Lý thuyết học qua trải nghiệm được đúc kết từ nghiên cứu của các học giả thế kỷ 20. Các lý thuyết của họ nổi bật lên những vấn đề về con người, học tập trải nghiệm và phát triển đặc biệt là John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và những người khác để phát triển một mô hình tổng thể của quá trình học tập kinh nghiệm và một mô hình phát triển đa tuyến dành cho người trưởng thành (Kolb, 1984). Daivid A.Kolb, nhà lý luận giáo dục Mỹ, giáo sư của tổ chức hành vi ở trường Đại học Western Reserve, Weatherhead School of Management, ông nổi tiếng với những nghiên cứu về học tập qua trải nghiệm và phương pháp học tập, được thể hiện trong nghiên cứu Học tập qua trải nghiệm “Kinh nghiệm là nguồn gốc của học tập và phát triển”. Daivid A.Kolb tin rằng “Học là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm”. Daivid A.Kolb nhận bằng Tiến sỹ về tâm lý xã hội của Trường Đại học Harvard, Mỹ. Nghiên cứu hiện tại của ông tập trung về học tập theo nhóm và học tập trải nghiệm trong cuộc trò chuyện. Học tập qua trải nghiệm được định nghĩa là quá trình học của người học được trải qua những việc làm mô phỏng thực tế, có tính thực hành và vận dụng cao, như các đồ án thiết kế triển khai, các tình huống nghiên cứu, từ đó người học đúc kết thành những kinh nghiệm cho bản thân, làm sáng tỏ hơn cho các lý thuyết được học (Edward và cộng sự, 2007). Theo Kolb (1984) các quá trình học tập có thể được chia thành 4 nhóm cơ bản, phù hợp với 4 xu hướng học tập (kiểu học) khác nhau: (1) Trải nghiệm sự kiện đã hoặc vừa xảy ra chứa đựng vấn đề cần quan tâm; (2) Phân tích, nhìn lại những kinh nghiệm đã trải qua, phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của kinh nghiệm đó; (3) Khái quát rút ra bài học, tìm xu hướng, lý luận chung trong kinh nghiệm đã trải qua, đúc kết thành khái niệm, lý thuyết; (4) Áp dụng, sử dụng lý luận vừa đúc kết để kiểm tra giả thuyết trong các tình huống tương lai, dẫn đến trải nghiệm mới.
Trang 1MỤC LỤC
I Tổng quan về lý thuyết học qua trải nghiệm ………3
II CÁC MÔ HÌNH CỦA DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM ………4
1 Mô hình nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm
của Lewin (The Lewinian model of action research and laboratory training)
……… 5
2 Mô hình học tập của Dewey (Dewey’s model of learning)
……… 6
3 Mô hình Piaget về học tập và phát triển nhận thức (Piaget’s model
of learning and cognitive development) ……….6
III Đặc trưng của học tập qua trải nghiệm ……….9
1 Học tập tốt nhất là hình thành như là một quá trình, không phải về
kết quả ( Learning is best conceived as a process, not in terms of outcomes ) 9
2 Học tập là một quá trình liên tục căn cứ vào kinh nghiệm.( Learning
……… 9
3 Quá trình học tập yêu cầu giải quyết những mâu thuẫn giữa các
mặt đối lập biện chứng của sự thích ứng với thế giới.(The process of Learning
Requires the Resolution of Conflicts between dialectically opposed modes of
……… 9
4 Học tập là một quá trình toàn diện về thích ứng với thế giới .
(Learning is a holistic process of adaptation to the world )
……….11
Trang 25 Kết quả học tập là giao dịch hiệp lực giữa con người và môi trường.
(Learning results from synergetic transactions between the person and the environment) ……… 11
6 Học tập là quá trình tạo ra kiến thức (Learning is the process of
……… ………11
IV Phân tích bốn xu hướng học tập của Kolb ……….12
1 Phong cách học tập phân kỳ (Diverging) (feeling and watching - CE/ RO)……… 13
2 Phong cách học tập đồng hóa (Assimilating) (watching and thinking
References and Recommended Reading ……… 29
Trang 3LÝ THUYẾT HỌC QUA TRẢI NGHIỆM
( Experiential Learning Theory)
I Tổng quan về lý thuyết học qua trải nghiệm.
