1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long

13 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Đinh Thị Thủy, Nguyễn Thành Nhân, Đoàn Văn Cường, Nguyễn Diễm Thư
Trường học Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2016
Thành phố Tiền Giang
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đã thực hiện 2 nghiệm thức (NT) ương cá tra từ giai đoạn bột lên hương với thời gian ương 21 ngày, mỗi NT thực hiện 6 ao, mỗi ao có diện tích từ 3.500 đến 3.700 m2 , địa điểm tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mật độ thả bột 750 con/m2 và tất cả các yếu tố kỹ thuật ương của 2 NT đều như nhau, chỉ khác nhau ở NT 1 có cung cấp thổi khí và NT 2 thì không.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG THỔI KHÍ

TRONG ƯƠNG CÁ TRA TỪ BỘT LÊN HƯƠNG Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

Đinh Thị Thủy1*, Nguyễn Thành Nhân1, Đoàn Văn Cường1, Nguyễn Diễm Thư1

TÓM TẮT

Nghiên cứu đã thực hiện 2 nghiệm thức (NT) ương cá tra từ giai đoạn bột lên hương với thời gian ương 21 ngày, mỗi NT thực hiện 6 ao, mỗi ao có diện tích từ 3.500 đến 3.700 m 2 , địa điểm tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Mật độ thả bột 750 con/m 2 và tất cả các yếu tố kỹ thuật ương của 2 NT đều như nhau, chỉ khác nhau ở NT 1 có cung cấp thổi khí và NT 2 thì không Hệ thống thổi khí được thiết kế với lượng khí thổi ra từ các đĩa hình tròn, hoạt động qua máy thổi khí và khoảng cách lắp

đặt được tính toán nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng Kết quả ghi nhận lượng Moina sp trong ao giai đoạn 12 ngày đầu ở NT 1 cao hơn ở NT 2, sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); và lượng Moina

sp ở cả hai NT đạt cao nhất ở ngày 3 và giảm dần đến ngày 12 Tăng trưởng chiều dài của cá NT

1 có kết quả tốt hơn NT 2, cá bột khi mới thả có chiều dài trung bình từ 5,85 đến 6,30 mm, sau 21

ngày, chiều dài cá đạt 27,7 mm (NT 2) và 37,0 mm (NT 1), sai khác có ý nghĩa thống kê p<0,05

Các yếu tố thủy lý hóa như nhiệt độ nước, pH, độ kiềm, NH3-N, NO2-N, NO3-N và COD của nước

ao ở 2 NT đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá; riêng hàm lượng oxy hòa tan (DO) sáng ở NT 2 thấp hơn NT 1 và thấp hơn ngưỡng thích hợp cho cá phát triển, DO sáng ở NT 2 dao động từ 2,95 đến 4,80 mg/l, ở NT 1 dao động từ 4,6 đến 6,25 mg/l, sai khác có ý nghĩa thống

kê (p<0,05), trừ các ngày ương thứ 5, 6 và 16 Cá nuôi ở NT 1 có tần suất và tỷ lệ nhiễm trùng bánh

xe (Trichodina sp.) và tần suất nhiễm vi khuẩn A hydrophyla thấp hơn cá nuôi ở NT 2, sai khác có

ý nghĩa thống kê (p<0,05); cường độ nhiễm Trichodina sp của cá ở NT 1 ở mức (+), trong khi ở

NT 2 nhiễm cả hai mức (+) và (++) Tỷ lệ sống trung bình của cá ở NT 1 (37,17%) cao hơn NT 2

(22,82%), sai khác có ý nghĩa thống kê p <0,05 và chỉ số FCR dao động từ 0,36 đến 0,39

Từ khóa: ương cá tra, hệ thống thổi khí.

1 Trung Tâm Quan Trắc Môi Trường & Bệnh Thủy Sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2

* Email: thuydinh6898@gmail.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, cá tra là một

trong những đối tượng nước ngọt được nuôi chủ

lực ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Vì vậy,

nhu cầu cung cấp cá tra giống đảm bảo đủ về số

lượng và có chất lượng tốt được đặt lên hàng đầu

Thực tế cho thấy với tình hình ương cá tra giống

hiện nay ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn

nhiều bất cập, cá giống có tỷ lệ sống thấp, dịch

bệnh xảy ra thường xuyên, chất lượng con giống

không đảm bảo để đáp ứng tốt cho nhu cầu thực

tế sản xuất trong nuôi cá tra thương phẩm Theo

Xuân và ctv., (1994), một trong những lý do

cá ương có tỷ lệ sống thấp và chất lượng con giống không đảm bảo là môi trường nuôi chưa đáp ứng đúng cho sự sinh trưởng của cá, hàm lượng oxy hòa tan không đảm bảo và các yếu tố môi trường khác như NH3, NO2, pH, v.v biến thiên lớn Tỷ lệ sống và sự sinh trưởng của cá còn bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng Đi đôi với vấn đề dinh dưỡng, ảnh hưởng của mật độ thả đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá trong quá trình ương nuôi cá giống cũng không kém phần quan trọng Các nghiên cứu trước đã

