Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế việc nuôi tôm thẻ chân trắng (L. vannamei) giữa mô hình tôm – lúa (T – L) và chuyên tôm (CT), và góp phần phục vụ kế hoạch tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 64 hộ canh tác theo T – L và 62 hộ canh tác theo CT từ tháng 12/2014 đến tháng 01/2015 tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Trang 1SO SÁNH HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
Đoàn Văn Bảy1*, Phan Thanh Lâm1, Trần Văn Nhường2, Trịnh Quang Tú3
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế việc nuôi tôm thẻ chân trắng (L vannamei) giữa mô
hình tôm – lúa (T – L) và chuyên tôm (CT), và góp phần phục vụ kế hoạch tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 64 hộ canh tác theo T – L và 62 hộ canh tác theo CT từ tháng 12/2014 đến tháng 01/2015 tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Kết quả cho thấy diện tích trang trại không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai mô hình, với diện tích là 1,5 ha/hộ Mật độ thả nuôi của CT cao hơn T – L lần lượt là 43 PL/m2 và 21 PL/m 2 (p<0,05) Năng suất của CT là 3,13 tấn/ha/vụ và T – L là 1,32 tấn/ha/vụ Chi phí đầu tư CT
cao hơn 2,28 lần so với T – L nên CT sẽ chịu nhiều rủi ro hơn khi rảy ra sự cố trong vụ nuôi so với
T – L Đối với mô hình T – L lợi nhuận từ trồng lúa chiếm 10% tổng thu và có vai trò quan trọng trong việc đóng góp thu nhập và lương thực cho nông hộ Để phát triển bền vững mô hình T – L, chính quyền địa phương nên đầu tư cải tiến mô hình này, đầu tư nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa
và cải thiện chính sách tín dụng hỗ trợ cho sản xuất.
Từ khóa: mô hình tôm-lúa, chuyên tôm, hiệu quả canh tác.
1 Phòng Sinh thái Nghề cá và Tài nguyên Thủy sinh vật, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
* Email: baydv.ria2@mard.gov.vn
2 Trung tâm nghề cá thế giới
3 Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
I MỞ ĐẦU
Sau nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày
15/6/2000 của Chính phủ, việc chuyển dịch cơ
cấu sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy
sản diễn ra mạnh mẽ ở Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) Đến năm 2014 diện tích nuôi
tôm nước lợ toàn vùng là 604.954 ha, trong đó
nuôi tôm sú 544.710 ha chiếm trên 90%, nuôi
tôm thẻ chân trắng (TCT) 60.244 ha chiếm gần
10% tổng diện tích nuôi tôm nước mặn lợ, tập
trung tại 8 tỉnh ven biển gồm: Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Kiên Giang và Cà Mau Diện tích này tăng gấp
1,13 lần so với năm 2010, bình quân tăng 3,12%
năm (Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản,
2015) Bên cạnh các mô hình nuôi tôm phổ biến
như nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng
canh cải tiến, mô hình nuôi tôm – lúa (T – L)
được nông dân vùng ven biển của ĐBSCL áp
dụng với diện tích đến nay đạt khoảng 160.000
ha, năng suất bình quân đạt từ 320 đến 500 kg/ ha/vụ, phần lớn tập trung tại các tỉnh Kiên Giang,
Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bến Tre (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015)
Mô hình canh tác T – L tổng hợp được xem là giảm thiểu các rủi ro thiệt hại và thường gắn liền với hệ thống nuôi tôm đơn canh, luân canh với sản xuất lúa, đây là một trong những mô hình nuôi tôm bền vững với môi trường vùng nuôi tôm nước lợ (N Preston và H Clayton, 2003) Vùng T – L tại Mỹ Xuyên được biết đến