Lý thuyết học qua trải nghiệm được đúc kết từ nghiên cứu của các học giảthế kỷ 20 Các lý thuyết của họ nổi bật lên những vấn đề về con người, học tậptrải nghiệm và phát triển đặc biệt là John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget,William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và những người khác để pháttriển một mô hình tổng thể của quá trình học tập kinh nghiệm và một mô hìnhphát triển đa tuyến dành cho người trưởng thành (Kolb, 1984)
Daivid A.Kolb, nhà lý luận giáo dục Mỹ, giáo sư của tổ chức hành vi ởtrường Đại học Western Reserve, Weatherhead School of Management, ông nổitiếng với những nghiên cứu về học tập qua trải nghiệm và phương pháp học tập,được thể hiện trong nghiên cứu Học tập qua trải nghiệm “Kinh nghiệm là nguồngốc của học tập và phát triển” Daivid A.Kolb tin rằng “Học là quá trình mà kiếnthức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm” Daivid A.Kolb nhậnbằng Tiến sỹ về tâm lý xã hội của Trường Đại học Harvard, Mỹ Nghiên cứu hiệntại của ông tập trung về học tập theo nhóm và học tập trải nghiệm trong cuộc tròchuyện
Học tập qua trải nghiệm được định nghĩa là quá trình học của người họcđược trải qua những việc làm mô phỏng thực tế, có tính thực hành và vận dụngcao, như các đồ án thiết kế - triển khai, các tình huống nghiên cứu, từ đó ngườihọc đúc kết thành những kinh nghiệm cho bản thân, làm sáng tỏ hơn cho các lýthuyết được học (Edward và cộng sự, 2007)
Theo Kolb (1984) các quá trình học tập có thể được chia thành 4 nhóm cơbản, phù hợp với 4 xu hướng học tập (kiểu học) khác nhau: (1) Trải nghiệm sự
kiện đã hoặc vừa xảy ra chứa đựng vấn đề cần quan tâm; (2) Phân tích, nhìn lại
những kinh nghiệm đã trải qua, phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của kinh nghiệm đó;
Trang 4(3) Khái quát rút ra bài học, tìm xu hướng, lý luận chung trong kinh nghiệm đã trải
qua, đúc kết thành khái niệm, lý thuyết; (4) Áp dụng, sử dụng lý luận vừa đúc kết
để kiểm tra giả thuyết trong các tình huống tương lai, dẫn đến trải nghiệm mới.
Chu trình học qua trải nghiệm
II CÁC MÔ HÌNH CỦA DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM
1 Mô hình nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm của
Lewin (The Lewinian model of action research and laboratory training)
Trong các kỹ thuật nghiên cứu hành động và phương pháp phòng thí
nghiệm, học tập, thay đổi, và phát triển được tạo điều kiện tốt nhất bắt đầu một
quá trình tích hợp với kinh nghiệm thực tế và thu thập dữ liệu và quan sát kinh
nghiệm.Các dữ liệu này sau đó được phân tích và kết luận được đưa trở lại người
Phân tích
Nhìn lại những kinhnghiệm đã trải qua, pháthiện đặc điểm, ý nghĩacủa kinh nghiệm đó
Áp dụng
Sử dụng để kiểm tra giả thuyết
trong các tình huống tương lai,
dẫn đến trải nghiệm mới
Trải nghiệm
Sự kiện đã hoặc vừaxảy ra chứa đựngvấn đề cần quan tâm
Khái quát rút ra bài học
Tìm xu hướng, lý luậnchung trong kinh nghiệm
đã trải qua, đúc kết thànhkhái niệm, lý thuyết
Trang 5học trong các trải nghiệm để sử dụng trong việc sửa đổi các hành vi và sự lựa chọncủa họ về những trải nghiệm mới Do đó, việc học được hình thành như một chu
kỳ bốn giai đoạn như hình 2.1
Trước hết, kinh nghiệm cụ thể là cơ sở cho việc quan sát và phảnánh.Những quan sát này được đồng hóa thành một "lý thuyết" mà từ đó những tácđộng mới cho hành động có thể được rút ra những ý nghĩa hoặc giả thuyết tạo ranhững trải nghiệm mới Hai khía cạnh của mô hình học tập này là đặc biệt đángchú ý Đầu tiên là nó nhấn mạnh ở trải nghiệm hiện tại để xác nhận và kiểm tra cáckhái niệm trừu tượng
Thứ hai, nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm dựa trênquá trình phản hồi thông tin Lewin mượn các khái niệm về thông tin phản hồi từ
kỹ thuật điện để mô tả một xã hội học tập và quá trình giải quyết vấn đề mà tạo rathông tin có giá trị để đánh giá sai lệch so với mục tiêu mong muốn Thông tin này
Trang 6cung cấp cơ sở cho một quá trình liên tục của hành động mục tiêu định hướng vàđánh giá về hậu quả của hành động đó.
