều kiện tự nhiên khu vực lòng hồ
Trị An khá thuận lợi cho việc nuôi thủy sản lồng
bè Hồ Trị An có nguồn nước dồi dào được cung
cấp bởi 2 nhánh sông chính là sông La Ngà và
sông Đồng Nai và được điều tiết nước thông qua
sự vận hành các tổ máy của Nhà máy thủy điện
Trị An luôn đảm bảo mức nước trong hồ đạt tối
thiểu 6.300 ha Cơ sở thức ăn tự nhiên của hồ
rất phong phú và đa dạng, là nguồn thức ăn bổ
sung trực tiếp cho các loài cá nuôi Chất lượng
nước trong hồ có số liệu nằm trong giới hạn
cho phép theo quy định QCVN 08-MT: 2015/
BTNMT, phù hợp cho việc nuôi thủy sản Tuy
nhiên, lượng trầm tích có hàm lượng xyanua và
asen có một số điểm đã vượt quá giới hạn cho
phép của QCVN 43:2017/BTNMT
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội liên quan
đến phát triển nuôi cá lồng bè
Về hoạt động sản xuất: Nguồn cung cấp
nước chính cho hồ Trị An là sông Đồng Nai và sông La Ngà, ngoài ra hồ còn tiếp nhận nước thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, trồng lúa vùng bán ngập trong mùa khô, khu vực nuôi lồng bè, các hộ dân nuôi gia súc, gia cầm và nước thải sinh hoạt,… ở khu vực xung quanh hồ
Về điều kiện dân số: Một điều đáng quan
tâm hiện nay, dân số sống tập trung trong vùng
hồ chưa có đăng ký hộ khẩu thường trú rất đông, đây là lượng dân cư là Việt kiều Camphuchia đổ
về sinh sống, họ không đất đai, nhân khẩu trong mỗi hộ từ 4-5 người, họ sống mưu sinh trên hồ thông qua việc khai thác thủy sản và sử dụng nguồn lợi thủy sản khai thác được để nuôi các loài cá lồng bè Đây là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong việc quản lý, sắp xếp các hộ dân trong việc nuôi cá lồng bè trên hồ thời gian qua
Chỉ tiêu
Địa điểm thu mẫu nước
pH
Nhiệt độ (oC)
Độ dẫn (uS/cm)
DO (mg/L)
TDS (mg/L)
CN (mg/kg)
Phenol (mg/kg)
Cr (mg/kg)
Ni (mg/kg)
Zn (mg/kg)
As (mg/kg)
Pb (mg/kg)
7,16 29,70 70,10 6,88 14,85
<MQL KPH 24,31 15,48 14,59 56,24 4,41
7,14 30,10 71,10 6,50 15,05
<MQL KPH 27,97 22,67 23,18 67,34 4,24
7,09 30,20 44,40 7,00 15,10 0,25 KPH 25,24 20,66 24,11 60,35 4,11
7,15 30,20 55,10 6,70 15,10
<MQL KPH 37,55 25,55 15,25 47,88 7,33
7,11 30,50 53,20 7,07 15,25
<MQL KPH 32,44 26,21 16,32 49,22 6,33
7,27 29,40 56,20 6,86 14,70
<MQL KPH 34,28 23,19 14,29 37,88 3,15
7,21 29,40 56,90 6,31 14,70
<MQL KPH 21,56 17,80 8,41 22,46 2,50
7,26 31,00 53,30 7,69 15,50
<MQL KPH 18,73 12,68 9,08 18,14 4,10
7,10 31,00 55,50 5,63 15,50 0,2 KPH 20,15 11,34 9,01 17,35 3,66
7,07 30,90 53,70 6,36 15,45 0,21 KPH 19,77 14,27 8,59 18,01 3,13
Ghi chú: KPH: không phát hiện; MQL: nhỏ hơn giá trị định lượng
Trang 5Bảng 2 Kết quả hiện trạng kỹ thuật nuôi cá lồng bè (Khảo sát 200 hộ nuôi)
Về hạ tầng giao thông nông thôn: Các tuyến
đường xã có chức năng nối kết các khu dân cư
