Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thử nghiệm khả năng loại thải một số kim loại nặng (As, Cd, Hg và Pb) trong sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758) qua quá trình nuôi lưu trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Trang 1THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG LOẠI THẢI BỐN KIM LOẠI NẶNG (As, Cd,
Hg, Pb) TRONG SÒ HUYẾT (Anadara granosa LINNAEUS, 1758)
QUA QUÁ TRÌNH NUÔI LƯU TUẦN HOÀN
Hồ Ngọc Linh1, Phạm Gia Điệp1, Nguyễn Ngọc Hà2, Nguyễn Văn Đông3,
Nguyễn Như Trí1, Nguyễn Phúc Cẩm Tú 1*
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thử nghiệm khả năng loại thải một số kim loại nặng (As, Cd,
Hg và Pb) trong sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758) qua quá trình nuôi lưu trong điều kiện
phòng thí nghiệm Sò huyết được nuôi trong 5 tuần với hai nghiệm thức: có hoặc không bổ sung tảo Nồng độ của các kim loại tích tụ và thành phần dinh dưỡng trong sò đã được xác định ở các thời điểm 0, 1, 2, 3, 5, 7, 14, 21, 28 và 35 ngày sau khi thả nuôi Trong khoảng thời gian sau nuôi lưu
từ 3 – 5 ngày, một số kim loại có xu hướng giảm rõ so với trước thời điểm nuôi lưu, đặc biệt là Cd Sau 35 ngày nuôi có sự giảm nhẹ hàm lượng các kim loại nặng ra khỏi cơ thịt sò huyết, tuy nhiên sự loại thải không đáng kể Hằng số tốc độ đào thải Cd là kd = 0,0049/ngày và thời gian bán đào thải
là 61 ngày Trong khi đó, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cơ thịt sò huyết sau quá trình nuôi lưu có xu hướng giảm, trừ tro là thành phần duy nhất có xu hướng tăng
Từ khóa: sò huyết, Anadara granosa, kim loại nặng, nuôi lưu.
1 Khoa Thủy sản, Đại học Nông Lâm TpHCM
2 Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Đại học Nông Lâm TpHCM
3 Khoa Hóa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TpHCM
* Email: npctu@hcmuaf.edu.vn
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ là một nguồn thực
phẩm phổ biến và bổ dưỡng trên toàn thế giới
với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng Tuy nhiên,
do tập tính ăn lọc nên chúng tích lũy cao các
chất gây ô nhiễm Chiến lược đơn giản nhất để
quản lý rủi ro là nuôi lưu các đối tượng nhuyễn
thể đó trong bể nước biển sạch đã được khử
trùng nhằm tạo điều kiện cho chúng tự loại bỏ
bớt vi sinh vật gây bệnh và các chất độc hại
(El-Shenawy, 2004) Phương pháp trên giúp
nhuyễn thể hai mảnh vỏ tự loại thải, lọc sạch
(depuration) các chất ô nhiễm khác nhau từ
mang và đường ruột trong một khoảng thời gian
và ngăn ngừa tái nhiễm (El-Gamal, 2011)
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã công bố
sò huyết (Anadara granosa) nuôi ở các tỉnh
Nam bộ tích lũy một số kim loại nặng (KLN)
vượt ngưỡng cho phép theo quy chuẩn Việt Nam
(QCVN) và quốc tế Nguyễn Phúc Cẩm Tú và ctv., (2011) báo cáo rằng hàm lượng các KLN
trong sò huyết Anadara spp thu mẫu tại miền
