1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hiện trạng kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi cá chình (Anguilla marmorata) ở tỉnh Cà Mau

8 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 347,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 04 năm 2016 thông qua phỏng vấn trực tiếp 30 hộ nuôi cá chình ở tỉnh Cà Mau bằng biểu mẫu soạn sẵn nhằm đánh giá một số yếu tố kỹ thuật và tài chính cũng như xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá chình là loài thủy sản có giá trị dinh

dưỡng và kinh tế cao, thích hợp với nhiều mô

hình nuôi Hiện nay công nghệ ương cá chình

giống đã được thực hiện thành công Nghề nuôi

cá chình ở Việt Nam khởi đầu từ những năm

2000 Loài nuôi chủ yếu là cá chình hoa (Anguilla

marmorata) và cá chình mun (Anguilla bicolor

pacifica) trong đó cá chình hoa chiếm 90-95%

Ở nước ta, những năm gần đây nghề nuôi cá

chình trong ao phát triển ở Bạc Liêu, Cà Mau

hay nuôi trong bè ở Phú Yên, Khánh Hòa, Tiền

Giang bước đầu đã thu được kết quả tốt Hiện

nay, ở tỉnh Cà Mau, hình thức nuôi cá chình hoa

(Anguilla marmorata) trong ao đất đang phát

triển mạnh Theo Chi cục Nuôi trồng Thủy sản

tỉnh Cà Mau năm 2015 có khoảng 800-1.000

ha nuôi cá chình thương phẩm, với diện tích ao

nuôi từ 300-1.000 m2 Các hộ nuôi tập trung chủ

yếu ở thành phố Cà Mau và một ít ở các huyện

vùng ngọt hóa như U Minh, Thới Bình, Trần

Văn Thời Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi trong

ao đất Cá chình có tiềm năng để phát triển rất lớn ở Cà Mau, hiện có khoảng 4.000 hộ triển khai mô hình nuôi cá chình thương phẩm xuất khẩu Do đó, diện tích nuôi cá chình có thể sẽ được mở rộng ở các huyện trong tỉnh Nguồn thức ăn được tận dụng từ các loại cá tạp ở các vuông nuôi tôm, chẳng hạn có thể nuôi cá rô phi để làm thức ăn cho cá chình Theo Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải (2008), nuôi cá chình với mật độ 0,9 con/m2 có tỉ lệ sống 82,7%, năng suất đạt 95 kg/100 m2 và lợi nhuận 19,596 triệu đồng/100 m2; Nguyễn Thanh Long và Trần Ngọc Hải (2014), nuôi cá chình với mật độ 0,32 con/m2 có tỉ lệ sống 82% và năng suất 4.186 kg/ ha/vụ và lợi nhuận 1.220 triệu đồng/ha/vụ Tuy nhiên, cái khó của các hộ nuôi cá chình hiện nay

là con giống còn khá đắt, chất lượng cá giống không ổn định nên tỷ lệ sống thấp làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi Mật

độ nuôi còn thưa, chưa tận dụng được hết khả

HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH

NUÔI CÁ CHÌNH (Anguilla marmorata) Ở TỈNH CÀ MAU

Lý Văn Khánh1*

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 04 năm 2016 thông qua phỏng vấn trực tiếp 30 hộ nuôi cá chình ở tỉnh Cà Mau bằng biểu mẫu soạn sẵn nhằm đánh giá một số yếu tố

kỹ thuật và tài chính cũng như xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau Kết quả cho thấy diện tích trung bình của các ao nuôi là 438±41,2 m²/ao, với mật

