Theo Điều 28 Luật TTHC 2015 thì Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ
Trang 1GOOD LUCKY!
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM Câu 1: Khi phát sinh tranh chấp hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có thể khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Nhận định sai
Theo Điều 28 Luật TTHC 2015 thì Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng hành chính
Vậy khi phát sinh tranh chấp hành chính, ngoài khởi kiện ra Tòa án thì còn có thể khiếu nại
Câu 2: Quan hệ giữa người khởi kiện với người đại diện theo ủy quyền của đương sự không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam.
Nhận định sai
Ví đối tượng điều chỉnh Luật TTHC là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính được quy phạm pháp luật Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh Gồm có:
Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hành chính với nhau Quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng hành chính
Quan hệ giữa những người tham gia tố tụng hành chính với nhau
Mà người tham gia tố tụng hành chính gồm đương sự, người đại diện của đương sự (đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền) nên quan hệ giữa người khởi kiện (đương sự) với người đại diện theo ủy quyền của đương sự thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
Tố tụng hành chính Việt Nam
Trang 2CSPL: Điều 53, 56, 60 LTTHC.
Câu 3: Quyền tài sản và quyền nhân thân không thể là đối tượng tranh chấp trong
vụ án hành chính.
Nhận định sai
Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa
án xem xét tính hợp pháp của quy định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước và được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật Vì vậy nếu quyết định hành hình hay hành vi hành chính này liên quan tới quyền nhân thân hay quyền tài sản thì sẽ thuộc đối tượng tranh chấp trong của vụ án hành chính
VD: A khởi kiện UBND xã B vì đã không đổi tên cho bà (quyền nhân thân)
Câu 4: Nếu người khởi kiện đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, nội dung này luôn phải được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Nhận định sai
Không phải trường hợp nào khi giải quyết nội dung người khởi kiện đưa ra yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Chỉ khi chưa có điều kiện để chứng minh thì Tòa án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.Còn trong trường hợp TA giải quyết cả phần yêu cầu bồi thường thiệt hại với VAHC nhưng nội dung về bồi thường bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bị TA cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hủy để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại thì phần quyết định giải quyết BTTH là một phần vụ án hành chính nên thủ tục giải quyết được thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính mà không phải theo thủ tục tố tụng dân sự
CSPL: Khoản 2 Điều 7 Luật TTHC 2015
Trang 3Câu 5: Tòa án không có thẩm quyền xem xét tính hợp lý của quyết định hành chính
bị khởi kiện.
Nhận định sai
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một
số đối tượng cụ thể Khi quyết định hành chính bị khởi kiện Tòa án xem xét ở hai góc độ gồm tính hợp pháp (đúng thẩm quyền, tuân theo pháp luật, hình thức) và tính hợp lý của quyết định này (đảm bảo ý chí nhà nước, hài hòa lợi ích của Nhà nước và công dân, phù hợp với từng vấn đề và đối tượng điều chỉnh, bố cục logic, chặt chẽ, ngôn ngữ rõ ràng đơn nghĩa…) Hai yếu tố này đảm bảo tính đúng đắn và chính xác cho một quyết định hành chính vì vậy Tòa án phải đồng thời xem xét cả tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính bị khởi kiện
Câu 6: Khi khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và Toà án có trách nhiệm phải giải quyết
Nhận định sai
Theo quy định tại Điều 7 Luật TTHC 2015 thì: Người khởi kiện có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri gây ra Trong trường hợp này các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tuy nhiên, không phải yêu cầu bồi thường thiệt hại nào cũng được giải quyết ngay trong
vụ án hành chính, trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện
để chứng minh thì Toà án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 7)
Trang 4Như vậy, khi khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và Toà án có thể không giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính mà TA có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác
Câu 7: Người khởi kiện hoàn toàn có quyền tự định đoạt về yêu cầu khởi kiện trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hành chính.