là vùng T – L tiêu biểu của tỉnh Sóc Trăng với diện tích khoảng 10.000 ha trên diện tích 17.700
ha nuôi tôm nước lợ Nuôi tôm nước lợ ở Mỹ Xuyên hiện nay chủ yếu dưới hai hình thức là quảng canh cải tiến (QCCT) hay còn gọi là mô hình T – L và bán thâm canh (BTC) hay chuyên tôm (CT) Việc sản xuất theo mô hình T – L, dựa trên sự xâm nhập mặn vào mùa khô (nuôi tôm từ tháng 2 đến tháng 8) và trồng lúa vào mùa mưa,
Trang 2khi có đủ lượng nước ngọt để rửa mặn (từ tháng
9 đến tháng 1 năm sau)
Mô hình T – L được xem là mô hình phổ
biến đang được đa số người dân áp dụng nuôi
ở các vùng ruộng trũng hiện nay, bởi hiệu quả
sử dụng đất cao và phù hợp với khả năng đầu
tư của người dân Hình thức canh tác này được
đánh giá là có hiệu quả cả về kinh tế và môi
trường Diện tích canh tác mô hình này thường
có mương bao quanh thửa ruộng (chiếm 25 -
30% diện tích) Thả giống nhân tạo với mật độ
từ 4 - 9 Post larvae (PL) tôm sú/m2, năng suất
thu hoạch tôm sú 1ha ruộng lúa 0,20 - 0,76 tấn/
ha/vụ (Phan Thanh Lâm và Vũ Vi An, 2008)
Mô hình CT là hình thức nuôi tôm BTC dựa
chủ yếu vào nguồn thức ăn công nghiệp dạng
viên Mật độ thả giống tôm sú dao động từ 10
- 25 PL/m2 Diện tích ao nuôi gần tương đương
với nuôi thâm canh, sử dụng hệ thống máy bơm
để chủ động cấp thoát nước, và hệ thống quạt
nước để đảm bảo cung cấp oxy cho tôm nuôi
và năng suất tôm dao động từ 1 - 3 tấn/ha (Phan
Thanh Lâm và Vũ Vi An 2008) Ở Mỹ Xuyên,
mô hình này được áp dụng do ao nuôi sâu, hầu
hết chỉ sử dụng để nuôi tôm trong năm và không
tiến hành trồng lúa sau vụ tôm (Phòng NN và
PTNT huyện Mỹ Xuyên 2014)
Năm 2010, diện tích trồng lúa trên nền đất
nuôi tôm là 7.929 ha; năm 2011, tăng lên 10.276
ha, trong hai năm 2012 và 2013 do hiệu quả của
việc nuôi tôm quá cao nên tình hình sản xuất
lúa trên nền tôm rất thấp chỉ đạt 9.000 ha, năm
2014 diện tích này đạt 9.914 ha, năm 2015 diện
tích gieo trồng lúa trên nền tôm là 10.271 ha
(Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng
2015) Trong năm 2013, với hiệu quả kinh tế
cao và thời gian nuôi ngắn nên việc chuyển đổi
đối tượng nuôi từ tôm sú sang tôm TCT diễn ra
mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh, diện tích tăng lên
đến 15.686 ha, sản lượng đạt 35.000 tấn, tăng
107,2% về diện tích, tăng 3 lần về sản lượng
so với cùng kỳ năm 2012 (Sở Nông nghiệp
và PTNT tỉnh Sóc Trăng, 2013) Do hình thức nuôi chuyên tôm với đối tượng tôm TCT cho lợi nhuận cao hơn T – L, nên người dân đang
có xu hướng chuyển sang hình thức nuôi CT
CT tuy có lợi nhuận cao hơn gấp nhiều lần so với cây lúa, nhưng chi phí đầu tư và mức độ rủi
ro lớn nên khó có khả năng phục hồi sản xuất nếu thua lỗ lớn Mô hình T – L tuy có lợi nhuận thấp hơn, nhưng T – L có chi phí đầu tư và mức
độ rủi ro thấp Điều quan trọng là T – L có khả năng phục hồi sản xuất nếu thua lỗ và hơn nữa
mô hình này ít gây tác động xấu đến môi trường (Nguyễn Văn Hảo và Phan Thanh Lâm, 2009) Nghiên cứu “So sánh hiệu quả các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng quy mô nông hộ vùng tôm-lúa huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng” nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình T – L và mô hình CT phục vụ định hướng tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh Sóc Trăng Kết quả nghiên cứu