Lewin và những người theo ông ta tin rằng sự thiếu hiệu quả cá nhân và tổchức có thể được tìm thấy cuối cùng là một thiếu các quy trình phản hồi đầy đủ
Sự thiếu hiệu quả này là do sự mất cân bằng giữa quan sát và hành động, hoặc từmột xu hướng cho các cá nhân và các tổ chức nhấn mạnh quyết định và hành động
ở các chi phí thu thập thông tin, hoặc từ một khuynh hướng trở nên giảm sút bởiviệc thu thập và phân tích dữ liệu Mục đích của phương pháp phòng thí nghiệm
và nghiên cứu hành động là để tích hợp hai quan điểm này vào một, quá trình họctập mục tiêu định hướng hiệu quả
2 Mô hình học tập của Dewey (Dewey’s model of learning)
Mô hình John Dewey của quá trình học tập là khá tương tự như mô hìnhLewin, tuy nhiên ông đã làm cho rõ ràng hơn tính chất phát triển của học ngụ ýtrong quan niệm Lewin như là một quá trình phản hồi bằng cách mô tả cách họctập biến đổi cảm xúc và mong muốn của kinh nghiệm cụ thể và cao hơn - để hànhđộng có mục đích Chúng ta lưu ý trong mô tả học tập của ông tương tự vớiLewin, trong sự nhấn mạnh vào việc học như là một quá trình kinh nghiệm biệnchứng tích hợp và khái niệm, quan sát và hành động Sự thúc đẩy của kinh nghiệmcho những ý tưởng di chuyển sức lực và ý tưởng của họ đưa ra hướng thúc đẩy.Tạm dừng hành động ngay lập tức là điều cần thiết để quan sát và phán đoán đểcan thiệp, và hành động là điều cần thiết cho mục đích thành công
3 Mô hình Piaget về học tập và phát triển nhận thức (Piaget’s model of
learning and cognitive development)
Theo Piaget, kích thước của kinh nghiệm và khái niệm, sự phản ánh vàhành động hình thành liên tục cơ bản cho sự phát triển của tư tưởng người lớn Sựphát triển từ sơ sinh đến tuổi trưởng thành di chuyển từ một cái nhìn hiện tượng cụ
Trang 7thể của thế giới tới một cái nhìn trừu tượng, từ một cái nhìn ích kỷ tới một cáchnhìn phản án chủ quan của sự hiểu biết Piaget cũng cho rằng những điều này làcác hướng dẫn chủ yếu của sự phát triển trong kiến thức khoa học.