Trang 2

chứng minh rằng mật độ thả có liên quan đến

tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá (Sahoo

và ctv., 2004; Rahman và ctv., 2005, Schram và

ctv., 2006)

Trước tình hình đó, đề tài „Nghiên cứu các

giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sống và chất

lượng cá tra từ bột lên giống ở Đồng bằng sông

Cửu Long” được hình thành và đã được thực

hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2015

Dựa vào đặc tính sinh học, nhu cầu và sự

phát triển khác nhau của cá theo từng lứa tuổi,

quá trình ương cá tra từ bột lên giống được phân

làm hai giai đoạn, giai đoạn ương từ bột lên

hương và từ hương lên giống Đối với giai đoạn

ương từ bột lên hương 21 ngày tuổi, việc cải tiến

các yếu tố kỹ thuật đã được nghiên cứu và thực

hiện với mục đích nhằm nâng cao tỷ lệ sống và

chất lượng cá hương để phục vụ tốt cho giai

đoạn ương tiếp theo từ hương lên giống Các cải

tiến kỹ thuật đã được nghiên cứu và áp dụng từ

quy mô thực nghiệm đến quy mô sản xuất gồm

các yếu tố kỹ thuật về dinh dưỡng, môi trường

và giám sát bệnh, v.v nhằm giải quyết các vấn

đề ô nhiễm hữu cơ, tạo môi trường nước tốt,

nâng cao sức tăng trưởng, tăng cường sức đề

kháng và khả năng phòng bệnh cho cá Sử dụng

hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ giai đoạn

bột lên hương là một trong những cải tiến được

thực hiện trong đề tài này

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu là cá tra (Pangasianodon

hypophthalmus) giai đoạn bột lên hương, với cỡ

cá tra bột từ 1.000 đến 1.050 con/ml

2.2 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu thực hiện từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2014 với 2 nghiệm thức, ng-hiệm thức 1 có cung cấp thổi khí và ngng-hiệm thức 2 không cung cấp thổi khí Mỗi nghiệm thức bố trí 6 ao; mỗi ao có diện tích từ 3.500 đến 3.700m2 Mật độ thả là 750 con/m2, được thực hiện tại xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Nguồn giống và các điều kiện ương nuôi khác của 2 nghiệm thức

là như nhau

2.2.2 Kỹ thuật sàng lọc cá bột

Đánh giá cảm quan ngoại hình qua hoạt động bơi lội đều xung quanh ao, không tụ tập dưới đáy ao; có tỷ lệ dị hình thấp, có kích cỡ đồng đều

2.2.3 Hệ thống thổi khí và kỹ thuật thổi khí

Hệ thống thổi khí được sử dụng bằng máy thổi khí, hoạt động bằng điện Các đĩa cung cấp khí hình tròn, có đường kính 27 cm; hệ thống được nối từ đầu ra của máy đến các đĩa khí bằng ống nhựa PVC với các cỡ đường kính tương ứng Khoảng cách giữa các đĩa thổi khí

là 4 m Lượng khí thổi từ xung quanh mỗi đĩa tỏa ra với bán kính là 2 m Từ ngày ương 1 đến hết ngày ương 2, thổi khí liên tục 24 giờ

Từ ngày ương 3 đến ngày ương 21, thổi khí 6 giờ/ ngày từ 4 giờ đến 10 giờ Tuy nhiên, khi điều kiện thời tiết bất lợi hoặc khi lượng oxy hòa tan nhỏ hơn 3 mg/l thì tiến hành bổ sung thổi khí Hệ thống thổi khí được lắp ráp như Hình 1