sẽ góp phần đề xuất các giải pháp phát triển bền vững mô hình này trong địa bàn tỉnh và các vùng nuôi T – L có điều kiện tương đồng
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và số mẫu thực hiện điều tra
Nghiên cứu thực hiện tại 9 xã: Tham Đôn, Hòa Tú 1, Hòa Tú 2, Gia Hòa 1, Gia Hòa 2, Thạnh Phú, Thạnh Quới, Ngọc Tố và Ngọc Đông thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Thời gian thực hiện từ tháng 12/2014 đến tháng 01/2015
Nghiên cứu này chọn 126 hộ dân thực hiện điều tra, trong đó có 62 hộ canh tác theo mô hình CT và 64 hộ canh tác theo mô hình T – L (Bảng 1)
Trang 3Bảng 1 Phân bố số hộ chọn để điều tra tại huyện Mỹ Xuyên
2.2 Phương pháp xử lý và phân tích
số liệu
Dùng phần mềm Excel 2007 và SPSS 20 để
xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu sẽ được phân tích giá trị trung bình,
độ lệch chuẩn và so sánh các giá trị trung bình bằng
kiểm định (T - test) với mức ý nghĩa 5%
Số liệu được phân tích theo các phương
pháp thống kê mô tả về phương sai, độ lệch
chuẩn, số trung bình, tỷ lệ phần trăm mô tả thu
nhập và các đặc điểm về kinh tế xã hội của nông
dân ở hai hình tôm lúa và CT
Phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận
được áp dụng để tính hiệu quả sản xuất của hai
mô hình
Dựa vào các chỉ tiêu đó để tiến hành so sánh, phân tích và đánh giá mô hình từ đó rút ra nhận xét và đề xuất giải pháp
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Một số thông tin chung về nuôi tôm
Kết quả điều tra chỉ ra rằng diện tích canh tác trung bình của các hộ dân ở hai mô hình
T – L và CT thuộc huyện Mỹ Xuyên là 1,50 ha/hộ Số vụ nuôi trung bình trong 5 năm gần đây của CT là 8,60 và T – L là 7,64 Số vụ nuôi của CT cao hơn T – L 0,96 vụ do các hộ canh tác theo T – L luân canh thêm một vụ lúa vào các tháng mùa mưa nên số vụ nuôi tôm ít hơn (Bảng 2)
Bảng 2 Thông tin về diện tích và vụ nuôi tôm của nông hộ Chỉ tiêu Chuyên tôm (n=62) Tôm - lúa (n=64) Tổng thể (n=126)
Số vụ nuôi tôm sú trong năm (vụ) 1,03±0,16a 1,14±0,40a 1,09±0,33
Số vụ nuôi tôm thẻ trong năm (vụ) 2,15±0,74a 1,54±0,51b 1,91±0,72
Số vụ nuôi tôm trong 5 năm (vụ) 8,60±2,66a 7,64±2,75b 8,11±2,74
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn tại huyện Mỹ Xuyên, 2014; Các chỉ số so sánh nếu cùng chữ cái trong cùng một dòng thì không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05); các chỉ số so
sánh nếu khác chữ cái thì có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Trang 4Kết quả nuôi tôm trong 5 năm gần đây của các hộ dân được trình bày trong Hình 1.
Hình 1 Tỷ lệ kết quả các vụ nuôi tôm trong 5 năm vừa qua
Từ hình 1 cho thấy tỉ lệ các vụ lỗ (27%)
và hòa vốn (15%) vẫn còn lớn so với tổng số,
nguyên nhân chính dẫn đến thua lỗ trong canh
tác của nông dân là do sự biến đổi thất thường
của thời tiết và một số hộ tăng mật độ thả nuôi
Nhìn chung, tình hình nuôi tôm hiện nay tại
Mỹ Xuyên vẫn còn nhiều rủi ro, một trong những nguyên nhân có thể là do trình độ canh tác của người dân còn nhiều hạn chế, thời tiết thay đổi thất thường và ô nhiễm môi trường nước
3.2 Thông tin về thu nhập của nông hộ
Hình 2 Nguồn thu nhập chính của nông hộ trong năm 2014
* Nguồn thu nhập khác bao gồm: chăn nuôi, làm mướn, hoa màu, lương hưu, trợ cấp…
Trang 5Nguồn thu nhập chính của các hộ dân của