Quá trình học tập theo đó sự phát triển này diễn ra là một chu kỳ của sựtương tác giữa cá nhân và môi trường tương tự như mô hình học tập của Dewey vàLewin Về Piaget, chìa khóa để học tập nằm trong sự tương tác lẫn nhau của quátrình thích nghi các khái niệm hoặc lược đồ để trải nghiệm trong thực tế và quátrình đồng hóa của các sự kiện và kinh nghiệm từ thực tế vào khái niệm và lược đồhiện có Học tập hoặc trong các lý thuyết của Piaget, sự thích ứng thông minh từmột sự mất cân bằng giữa hai quá trình này
Khi những quá trình thích nghi chiếm ưu thế so với đồng hóa, chúng ta cómột sự bắt chước mô hình của chính mình đến các đường viên môi trường hoặc sựkiềm chế Khi đồng hóa chiếm ưu thế hơn sự thích nghi, chúng ta áp dụng kháiniệm và hình ảnh mà không quan tâm đến thực tế môi trường Quá trình phát triểnnhận thức từ cụ thể đến trừu tượng và từ chủ quan đến có ý thức được dựa trêngiao dịch liên tục giữa đồng hóa và thích nghi, xảy ra trong giai đoạn kế tiếp, mỗitrong số đó kết hợp những gì đã đi trước khi vào một cấp độ mới cao hơn của chứcnăng nhận thức
Công việc của Piaget đã xác định bốn giai đoạn chính của tăng trưởng nhậnthức xuất hiện từ sơ sinh đến khoảng tuổi 14-16 Trong giai đoạn đầu (0-2 tuổi),trẻ con chủ yếu là cụ thể và chủ động trong phong cách học tập của mình Giaiđoạn này được gọi là giai đoạn cảm động cơ Học tập chủ yếu là hoạt động thôngqua cảm giác, cảm động và xử lý Đứa trẻ chưa có vài chương trình hoặc các lýthuyết vào đó nó có thể đồng hóa sự kiện và kết quả, lập trường chính của nó đốivới thế giới là phù hợp
Môi trường đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và ýđịnh Học tập xảy ra chủ yếu thông qua mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng.Trong giai đoạn thứ hai (2-6 năm), trẻ con vẫn giữ được định hướng cụ thể củamình, nhưng bắt đầu phát triển một định hướng phản chiếu khi nó bắt đầu tiếp thu
Trang 8những hành động, chuyển đổi chúng sang hình ảnh Điều này được gọi là giaiđoạn đại diện Học không phải là ion chủ yếu trong tự nhiên, thông qua các thaotác của các quan sát và hình ảnh.
Ở giai đoạn này, lập trường chính của trẻ về thế giới là khác nhau Chúng bịthu hút với khả năng của mình để thu thập hình ảnh và để xem thế giới từ nhữngquan điểm khác nhau Trong giai đoạn thứ ba (7-11 năm), sự phát triển chuyên sâucủa các biểu tượng trừu tượng bắt đầu Là người đầu tiên mang tính biểu tượngphát triển Piaget gọi là giai đoạn hoạt động cụ thể Học tập trong giai đoạn này bịchi phối bởi logic của các lớp và các mối quan hệ Đứa trẻ trong giai đoạn này làmtăng thêm sự độc lập của mình từ thế giới kinh nghiệm ngay lập tức của mìnhthông qua sự phát triển của quyền hạn quy nạp
Như vậy, trái ngược với trẻ con trong giai đoạn cảm động cơ có phong cáchhọc tập được hình thành từ quá trình thích nghi, đứa trẻ ở giai đoạn hoạt động cụthể là đồng hoá hơn trong phong cách học tập của mình Chúng dựa trên các kháiniệm và lý thuyết lựa chọn và định hình các trải nghiệm Giai đoạn cuối cùng củaPiaget phát triển nhận thức đi kèm với sự khởi đầu của tuổi vị thành niên (12-15tuổi) Trong giai đoạn này, di chuyển vị thành niên từ các quá trình mang tính biểutượng dựa trên các hoạt động cụ thể để các quá trình mang tính biểu tượng củalogic đại diện, giai đoạn hoạt động chính thức