Trang 3

Hình 1 Bảng vẽ lắp ráp hệ thống thổi khí

2.2.4 Kỹ thuật kiểm soát thức ăn tự

nhiên trong ao

Thức ăn tự nhiên trong ao được đếm từ ngày

ương 1 đến ngày ương 12 Dùng lưới thu mẫu

sinh vật phù du, lấy 10 lít nước tại 3 vị trí trong

ao đổ qua lưới vớt động vật phù du để lọc mẫu

Định loại động vật phù du bằng phương pháp

hình thái, xác định mật độ động vật phù du bằng

buồng đếm động vật phù du Mật độ (con/ml)=

(A*V2)/V1*V trong đó A là số lượng động vật

phù du đếm được trong buồng đếm, V1 là thể

tích mẫu đã đếm(ml), V2 thể tích mẫu đã cô đặc

(ml), V là thể tích nước thoát qua lưới lọc (L)

2.2.5 Cách tính hệ số chuyển đổi thức ăn

(FCR: Feed conversion ratio)

Hệ số FCR là tỷ lệ giữa tổng lượng thức ăn

cho cá ăn và tổng trọng lượng cá thu hoạch được

trên một đơn vị diện tích

2.2.6 Tính tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống được tính bằng tổng số cá thu x

100%/ Tổng số cá thả

2.2.7 Phương pháp phân tích và định

danh vi khuẩn

Cá được thu nguyên con, mỗi mẫu từ 10

đến 20 con; nghiền và cấy vào môi trường thạch

máu, sử dụng test kit API 20E để test sinh hóa

và định danh vi khuẩn theo khóa phân loại của

John và ctv., (1994).

2.2.8 Phương pháp phân tích, định danh

ký sinh trùng và nấm

Cá được thu nguyên con, mỗi mẫu từ 10 đến 20 con; tổng thể bên ngoài cá gồm vây, gốc vây, da, mắt, v.v và các bộ phận bên trong như dịch nhớt, nội tạng gan, thận, ruột, v.v được soi tươi qua kính hiển vi soi nổi và quang học Đinh loại ký sinh trùng theo khóa phân loại của Schell (1985) Phân lập và làm thuần nấm bằng cách cấy mẫu trên môi trường SAB và ủ ở nhiệt

độ phòng 3 đến 5 ngày, sau đó chuyển sang môi trường PGYA để làm thuần Cấy vào hạt bắp trong nước cất vô trùng, ủ sau 24 giờ ở nhiệt độ phòng, quan sát dưới kính hiển vi và định danh

dựa theo khóa phân loại của Johnson và ctv.,

(2002)

2.2.9 Phương pháp phân tích các yếu tố môi trường

Các yếu tố thủy lý hóa được theo dõi và đo đạc là oxy hòa tan (DO), pH, nhiệt độ nước, độ kiềm, NH3, NO2, NO3 và COD Các yếu tố DO,

pH, nhiệt độ nước đo 2 lần/ ngày, từ 6 đến 7 giờ sáng và từ 4 đến 5 giờ chiều Các yếu tố còn lại

Trang 4

được thu và đo mỗi tuần 1 lần Chỉ tiêu DO đo

bằng máy đo oxy cầm tay; đo pH bằng máy đo

pH cầm tay; nhiết kế đo nhiệt độ nước; độ kiềm

đo bằng phương pháp chuẩn độ Các chỉ tiêu

NH3, NO2, NO3 và COD được đo theo phương

pháp phân tích theo tiêu chuẩn của Boyd và

Tucker (1992) và Clescerl và ctv., (2005).

2.2.10 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được phân tích và xử lý bằng