Theo Điều 8 Luật TTHC 2015 thì
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật này Vậy người khởi kiện có đơn khởi kiện thì Tòa án mới thụ lý và có toàn quyền quyết địny
về việc khởi kiện của mình
Câu 8: Đối thoại là một thủ tục Tòa án bắt buộc phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
Nhận định sai
Theo Khoản 1 Điều 134 Luật TTHC 2015 thì:
- Những vụ án không tiến hành đối thoại được tại Điều 135 gồm:
Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt
Đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng
Các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại
Vậy đối thoại không phải thủ tục bắt buộc
Câu 9: Đối thoại chỉ được Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Nhận định sai
Trang 5Theo Điều 20 Luật TTHC năm 2015 về đối thoại trong tố tụng hành chính quy định “Tòa
án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này”
Và căn cứ theo khoản 2 Điều 249 Luật TTHC 2015 đối với phiên tòa theo thủ tục rút gọn thì sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường hợp không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này
Như vậy, đối thoại không chỉ được Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm mà còn có thể được tiến hành tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
Câu 10: Trong giai đoạn phúc thẩm VAHC, đương sự có yêu cầu đối thoại thì Tòa
án phải tổ chức phiên họp đối thoại.
Nhận định sai
Theo khoản 11 Điều 55 Luật TTHC thì đương sự có thể đề nghị Tòa án tổ chức phiên họp đối thoại và tham gia phiên họp trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 1 Điều 134 Luật TTHC về nguyên tắc đối thoại thì đối thoại chỉ được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Theo Điều 20 Luật TTHC 2015 thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án
=> Quyền quyết định tổ chức phiên họp đối thoại trong giai đoạn phúc thẩm là thuộc về Tòa án
Như vậy, không có quy định nào về trường hợp trong giai đoạn phúc thẩm VAHC, đương
sự có yêu cầu đối thoại Tòa án phải tổ chức phiên họp đối thoại
Câu 11: Có trường hợp, trong phiên tòa xét xử sơ thẩm VAHC, đương sự tiến hành đối thoại với nhau.
Nhận định sai
Trang 6CSPL: Khoản 1 Điều 187 Luật TTHC 2015.
Trong phiên tòa sơ thẩm, một trong những căn cứ để tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm đó là các bên đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự tự đối thoại
Vì vậy mà căn cứ theo Điểm đ Khoản 1 Điều 187 thì trong phiên tòa sơ thẩm, nếu các đương sự đề nghị thì có thể các đương sự được tiến hành đối thoại với nhau
Câu 12: Khi các bên đương sự đối thoại thành công, Tòa án phải đình chỉ giải quyết
vụ án.
Nhận định sai
CSPL: Khoản 3 Điều 140 Luật TTHC 2015
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản về cam kết của đương sự mà nếu hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án Còn trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc các đương sự đã thực hiện cam kết nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án
=> Khi các bên đối thoại thành thì trong thời hạn 7 ngày Tòa án phải xem xét các bên đã thực hiện đúng cam kết hay không và nếu có đương sự nào có ý kiến phản đối hay không thì Tòa án sẽ mở phiên tòa hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án
Câu 13: Hội thẩm nhân dân tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình tố tụng hành chính.
Nhận định sai
Nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án hành chính được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 12 Luật Tố tụng Hành chính 2015
1 Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn theo quy định của Luật này.
Trang 7Như vậy, không phải mọi quá trình tố tụng hành chính thì hội thẩm nhân dân đều tham gia Vụ án hành chính được xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn theo quy định của LTTHC thì HTND không tham gia xét xử
Ngoài ra, xét xử phúc thẩm thì thành phần HĐXX chi có Thẩm phán, không có HTND nên không có sự tham gia của HTND trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
CSPL: Điều 12, 154, 222 Luật TTHC 2015
Câu 14: Hội thẩm nhân dân có đầy đủ các quyền như Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.
Nhận định sai
Vì Thẩm phán có rất nhiều nhiệm vụ quyền hạn Còn hội thẩm nhân dân chỉ có một số nhiệm vụ quyền hạn như: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ra quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền, tiến hành hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Còn ngoài ra thì HTND sẽ không có đầy đủ các quyền như thẩm phán.(Ví dụ như quyền xử lý đơn khởi kiện,lập hồ sơ vụ án hành chính, quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập người tham.gia phiên tòa, phiên họp )
CSPL:Điều 38, Điều 39 LTTHC 2015
Câu 15:Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ độc lập khi xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa sơ thẩm.