Bây giờ ông trở về một định hướng tích cực hơn, nhưng nó là một địnhhướng hoạt động mà bây giờ được sửa đổi bởi sự phát triển của năng lượng phản
xạ và trừu tượng trước đó Quyền hạn biểu tượng bây giờ ông sở hữu cho phépông tham gia vào các hypothetico-suy luận Ông đã phát triển những tác động cóthể có của lý thuyết và thực nghiệm thu được để thử nghiệm mà trong số này làthực sự của mình Do đó phong cách học tập cơ bản của ông là hội tụ, ngược lạivới định hướng khác nhau của trẻ trong giai đoạn đại diện
III Đặc trưng của học tập qua trải nghiệm
Trang 91.Học tập tốt nhất là hình thành như là một quá trình, không phải về kết
quả ( Learning is best conceived as a process, not in terms of outcomes )
Sự nhấn mạnh vào quá trình học tập của Kolb là một quan điểm trái ngượcvới quan điểm về hành vi học hỏi kinh nghiệm từ các phương pháp tiếp cận duytâm của giáo dục truyền thống và từ các lý thuyết về hành vi học tập được tạo rabởi Watson, Hull, Skinner, và những người khác Để cải thiện và nâng cao chấtlượng giáo dục , học sinh nên tập trung tham gia vào quá trình hình thành mà ở đóbao gồm các thông tin phản hồi hiệu quả của những nỗ lực học tập của bản thân.Piaget (1970), xem việc tạo ra các kiến thức mới là vấn đề trung tâm của nhậnthức luận chuyển từ kinh nghiệm của mỗi hành động của sự hiểu biết, là kết quảcủa một quá trình xây dựng liên tục và sáng tạo thông qua các quá trình tương táccủa đồng hóa và điều ứng Khi nhìn từ quan điểm của học tập kinh nghiệm, xuhướng xác định học tập về các kết quả có thể trở thành một định nghĩa của khônghọc tập
2.Học tập là một quá trình liên tục căn cứ vào kinh nghiệm.( Learning is a
continuous process grounded in experience)
Kiến thức được chuyển hóa và thử nghiệm một cách liên tục trong sự trảinghiệm của người học William James (1890), trong nghiên cứu của ông về bảnchất của ý thức con người, ngạc nhiên trước thực tế rằng ý thức là liên tục Tương
tự như vậy đối với Dewey, tính liên tục của sự trải nghiệm là một chân lý ảnhhưởng đến sự tồn tại của con người, trung tâm của lý thuyết về học tập Học tậpđược xem là tốt nhất khi chúng ta tạo được niềm tin và ý tưởng về một chủ đề chohọc sinh để họ có thể được kiểm tra , thử nghiệm, và tích hợp với vấn đề mới từ
đó nảy sinh những ý tưởng tinh tế hơn xâm nhập vào hệ thống niềm tin của họ
3.Quá trình học tập yêu cầu giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt đối
lập biện chứng của sự thích ứng với thế giới.(The process of Learning Requires
Trang 10the Resolution of Conflicts between dialectically opposed modes of adaptation to the world)
Mỗi một mô hình về học tập qua trải nghiệm đều mô tả mâu thuẫn giữa cáccách đối phó với thế giới, cho thấy kết quả học tập có được từ việc giải quyết cácmâu thuẫn Mô hình Lewin nhấn mạnh hai phép biện chứng - mâu thuẫn giữakinh nghiệm cụ thể và khái niệm trừu tượng, mâu thuẫn giữa quan sát và hànhđộng Đối với Dewey, phép biện chứng chủ yếu là cung cấp cho những ý tưởng
"di chuyển lực lượng" của họ và lý do cung cấp hướng phát triển Trong khuônkhổ Piaget, các quá trình sinh đôi về điều ứng các ý tưởng với thế giới bên ngoài
và đồng hóa các kinh nghiệm thành các cấu trúc khái niệm hiện tại là sự chuyểnđộng lực lượng của phát triển nhận thức Trong nghiên cứu của Paulo Freire, bảnchất biện chứng của việc học tập và thích ứng này nằm trong khái niệm về thựchành của ông, mà ông định nghĩa là "sự phản ánh và tác động vào thế giới nhằmchuyển hóa nó" (1974, P36)