phần mềm Exel phiên bản 2007 và phần

mềm SPSS 19.0

III KẾT QUẢ

Trong quá trình ương cá tra từ giai đoạn

bột lên hương (21 ngày), chúng tôi đã thực

hiện cải tiến một số các giải pháp kỹ thuật

nhằm đạt hiệu quả cao về tỷ lệ sống và đảm

bảo chất lượng cá tra để thực hiện ương ở

giai đoạn tiếp theo Các giải pháp kỹ thuật đã

được cải tiến như (i) Hạn chế sự hiện diện của

ấu trùng chuồn chuồn, bọ gạo, bắp cày bằng

cách thực hiện lấy nước vào ban đêm để hạn

chế việc đẻ trứng của địch hại; khi nước được

lấy vào thì dùng sản phẩm có tính chất chuyên

biệt đủ mạnh để diệt được trứng của các

loài chuồn chuồn, bọ gạo, bắp cày; rút ngắn

khoảng cách thời gian giữa giai đoạn lấy nước

vào và giai đoạn thả bột; che chắn, rào lưới ao

nuôi với mắc lưới thích hợp; dùng váng dầu

hôi kéo trên mặt ao (trường hợp có nghi ngờ

ao ương có xuất hiện ấu trùng chuồn chuồn,

bọ gạo, bắp cày); (ii) Giải pháp đảm bảo nhu

cầu oxy hòa tan (DO) bằng cách gắn hệ thống

thổi khí; (iii) Giải pháp ổn định điều kiện các

yếu tố thủy lý hóa (độ kiềm, NH3, pH, v.v

bằng cách tiến hành xi phông nền đáy định kỳ

hàng tuần (hoặc hai tuần tùy theo mức độ tích

tụ cặn bã của đáy ao ương) là một trong những

giải pháp giúp hạ thấp hàm lượng NH3 trong

nước Thực hiện nâng độ kiềm bằng giải pháp dùng vôi Dolomite (thành phần gồm CaCO3: 30%, MgCO3:20% và P2O5: 1%), liều dùng tùy thuộc vào pH của đất và của nước, và tùy thuộc vào chỉ số giảm của độ kiềm; (iv) Cải tiến các yếu tố kỹ thuật dinh dưỡng bằng cách tìm nguồn dinh dưỡng thích hợp để gây ương

Moina sp trong ao đủ để cung cấp cho cá bột

trong giai đoạn tuổi nhỏ và chú ý đến khẩu phần ăn đảm bảo chất lượng và số lượng Tất

cả các biện pháp kỹ thuật đều thực hiện như nhau ở 2 nghiệm thức; một điểm khác nhau được đánh giá trong bài báo này là so sánh hiệu quả đạt được giữa nghiệm thức có cung cấp thổi khí và nghiệm thức không cung cấp thổi khí Hiệu quả đạt được sẽ đánh giá thông qua kết quả khảo sát lượng thức thức ăn tự

nhiên (Moina sp.) trong ao giai đoạn 12 ngày

đầu; diễn biến của các yếu tố thủy lý hóa nước

ao nuôi; tình trạng sức khỏe cá nuôi, sự tăng trưởng về chiều dài của cá và tỷ lệ sống của

cá sau 21 ngày

3.1 Lượng thức ăn tự nhiên (Moina sp.)

trong ao giai đoạn 12 ngày đầu

Các loài thuộc nhóm Zooplankton được xem là nguồn thức ăn trong ương nuôi cá giống

ở giai đoạn đầu, sau khi tiêu thụ hết noãn hoàng

và bắt đầu tập ăn Đối với cá tra, Moina sp được

xem là nguồn thức ăn quan trọng trong giai đoạn 12 ngày đầu, bên cạnh các nguồn thức ăn

bổ sung khác như bột sữa, thức ăn công nghiệp dạng bột mịn và mảnh với 40% độ đạm Kết

quả ở hình 2 cho thấy lượng Moina sp trong

nước ao có chiều hướng tăng cao đến ngày thứ

3 và sau đó giảm dần đến ngày thứ 12 và lượng này ở nghiệm thức có thổi khí luôn cao hơn ở nghiệm thức không có thổi khí, sai khác có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05) trừ các ngày thứ 1,

4, 5 và 12

Trang 5

Hình 2 Diễn biến lượng Moina sp trong ao giai đoạn 12 ngày đầu

3.2 Tăng trưởng chiều dài của cá

Hình 3 Chiều dài cá trong giai đoạn ương 21 ngày Tăng trưởng cá được đánh giá bởi chiều dài

cá; ở ngày thứ nhất, chiều dài cá ở 2 nghiệm

thức là như nhau, dao động từ 5,85 đến 6,30

mm Ở các ngày ương thứ 7, 14 và 21, chiều dài

cá ở nghiệm thức có thổi khí luôn cao hơn chiều

dài cá ở nghiệm thức không thổi khí, sai khác có

ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Hình 3).

3.3 Các yếu tố thủy lý hóa của nước ao

nuôi

Các nghiệm thức được bố trí vào tháng

5 và 6, đây là thời điểm mùa khô ở vùng

ĐBSCL và là mùa thuận cho việc ương nuôi

cá Nhiệt độ nước buổi sáng dao động từ

27,85 đến 29,10oC, nhiệt độ chiều từ 31,20 đến 32,45oC (Hình 4), các giá trị này đều nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển Theo Boyd (1998) khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá nhiệt đới từ