hai mô hình đều là tôm, nhưng ở mô hình T –
L thì thu nhập từ cây lúa chiếm tỉ lệ 10%, cho
thấy được vai trò của cây lúa ngoài việc đảm
bảo lương thực còn đóng góp một phần trong
thu nhập của người dân (Hình 2)
Các hộ dân T – L có nguồn thu nhập khá
đa dạng so với các hộ CT Mặc dù, lợi nhuận từ
nuôi tôm rất cao, nhưng tính đa dạng của nguồn
thu nhập của mô hình T – L sẽ góp phần giảm
thiểu rủi ro khi xảy ra dịch bệnh trên tôm hoặc
thiên tai trong vụ sản xuất tôm (Nguyễn Văn
Hảo và Phan Thanh Lâm, 2009)
3.3 Thông tin về nuôi tôm của nông hộ
Trong nghiên cứu này, hầu hết các hộ điều
chuyển sang nuôi tôm chân trắng (TCT), CT thả
nuôi 2 vụ/năm trong khi T – L nuôi khoảng 2 năm 3 vụ (Bảng 3) Mật độ thả nuôi trung bình trong mô hình CT (43 PL/m2) có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê với mô hình T – L là (21 PL/m2)
Năng suất tôm nuôi có sự khác biệt lớn, khi năng suất của mô hình CT đạt 3,13 tấn/ha/
vụ, còn T – L đạt 1,32 tấn/ha/vụ Năng suất thu hoạch có mối liên hệ chặt chẽ với mật độ thả nuôi và kinh nghiệm sản xuất của nông hộ Theo Trương Hoàng Minh (2011) mô hình
T – L cải tiến với đối tượng tôm sú đạt năng suất là 1,36 tấn/ha/vụ Như vậy, đối với T – L dù nuôi tôm sú hay tôm TCT thì năng suất tôm thu hoạch không có sự chênh lệch có ý nghĩa
Bảng 3 Một số thông số kỹ thuật nuôi tôm năm 2014
(n=62)
Tôm - lúa (n=64)
Tổng thể (n=126)
Số vụ nuôi tôm sú trong năm (vụ) 1,03±0,16 1,14±0,40 1,09±0,33
Số vụ nuôi tôm thẻ trong năm (vụ) 2,15±0,74 1,54±0,51 1,91±0,72 Mật độ thả (PL/m2) 43,11±25,42a 21,19±13,93b 32,82±23,47
Năng suất tôm nuôi (tấn/ha) 3,13±2,44a 1,32±1,04b 2,27±2,11
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn tại huyện Mỹ Xuyên, 2014; Các chỉ số so sánh nếu cùng chữ cái trong cùng một dòng thì không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05); các chỉ số so
sánh nếu khác chữ cái thì có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05)
3.4 Hạch toán kinh tế sản xuất
Chi phí sản xuất
Mô hình CT cho tôm TCT có mức đầu tư
249 triệu đồng/ha cao hơn 2,28 lần so với mô
hình T – L (109 triệu đồng/ha) Chi phí đầu tư
cho T – L thấp, giúp cho việc tái đầu tư sản xuất
cho vụ sau cũng dễ dàng hơn CT
Chi phí sản xuất bao gồm: chi phí cải tạo ao,
chi phí vôi, chi phí thuốc, chi phí thức ăn, con
giống, khấu hao tài sản cố định Trong đó chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm khoảng 50% tổng chi phí sản xuất của hộ (Hình 3) Ngoài ra, chi phí con giống và chi phí thuốc, hóa chất cũng chiếm tỷ lệ khá cao, tỷ lệ lần lượt
là 18% và 13% Các chi phí còn lại chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng chí phí sản xuất của nông hộ
Trang 6Hình 3 Phân bố cơ cấu chi phí đầu tư cho 1ha nuôi tôm trong năm 2014
Doanh thu và lợi nhuận
Mô hình CT có lợi nhuận trung bình 97 triệu
đồng/ha/vụ cao hơn 77 triệu đồng/ha/vụ so với
mô hình T – L (20 triệu đồng/ha/vụ) Tuy nhiên,
theo Bảng 4 thì mô hình CT có mức chi phí đầu
tư cao hơn 2,28 lần và số tiền lỗ cũng nhiều hơn
mô hình T – L Điều này có nghĩa rằng mô hình
CT sẽ chịu nhiều rủi ro hơn so với T – L Bảng 4 Hiệu quả nuôi tôm tính cho 1ha mặt nước trong năm 2014
Chỉ tiêu Chuyên tôm (n=62) Tôm - lúa (n=64) Tổng thể (n=126)
I Nhóm nuôi tôm bị lỗ
Số hộ liên quan (hộ)