Như vậy bản chất của học tập là sự giải quyết những mâu thuẫn biệnchứng Kiến thức, kỹ năng, thái độ đạt được thông qua cuộc đối đầu giữa bốnbước học tập trải nghiệm Người học, nếu họ muốn có hiệu quả, cần bốn loại khảnăng khác nhau: khả năng kinh nghiệm cụ thể (concrete experience abilities (CE)), khả năng quan sát phản ánh (reflective observation abilities RO), khả năng kháiquát trừu tượng (abstract conceptualization abilities AC), và khả năng thử nghiệmhoạt động (active experimentation abilities (AE)) Tuy nhiên, những lý tưởng này
là khó khăn để đạt được
Làm thế nào một người có thể có được cụ thể và ngay lập tức lý thuyết?Quá trình học tập diễn ra đòi hỏi khả năng có hai cực đối đầu, và kết quả là ngườihọc liên tục thiết lập các khả năng trong tình huống học tập cụ thể Cụ thể hơn,
có hai chiều cho quá trình học tập Chiều đầu tiên là những kinh nghiệm cụ thể vàkhái niệm trừu tượng Chiều thứ hai là hoạt động thử nghiệm và quan sát, phảnánh Như vậy, quá trình học tập diễn ra một di chuyển ở các mức độ khác nhau từdiễn viên đến quan sát, và từ sự tham gia cụ thể đến khả năng phân tích nói chung
Trang 11Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét các hình thức cao hơn của sự thích nghi quá trình sáng tạo và phát triển cá nhân – mâu thuẫn giữa các phương thức thíchứng cần phải đối mặt và tích hợp vào một tổng hợp sáng tạo Từ Wallas (1926 ),bốn giai đoạn: thành lập, ấp ủ, bừng sáng, và kiểm tra, đã công nhận những mâuthuẫn biện chứng tham gia vào sự sáng tạo Bruner ( 1966a ) , trong bài luận củamình về các điều kiện của sự sáng tạo, nhấn mạnh sự mâu thuẫn biện chứng giữatrừu tượng và kinh nghiệm cụ thể
-4 Học tập là một quá trình toàn diện về thích ứng với thế giới (Learning is a
holistic process of adaptation to the world )
Học tập qua trải nghiệm là một khái niệm mô tả quá trình của sự thích nghicủa con người với môi trường xã hội và thể chất Nó không chỉ là kết quả của nhậnthức , học tập mà còn liên quan đến các chức năng tích hợp suy nghĩ , cảm giác ,cảm nhận , và hành xử
Khái niệm về thích ứng toàn diện là một trong những xu hướng nghiên cứuhiện nay trong các ngành khoa học hành vi Từ những năm đầu của thế kỷ này, xuhướng xây dựng lý thuyết hành vi như là một ngành khoa học được các nhà tâm
lý quan tâm, điển hình như là Freud và cộng sự của ông đã đề xuất để giải thíchtoàn bộ các hoạt động của con người bằng cách tập trung vào các mối tương tácgiữa các quá trình con người như suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức
5 Kết quả học tập là giao dịch hiệp lực giữa con người và môi trường.
(Learning results from synergetic transactions between the person and the environment)
Trong điều kiện Piaget , học tập xảy ra thông qua sự cân bằng các quy trình biệnchứng của đồng hóa những trải nghiệm mới vào khái niệm hiện có và trong kháiniệm hiện có chứa đựng kinh nghiệm mới
6.Học tập là quá trình tạo ra kiến thức (Learning is the process of creating
knowledge)
Lý thuyết học qua trải nghiệm đề xuất lý thuyết kiến tạo của học tập theo đó kiếnthức xã hội được tạo ra và tái tạo trong sự hiểu biết cá nhân của người học Điều
Trang 12này là trái ngược với mô hình "truyền đạt" mà thực tiễn giáo dục hiện nay vậndụng
IV Phân tích bốn xu hướng học tập của Kolb.