Nam khá cao, đặc biệt là sự tích lũy cadmium (Cd) trong sò huyết ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Trong đó, có hơn 30% số mẫu sò huyết phân tích có hàm lượng Cd vượt quá tiêu chuẩn châu Âu (1 µg/g trọng lượng tươi), nhất là các mẫu thu tại Bến Tre, Trà Vinh
và Sóc Trăng (Nguyễn Phúc Cẩm Tú và ctv., 2011) Các kết quả giám sát vùng nuôi gần đây của Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) cũng đã phát hiện sự tích lũy cao của KLN (thủy ngân (Hg), asen (As), chì (Pb)…), đặc biệt là Cd trong sò huyết ở khu vực Nam Bộ (NAFIQAD, 2013)
NAFIQAD đã đề xuất chế độ nuôi lưu (relaying) sau khi thu hoạch để sò huyết tự đào thải vi sinh vật và KLN, tuy nhiên việc nuôi lưu
Trang 2này chủ yếu để giảm lượng vi sinh trong sò
Bên cạnh đó NAFIQAD chưa thể đưa ra một
qui trình nuôi lưu cụ thể Như vậy, việc tìm ra
thời gian và phương pháp nuôi lưu hiệu quả
để giúp nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và
sò huyết nói riêng loại thải được hàm lượng
KLN một cách tối ưu mà vẫn đảm bảo được
giá trị dinh dưỡng là nột vấn đề rất cần thiết
Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm
đánh giá khả năng loại thải bốn KLN Pb, Cd,
Hg và As của sò huyết qua chế độ nuôi lưu và
biến động giá trị dinh dưỡng của sò trong quá
trình này
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện tại Trại thực
nghiệm của Khoa Thủy sản, Đại học Nông Lâm
TP Hồ Chí Minh trong vòng 5 tuần Thí nghiệm
được thực hiện gồm 2 nghiệm thức (NT): không
cho ăn và cho ăn tảo, các NT được bố trí theo
kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên Mỗi NT gồm có 3 lô
(tương ứng 3 lần lặp lại)
Sò huyết có kích cỡ 100 - 120 con/kg được
thu vào ngày 16/3/2014 từ Bình Đại, Bến Tre đã
biết trước hàm lượng KLN trong sò tương đối
cao thông qua việc xác định hàm lượng KLN
trước đó Sò (8 -10 kg) được rửa sạch bùn đất,
được thả nuôi trong các bể xi măng hình chữ
nhật với thể tích 1m3, dùng nước biển sạch với
độ mặn 22 – 27‰ Hệ thống nuôi được thiết kế
tuần hoàn, sục khí liên tục và tạo dòng chảy
Tảo Nannochloropsis oculata được sử dụng
cho NT cho ăn tảo Cho ăn ngày 2 lần vào lúc
7h30 và 16h, cho ăn ở mức tối đa Tảo (có mật
độ 250 triệu tế bào/ml) dùng làm thức ăn trong
thí nghiệm nuôi lưu được nuôi tại Trung tâm
Quốc gia giống Hải sản Nam Bộ
Nguồn nước đầu vào và tảo sử dụng làm
thức ăn trong thí nghiệm nuôi lưu được phân
tích hàm lượng các KLN Kết quả phân tích
cho thấy không có sự xuất hiện các KLN trong nguồn nước và tảo được sử dụng
2.2 Xác định hàm lượng 4 KLN trong sò nuôi lưu
Sò huyết được lấy mẫu 8 lần tại các thời điểm 0 (trước khi thả), 1, 2, 3, 5, 7, 14, 21, 28
và 35 ngày sau khi thả nuôi Tại mỗi thời điểm, mỗi lô thu khoảng 20 - 25 cá thể sò, chỉ lấy phần mô mềm và gộp lại thành một mẫu gộp Mẫu mô sò được xay nhuyễn và trữ đông trong khoảng -18 ± 2oC và vô cơ hoá với HNO3 trước khi phân tích
Mẫu sò được công phá bằng HNO3 và
H2O2 Hàm lượng Cd, Pb, Hg và As trong các mẫu được xác định bằng phương pháp khối phổ ghép cặp cảm ứng cao tần (ICP - MS), quang phổ hấp thu nguyên tử - kỹ thuật hóa hơi lạnh tích góp trên bẫy vàng (CV - Amalgam - AAS)