độ nuôi là 1,1±0,1con/m², cá chình giống được thả vào ao nuôi có kích cỡ trung bình 65,2±13,1 g/ con, cá được cho ăn chủ yếu bằng cá tạp sau thời gian nuôi 16,9 ± 4,2 tháng, trung bình cá đạt kích

cỡ 1,6±0,5 kg/con, với tỉ lệ sống trung bình đạt 92,5 ± 2,2%, năng suất trung bình cá chình thương phẩm đạt 105±15,8 kg/100m² Kết quả cho thấy với chi phí sản xuất là 11,5±2,0 triệu đồng/100m²/

vụ, người nuôi có thu nhập 38,9±7,4 triệu đồng/100 m²/vụ, lợi nhuận trung bình đạt 26,5±6,9 triệu đồng/100 m²/vụ Tuy nhiên nghề nuôi cá chình cũng gặp một số khó khăn, nhất là cần vốn đầu tư lớn và nguồn cá giống hạn chế do lệ thuộc vào giống tự nhiên và giá cao.

Từ khóa: Anguilla marmorata, Cà Mau, chi phí-lợi nhuận, kỹ thuật

1 Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.

* Email: lvkhanh@ctu.edu.vn

Trang 2

năng về đất đai của người dân Với tình hình

trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá

một số khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả tài chính,

từ đó đưa ra đề xuất cải thiện hiệu quả kỹ thuật

cũng như kinh tế góp phần phát triển bền vững

mô hình nuôi cá chình ở tỉnh Cà Mau nói riêng

và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02/2016

đến tháng 04/2016, ở phường Tân Thành,tỉnh

Cà Mau

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thông tin thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua

các bản tin thủy sản của Tổng cục Thủy sản,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi

cục Thủy sản tỉnh Cà Mau và các báo cáo định

kỳ hoặc tổng kết hàng năm của cơ quan chuyên

ngành của tỉnh Cà Mau

Nội dung thông tin thứ cấp bao gồm: tình

hình nuôi trồng thuỷ sản ở địa phương và khái

quát tình hình nuôi cá chình thương phẩm tại

địa phương về kỹ thuật cũng như tài chính

2.2.2 Thông tin sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu bằng phương pháp

chọn ngẫu nhiên và phỏng vấn trực tiếp 30 nông

hộ nuôi cá chình từ danh sách các hộ nuôi cá

chình ở phường Tân Thành bằng phiếu phỏng

vấn soạn sẵn Phiếu phỏng vấn gồm các nội

dung chính như sau:

Thông tin chung về nông hộ: thông tin cá

nhân, số lao động, kinh nghiệm, quy mô, nguồn

thông tin kinh tế-kỹ thuật, trình độ chuyên môn,

lý do lựa chọn mô hình nuôi cá chình thương

phẩm

Thông tin về kỹ thuật: nguồn gốc cá giống,

kích cỡ, cách chọn giống, mật độ thả, số lần thả

giống, kích cỡ giống, nguồn nước, độ mặn nước

nuôi, loại thức ăn, cách cho ăn, thời gian nuôi,

tỷ lệ sống, khối lượng trung bình cá thu hoạch,

năng suất Thuốc, hoá chất sử dụng và các loại

bệnh thường xuất hiện trong quá trình nuôi

Thông tin về tài chính: Chi phí cố định bao

gồm chi phí thuê đất, xây dựng trang trại, chi phí máy móc, trang thiết bị Chi phí biến đổi bao gồm chi phí cá giống, chi phí thức ăn, thuốc hoá chất, chi phí nhân công, điện, nước, nhiên liệu, vận chuyển Doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận Nguồn vốn kinh doanh tự có hay vay, chính sách vay, những khó khăn về tài chính trong quá trình sản xuất

Những thuận lợi, khó khăn và kinh nghiệm rút ra được trong quá trình nuôi của người dân Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi

+ Tổng thu = sản lượng cá thương phẩm bán ra x giá bán

+ Tổng chi = chi phí cố định + chi phí biến đổi

+ Lợi nhuận = tổng thu – tổng chi

+ Tỷ suất lợi nhuận = lợi nhuận/tổng chi

2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

Các phương pháp sử dụng phân tích các

số liệu được thể hiện giá trị trung bình, độ lệch chuẩn bằng phương pháp thống kê mô tả Các phần mềm SPSS 21, Excel 2010 được sử dụng