28 đến 32oC Dương Thúy Yên (2003) đã chỉ

ra khoảng nhiệt độ thích hợp cho cá tra ở Việt

Nam (P hypophthalmus) từ 16,7 đến 40,8oC Nếu môi trường nước ao có nhiệt độ thích hợp với thân nhiệt của cá thì cá sẽ có tăng trưởng nhanh, vì thế, việc giữ được ổn định nhiệt độ nước ao nuôi nằm trong ngưỡng thích hợp cho

cá là điều hết sức cần thiết

Trang 6

Hình 4 Nhiệt độ nước ao nuôi Giá trị pH sáng, chiều dao động từ 7,35

đến 8,85 (Hình 5); độ kiềm nằm trong khoảng

từ 70,0 đến 104,5 mg/l (Hình 6) pH là một

trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng

lớn trực tiếp và gián tiếp đến sự sinh trưởng,

tỉ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng của vật

nuôi thủy sản Swingle (1969) cho rằng, giá trị pH từ 6,5 đến 9,0 là thích hợp cho các loài tôm, cá pH thích hợp cho nhóm cá da trơn từ 6,5 đến 9,0; nếu pH từ 9,0 đến 11,0 sẽ dễ gây stress cho cá; và nếu pH lớn hơn 11 sẽ gây chết cá

Hình 5 Giá trị pH nước ao nuôi

Hình 6 Độ kiềm (mg/l)

Trang 7

Hàm lượng oxy hòa tan (DO) buổi chiều ở 2

nghiệm thức có và không có thổi khí nằm trong

khoảng từ 4,75 đến 7,40 mg/l Có sự khác biệt

của giá trị DO sáng; DO sáng ở nghiệm thức

không thổi khí dao động từ 2,95 đến 4,80 mg/l

và DO sáng ở nghiệm thức thổi khí dao động từ 4,6 đến 6,25 mg/l, sai khác có ý nghĩa thống kê

(p < 0,05) ở tất cả các ngày nuôi, trừ các ngày

thứ 5, 6 và 16 (Hình 7)

Hình 7 Hàm lượng oxy hòa tan (mg/l) Hàm lượng NH3-N ở 2 nghiệm thức có

giá trị từ 0,013 đến 0,023 mg/l (Bảng 1) Theo

Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út (2006) thì

hàm lượng NH3-N gây độc đối với cá từ 0,6 đến

2 mg/l Cá có thể chịu đựng được 0,01 đến 0,05

mg/l (NH3-N) nếu lượng oxy hòa tan và nhiệt độ

nước nằm trong khoảng thích hợp

Theo Trương Quốc Phú (2000) thì hàm

lượng NO2-N cho phép trong các ao nuôi cá là

từ 0,01 đến 1 mg/l; nồng độ thích hợp nhất từ

0,01 đến 0,1 mg/l (Lê Như Xuân và ctv.,1994)

Lượng NO2-N của các nghiệm thức trong nghiên

cứu này có giá trị nhỏ hơn 0,1 mg/l (Bảng 1);

như vậy hàm lượng này nằm trong khoảng giá

trị thích hợp

Quá trình nitrate hóa cần oxy để oxy hóa

amonia (amoniac và amonium) thành nitrite

(sản phẩm trung gian) và tiếp tục sử dụng

oxy đề oxy hóa NO2-N (nitrite) thành NO3-N (nitrate) (Boyd, 1998) Yếu tố chính cho quá trình hình thành nitrate là lượng oxy hòa tan và sự đóng góp của vi khuẩn nitrate hóa

(Nitrobacter) (Phạm Quốc Nguyên và ctv.,

2014) Theo Boyd (1998) ở nồng độ từ 0,2 đến

10 mg/l nitrate không gây hại cho cá Giá trị

NO3-N (nitrate) trong nghiên cứu này dao động trong khoảng từ 0,21 đến 0,66 mg/l (Bảng 1)

Hàm lượng COD dao động từ 10,25 đến 12,75 mg/l (Bảng 1) Theo tiêu chuẩn ngành thủy sản (2002) thì COD của ao nuôi cá tra phải nhỏ hơn 15 mg/l Nếu nước ao nuôi có hàm lượng COD cao thì khả năng cá dễ mắc bệnh cao Chỉ số COD trung bình của các nghiệm thức trong nghiên cứu này có giá trị tối

đa ở mức 13 mg/l, nằm trong khoảng giới hạn cho phép

Trang 8

Bảng 1 Các yếu tố N-NH3 (mg/l), N-NO2 (mg/l), N-NO3 (mg/l) và COD (mg/l)

N-NH3 (mg/l)(TB± ĐLC)

NT có thổi khí 0,016 ± 0,006 0,016 ± 0,001 0,019 ± 0,002 0,013 ± 0,000

NT không thổi khí 0,023 ± 0,011 0,017 ± 0,010 0,014 ± 0,005 0,018 ± 0,004 N-NO2 (mg/l)(TB± ĐLC)