và quang phổ hấp thu nguyên tử - kỹ thuật tạo hơi hydride (HG - AAS) Độ chính xác của phương pháp phân tích được đánh giá bằng mẫu vật tham chiếu chuẩn (certified reference material) của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada: mẫu trầm tích biển MESS-3 và mẫu protein cá DORM-4, mỗi mẫu được phân tích lặp lại ba lần Hiệu suất thu hồi của các KLN nằm trong khoảng 94 – 111% giá trị chuẩn đã được công nhận Kết quả hàm lượng KLN được biểu diễn bằng µg/g trọng lượng tươi
2.3 Xác định biến động giá trị dinh dưỡng của sò
Mẫu mô sò được sấy khô và nghiền mịn Sau đó được phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng chính như tro, protein và béo Hàm lượng tro, hàm lượng protein và hàm lượng béo lần lượt xác định bằng phương pháp nung ở 550oC trong
4 giờ, phương pháp Kjeldahl và phương pháp của Folch và ctv., (1956)
2.4 Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để vẽ
Trang 3đồ thị Tất cả các phân tích thống kê được thực
hiện bằng phần mềm IBM SPSS Statistics for
Windows, Version 19.0
Tính toán động học của quá trình đào
thải các kim loại trong sò huyết
Các tính toán mô hình đào thải KLN dựa
theo công thức của Wang và Wang (2014) như
sau:
Log y = a + bx
Trong đó, x là thời gian nuôi lưu (đào thải)
tính bằng ngày, y là hàm lượng kim loại trong sò
huyết, a là hệ số chắn của đường hồi qui và b là
độ dốc hoặc hằng số tốc độ đào thải (k d)
Thời gian bán đào thải của các kim loại
(depuration half-life) là thời gian cần thiết để
thải bỏ 50% hàm lượng các kim loại trong sò
huyết so với hàm lượng ban đầu Do đó, thời
gian bán đào thải được tính là:
III KẾT QUẢ
3.1 Hàm lượng các kim loại nặng trong
sò huyết sau quá trình nuôi lưu
Các thay đổi về hàm lượng các KLN trong
cơ thịt sò huyết trong quá trình nuôi lưu của hai
NT được thể hiện trong Bảng 1
Hàm lượng Cd trong cơ thịt sò huyết lúc
bắt đầu thí nghiệm nuôi lưu rất cao (8,465 ±
2,200 μg/g) (Bảng 1 và Hình 1) Trong 5 tuần
nuôi lưu, hàm lượng Cd trong sò huyết ở cả hai
NT biến động rất lớn Ở NT bổ sung tảo, hàm
lượng Cd trong cơ thịt giảm xuống thấp nhất ở
ngày thứ ba (giảm hơn 30%, hàm lượng 5,751
± 2,206 μg/g), sau đó tăng lên và ở ngày thứ 35
hàm lượng Cd trong sò là 7,255 ± 2,705 μg/g
(giảm khoảng 15% so với ban đầu) Trong khi
đó, ở NT không cho ăn tảo, trừ ngày thứ nhất,
hàm lượng Cd trong sò có khuynh hướng giảm
theo thời gian nuôi lưu và đạt thấp nhất ở ngày
thứ 28 (5,905 ± 2,569 μg/g, giảm khoảng 30%
so với ban đầu)
Sự thay đổi hàm lượng Pb trong cơ thịt sò huyết sau quá trình nuôi lưu được thể hiện trong Bảng 1 Hàm lượng Pb cao nhất ở mẫu sò huyết thu được vào ngày đầu tiên của quá trình nuôi lưu, đạt giá trị 0,708 ± 0,906 μg/g, sau đó hàm lượng Pb bắt đầu giảm dần và đạt giá trị thấp nhất ở ngày nuôi thứ 5 của cả 2 NT cho ăn và không cho ăn tảo tươi, đạt giá trị 0,010 μg/g Sự thay đổi hàm lượng Pb trong quá trình nuôi lưu