để phân tích thống kê Số liệu được thu thập sẽ được tổng hợp, kiểm tra sơ bộ trước khi nhập vào máy để xử lí

Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng

để mô tả các biến định tính về tần suất và giá trị phần trăm (%) Các biến định tính như: giới tính, trình độ học vấn, quy trình nuôi những thuận lợi, khó khăn

Phương pháp phân tích định lượng: Dùng

để mô tả hiện trạng các chỉ tiêu về kỹ thuật và tài chính trong việc nuôi cá chình thể hiện qua giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất Những biến định lượng cơ bản như: Số năm kinh nghiệm, sản lượng, mật

độ, năng suất, lượng thức ăn, các biến chi phí, thu nhập, lợi nhuận

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thông tin chung của các hộ nuôi cá chình

Qua kết quả khảo sát cho thấy diện tích của các hộ nuôi cá chình trung bình là 8.450±4.023

Trang 3

m²/hộ, dao động từ 3.800-20.500 m²/hộ Kết

quả khảo sát cũng cho thấy có 90% chủ hộ nuôi

là nam giới và có độ tuổi trung bình khoảng

48,1±15,2 tuổi, trung bình có khoảng 9,64±3,07

năm kinh nghiệm nuôi cá chình, thấp nhất là

2 năm và cao nhất là 19 năm kinh nghiệm sản

xuất (Bảng 1), điều này cho thấy mô hình nuôi

cá chình đã xuất hiện khá lâu tại tỉnh Cà Mau, hầu hết đây là những hộ chuyển dịch từ nuôi tôm công nghiệp không thành công sang nuôi

cá chình

Bảng 1: Thông tin chung về hộ nuôi cá chình

Số lao động trong gia đình trung bình ở mức

2,6±0,1 người/hộ, dao động từ 2 đến 4 người ở

mỗi hộ và có 100% số hộ nuôi được khảo sát

là không thuê mướn kỹ thuật viên do thời gian

sản xuất một đợt tương đối dài và nhiều hộ nuôi

với quy mô nhỏ nên rất tốn chi phí nhân công

cũng như kỹ sư, mặt khác cá chình là đối tượng

dễ nuôi, ít bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp, và chế độ

ăn cũng đơn giản nên hầu hết chủ hộ nuôi chịu trách nhiệm về kỹ thuật nuôi và sử dụng lao động trong gia đình trong quá trình sản xuất là chủ yếu

Bảng 2: Ao nuôi cá chình của các nông hộ

Tổng diện tích NTTS của nông hộ (m²/hộ) 8.133±3.720 3.000 20.000 Tổng diện tích nuôi cá chình (m²/hộ) 4.720±2.850 1.000 13.000

Qua Bảng 2 cho thấy, tổng diện tích nuôi

trồng thủy sản của mỗi nông hộ trung bình là

8.133±3.720 m²/hộ, dao động từ 3.000-20.000

m²/hộ, qua khảo sát cho thấy có 63,3%, tương

ứng 19 hộ sử dụng diện tích sản xuất trên để

nuôi kết hợp cá chình với cá bống tượng, hoặc

tách rời hai đối tượng nuôi, tổng diện tích nuôi

cá chình của mỗi nông hộ trung bình khoảng

4.720±2.850 m²/hộ, thấp nhất là 1.000 m²/hộ và

cao nhất là 13.000 m²/hộ Tổng diện tích nuôi

cá chình chiếm 86,7%, cá bống tượng chiếm

13,3% trong tổng diện tích nuôi trồng thủy sản

kết hợp của mỗi hộ nuôi Số ao nuôi cá chình

của mỗi hộ trung bình khoảng 8,7±3,0 ao/hộ

nuôi, dao động từ 1-26 ao/hộ, số ao lắng mỗi hộ

nuôi trung bình khoảng 2,8±1,2 ao/hộ, thấp nhất

là 1 ao/hộ, cao nhất là 7 ao/hộ nuôi So với diện

tích của hộ nuôi tôm sú (3,73 ha/hộ) (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) nên các hộ nuôi thường tận dụng hết diện tích