và vùng sản xuất nông nghiệp ra đường huyện,
đường tỉnh và quốc lộ phục vụ cho việc vận
chuyển, đi lại sinh hoạt hàng ngày của người
dân địa phương đã được xây dựng và nâng cấp
trong thời gian qua (có trục chính mặt đường
3,5-5,5 m, lề đường mỗi bên rộng 1-1,5 m, nền
đường 6,5-7,5 m, phần đất bảo trì mỗi bên rộng
1 m, hành lang an toàn mỗi bên 4-9 m, lộ giới
19-29 m) Kết cấu mặt đường láng nhựa, bê
tông xi măng, chất lượng tốt đảm bảo đi lại và
vận chuyển Do vậy, việc tiếp cận đi lại của các
hộ dân lên xuống các lồng bè nuôi cá, bến cá, cơ
sở dịch vụ hậu cần nghề cá (cơ sở kinh doanh
thức ăn, vật tư và thú y thủ sản) tương đối thuận
lợi Nếu được mở rộng nâng cấp nhựa hóa toàn
bộ sẽ là tạo điều kiện tốt cho việc tiếp cận và
thông thương với các vị trí nuôi lồng bè
Tóm lại, điều kiện kinh tế xã hội đã tác
động tương đối lớn đến việc nuôi thủy sản lồng
bè trên hồ Trị An Về mặt tích cực, địa phương
đã đáp ứng tương đối đầy đủ các điều kiện điện,
đường, trường, trạm Tuy nhiên, việc phát triển
kinh tế của tỉnh Đồng Nai đã đầu tư nhiều nhà
máy, xí nghiệp công nghiệp gần khu vực gây
nên những tác động bất lợi cho việc nuôi cá lồng
bè đặc biệt vào thời điểm giao mùa nước kiệt và đầu mùa mưa
3.2 Hiện trạng nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An
3.2.1 Hiện trạng toàn khu vực nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An
Theo số liệu thống kê năm tháng 5/2019 của Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (2019), tại hai huyện Định Quán và Vĩnh Cửu
có 464 hộ hiện đang tham gia nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An, với 537 bè và 2.835 lồng (Bảng 4), có tổng thể tích lồng nuôi 607.816,4 m3 trên 40.152.400 con giống các loại được thả nuôi Hiện nay, có 17 loài cá đang được nuôi tại 8 vùng nuôi thuộc địa bàn 6 xã và 1 thị trấn, trong
đó có 4 loài cá như cá lăng, cá lóc đồng, cá điêu hồng và cá nàng hai hay còn được người dân địa phương gọi là cá còm/thát lát còm được nuôi ở hầu hết ở các xã và thị trấn Những loài cá khác còn lại phân bố không rộng rãi chỉ tập trung ở một vài xã nhất định như cá mè, cá leo, cá trê,
cá tra chỉ thả nuôi ở huyện Định Quán, trong khi cá trắm cỏ, cá rô phi, cá chạch lấu, cá chình,
cá koi, cá trôi chỉ thấy nuôi ở một số xã thuộc huyện Vĩnh Cửu
Loài cá
nuôi
Thời gian nuôi (tháng) Mật độ (con/m 3 )
Hệ số FCR
TLS (%) Năng suất (kg/m 3 )
Cá lăng
Cá chép
Cá điêu hồng
Cá lóc bông
Cá lóc đồng
Cá mè
Cá nàng hai
Cá trắm cỏ
17 ± 5,38
5 ± 2,96
4 ± 2,96
6 ± 3,63
5 ± 3,66
6 ± 3,5
8 ± 4,5
11 ± 2,12
39,56 ± 67,99 55,83 ± 31,65 110,1 ± 151,22 150,99 ± 167,14 125,51 ± 129,94 5,96 ± 9,47 57,416 ± 67,4 24,18 ± 32,10
4,08 ± 0,91 2,21 ± 0,12 2,88 ± 1,02 2,91 ± 0,56 3,46 ± 0,83 3,98 ± 0,85 5,95 ± 5,48 3,33 ± 0,58