sò huyết là có ý nghĩa, trong suốt quá trình nuôi lưu, mặc dù hàm lượng Pb có sự thay đổi giữa các lần thu mẫu nhưng tất cả đều thấp hơn có ý
nghĩa (p< 0,05) so với hàm lượng Pb trong cơ
thịt sò huyết trước khi nuôi lưu Hàm lượng Pb trong cơ thịt sò huyết giảm dần nhưng đó không phải là xu hướng xuyên suốt quá trình nuôi lưu Tương tự như hàm lượng Cd, sau ngày thứ 5 của quá trình nuôi lưu, hàm lượng Pb bắt đầu có xu hướng tăng lên trong cơ thịt sò huyết
Hàm lượng Hg trong cơ thịt sò huyết qua quá trình nuôi lưu được thể hiện trong Bảng 1 Hàm lượng Hg có sự thay đổi không theo quy luật và không thể hiện xu hướng giảm hay tăng
rõ ràng Hàm lượng Hg là 0,021 ± 0,004 μg/g trước khi tiến hành nuôi lưu nhưng đã cao hơn ngay sau 1 ngày nuôi lưu ở NT không cho ăn tảo tươi, đạt 0,023 ± 0,001 μg/g Đối với NT cho ăn tảo tươi, hàm lượng Hg trong cơ thịt sò huyết cao bất thường vào ngày thứ 28 của quá trình nuôi lưu, đạt 0,029 ± 0,003 μg/g Tuy nhiên, sự thay đổi này không có ý nghĩa về mặt thống kê
(p> 0,05) Trong quá trình nuôi lưu, hàm lượng
Hg trong cơ thịt sò huyết thấp nhất đạt 0,010 ± 0,002 μg/g ở ngày thứ 3 của NT cho ăn tảo tươi
và đạt 0,004 ± 0,001 μg/g ở ngày thứ 7 của NT không cho ăn tảo tươi Như vậy, mặc dù hàm lượng Hg trong cơ thịt sò huyết có sự thay đổi không mang ý nghĩa thống kê trong suốt quá trình nuôi lưu, nhưng chúng tôi nhận thấy trong khoảng thời gian từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của quá trình nuôi lưu, hàm lượng Hg có giảm
Trang 4Bảng 1: Hàm lượng các kim loại nặng trong cơ thịt sò huyết sau thời gian nuôi lưu (µg/gtrọng
lượng tươi) và so sánh với các tiêu chuẩn
Ngày
0 8,465 ± 2,200 † 8,465 ± 2,200 0,708 ± 0,906 0,708 ± 0,906 0,021 ± 0,004 0,021 ± 0,004 0,516 ± 0,101 0,516 ± 0,101
1 7,011 ± 0,786 9,978 ± 4,041 0,010 ± 0,000 0,192 ± 0,316 0,018 ± 0,003 0,023 ± 0,001 0,410 ± 0,013 0,310 ± 0,193
2 6,243 ± 0,628 6,857 ± 3,307 0,331 ± 0,556 0,295 ± 0,405 0,019 ± 0,003 0,020 ± 0,002 0,345 ± 0,038 0,480 ± 0,117
3 5,751 ± 2,206 7,395 ± 4,372 0,038 ± 0,049 0,231 ± 0,057 0,010 ± 0,002 0,022 ± 0,003 0,326 ± 0,077 0,410 ± 0,127
5 7,634 ± 1,430 6,725 ± 1,313 0,010 ± 0,000 0,010 ± 0,000 0,017 ± 0,009 0,019 ± 0,001 0,380 ± 0,099 0,335 ± 0,092
7 7,458 ± 0,681 6,844 ± 1,332 0,039 ± 0,052 0,190 ± 0,199 0,019 ± 0,001 0,004 ± 0,001 0,364 ± 0,039 0,356 ± 0,098
14 6,316 ± 4,045 6,837 ± 0,765 0,283 ± 0,473 0,266 ± 0,241 0,020 ± 0,008 0,019 ± 0,001 0,468 ± 0,102 0,429 ± 0,067
21 7,789 ± 2,536 6,398 ± 1,235 0,080 ± 0,121 0,484 ± 0,459 0,025 ± 0,007 0,021 ± 0,002 0,304 ± 0,052 0,312 ± 0,197
28 5,974 ± 0,597 5,905 ± 2,569 0,053 ± 0,075 0,561 ± 0,550 0,029 ± 0,003 0,018 ± 0,002 0,428 ± 0,036 0,432 ± 0,075
35 7,255 ± 2,705 0,188 ± 0,225 0,012 ± 0,004 0,502 ± 0,113
Tiêu
chuẩn
QCVN
8-2:
2011/
BYT
†trung bình ± độ lệch chuẩn
hơn so với thời gian còn lại ở cả 2 NT cho ăn và
không cho ăn tảo tươi
Hàm lượng As trong cơ thịt sò huyết ngay
sau ngày đầu nuôi lưu đã giảm từ 0,516 ± 0,101
μg/g trước khi nuôi lưu xuống 0,310 ± 0,193