để nuôi cá chình

3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi

cá chình

Qua khảo sát cho thấy trung bình diện tích mặt nước của mỗi ao là 438±41,2 m²/ao, dao động từ 300 m²/ao đến cao nhất là 1.000 m²/ao,

độ sâu mỗi ao trung bình khoảng 1,63±0,95 m,

đa số độ sâu ao của mỗi hộ điều không chênh lệch quá nhiều so với giá trị trung bình Mực nước ao cách bờ trung bình khoảng 0,57±0,02

m, pH nước đạt 7,46±0,11, Độ dày lớp bùn đáy đạt 17,1±0,41 cm, độ mặn trung bình khoảng 2,33±0,58‰, dao động từ 0-10‰ (Bảng 3) Kết quả khảo sát cho thấy diện tích ao nuôi trung

Trang 4

Bảng 3: Đặc điểm ao nuôi cá chình được khảo sát

Diện tích mặt nước (m²/ao) 438±41,2 300 1.000

bình cao hơn so với kết quả nghiên cứu Lê Quốc

Việt và Trần Ngọc Hải (2008) và thấp hơn kết quả khảo sát của Nguyễn Thanh Long và Trần Ngọc Hải (2014)

Hầu hết các hộ nuôi đều cải tạo ao trước

mùa vụ mới hoặc trước khi thả giống với các

hình thức như sên vét ao để đảm bảo độ sâu

thích hợp, hút hết lớp bùn đáy, bờ ao phải chắc

chắn, không để nước rò rỉ vào ao cá để tránh cá

làm hang và sổng thoát Kết quả khảo sát cho

thấy các hộ nuôi cá chình sử dụng vôi CaO để

cải tạo với liều lượng trung bình khoảng 5-7

kg/100 m² Quá trình cải tạo ao kéo dài khoảng 7-10 ngày thì bắt đầu thả giống, hầu hết các hộ nuôi tập trung thả giống từ tháng 5 đến tháng

8 nhằm chủ động được nguồn nước ngọt cũng như nước mưa, mặt khác chủ động được nguồn con giống mua về cả về số lượng lẫn giá cả cũng thấp hơn so với những tháng khác

Bảng 4: Kích cỡ, mật độ nuôi và tỉ lệ sống của cá chình

Kích cỡ con giống (g/con) 65,2 ± 13,1 30 100

Giá con giống (triệu đồng/kg) 1,3 ± 0,1 1,2 1,6

Số lần thay nước (lần/vụ nuôi) 2,5 ± 0,2 1 3

Qua khảo sát, hầu hết các hộ nuôi đều chọn

con giống với trọng lượng 30-100 g/con, chỉ có

6% hộ nuôi chọn kích cỡ con giống là 120 g/con

nhằm rút ngắn thời gian nuôi, kích cỡ con giống

trung bình là 65,2±13,1 g/con với mức giá trung

bình là 1,3±0,1 triệu đồng/kg, dao động từ 1,2

đến 1,6 triệu đồng/kg tùy khối lượng con giống,

nguồn thức ăn chủ yếu của cá chình là cá tạp, cá

tạp được cắt nhỏ tùy theo cỡ cá nuôi Với diện

tích ao nuôi từ 300-500m² thì trung bình mật độ

thả là 1,1±0,1 con/m², dao đông từ 1 đến 3 con/

m² Tỉ lệ sống trung bình đạt 92,5±2,2% Mật

độ thả và tỉ lệ sống trong nghiên cứu đều cao

hơn so với nghiên cứu của Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải (2008); Nguyễn Thanh Long và Trần Ngọc Hải (2014)