Tổng thu (triệu đồng/ha/vụ) 141,17±131,15a 64,57±81,09b 98,79±115,51 Tổng chi (triệu đồng/ha/vụ) 225,99±140,31a 92,14±90,75b 151,94±132,51 Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ) -84,82±69,42a -27,57±32,29b -53,15±59,07
Tỷ suất lợi nhuận (LN/TC) -0,49±0,35a -0,30±0,35a -0,36±0,35
II Nhóm nuôi tôm có lời
Số hộ liên quan (hộ)
Tổng thu (triệu đồng/ha/vụ) 453,19±372,09a 188,73±137,78b 343,63±324,31 Tổng chi (triệu đồng/ha/vụ) 246,51±168,64a 125,80±72,32b 196,50±148,98 Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ) 206,68±226,62a 62,93±80,10b 147,13±193,55
Tỷ suất lợi nhuận (LN/TC) 0,83±0,49a 0,50±0,37b 0,75±0,48
III Tính chung cho nhóm
Số hộ liên quan (hộ)
Tổng thu (triệu đồng/ha/vụ) 347,50±344,05a 130,03±128,95b 245,28±288,87 Tổng chi (triệu đồng/ha/vụ) 249,72±158,75a 109,89±82,54b 178,60±143,69 Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ) 97,78±233,66a 20,14±76,74b 66,68±182,73
Tỷ suất lợi nhuận (LN/TC) 0,39±0,76a 0,18±0,56b 0,37±0,69
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn tại huyện Mỹ Xuyên, 2014; Các chỉ số so sánh nếu cùng chữ cái trong cùng một dòng thì không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05); các chỉ
số so sánh nếu khác chữ cái thì có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Trang 7Trong nhóm hộ canh tác có lãi, cho thấy
các hộ dân đó có chi phí đầu tư cao hơn nhóm
hộ bị lỗ Trong Bảng 4, không có trình bày
nhóm hộ hòa vốn vì người nuôi có lời ít (dưới
10 triệu đồng) thì thường họ xem là hòa vốn
Trong tổng số mẫu T – L được phỏng vấn, thì
chỉ có 55 hộ có thông tin đầy đủ về doanh thu
và chi phí
T – L có mức độ thâm canh thấp hơn và
nguồn thu nhập đa dạng hơn, nên T – L có thể
vượt qua rủi ro do dịch bệnh tôm so với CT
Việc có thêm thu nhập từ các nguồn thu khác,
khi vụ tôm thất bại sẽ cho phép người dân mô
hình T – L quay lại nuôi tôm ở vụ kế tiếp, trong
khi những hộ CT khi gặp rủi ro về dịch bệnh
tôm thì sẽ rất khó để tái đầu tư sản xuất
3.5 Thông tin về trồng lúa của nông hộ
Lượng giống lúa
Lượng giống trung bình của các hộ dân
canh tác, theo mô hình tôm lúa là 120 kg/ha/
vụ Số lượng này phù hợp với tiêu chuẩn kỹ
thuật của trồng lúa, không có sự khác biệt so
với những vùng sản xuất lúa chuyên canh
Các giống lúa thường được nông dân sử
dụng thường có tính chịu mặn và có năng suất
khá cao như: ST5, OM6976, Một bụi đỏ,…
Lượng phân bón
Lượng phân bón trung bình ở mức 301 kg/
ha, thấp hơn 33% so với lượng phân bón vùng chuyên lúa Như vậy, từ việc tái sử dụng bùn đáy vụ nuôi tôm, đã góp phần giảm chí phí phân bón cho sản xuất và giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm môi trường (RIA2, 2009)
Việc sử dụng ít nguyên vật liệu cho sản xuất (vụ tôm, vụ lúa) đã tác động đến quá trình phát thải khí nhà kính của mô hình T – L, cũng được đánh giá là ít hơn so với CT (Anh et al., 2010; Phan et al., 2013) Luân canh trồng lúa sau vụ tôm, còn giúp tăng hiệu quả cho việc cải tạo đất
và cắt nguồn dịch bệnh trên tôm cho vụ nuôi kế tiếp và vì vậy T – L được nhận định là mô hình
có tính bền vững cao (FAO, 2013)
Năng suất
Năng suất thu hoạch đạt khá cao khoảng 5,50 tấn/ha/vụ, năng suất phụ thuộc nhiều vào giống lúa và chất lượng nguồn nước mà các nông hộ đang sử dụng phục vụ cho canh tác Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, tìm ra các giống lúa có khả năng chịu mặn tốt và năng suất cao
Bảng 5 Các thông số kỹ thuật trồng lúa trong mô hình T – L năm 2014