42 ± 3
74 ± 49
24 ± 18
93 ± 9
39 ± 29
32 ± 17
54 ± 56
47 ± 38
25,17 ±
33,91 39,73 ± 0 22,7 ± 31,45 81,79 ± 69,79 29,00 ± 22,63 4,52 ± 5,13 37,40 ± 49,74
Trang 63.2.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá lồng bè
trên hồ Trị An
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các loài
cá được nuôi có mật độ thả khá cao, cụ thể cá
điêu hồng (110,10 con/m3), cá lăng (39,56 con/
m3 ), và cá nàng hai (57,416±67,4 con/m3) Hệ
số chuyển đổi thức ăn (FCR) cho từng đối tượng
rất cao và dao động từ 2-6, do sử dụng thức ăn
tự chế biến làm chính Tỷ lệ sống (TLS) của các
loài cá nuôi rất thấp, những loài cá nuôi có tỷ
lệ sống trên 50% chỉ chiếm 37,5% số hộ khảo
sát Bên cạnh đó, năng suất nuôi của các loài cá
cũng rất thấp, với năng suất trung bình của tất
cả các loài thì khoảng 31,07 kg/m3/vụ (Bảng 2)
Nhìn chung, các chỉ tiêu kỹ thuật nuôi đều còn
chưa hiệu quả so với loại hình nuôi thủy sản
hồ chứa như ở Quảng Nam (Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Quảng Nam, 2015)
Về chi phí sản xuất, kết quả điều tra cho thấy cá lóc bông có chi phí cao nhất và thấp nhất
là cá mè Với 4 đối tượng nuôi chính có giá trị kinh tế (cá lăng, cá điêu hồng, cá lóc và cá nàng hai/còm) có số lượng lồng bè chiếm tỷ trọng lớn, thì chi phí đầu tư chính cho nuôi cá vẫn
là chi phí thức ăn, tiếp đến là chi phí mua con giống và chi phí tu sửa lồng bè Về lợi nhuận, thì cá trắm cỏ có lợi nhuận cao nhất, và thấp nhất là cá mè Trong bốn đối tượng chính thì cá lăng cho lợi nhuận cao nhất, tiếp đến là cá nàng hai/còm, cá lóc đồng và cá điêu hồng (Bảng 3)
Bảng 3 Chi phí và cơ cấu chi phí cho các loài cá khác nhau
Chi phí (triệu đồng/m 3 )
Sửa chữa Thuê LĐ giống Con Thức ăn khác Chi
Lợi nhuận (triệu đồng/m 3 )
Tổng thu (triệu đồng/m 3 ) Loài cá
Cá lăng
Cá chép
Cá điêu hồng
Cá lóc bông
Cá lóc đồng
Cá mè
Cá nàng hai
Cá trắm cỏ
0,69±1,05 0,79±1,14 1,24±3,39 2,37±2,44 0,53±0,52 0,04±0,04 0,84±1,16 0,33±0,36
2,24±3,18 2,04±2,20 0,81±1,19 3,82±3,07 1,44±1,14 0,06±0,06 2,02±3,01 1,77±2,98
1,70±3,07 1,25±1,70 0,61±0,98 1,45±1,32 1,11±1,02 0,02±0,04 1,40±2,68 2,26±3,13
24 39 15 22 30 33 17 16
0 2 1 0 0 0 2 34
22 11 23 14 21 25 18 10
44 42 61 32 37 22 48 37
10 6 1 32 12 21 14 13
Cơ cấu chi phí (%/tổng chi phí)
3.3 Đề xuất phương án sắp xếp vùng
nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An
3.3.1 Đề xuất vùng dự kiến sắp xếp, quản
lý vùng nuôi cá lồng bè
Quan điểm phát triển nuôi thủy sản trên hồ
Trị An là phải phù hợp với chiến lược phát triển
thủy sản Việt Nam đến năm 2020, quy hoạch
tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Đồng
Nai giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến
năm 2020, và các quy định về phát triển nuôi cá