μg/g sau ngày thứ nhất ở NT không cho ăn tảo
tươi Tuy nhiên, hàm lượng As ở NT cho ăn tảo
tươi cũng giảm thấy rõ so với trước khi nuôi lưu
Hàm lượng As ở NT cho ăn tảo tươi giảm xuống
0,410 ± 0,013 μg/g ở ngày đầu tiên nhưng lại
giảm thấp nhất ở ngày thứ 3 với hàm lượng dao
động trong khoảng 0,326 ± 0,077 μg/g và ngày thứ 21 với hàm lượng dao động 0,304 ± 0,052 μg/g Chúng tôi nhận thấy rằng, hàm lượng As trong cơ thịt sò huyết có xu hướng giảm dần sau 3 – 7 ngày nuôi nhưng sau đó lại tăng lên
ở những ngày tiếp theo Sự tích lũy này cũng tương tự như sự tích lũy Cd, có thể trong quá trình nuôi lưu, do nước không được thay mà hoàn toàn nằm trong hệ thống lọc tuần hoàn khép kín nên sò huyết đã có sự hấp thu ngược
As từ môi trường vào cơ thịt
Trang 53.2 Biến động thành phần các chất dinh dưỡng trong cơ thịt sò huyết sau nuôi lưu
Trọng lượng toàn thân của sò huyết trong quá trình nuôi lưu tăng lên tỷ lệ thuận với thời gian, được thể hiện trong Bảng 2
Bảng 2 Sự thay đổi trọng lượng sò huyết sau nuôi lưu
Ngày
nuôi
Trọng lượng sò
(nguyên con) (g)
Trọng lượng
cơ thịt (g)
Tỷ lệ cơ thịt/
TLT (%)
Trọng lượng sò (nguyên con) (g)
Trọng lượng
cơ thịt (g)
Tỷ lệ cơ thịt/TLT (%)
† trung bình ± độ lệch chuẩn
Theo đó, trọng lượng cơ thịt sò huyết trước
khi nuôi lưu dao động trong khoảng 2,491 ±
0,693g và tỷ lệ cơ thịt trên tổng trọng lượng
thân là 30,88% Ở NT nuôi lưu có bổ sung thức
ăn là tảo tươi, trọng lượng cơ thịt sò huyết cao
nhất đạt 3,084 ± 0,839 g, lúc này tỷ lệ cơ thịt
trên trọng lượng thân đạt giá trị 34,67% Đối
với NT không cho ăn tảo tươi, trọng lượng cơ
thịt sò huyết cao nhất đạt giá trị 2,866 ± 0,840
g ở ngày nuôi thứ 3 và lúc này tỷ lệ cơ thịt trên
trọng lượng thân là 31,36% Ở NT nuôi lưu có
bổ sung thức ăn là tảo tươi, chúng tôi nhận thấy
tỷ lệ cơ thịt trên trọng lượng thân có xu hướng
tăng dần theo thời gian, từ 30,88% trong ngày
đầu tiên đến cao nhất là 35,10% ở ngày thứ 21
Tuy nhiên, sau ngày 21 tỷ lệ cơ thịt trên trọng
lượng thân lại có xu hướng giảm
Thành phần dinh dưỡng sò huyết sau thời
gian nuôi lưu được thể hiện ở Bảng 3 Hàm
lượng tro trong cơ thịt sò huyết sau quá trình
nuôi lưu có xu hướng tăng nhẹ từ trước khi nuôi
lưu ở giá trị 2,17 ± 0,03 g trong 100g cơ thịt sò
huyết đến 3,28 ± 0,59g ở ngày thứ 35 của NT cho ăn tảo tươi và 2,99 ± 0,21g ở ngày thứ 28 của NT không cho ăn tảo tươi Trong khi đó, hàm lượng protein trong 100g cơ thịt sò huyết sau quá trình nuôi lưu có xu hướng giảm so với mẫu sò trước khi nuôi lưu Hàm lượng protein giảm từ 9,59 ± 0,56g trước khi nuôi lưu đến 9,05 ± 1,53g ở ngày thứ 5 của quá trình nuôi lưu
và giảm mạnh chỉ còn 6,56 ± 0,92g ở NT cho ăn tảo tươi Đối với NT không cho ăn tảo tươi, hàm lượng protein trong 100g cơ thịt sò huyết giảm xuống chỉ còn 6,36 ± 0,27g ở ngày thứ 28 của quá trình nuôi lưu Hàm lượng protein giảm tỷ
lệ thuận với sự tăng lên của hàm lượng tro trong