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn tại huyện Mỹ Xuyên 2014)
Trang 83.6 Hạch toán kinh tế năm sản xuất lúa
Phân tích hiệu quả sản xuất lúa
Lợi nhuận từ trồng lúa (chiếm 10% trong
tổng thu nhập) thấp hơn nhiều so với lợi nhuận
từ con tôm, vì con tôm đóng vai trò chủ đạo
trong cơ cấu thu nhập của nông hộ Lợi nhuận từ
lúa chỉ góp phần nhỏ trong thu nhập, nhưng nó
có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lương
thực cho nông hộ (Hình 2) Góp phần tạo thêm
sự đa dạng cho thu nhập và nguồn lương thực của nông hộ
Tỉ suất lợi nhuận là 1,16 điều này có nghĩa
là chi phí đầu tư là 1 thì lợi nhuận thu vào là 1,16 (đã trừ chi phí) Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất của cây lúa khá cao, do giảm được chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
Bảng 6 Hiệu quả trồng lúa trong mô hình T – L tính cho 1ha năm 2014
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn tại huyện Mỹ Xuyên 2014)
Phân tích cơ cấu chi phí đầu tư của lúa
Trong các chi phí sản xuất lúa, thì chi phí thu hoạch chiếm tỉ lệ cao nhất, nguyên nhân do nền ruộng thấp so với bờ ruộng và nền đất có kết cấu không chặt khó áp dụng máy móc cho thu hoạch
Hình 4 Cơ cấu chi phí đầu tư cho 1 ha trồng lúa trong năm 2014
Trang 9Việc thu hoạch lúa chỉ có thể áp dụng bằng
phương pháp thủ công, nên ảnh hưởng đến chi
phí và lợi nhuận của nông dân
Chi phí phân bón, thuốc trừ sâu giảm đáng
kể so với mô hình chuyên lúa, điều đó giúp hạt
gạo có chất lượng cao và an toàn, do ít sử dụng
thuốc hóa học
Trong các chi phí sản xuất, thì chi phí giống
khá cao do nông dân phải sử dụng những giống
lúa chịu mặn, giá lúa giống còn cao so với vùng
chuyên lúa Vì vậy, cần có chính sách phù giúp
người dân hạ giá thành sản phẩm tăng thu nhập
(Hình 4)
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Diện tích canh tác trung bình của các hộ
dân ở hai mô hình T – L và CT thuộc huyện Mỹ
Xuyên là 1,50 ha/hộ Mật độ thả nuôi của tôm
TCT 43 PL/m2 cao hơn so với T – L 21 PL/m2
Hệ số FCR của CT và T – L gần như tương đồng
với nhau là 1,22 Năng suất của CT 3,13 tấn/ha/
vụ cao hơn rất nhiều so với T – L 1,32 tấn/ha/vụ
Chi phí sản xuất, thu nhập, lợi nhuận, tỷ
suất lợi nhuận và chi phí của CT cao hơn T – L
Mô hình CT có lợi nhuận trung bình 97 triệu
đồng/ha/vụ cao hơn 77 triệu đồng/ha/vụ so với
mô hình T – L CT có mức chi phí đầu tư cao
hơn 2,28 lần và số tiền lỗ khi gặp rủi ro cũng
nhiều hơn mô hình T – L, CT sẽ lỗ khoảng 85
triệu đồng/ha/vụ so với 27,5 triệu đồng/ha/vụ so
với T – L
Nguồn thu nhập chính từ hai mô hình trên
đều là tôm, nhưng đối với T – L hiệu quả sản
xuất của cây lúa khá cao với tỉ suất lợi nhuận
là 1,16 do giảm được chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Trong các chi phí sản xuất, thì chi phí giống lúa chiếm 10% là khá cao do nông dân phải sử dụng những giống lúa chịu mặn, giá giống còn cao so với vùng sản xuất chuyên lúa Lợi nhuận từ trồng lúa chiếm 10% trong tổng thu, tuy lợi nhuận này thấp nhưng lúa có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lương thực cho nông hộ và tạo ra sự đa dạng cho thu nhập và nguồn lương thực của nông hộ
4.2 Đề xuất
Để mô hình T – L tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng được duy trì và phát triển bền vững, chính quyền địa phương (CQĐP) cần thực hiện một số giải pháp sau:
Với năng suất và lợi nhuận cao của CT, xu hướng phát triển mô hình này ngày càng mạnh kèm theo những rủi ro càng lớn CQĐP phải đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về lợi ích và hiệu quả của hình thức nuôi tôm lúa nhằm duy trì mô hình này
Do T – L có tính bền vững cao nên CQĐP cần phối hợp với các cơ quan nghiên cứu tổ chức thực hiện các mô hình trình diễn kết hợp xây dựng Quy trình kỹ thuật nuôi bền vững T – L cho nông dân tham quan, học hỏi kinh nghiệm, nhằm tăng hiệu quả sản xuất của mô hình này Chi phí lúa trong T – L hiện nay là khá cao nên cần đầu tư hợp tác nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa có khả năng chịu mặn, chịu phèn tốt, kháng bệnh, năng suất cao phục vụ mô hình này Việc rủi ro trong sản xuất tôm nuôi là thường xuyên ở cả 2 mô hình nên cần có chính sách tín dụng hỗ trợ cho sản xuất
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng, 2015
Thực trạng phát triển mô hình Tôm – Lúa và giải
pháp phát triển mô hình Tôm – Lúa tại tỉnh Sóc
Trăng năm 2015.
Nguyễn Văn Hảo và Phan Thanh Lâm, 2009 Phát triển
hệ thống canh tác tôm - lúa ở ĐBSCL thông qua
xây dựng mô hình đồng quản lý Bài học kinh
nghiệm ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Báo
cáo tham luận tại Hội nghị: Phát triển hệ thống
sản xuất lúa tôm biển bền vững vùng ven biển ở
ĐBSCL Trang 74 – 85.
Phan Thanh Lâm và Vũ Vi An, 2008 Nuôi trồng và
Khai thác thủy sản ở ĐBSCL Hiện trạng và
xu thế phát triển Viện Nghiên cứu và NTTS 2
Thành phố Hồ Chí Minh Trang 200.
Phòng NNvàPTNT huyện Mỹ Xuyên 2012 – 2014
Báo cáo tổng kết nông nghiệp - thủy sản năm 2012
– 2014.
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng, 2013 Báo
cáo tổng kết nuôi tôm nước lợ năm 2013 nhiệm vụ
năm 2014 Trang 1.
Trung tâm khuyến nông quốc gia, 2015 Hội nghị “Bàn
giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển sản xuất
tôm – lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long” tại Kiên
Giang ngày 23/9/2015.
Trương Hoàng Minh, Nguyễn Thái Bình, Trần Trọng
Tân, 2011 Thực trạng kỹ thuật, hiệu quả tài chính
và tác động của chính sách đến mô hình tôm sú - lúa luân canh ở ĐBSCL Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ Cần Thơ (Trang 1 - 8)
Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 2015 Xây dựng quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030 135 trang.
Tài liệu tiếng Anh
Anh, T.P et al., 2010 Water pollution by intensive
brackish shrimp farming in south-east Vietnam: Causes and options for control Agricultural Water Management, 97(6), pp.872 - 882 Availableat: http://dx.doi.org/10.1016/j.agwat 2010 01.18 FAO, 2013 FAO/MARD Technical Workshop on Early Mortality Syndrome (EMS) or Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome (AHPNS)
of Cultured Shrimp (under TCP/VIE/3304), Ha Noi.
Preston, N., and Clayton , H., 2003 Rice–shrimp farming in the Mekong Delta: biophysical and socioeconomic issues ACIAR Technical Reports
No 52e, 170 p.
Phan, T.L et al., 2013 Nutrient characteristics and
utilization of striped catfish pond sediment
(Pangasiandon hypophthalus) in the Mekong
Delta, Viet Nam In International Fisheries Symposium 2013 Pattaya
RIA2, 2009 Fisheries comanagement: A case study
in rice-shrimp rotation in Soc Trang province, Research Institute for Aquaculture No.2, Ho Chi Minh.