lồng bè theo Luật Thủy sản; đồng thời nuôi thủy
sản phải đảm bảo tính liên ngành, liên vùng và
hài hòa lợi ích với các ngành kinh tế khác Căn
cứ vào quy hoạch phân khu chức năng dịch vụ hành chánh của hồ Trị An (Nguyễn Nguyễn Du
và ctv., 2019; Quyết định số 3188/QĐ-UBT Đồng Nai, ngày 10/10/2019) và số liệu bản đồ GIS tại mức nước thấp nhất của hồ Trị An, vùng
dự kiến đề xuất sắp xếp để nuôi cá lồng bè trên
hồ Trị An được trình bày trong Bảng 4 và Bản
đồ 1 Vùng đề xuất có tổng chiều dài của bờ sông, hồ ở mức nước thấp nhất là 34.186 m, và được chia thành 8 vùng nuôi, với chiều rộng dao động 40-1.200 m
Trang 7Bảng 4 Các thông số chính của phương án đề xuất sắp xếp vùng nuôi cá bè trên hồ
Trị An tại mức nước thấp nhất
Bản đồ 1 Bản đồ sắp xếp vùng nuôi thủy sản lồng bè trên hồ Trị An
Khu vực
nuôi cá
Chiều dài bờ (m)
Khoảng cách chiều rộng (m)
Số lượng bè
Số lượng lồng
Số cụm
bè khi xếp song song
1 KV TT Vĩnh An
2 KV TT Mã Đà
3 KV Suối Tượng
4 KV Phú Lý
5 KV Sa Mách
6 Đoạn sông Đồng Nai
7 Đoạn sông La Ngà
8 KV Hồ
2.610 2.930 1.640 900 1.550 3.800 4.256 16.500
34.186
660-770 40-400 50-210 1.200 40-130 50-120 80-100 170-170
40-1.200
37 50 47 8 14 38 341 2
537
132 400 53 13 6 80 2.151 0
2.835
48 52 32 16 28 68 78 296
618
11 2 -15 8 14 30 -263 294
81
96 104 64 32 56 136 156 592
1.236
-36 -296 11 19 50 56 -1.995 592
-1.599
Số bè
dư so với hiện trạng
Số lồng sắp xếp kèm theo bè
Số lồng
dư so với hiện trạng
TỔNG CỘNG
Trang 83.3.2 Tính toán các chỉ số cho phương án
đề xuất quản lý, sắp xếp vùng nuôi cá lồng bè
Theo rà soát, tính toán so sánh số liệu hiện
trạng (số lồng, số bè) so với quy hoạch tổng thể
phát triển thủy sản tỉnh Đồng Nai đến năm 2020
(Lê Đức Liêm và ctv., 2012) và so với quy định
trong QCVN 02-22:2015/BNNPTNT thì mật
độ lồng bè cần phải giảm tổng thể tích lồng bè
Đồng thời, hiện nay chỉ có khu vực đoạn sông
La Ngà (4,25 km) và đoạn sông Đồng Nai (3,80
km) là có thể quy vào khu vực nước chảy, trong
khi 6 khu vực nuôi còn lại là khu vực nước tĩnh
trong thời gian mức nước hồ thấp nhất Do vậy,
chúng tôi đề xuất phương án sắp xếp mật độ
lồng bè thành từng cụm lồng bè (mỗi cụm sẽ có
2 bè và 4 lồng), và tổng mật độ bè và lồng chiếm
0,121% diện tích mặt nước hồ lúc mực nước
thấp nhất là phù hợp Việc sắp xếp mật độ lồng
bè như đề xuất nhằm tránh xáo trộn nhiều cuộc
sống của người dân (do đa số các hộ sống và
sinh hoạt trên bè), vừa có thể đáp ứng tuân thủ
theo QCVN 02-22:2015/BNNPTNT, giảm tổng
thể tích lồng bè hiện nay do mật độ quá dày so
với Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh
Đồng Nai đến năm 2020 (QĐ 3476/QĐ-UBND,
ngày 27/11/2012), và cũng đảm bảo triển khai
và thực hành các chính sách hỗ trợ các gia đình