NT có thổi khí 0,018 ± 0,004 0,019 ± 0,001 0,014 ± 0,001 0,021 ± 0,001

NT không thổi khí 0,017 ± 0,002 0,017 ± 0,004 0,018 ± 0,004 0,017 ± 0,002 N-NO3 (mg/l)(TB± ĐLC)

NT không thổi khí 0,32 ± 0,12 0,66 ± 0,18 0,56 ± 0,15 0,55 ± 0,17 COD (mg/l)(TB± ĐLC)

NT có thổi khí 11,75 ± 0,35 11,55 ± 1,48 12,60 ± 1,98 12,75 ± 2,76

NT không thổi khí 11,23 ± 0,04 11,35 ± 0,68 11,18 ± 0,25 10,25 ± 0,01

3.4 Diễn biến bệnh của cá

Trong 21 ngày ương, cá hoàn toàn không bị

nhiễm nấm (không thể hiện bệnh qua dấu hiệu

lâm sàng và kết quả phân tích nấm); cá nhiễm

bệnh chủ yếu là ký sinh trùng và vi khuẩn Mức

độ cá nhiễm ký sinh trùng thấp hơn so với vi

khuẩn; nhóm ký sinh trùng được tìm thấy là

trùng bánh xe (Trichodina sp.) và vi khuẩn là

Aeromonas hydrophyla và A caeviae; kết quả

cũng ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn A

hydrophyla, chiếm từ 80 đến 90% trong tổng số

các mẫu phân tích có nhiễm khuẩn Cá nhiễm

khuẩn có biểu hiện lâm sàng điển hình như đỏ

phần đầu và các gốc vây, các tia vây bị hoại tử

và xuất huyết nội tạng

Tần xuất nhiễm và tỷ lệ nhiễm trùng bánh

xe (Trichodina sp.) của cá ở nghiệm thức không

thổi khí (15,48 %; 32,26 %) cao hơn nghiệm thức có thổi khí (8,33 %; 21,19 %), sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); cường độ nhiễm cũng

có kết quả tương tự, ở NT có thổi khí chỉ xảy ra ở mức (+) trong khi ở NT không thổi khí có cường

độ nhiễm ở hai mức (+) và (++) (Bảng 2)

Tần xuất nhiễm vi khuẩn A hydrophyla cũng

được ghi nhận ở NT có thổi khí (10,71 %) có tần xuất thấp hơn ở NT không thổi khí (19,05 %), sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); tỷ lệ nhiễm

A hydrophyla ở NT có thổi khí (33,12 %) thấp

hơn ở NT không có thổi khí (33,89 %), sai khác

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) (Bảng 3) Bảng 2 Tần suất nhiễm, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ký sinh trùng (Trichodina sp.)

Các ký hiệu chữ (a, b) trong mỗi cột, sai khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05 trong từng cột; cường độ nhiễm: (+)<30%; (++) 30-65%

Trang 9

Bảng 3 Tần suất nhiễm và tỷ lệ nhiễm vi

khuẩn (A hydrophyla)

Nghiệm

thức

Tần suất nhiễm

TB (%) ± ĐLC

Tỷ lệ nhiễm

TB (%)

Có thổi

khí 10,71a ± 1,68 33,12a ± 4,02

Không

thổi khí 19,05b ± 3,37 33,89a ± 2,08

Các ký hiệu chữ (a, b) trong mỗi cột, sai

khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05 trong từng cột

3.5 Tỷ lệ sống của cá

Bảng 4 thể hiện chỉ số chuyển hóa thức

ăn (FCR) và tỷ lệ sống trung bình của 2 nhóm

nghiệm thức FCR của 2 nhóm ở mức 0,36 và

0,39 Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức có thổi

khí (37,17 %) cao hơn ở nghiệm thức không

thổi khí (22,82 %), sai khác có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05).

Bảng 4 Tỷ lệ sống (TLS) của cá và hệ số

chuyển hóa thức ăn (FCR)

Nghiệm

thức

FCR TB ±

Có thổi

Không

Các ký hiệu chữ (a) (b) thể hiện sai khác có

ý nghĩa thống kê p < 0,05 ở mỗi cột

IV THẢO LUẬN

Trong quá trình ương cá tra từ giai đoạn bột

lên hương trải qua 21 ngày với mật độ thả bột

là 750 con/m2, chúng tôi đã thực hiện gây nuôi

thức ăn tự nhiên (Moina sp.) trực tiếp trong ao

với mục đích là bổ sung nguồn thức ăn đủ dinh

dưỡng và được cá tra bột ưa thích trong giai

đoạn 12 ngày đầu Nguồn thức ăn tự nhiên này

là một trong những yếu tố có tính chất quyết

định đến tỷ lệ sống và tình trạng sức khỏe cá nuôi trong giai đoạn này Trong quá trình ương