cơ thịt sò huyết sau quá trình nuôi lưu Ngược lại với hàm lượng tro và protein, hàm lượng lipit trong cơ thịt sò huyết trong suốt quá trình nuôi lưu hầu như không có sự thay đổi đáng kể Tuy nhiên, hàm lượng lipit có xu hướng giảm nhẹ ở
cả 2 NT cho ăn và không cho ăn tảo tươi theo thời gian nuôi lưu
Trang 6Bảng 3 Thành phần dinh dưỡng sò huyết sau thời gian nuôi lưu (g/100g trọng lượng tươi)
† trung bình ± độ lệch chuẩn
IV THẢO LUẬN
Hàm lượng các KLN tích lũy trong cơ thịt
sò huyết trong nghiên cứu này được so sánh với
giới hạn ô nhiễm KLN trong thực phẩm của tiêu
chuẩn của Cộng đồng Châu Âu (EC, 2006) và
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 8-2:2011/
BYT của Bộ Y Tế (Bảng 1) Trong các KLN
nghiên cứu, chỉ có hàm lượng Cd trong cơ thịt
sò huyết cao hơn các tiêu chuẩn so sánh Hàm
lượng Cd trong sò huyết trước khi nuôi lưu cao
hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của EC (1 μg/g)
và QCVN 8-2:2011/BYT của Bộ Y Tế (2 μg/g) Sau 35 ngày nuôi lưu, hàm lượng Cd tuy có giảm nhưng vẫn cao hơn so với mức cho phép của Việt Nam cũng như quốc tế (Bảng 1 và Hình 1) Điều này cho thấy quy trình nuôi lưu được thử nghiệm vẫn chưa đem lại hiệu quả cao và cần có những nghiên cứu tiếp để đưa ra mô hình nuôi lưu phù hợp và có hiệu quả nhất
Hình 1: Hàm lượng Cd (μg/g) trong cơ thịt sò huyết sau nuôi lưu
Trang 7Các thay đổi về hàm lượng các KLN trong
cơ thịt sò huyết (đặc biệt là Cd) trong quá trình
nuôi lưu của hai NT một phần có thể được giải
thích do quá trình nuôi lưu, nước được nuôi tuần
hoàn khép kín Những ngày đầu, sò huyết thải
loại thức ăn, sản phẩm tiêu hóa trong đường tiêu
hóa và đã loại thải cả những KLN mới hấp thu
Tuy nhiên, lượng Cd loại thải đó được lưu lại
trong nước nuôi lưu và sò huyết lại tái hấp thu
Cd từ môi trường vào cơ thịt
Do tốc độ đào thải Cd trong sò huyết diễn
ra rất chậm, nên ở thời gian đầu của thí nghiệm
hàm lượng Cd trong sò rất biến động Trong suốt
4 tuần nuôi lưu đào thải, hàm lượng Cd trong
sò huyết giảm theo thời gian nuôi nhưng không
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p> 0,05), đặc biệt
là ở NT cho ăn tảo (p= 0,729) Trong khi đó, ở
NT không cho ăn, xu hướng giảm hàm lượng Cd trong sò thấy rõ hơn, mặc dù sự khác biệt này
cũng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,115) Dựa
trên phương trình tương quan tuyến tính giữa log hàm lượng Cd trong sò huyết và thời gian nuôi
lưu (Hình 2), hằng số tốc độ đào thải Cd là k d = 0,0049/ngày và thời gian bán đào thải là 61 ngày
Hình 2: Hàm lượng Cd (log(Cd), μg/g) trong sò huyết trong 4 tuần nuôi lưu
ở nghiệm thức không cho ăn tảo Các nghiên cứu trước đây đã báo cáo khả
năng đào thải kim loại của các loài nhuyễn thể
hai mảnh vỏ rất giới hạn, với hằng số tốc độ
đào thải dao động trong khoảng 0,01 – 0,03/
ngày (Wang và Wang, 2014) Nghiên cứu ảnh
hưởng của nhiệt độ và độ mặn lên sự đào thải
Cd của hàu môi đen Crassostrea gigas, Denton
và Burdon – Jones (1981) ghi nhận thời gian
bán đào thải của Cd ở các mô rất khác nhau,