diện chính sách và neo đơn tại địa phương
Phương án đề xuất có một số đặc điểm chính:
1) Đảm bảo khoảng cách giữa hai cụm bè
sắp nối đuôi nhau là 200 m
2) Khoảng cách giữa hai cụm bè xếp song
song hoặc xếp so le là 10 m
3) Mỗi cụm bè có 2 bè và 4 lồng nuôi
cá; chiều dài 1 cụm là 25,64 m và diện tích là
247,58 m2/cụm
4) Đảm bảo lộ giới giao thông thủy: chừa
đường giao thông thủy tối thiểu là 50 m
5) Đảm bảo lộ giới đường bộ, thủy: cách
cầu ít nhất là 150 m; cách bến phà, cầu phao ít
nhất là 150 m ra mỗi phía; và cách kè bảo vệ
đường bộ 20 m
6) Tổng diện tích lồng bè chiếm 0,121%
diện tích mặt nước lúc mức nước thấp nhất
7) Đảm bảo an toàn trong vận hành đập thủy điện: cách chân đập ít nhất là 1,5 km Nếu thực hiện theo phương án đề xuất thì
số lượng bè hiện nay vẫn duy trì và có thể tăng thêm 81 bè, tuy nhiên với quan điểm là không tăng thêm bè mà cần đầu tư nâng cấp bè để đáp ứng yêu cẩu cơ sở đủ điều kiện nuôi lồng
bè theo Nghị định số 26/2019/NĐ-CP (Bảng 4) Với phương án đề xuất, thì số lồng dôi dư không được tiếp tục nuôi cá 1.599 lồng Với phương án đề xuất, các khu vực nuôi đều phải thực hiện việc sắp xếp lại lồng bè để đảm bảo tuân thủ QCVN 02-22:2015/BNNPTNT Khu vực nuôi cá bè thuộc đoạn sông La Ngà là nơi
có số lượng bè và lồng dôi dư nhiều thuộc diện phải giải toả bớt một phần và di dời về khu vực
hồ (nơi có tiềm năng và khả năng phát triển nuôi lồng bè)
3.3.3 Bố trí sắp xếp vị trí đặt cụm bè trong phương án đề xuất
Hiện nay, kết cấu bè và lồng từ kiểm kê và điều tra thực tế có các thông số trung bình như sau: bè (8,0 x 4,4 x 2,3 m), lồng (8,8 x 5,0 x 3,3 m) Về lâu dài, thì kết cấu thiết kế bè và lồng phải bắt buộc tuân thủ Nghị định số 26/2019/ NĐ-CP, và quy định trong QCVN 02-22:2015/ BNNPTNT Tuy nhiên, trước mắt vẫn tiếp tục duy trì như hiện trạng về kết cấu lồng bè để giảm bớt đầu tư mới cho người dân, nhưng phải yêu cầu họ sửa chữa để sử dụng; và sẽ phải đầu
tư mới khi hết khấu hao lồng bè theo 02 quy định nêu trên
Việc chọn vị trí đặt cụm bè cần phải xem xét và lựa chọn cho phù hợp, và cần chú ý lựa chọn vị trí như sau:
- Tránh nơi tiếp nhận nước thải của các
cơ sở sản xuất - kinh doanh, chăn nuôi, dịch vụ
- Không được đặt tại cống xả của Công ty
cổ phần Mía đường La Ngà, Công ty TNHH AB Mauri Việt Nam
- Đảm bảo lộ giới, hành lang an toàn theo Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010
về việc: Quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, và Nghị định số 64/2016/
Trang 9NĐ-CP ngày 01/7/2016 về việc: Sửa đổi, bổ
sung một số điều của NĐ 11/210/NĐ-CP ngày
24/2/2010
- Đảm bảo lộ giới giao thông thủy theo
Thông tư 46/2016/TT-BGTVT, ngày 29/12/2016
của Bộ GTVT về việc: Quy định cấp kỹ thuật
đường thủy nội