cá trê giống (Clarias macrocephalus), Fermin

và Bolivar (1991) đã sử dụng Moina sp là

nguồn thức ăn chính trong giai đoạn đầu và cho tỷ lệ sống cao; trường hợp tương tự được

ghi nhận trong ương cá măng (Chanos chanos)

của Watanabe và Fujita, 1983 Nghiên cứu của

Hung và ctv., (2002) đã chứng minh Artemia,

Moina sp và trùn chỉ (Tubifex) là những thức

ăn phù hợp trong ương nuôi cá tra giống (P

hypophthalmus) và cá basa giống (P bocourti)

với kết quả tỷ lệ sống đạt được dao động từ 91,0% đến 93,0% Kết quả trong nghiên cứu

này đã chỉ ra lượng Moina sp trong ao tăng cao

ở ngày thứ 3 và giảm dần đến hết ngày 12 và

lượng Moina sp này cao ở nghiệm thức có thổi

khí so với nghiệm thức không thổi khí, sai khác

có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), trừ các ngày thứ

1, 4, 5 và 12 Như vậy, việc cung cấp hệ thống thổi khí đã góp phần trong việc tăng sinh khối

Moina sp trong ao; và thực tế cho thấy rằng,

với hệ thống thổi khí hoạt động 24 giờ ở ngày ương 1, 2; hoạt động 6 giờ/ngày từ 4 đến 10 giờ sáng ở ngày ương thứ 3 trở đi và hoạt động khi điều kiện thời tiết bất lợi đã góp phần trong việc cung cấp thêm oxy hòa tan cho sự hô hấp

của cá tra bột và Moina sp.; mặt khác còn giúp

khoáng hóa môi trường nước ao nhằm tăng hiệu quả khi sử dụng các sản phẩm như chất xử lý diệt khuẩn, các chế phẩm vi sinh, v.v

Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh có

sự khác nhau giữa hàm lượng oxy hòa tan (DO) của nước ao vào buổi sáng ở 2 nghiệm thức

có và không có thổi khí; đối với nghiệm thức không thổi khí thì DO sáng rơi xuống ở mức nhỏ hơn 3 mg/l trong nhiều ngày; còn đối với nhóm có thổi khí, giá trị DO luôn cao hơn 4mg/l

và dao động từ 4,5 đến 6,5 mg/l Trong quá trình ương cá tra, một trong những vấn đề đáng lo ngại là lượng oxy hòa tan trong nước ao thấp

Trang 10

vào buổi sáng (khoảng từ 4-6 giờ), điều này là

do ảnh hưởng của quá trình quang hợp và quá

trình hô hấp nên lượng oxy hòa tan trong nước

ao thường cao nhất vào cuối buổi chiều và thấp

nhất sau nửa đêm lúc đầu giờ của buổi sáng

Với chỉ số DO từ 1,4 đến 5,0 mg/l thì cá tồn tại,

nhưng giảm ăn, tăng trưởng chậm và dễ nhạy

cảm với bệnh tật Với DO ở mức từ 4 mg/l đến

độ bảo hòa thì là mức thích hợp cho ấu trùng,

cá con và cá giống của cá da trơn Vì vậy, giá

trị DO sáng ở nhóm không cung cấp thổi khí ở

mức nhỏ hơn 3 mg/l và kéo dài trong nhiều ngày

đã gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển

và tình trạng sức khỏe cá nuôi Thật vậy, diễn

biến tăng trưởng về chiều dài cá đã thể hiện sự

chênh lệch giữa 2 nghiệm thức có và không có

thổi khí; chiều dài cá sau khi thả 1 tuần đến ngày

thứ 21 ở nghiệm thức có thổi khí luôn lớn hơn ở

nghiệm thức không thổi khí, sai khác có ý nghĩa

thống kê (p < 0,05)

Khi ao ương được trang bị hệ thống thổi

khí, hoạt động của hệ thống này ngoài việc

cung cấp lượng oxy hòa tan trong ao, làm

khoáng hóa và giúp phân tán đều khi sử dụng

các chế phẩm xử lý ao nuôi hoặc chế phẩm

vi sinh, v.v chúng còn trực tiếp hoặc gián

tiếp giúp giảm thiểu bệnh tật xảy ra Kết quả

nghiên cứu này đã cho thấy tần suất nhiễm

và tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe (Trichodina sp.)