Kolb cho rằng những người khác nhau ở một mức độ nhất định nào đó sẽ
có những phong cách học tập khác nhau Những yếu tố ảnh hưởng đến phongcách học tập của một người có thể là môi trường xã hội, kinh nghiệm giáo dục,hoặc cấu trúc cơ bản nhận thức của cá nhân…Kolb đã nghiên cứu và nhận địnhrằng mỗi một phong cách học tập của một người là sự kết hợp hai khả năng trongchu trình học tập trải nghiệm của Kolb Chúng ta xem lại chu trình học tập trảinghiệm Kolb:
- Concrete Experience (CE) : Kinh nghiệm cụ thể
- Reflective observation ( RO): Quan sát phản ánh
- abstract conceptualization (AC): Khái niệm trừu tượng
- active experimentation ( AE): Thử nghiệm hoạt động
Trang 131 Phong cách học tập phân kỳ (Diverging) (feeling and watching - CE/RO):
Những người theo phong cách học tập này có thể nhìn mọi thứ từ quanđiểm khác nhau Họ rất nhạy cảm Họ thích xem hơn là làm, quan sát để thu thậpthông tin và sử dụng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề Họ có ưu điểm là xemxét tình hình cụ thể bằng những quan điểm khác nhau
Kolb gọi là phong cách này “phân kỳ” vì những người này thực hiện tốthơn trong các tình huống đòi hỏi phải có ý tưởng thế hệ, ví dụ, động não Nhữngngười có một phong cách học tập phân kỳ có lợi ích văn hóa rộng lớn và muốn thuthập thông tin Họ quan tâm đến mọi người, có xu hướng giàu trí tưởng tượng vàcảm xúc, và có xu hướng mạnh mẽ trong nghệ thuật Người có phong cách phân
kỳ thích làm việc theo nhóm, lắng nghe với một tâm trí cởi mở và nhận được phảnhồi cá nhân
2 Phong cách học tập đồng hóa (Assimilating) (watching and thinking AC/RO)
-Những người có phong cách học tập này yêu cầu giải thích rõ ràng hơn là
cơ hội thực tế Trội hơn sự hiểu biết sâu rộng thông tin và tổ chức nó một địnhdạng hợp lý rõ ràng Những người có một phong cách học tập đồng hóa là ít tậptrung vào con người và quan tâm nhiều hơn trong những ý tưởng và khái niệmtrừu tượng Người có phong cách này đang thu hút nhiều lý thuyết hơn phươngpháp tiếp cận dựa trên giá trị thực tế Những người phong cách học tập này quantrọng đối với hiệu quả thông tin và khoa học sự nghiệp Trong các tình huống học
tập chính thức, những người có phong cách này thích đọc, bài giảng, khám phá mô
hình phân tích, và có thời gian để suy nghĩ nhiều
3 Phong cách học tập hội tụ (Converging) (doing and thinking - AC/AE)
Những người có một phong cách học tập hội tụ có thể giải quyết vấn đề và
sẽ sử dụng học tập của mình để tìm giải pháp cho các vấn đề thực tế Họ thíchcông việc kỹ thuật, và ít quan tâm đến mọi người và các khía cạnh cá nhân Những
Trang 14người có một phong cách học tập hội tụ có ưu thế trong việc tìm kiếm sử dụngthực tế cho những ý tưởng và lý thuyết Họ có thể giải quyết vấn đề và đưa raquyết định bằng cách tìm các giải pháp cho các câu hỏi và các vấn đề
Những người có một phong cách học tập hội tụ được thu hút nhiều nhiệm vụ kỹthuật và các vấn đề hơn các vấn đề xã hội hoặc cá nhân Một phong cách học tậphội tụ cho thiên về khả năng chuyên môn và công nghệ Những người có mộtphong cách hội tụ muốn thử nghiệm những ý tưởng mới, để mô phỏng, và làmviệc với ứng dụng thực tế
4 Phong cách học tập điều ứng (Accommodating) (doing and feeling - CE/AE)
Phong cách học tập Điều ứng là ' thực hành ' , và dựa vào trực giác hơn làlogic Những người có phong cách học tập này sử dụng phân tích của người khác,
và muốn tham gia một cách tiếp cận kinh nghiệm thực tế Họ bị thu hút với nhữngthách thức mới và kinh nghiệm , và để thực hiện kế hoạch
Họ thường hành động bằng bản năng chứ không phải là phân tích hợp lý Nhữngngười có một phong cách học tập điều ứng sẽ có xu hướng dựa vào người khác đểbiết thông tin hơn thực hiện phân tích của mình Phong cách học tập này là phổbiến trong dân số nói chung
Ý nghĩa giáo dục
Các nhà giáo dục phải đảm bảo rằng các hoạt động được thiết kế và thựchiện theo những cách mà cung cấp cho mỗi người học có cơ hội để tham gia vàocách thức phù hợp với họ nhất Ngoài ra, các cá nhân có thể được giúp đỡ để họctập hiệu quả hơn bằng cách xác định các phong cách học tập ít ưa thích của họ vàtăng cường áp dụng chu trình học tập kinh nghiệm Từ ý nghĩa giáo dục trên,chúng ta rút ra các phương pháp học tập qua trải nghiệm
V Phương pháp học tập qua trải nghiệm