- Tuân thủ theo quy định về vị trí đặt lồng
bè trong QCVN 02-22:2015/BNNPTNT
- Đảm bảo an toàn trong vận hành đập
thủy điện: cách chân đập ít nhất là 1,5 km
- Tránh vị trí lấy mẫu đánh giá sự bồi lắng lòng hồ Trị An của Công ty Thủy Điện Trị An
Bố trí sắp xếp đặt bè của phương án đề xuất theo 2 dạng như mô tả trong Hình 1 Đồng thời, cắm mốc theo các tọa độ vị trí cho từng vùng nuôi lựa chọn; và đề xuất sử dụng các phao nổi
để cắm mốc tạo luồng cho đường thủy, tạo chỉ giới hành lang an toàn cho đường thủy, công trình thủy điện và công trình thủy lợi khi sắp xếp lồng bè ở từng vùng nuôi
Hình 1 Bố trí sắp xếp các cụm bè theo phương án đề xuất.
[Hình (a) Sắp xếp so le cùng 1 bên bờ sông/hồ; và Hình (b) Sắp xếp song song 2 bên bờ sông]
Trang 103.4 Đề xuất các dự án ưu tiên để thực
hiện phương án sắp xếp
Để thực hiện phương án đề xuất và đạt
được mục tiêu đề ra thì cần tập trung đầu tư cho
một số dự án ưu tiên như trình bày trong Bảng
5 Khái toán nhu cầu vốn thực hiện các dự án ưu
tiên là 22,65 tỷ đồng; trong đó, nguồn ngân sách
nhà nước đề nghị cấp là 18,09 tỷ đồng (chủ yếu
chi cho đầu tư cơ sở hạ tầng; hỗ trợ sắp xếp, di
dời và giải tỏa; hỗ trợ một phần để làm các mô hình; và hỗ trợ công tác nghiên cứu phục vụ các
mô hình), nguồn đối ứng của người dân là 4,55
tỷ đồng (chủ yếu là chi phí thực hiện mô hình tại hộ dân để nuôi cá lồng bè; do không thu hồi sản phẩm (cá nuôi) vì vậy khi thực hiện các mô hình có tính chất cải tiến cần tác động kỹ thuật thì người dân cũng phải bỏ đối ứng)
Bảng 5 Khái toán nhu cầu vốn thực hiện các dự án ưu tiên cho phương
án đề xuất
Dự án Sắp xếp lại vùng nuôi bè, di dời và giải tỏa số bè và
lồng nuôi cá dôi dư trên hồ Trị An
Dự án Thiết lập hệ thống quan trắc cảnh báo môi trường
nước tự động tại vùng nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An
Dự án Xây dựng và triển khai dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho
Khu vực Hồ trên hồ Trị An
Dự án Xây dựng và triển khai các mô hình nuôi cá bè cải
thiện năng suất và hiệu quả sản xuất tại vùng nuôi cá lồng bè
trên hồ Trị An
Dự án Xây dựng mô hình và áp dụng vùng nuôi theo
VietGAP tại vùng nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An
Dự án Xây dựng mô hình nuôi lồng bè theo THT và HTX
gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại vùng nuôi cá lồng bè
trên hồ Trị An
Dự án Bồi dưỡng, đào tạo tăng cường nguồn nhân lực cho
cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật phục vụ cho nuôi cá
Dự án Thí điểm bảo hiểm cho nuôi cá lồng bè tại vùng nuôi
cá lồng bè trên hồ Trị An
Dự án
Tổng cộng
Tổng kinh phí
(1.000 đ)
Tên nhiệm vụ
1
2
3
4
5
6
7
8
2.492.400
1.110.000
7.990.000
3.490.000
4.490.000
1.500.000
580.000
1.000.000
22.652.400