Qua khảo sát hầu hết các hộ nuôi đều nhận định cá chình thuộc đối tượng dễ nuôi, dễ thích nghi, tỉ lệ hao hụt thấp, trường hợp tỉ lệ hao hụt cao thì do nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến cá bệnh và chết hoặc do quá trình cải tạo ao không đúng kỹ thuật dẫn đến cá dễ thất thoát

3.3 Khía cạnh tài chính của mô hình nuôi cá chình

Qua khảo sát, ở Bảng 5 cho thấy trung

Trang 5

Bảng 5: Chi phí khấu hao của mô hình nuôi cá chình (n=30)

bình chi phí khấu hao của mô hình nuôi cá

chình thương phẩm tại tỉnh Cà Mau là 0,8

triệu đồng/100 m²/vụ, bao gồm chi phí đào ao

trung bình 0,5±0,1 triệu đồng/100 m²/vụ chiếm

59,3%, chi phí thuê đất khấu hao trung bình

0,2±0,1 triệu đồng/100 m²/vụ chiếm 25,7% còn lại là chi phí khấu hao cơ sở trang thiết bị

là 0,1±0,1 triệu đồng/100 m²/vụ chiếm 15,0% trong tổng chi phí khấu hao

Theo Bảng 6, thời gian nuôi cá chình tại tỉnh

Cà Mau trung bình là 16,9±4,2 tháng/vụ nuôi,

dao động từ 13 đến 25 tháng, thời gian nuôi phụ

thuộc vào kích cỡ của cá giống thả nuôi và tốc

độ tăng trưởng của cá Nếu thời gian nuôi dài,

cá chậm phát triển lớn không điều thì phân loại

và để dễ chăm sóc, giảm chi phí thức ăn Trung

bình kích cỡ thu hoạch cá chình là 1,6±0,5 kg/

con, dao động từ 0,9 đến 2,5 kg/con với giá bán

cá thương phẩm là 0,4±0,1 triệu đồng/kg, dao

động từ 0,3 đến 0,5 triệu đồng/kg tùy từng kích

cỡ phân loại, mùa vụ, sức ép của thương lái

Trung bình mỗi 100m² ao nuôi cho sản lượng

là 105±15,8 kg/100 m²/vụ; sản lượng thu hoạch phụ thuộc vào mật độ, cách chăm sóc, cho ăn của người nuôi Chi phí trung bình cho một vụ nuôi cá chình là 11,5±2,0 triệu đồng/100 m²/vụ, dao động từ 7,3-19,2 triệu đồng/100 m²/vụ, cho doanh thu trung bình là 38,9±7,4 triệu đồng/100 m²/vụ Lợi nhuận trung bình mỗi vụ đạt được khoảng 26,5±6,9 triệu đồng/100 m²/vụ, kết quả điều tra cho thấy không có hộ nào bị lỗ vốn Tỉ suất lợi nhuận trung bình đạt 2,3±0,6 lần

Bảng 6: Một số chỉ tiêu tài chính của mô hình nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau

Trong cơ cấu chi phí biến đổi (Bảng 7), chi

phí sản xuất biến đổi cho mô hình nuôi cá chình

trung bình là 9,7 triệu đồng/100 m²/vụ nuôi,

trong đó chi phí thức ăn trung bình khoảng 4,9

triệu đồng/100 m²/vụ, chiếm 50,1% trong cơ

cấu chi phí, kế đến là chi phí con giống trung

bình khoảng 4,3 triệu đồng/100 m²/vụ nuôi,

chiếm 43,7% trong cơ cấu chi phí, các chi phí còn lại như chi phí cải tạo ao nuôi, chi phí nhiên liệu, chi phí nhân công chi phí thuốc hóa chất

và các chi phí khác chiếm 6,2% còn lại trong

cơ cấu chi phí tương đương khoảng 0,6 triệu đồng/100 m²/vụ (Hình 1) Nhìn chung, kết quả này là rất khả quan so với so với kết quả khảo