thường lớn hơn 30 ngày, cao nhất là ở màng áo
(203 ngày ở nhiệt độ 300C và độ mặn 36‰)
Trong nghiên cứu đào thải các KLN từ mô mềm
của hàu C gigas, Geffard và ctv., (2002) báo cáo thời gian bán đào thải của Cd ở hàu C gigas
được đưa từ vùng cửa biển Gironde bị ô nhiễm kim loại sang nuôi ở vùng không ô nhiễm (Vịnh Bourgneuf) là 137 ngày Trong khi đó, Wang và
Wang (2014) ghi nhận đối với hàu C sikamea
hằng số tốc độ đào thải Cd dao động trong khoảng 0,0091 đến 0,0267/ngày với thời gian bán đào thải là 26 - 77 ngày
Chan và ctv., (2002) đã chứng minh rằng
Cd trong sò huyết A granosa liên kết với protein giống metallothionein
Trang 8(metallothionein-like protein, MT) MT là những protein có trọng
lượng phân tử thấp (6 – 8 kDa) giàu cystein,
có vai trò quan trọng trong việc điều hòa các
nguyên tố cần thiết như Cu và Zn, cũng như xử
lý các nguyên tố độc như Cd, Hg, Pb,… Nhờ cơ
chế này, Cd bị bất hoạt và không tham gia vào
quá trình trao đổi chất tế bào, do đó làm tăng
thời gian bán đào thải của Cd
Có thể quy trình nuôi lưu không phải là một
môi trường hoàn hảo và thức ăn mà chúng tôi
bổ sung không cung cấp đầy đủ các chất dinh
dưỡng cần thiết cho sò huyết sinh trưởng nên
sau một thời gian nuôi lưu, 21 ngày, thì quá
trình sinh trưởng bị ảnh hưởng tiêu cực và tỷ lệ
cơ thịt trên trọng lượng thân có xu hướng giảm
Trong khi đó, tỷ lệ cơ thịt trên trọng lượng thân
ở NT không cho ăn tảo tươi có xu hướng giữa
cân bằng trong quá trình nuôi lưu, không có
sự khác biệt đáng kể giữa các thời điểm trước,
trong và sau quá trình nuôi lưu
Trong quá trình nuôi lưu, tỷ lệ cơ thịt sò
huyết trên tổng trọng lượng thân sò huyết tăng
lên theo thời gian nhưng hàm lượng protein lại
giảm xuống, hàm lượng tro lại tăng lên tương
ứng Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật
tự nhiên, trong quá trình nuôi lưu, lượng dưỡng chất không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của sò huyết, bắt buộc sò huyết muốn duy trì
và gia tăng tỷ lệ cơ thịt trên tổng trọng lượng phải sử dụng một lượng đáng kể protein của cơ thịt Chính vì vậy, đã làm gia tăng hàm lượng tro trong cơ thịt sò huyết
V KẾT LUẬN
Sau 5 tuần nuôi lưu, hàm lượng 4 kim loại nặng trong cơ thịt sò huyết có sự giảm nhẹ trong
3 – 5 ngày đầu tiên ở cả hai nghiệm thức có và không bổ sung tảo, sau đó sự biến động không
rõ rệt và không có ý nghĩa về mặt thống kê
(p>0,05) Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong
sò nuôi lưu có xu hướng giảm như protein và lipid, ngoại trừ tro có xu hướng tăng Cần tiến hành thêm những nghiên cứu thực nghiệm về các phương pháp loại thải kim loại nặng ra khỏi
cơ thịt sò huyết trước khi chế biến hoặc trong quá trình chế biến thành thực phẩm
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo (Mã số đề tài: B2013 – 12 – 07)
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Bộ Y tế, 2011 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với
giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm
(QCVN 8-2:2011/BYT).