và tần xuất nhiễm vi khuẩn A hydrophyla ở

nghiệm thức có thổi khí thấp hơn ở nghiệm

thức không thổi khí (sai khác có ý nghĩa thống

kê p < 0,05) Cường độ nhiễm trùng bánh xe

(Trichodina sp.) ở nghiệm thức có thổi khí ở

mức (+), trong khi ở nghiệm thức không thổi

khí có hai mức (+) và (++), theo Bùi Quang

Tề (2008) thì cường độ nhiễm Trichodina sp

từ 20 đến 30 trùng/ thị trường (tương ứng mức

++) với độ phóng đại 10 X đã gây nguy hiểm

cho cá

Một điều khá quan trọng khi nói đến sự

thành công của vụ nuôi là kết quả tỷ lệ sống, tỷ

lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức có và không có thổi khí đều lớn hơn 22,0%, kết quả này đã đánh dấu sự thành công bước đầu của nghiên cứu này; thực tế hiện tại ở một số nông hộ tại Đồng Tháp nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung khi ương với mật độ thả bột cùng với mật độ thả bột trong nghiên cứu này (750 con/

m2), kết quả chỉ đạt tỷ lệ sống trung bình nhỏ hơn 15,0 % Khi so sánh tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức có và không có thổi khí thì tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức có thổi khí (37,17%

± 5,89) lớn hơn ở nghiệm thức không thổi khí (22,82% ± 3,70), sai khác có ý nghĩa thống kê

(p < 0,05) cùng với hệ số chuyển hóa thức ăn

(FCR) của 2 nghiệm thức là 0,36 (± 0,04) và 0,39 (± 0,07) Yang và Lin (2001) đã đạt được

tỷ lệ sống tốt và tăng cao về sản lượng của cá rô phi nuôi bè ở nghiệm thức có cung cấp thổi khí

so với nghiệm thức không cung cấp thổi khí, sai

khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05 Trong nghiên

cứu này, rõ ràng rằng, việc cung cấp thổi khí đã

có nhiều tác động tốt đến đời sống của cá và môi trường nước của ao ương Có thể cho rằng, việc làm này là không mới và thực tế các nông hộ

ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang

áp dụng, tuy nhiên, không phải tất cả đều thành công Trong nghiên cứu này, một vài điểm quan trọng mà chúng tôi đã thực hiện là sự tính toán khi thiết kế lắp đặt hệ thống thổi khí Hệ thống thổi khí được thiết kế giúp lượng khí thổi ra từ các đĩa khí xoay tròn và được đặt cách đáy từ 20 đến 30 cm đã giúp phân phối đều lượng khí từ dưới lên trên Với cách thiết kế có sự tính toán khoảng cách khí tỏa ra với bán kính 2 m, đều nhau đã giúp lượng khí được cung cấp đến mọi hướng trong ao Bên cạnh đó, thổi khí theo đúng

kế hoạch và linh hoạt thổi khí khi gặp sự cố bất thường khi điều kiện thời tiết xấu, v.v đã được thực hiện nghiêm túc, cũng đã góp phần làm ổn định lượng khí trong ao ở mọi thời điểm, hạn chế cá bị sốc khi gặp sự thay đổi đột ngột do các

Ngày đăng: 07/12/2020, 11:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bảng vẽ  lắp ráp hệ thống thổi khí - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1. Bảng vẽ lắp ráp hệ thống thổi khí (Trang 3)
Hình 2. Diễn biến lượng Moina sp. trong ao giai đoạn 12 ngày đầu - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2. Diễn biến lượng Moina sp. trong ao giai đoạn 12 ngày đầu (Trang 5)
Hình 3. Chiều dài cá trong giai đoạn ương 21 ngày - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 3. Chiều dài cá trong giai đoạn ương 21 ngày (Trang 5)
Hình 4. Nhiệt độ nước ao nuôi - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 4. Nhiệt độ nước ao nuôi (Trang 6)
Hình 5. Giá trị pH nước ao nuôi - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 5. Giá trị pH nước ao nuôi (Trang 6)
Hình 6. Độ kiềm (mg/l) - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 6. Độ kiềm (mg/l) (Trang 6)
Hình 7. Hàm lượng oxy hòa tan (mg/l) - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 7. Hàm lượng oxy hòa tan (mg/l) (Trang 7)
Bảng 1. Các yếu tố N-NH 3  (mg/l), N-NO 2  (mg/l), N-NO 3  (mg/l) và COD (mg/l) - Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 1. Các yếu tố N-NH 3 (mg/l), N-NO 2 (mg/l), N-NO 3 (mg/l) và COD (mg/l) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w