Nhận định sai
Hội thẩm và Thẩm phán độc lập trong thực hiện nhiệm vụ xét xử Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nghĩa là độc lập trong mọi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho tới khi kết thúc phiên tòa chứ không chỉ giới hạn bởi khi xét xử
Trang 8=>Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không chỉ độc lập khi xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa sơ thẩm mà còn độc lập trong mọi quá trình hoạt động của mình
CSPL: Điều 13 Luật TTHC 2015
Câu 16: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều là thành viên Hội đồng xét xử nên phải thống nhất quan điểm với nhau trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
Nhận định này là sai vì theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật TTHC thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Vậy dù Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều là thành viên của Hội đồng xét xử nhưng khi xét xử phải độc lập với nhau chứ không được bàn bạc thống nhất quan điểm với nhau trong quá trình giải quyết
vụ án để đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan nên nhận định này là sai CSPL: Khoản 1 Điều 13 Luật TTHC
Câu 17: Quyền tranh tụng của đương sự chỉ được bảo đảm tại các phiên tòa xét xử
vụ án hành chính.
Nhận định sai
Điều 18 Luật TTHC 2015 về bảo đảm tranh tụng trong xét xử cũng quy định rõ Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định
Tuy nhiên, trong Điều 24 Luật TTDS 2015 cũng đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa
=> Quyền tranh tụng của đương sự không chỉ được bảo đảm tại các phiên tòa xét xử vụ án hành chính mà còn phiên tòa xét xử vụ án dân sự
CSPL: Điều 18 Luật TTHC 2015, Điều 24 Luật TTDS 2015
Câu 18: Tất cả bản án, quyết định của Tòa án đều có thể trải qua hai cấp xét xử.
Nhận định sai
Trang 9Hai cấp xét xử là xét xử cấp sơ thẩm và xét xử cấp phúc thẩm.
Mà xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
=> Chỉ khi có bản án, quyết định sơ thẩm mà chưa có hiệu lực pháp luật và khi nào bị đương sự kháng cáo hoặc VKS kháng nghị thì mới trải qua cấp xét xử phúc thẩm
CSPL: Điều 203 Luật TTHC 2015
Câu 19: Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện
có vi phạm pháp luật thì phải được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nhận định sai
Căn cứ theo khoản 2 Điều 11 Luật TTHC 2015 thì Bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Theo Điều 254 Luật TTHC 2015 thì Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định.
Như vậy, theo quy định trên thì khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có vi phạm pháp luật và phải bị kháng nghị giám đốc thẩm thì mới được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm
Câu 20: Giám đốc thẩm, tái thẩm là một cấp xét xử đặc biệt.
Nhận định sai
Vì căn cứ vào Điều 254, Điều 280 BLTTHC thì giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là việc xem xét xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương
sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó Đây chỉ là thủ tục xem xét lại
Trang 10CSPL Điều 254, Điều 280 BLTTHC.
Câu 21: Trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên , người mất năng lực hành vi dân
sự mà không có người khởi kiện , Viện Kiểm Sát có trách nhiệm khởi tố vụ án hành chính để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp cho họ.
Nhận định là sai
Vì đối với trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên , người mất năng lực hành vi dân sự mà không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó chứ VKS không trực tiếp khởi tố vụ án hành chính
Cơ sở pháp lý: Điều 25 LTTHC 2015
Câu 22: VKS chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án.
Nhận định sai
Vì VKS đã kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xử lý đơn khởi kiện vụ án hành chính chứ không phải đến khi Tòa án thụ lý vụ án Khi Tòa án ra các quyết định trả lại đơn khởi kiện thì VKS đã thực hiện kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án Trường hợp nhận được thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, VKS xem xét các nội dung, hình thức trong thông báo và so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật như nội dung thời hạn trả lại đơn, thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính có thuộc
về Tòa án ra quyết định thông báo trả lại đơn khởi kiện hay không, lý do trả đơn
=> Tòa án chưa thụ lý vụ án mà chỉ nhận đơn khởi kiện rồi thưc hiện trả đơn thì VKS đã kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hoạt động này
CSPL: Khoản 1 Điều 43 Luật TTHC 2015, Khoản 1 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND 2014