Trang 6

Bảng 7: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi cá chình

Hình 1: Cơ cấu chi phí của mô hình nuôi cá chình

sát mô hình nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau của

Nguyễn Thanh Long và Trần Ngọc Hải (2014),

đây là dấu hiệu tích cực cho mô hình nuôi cá

chình thương phẩm tại tỉnh Cà Mau Tuy nhiên

kết quả này cho thấy chi phí thức ăn và chi phí

con giống còn khá cao trong cơ cấu chi phí nên

để tăng hiệu quả tỉ suất lợi nhuận của mô hình nuôi thì cần nghiên cứu ương giống cá chình tại địa phương, còn đối với người nuôi cần cố gắng giảm chi phí thức ăn tự nhiên, kết hợp và dần thay thế thức ăn nhân tạo trong quá trình sản xuất

3.4 Những thuận lợi và khó khăn của

nghề nuôi cá chình ở tỉnh Cà Mau

Qua kết quả khảo sát ở Bảng 8 cho thấy mô

hình nuôi cá chình thương phẩm trong ao đất

ở tỉnh Cà Mau có nhiều thuận lợi được người

nuôi đánh giá và chọn lọc lại theo thứ tự thấp

dần như: Kỹ thuật nuôi đơn giản, dễ quản lý, tỉ

lệ sống cao Điều kiện tự nhiên thích hợp trên

vùng nuôi nước lợ và nước ngọt Khâu quản lí, cải tạo ao đơn giản, giá cá thương phẩm khá cao, đạt lợi nhuận lớn, tỉ lệ sống cao sản lượng thu hoạch lớn do cá chình thuộc đối tượng dễ nuôi, ít rủi ro, nguồn thức ăn tươi sống sẵn có,

dễ đánh bắt hoặc mua tại địa phương với giá rẻ, thị trường tiêu thụ trong nước nói riêng và xuất khẩu rộng lớn

Trang 7

Bảng 8: Những thuận lợi của mô hình nuôi cá chình

*Xếp hạng theo mức độ quan trọng của các thuận lợi đề cập: 1= rất thuận lợi 6= rất ít thuận lợi hơn

Bên cạnh những thuận lợi thì mô hình nuôi

cá chình tại Cà Mau còn gặp nhiều khó khăn

(Bảng 9), chủ yếu là giá con giống cao, còn

nhiều hộ thiếu vốn đầu tư vào chi phí con giống

nên mô hình nuôi còn nhỏ lẻ, không tận dụng

hết diện tích nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó,

thời gian nuôi dài, nguồn thức ăn chủ yếu là cá

tạp nên chi phí thức ăn cho một vụ nuôi còn khá

cao đồng nghĩa với lợi nhuận sẽ giảm đi, nguồn con giống không chủ động, còn phụ thuộc vào thị trường, giá cá thương phẩm có nhiều biến động theo mùa nên người dân chịu nhiều sức

ép từ thương lái về giá, một số nhỏ hộ nuôi mới thành lập gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm trong quá trình sản xuất

Bảng 9: Những khó khăn của mô hình nuôi cá chình

*Xếp hạng theo mức độ quan trọng của các khó khăn đề cập: 1= rất khó khăn 6= rất ít khó khăn hơn