Tài liệu tiếng Anh
Chan, M.K., Othman R., Zubir, D., Salmijah, S., 2002
Induction of a putative metallothionein gene
in the blood cockle, Anadara granosa, exposed
to cadmium Comparative Biochemistry and
Physiology Part C: Toxicology & Pharmacology
131, 123-132.
Denton, G.R.W., Burdon-Jones, C., 1981 Influence of
temperature and salinity on the uptake, distribution
and depuration of mercury, cadmium and lead by
the black-lip oyster Saccostrea echinata Marine
Biology 64, 317-326.
European Commission (EC), 2006 Setting maximum
levels for certain contaminants in foodstuffs
Official Jounal of the European Union 1881/2006:
5 – 24.
El-Gamal, M.M., 2011 The effect of depuration
on heavy metals, petroleum hydrocarbons,
and microbial contamination levels in Paphia
undulata (Bivalvia: Veneridae) Czech J Anim
Sci 56 (8): 345–354
El-Shenawy, N.S., 2004 Heavy-metal and microbial
depuration of the clam Ruditapes decussatusand its effect on bivalve behavior and physiology Environmental Toxicology 19: 143–153.
Folch, J., Lees, M., Stanley, G.H.S., 1957 A simple method for the isolation and purification of total
lipiddes from animal tissues Journal of Biological Chemistry 226, 497-509.
Geffard, A., Amiard, J.C., Amiard-Triquet, C.,
2002 Kinetics of metal elimination in oysters
from a contaminated estuary Comparative Biochemistry and Physiology Part C: Toxicology
& Pharmacology 131, 281-293.
NAFIQAD, 2013 Report Sanitation Monitoring Program for Bivalve Mollusc Production Areas
in 2012 and Plan for Program implementation in
2013 Hà Nội, 15 pages.
Tu, N.P.C., Ha, N.N., Agusa, T., Ikemoto, T., Tuyen, B.C., Tanabe, S., Takeuchi, I., 2011 Trace
elements in Anadara spp (Mollusca: Bivalva)
collected along the coast of Vietnam, with emphasis on regional differences and human
health risk assessment Fisheries Science 77,
1033-1043.
Wang, L., Wang, W.-X., 2014 Depuration of metals
by the green-colored oyster Crassostrea sikamea Environmental Toxicology and Chemistry 33,
2379-2385.
Trang 10EVALUATION OF THE DEPURATION PROCESS OF HEAVY METALS
(As, Cd, Hg, Pb) IN BLOOD COCKLES
(Anadara granosa LINNAEUS, 1758)
Ho Ngoc Linh1, Pham Gia Diep1,Nguyen Ngoc Ha2, Nguyen Van Dong3,
Nguyen Nhu Tri1, Nguyen Phuc Cam Tu1*
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the depuration of heavy metals in blood cockles Anadara granosa (Linnaeus, 1758) The cockles were depurated under laboratory conditions with two
treatments: with or without algae supplement The concentrations of four accumulated metals and biochemical composition of the cockles were determined at 0, 1, 2, 3, 5, 7, 14, 21, 28 and 35 days
In the period after rearing up from 3-5 days concentration of some heavy metals tend to decrease clearly being lower early day, especially Cd After 35 days of culture, a slight decrease in heavy metals was observed in the soft tissue of the blood cockles, however the diffrence was insignificant
For Cd, elimination rate constant was k d = 0.0049 /day and elimination half-life was 61 days Where
as, significant reductions in proximate composition in the cockles were found for protein and lipid, except ash content.
Keywords: Anadara granosa, heavy metals, blood cockle, depurations.
Người phản biện: TS Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh
Ngày nhận bài: 18/11/2015 Ngày thông qua phản biện: 18/12/2015
Ngày duyệt đăng: 25/12/2015
1 Faculty of Fisheries, Nong Lam University, Ho Chi Minh City
2 Research Institute of Biotechnology and Environment, Nong Lam University, Ho Chi minh City
3 Faculty of Chemistry, University of Sciences, Vietnam National University, Ho Chi minh City
* Email: npctu@hcmuaf.edu.vn