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

4.1 Kết luận

Hộ nuôi cá chình có tổng diện tích trung

bình là 4.720±2.850 m²/hộ, diện tích ao nuôi

trung bình là 438±41,2 m²/ao, độ sâu ao trung

bình là 1,6±0,3 m/ao

Cá chình giống được thả nuôi chủ yếu từ

tháng 5 đến tháng 8, trung bình thời gian cho

một vụ nuôi cá chình thương phẩm là 16,9±4,20

tháng, kích cỡ con giống trung bình khoảng

65,2±0,5 g/con, mật độ thả trung bình là 1,1

con/m² Tỉ lệ sống đạt 92,5±2,2%, năng suất trung bình đạt 105±15,8 kg/100m²

Chi phí bình quân cho một vụ nuôi khoảng 11,5±2,0 triệu đồng/100 m²/vụ và thu nhập trung bình khoảng 38,9±7,40 triệu đồng/100m²/

vụ, với lợi nhuận bình quân 26,5±6,9 triệu đồng/100 m²/vụ Tỉ suất lợi nhuận đạt 2,3±0,6 Nghề nuôi cá chình thương phẩm tại tỉnh

Cà Mau đạt được lợi nhuận tương đối cao, có tiềm năng mở rộng quy mô, bên cạnh đó cũng còn gặp nhiều khó khăn chủ yếu là vốn đầu tư

Trang 8

lớn và không chủ động được nguồn con giống

vì vậy còn nhiều hộ nuôi sản xuất chưa thật sự

hiệu quả

4.2 Đề xuất

Quy hoạch lại vùng nuôi nhằm ổn định đầu

ra cho người dân, tập huấn, nâng cao trình độ kỹ

thuật cho người nuôi

Cần nghiên cứu ương giống cá chình tại địa

phương để chủ động được nguồn giống và giảm

giá thành sản xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải, 2008 Một số khía

cạnh kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi cá chình

(Anguilla sp.) ở Cà Mau Tạp chí khoa học, Trường

Đại học Cần Thơ 2008 (2) 198-204.

Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010 Phân tích khía cạnh kinh tế và kỹ thuật của các mô hình nuôi thủy sản ven biển ở tỉnh Sóc Trăng Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ 2010:14 222-232

Nguyễn Thanh Long và Trần Ngọc Hải, 2014 Các khía cạnh kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi

cá chình hoa (Anguilla Marnorata) ở tỉnh Cà Mau

Tạp chí khoa học, Trường Đại học Cần Thơ 2014:

31 93-97.

Tiêu Minh Luân, Lâm Ngọc Bửu, Lê Hoàng Bảo, Đào

Bá Cường, 2014 Hiện trạng nuôi cá chình thương phẩm ở Cà Mau và Bạc Liêu Báo cáo chuyên

đề, Trường Đại học Cần Thơ

STATUS OF TECHNICAL AND ECONOMICAL ASPECTS OF ELL

(Anguilla marmorata) POND CULTURE IN CA MAU PROVINCE

Ly Van Khanh1*

ABSTRACT

This study was conducted from February 2016 to April 2016 through interviewing 30 households

in Ca Mau province This study is to analysis technicial and economical aspects and to identify ad-vantages and disadad-vantages of the eel culture in ponds The result showed that the average area of eel pond was 438±41.2 m² and stocking density of 1.08±0.01 ind/m² Fingerling size was 17.4±0.52 g/ind, the fish were fed with trash-fish After culture period of 16.9±4.20 months, the eel reached 1.63±0.51 kg/ind with survival rate of 92.5±2.16% The average yield was 105±15.8 kg/100 m² Total cost of farm eel was 11.5±2.03 million VND/100 m²/crop and gross return was 38.9±7.40 million VND/100 m²/crop and net return was 26.5±6.90 million VND/100 m²/crop However, there were several challenges for the culture, especially high production cost and shortage of eel seed due

to mainly relying on the wild caught with hight seed price.

Keywords: Anguilla marmorata, Ca Mau, cost-benefit, techniques

Người phản biện: TS Phan Thanh Lâm

Ngày nhận bài: 25/11/2016 Ngày thông qua phản biện: 13/12/2016

Ngày duyệt đăng: 05/01/2017

1 College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho University.

* Email: lvkhanh@ctu.edu.vn

Ngày đăng: 07/12/2020, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm