Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn hướng kế thừa thành tựu tập hợp, phân tích của những người đi trước và điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, mang tính chất nghiên cứu cơ bản,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Đạt Thức
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY
QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2Nguyễn Đạt Thức
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY
QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM
Chuyên ngành: Văn hóa học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Luận án này là kết quả nghiên cứu bước đầu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học, chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu của những người đi trước
- Luận án được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị
- Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đã được luận án tiếp thu hết sức cẩn trọng và chân thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận án
Nguyễn Đạt Thức
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1 Một số nghiên cứu cơ bản 6
1.1.2 Một số tập hợp, giới thiệu tư liệu và tiếp cận qua tư liệu Hán Nôm 13
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 22
1.2.1 Cơ sở lý luận 22
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.3 Một số khái niệm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu qua tư liệu Hán Nôm 30
1.3.1 Mẫu 30
1.3.2 Đồng 30
1.3.3 Cốt 30
1.3.4 Bóng 30
1.3.5 Chính tự 31
1.3.6 Phủ 31
1.3.7 Tam phủ 32
1.3.8 Tứ phủ 32
Tiểu kết 32
Chương 2 TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY VÀ MẪU TAM PHỦ, TỨ PHỦ 34
2.1 Khái lược về nguồn tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ 34
2.1.1 Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại Viện Thông tin khoa học xã hội 34
2.1.2 Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ qua di sản Hán Nôm - Viện Nghiên cứu Hán Nôm 37
2.1.3 Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại một số cơ sở lữu trữ khác 43
2.1.4 Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giày 46
2.2 Hướng tiếp cận nội dung tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ theo loại hình văn bản 64
2.2.1 Nhóm tư liệu Hán Nôm trên giấy 65
2.2.2 Nhóm tư liệu văn khắc tại di tích 75
Trang 52.3 Giá trị lịch sử - văn hóa của tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở
phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ 75
Tiểu kết 78
Chương 3 NHẬN DIỆN TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM 80
3.1 Lịch sử địa chính và không gian văn hóa phủ Giày 80
3.1.1 Lịch sử địa chính liên quan tới khu vực phủ Giày 80
3.1.2 Không gian văn hóa liên quan tới khu vực phủ Giày và danh hiệu phủ Giày 95
3.2 Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm 103
3.2.1 Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý Nam Đế 104
3.2.2 Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý 105
3.2.3 Thuyết Vỉ Nhuế - Ghi trong Cát thiên tam thế thực lục 107
3.2.4 Thuyết Kẻ Giày 108
3.2.5 Thuyết Nội đạo tràng 110
3.3 Lịch sử kiến trúc phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm 113
3.4 Hội phủ Giày và một số sinh hoạt văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tư liệu Hán Nôm 117
3.4.1 Hội phủ Giày Vân Cát và một số sinh hoạt văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tư liệu Hán Nôm 118
3.4.2 Hội phủ Giày Tiên Hương và một số sinh hoạt văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tư liệu Hán Nôm 120
Tiểu kết 123
Chương 4 BÀN LUẬN THÊM VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN HÓA LIÊN QUAN TỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY VÀ MẪU TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM 125
4.1 Câu chuyện tiếp cận văn hóa quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát Thần nữ truyện 125
4.2 Hành trạng thế tục của Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày 131
4.3 Vai trò của các cộng đồng làng xã trực tiếp liên quan trong việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy 137
4.4 Vấn đề Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ 143
Tiểu kết 159
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 164
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
PHỤ LỤC 185
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, trong văn hóa dân gian của người Việt, không nhiều tín ngưỡng thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu trong và ngoài nước như tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh Đặc biệt, sau khi di sản văn hóa phi vật thể Thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt chính thức được UNESCO vinh danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2016), tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội và giới nghiên cứu… Chỉ tính riêng với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, đến nay, đã có hàng ngàn công trình sưu tầm, nghiên cứu lần lượt được công bố, xuất bản
Với một khối lượng công trình nghiên cứu đồ sộ như vậy, rất khó có thể điểm lại nội dung tất cả các công trình, bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh Đặc biệt, khi tiếp cận tìm hiểu những vấn đề Mẫu Liễu Hạnh cũng không thể bỏ qua những tư liệu Hán Nôm có liên quan Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn hướng kế thừa thành tựu tập hợp, phân tích của những người đi trước và điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, mang tính chất nghiên cứu cơ bản, cùng một số nghiên cứu trực tiếp giải quyết vấn đề liên quan tới tín ngường thờ Mẫu Liễu Hạnh và thông qua tư liệu Hán Nôm để góp phần làm rõ thêm một số vấn đề nghiên cứu để đưa ra hướng tiếp cận phù hợp, từ một giới hạn tương đối hẹp - tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm
Đến nay, tuy các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh dù rất phong phú, với khối lượng lớn như vậy nhưng chưa có tác giả nào dày công tập hợp, khảo cứu để tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua
tư liệu Hán Nôm với góc nhìn văn hóa học, trong khi nguồn tư liệu này lại vô cùng đa dạng, với khối lượng lớn, cũng có thể nói là cực lớn mà theo nghiên cứu sinh bước đầu tìm hiểu thì có những vấn đề trước nay các công trình nghiên cứu trước chưa giải đáp một cách thỏa đáng, như vấn đề tên gọi phủ Giày, vấn đề lịch sử phủ Giầy, vấn
đề Tam phủ, Tứ phủ, vấn đề đặc trưng giới trong Tam phủ, Tứ phủ, vấn đề Tam tòa
Tứ phủ, vấn đề vị trí và vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thần Tứ phủ,… Theo đó, nếu đầu tư khảo cứu, biện giải qua tư liệu Hán Nôm và tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn văn hóa học thì những vấn đề này đều có thể giải đáp được trên cơ sở khoa học
Trang 8Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh coi đây là tính cấp thiết và hướng mở của
đề tài và xác định việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm làm tên đề tài luận án như một hướng tiếp cận hẹp
Tuy nhiên, cũng cần phải giới thuyết rằng, những vấn đề liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được công bố trong công trình này mới chỉ là kết quả thu được bước đầu từ một hướng tiếp cận hẹp (chỉ thông qua tư liệu Hán Nôm) nên mức độ bao quát đối với từng khía cạnh cụ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày ắt sẽ có chỗ tỏ tường, đậm nhạt khác nhau, tùy thuộc vào mức
độ phản ánh của tư liệu và điều kiện, khả năng thu thập, khai thác tư liệu Mặt khác, cũng do sự quy định bởi góc nhìn hẹp, những kết quả nghiên cứu được công bố trong công trình này tương đối phù hợp khi được xem xét trong bối cảnh lịch sử xã hội từ khi tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được định hình (khoảng thế kỷ XVI) đến năm 1945 (niên điểm giới hạn khai thác tư liệu Hán Nôm, đồng thời cũng là mốc lịch sử văn tự Hán Nôm chính thức kết thúc sứ mệnh lịch sử với tư cách là hệ văn tự chính thống lưu hành trong xã hội quân chủ Việt Nam thời trung đại)
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu về giá trị của tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, đặt tín ngưỡng này trong không gian văn hóa liên quan và môi cảnh văn hóa chung của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để khảo lại lịch sử địa chính và văn hóa khu vực phủ Giày quanh việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh, qua đó, nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước năm 1945 trên các phương diện cơ bản (hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng) và một số vấn đề lịch sử - văn hóa liên quan từ góc nhìn văn hóa học, nhằm củng cố cơ sở cho việc nghiên cứu tín ngưỡng này cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong các bước nghiên cứu tiếp theo…
Để làm rõ mục đích nêu trên, luận án sẽ tiến hành các theo tác nghiên cứu nhằm tập trung giải đáp một số câu hỏi sau:
Thứ nhất, tư liệu Hán Nôm có giá trị gì trong lịch sử hình thành và phát triển
của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày?
Trang 9Thứ hai, di sản tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở
phủ Giày có tác dụng gì trong việc nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng này trong bối cảnh hiện nay?
Thứ ba, thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan lịch sử địa chính và văn hóa khu
vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh được phản ánh chân thực ra sao?
Thứ tư, thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan, các phương diện văn hóa cơ
bản của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước năm 1945 được nhận diện như thế nào?
Thứ năm, có thể thông qua nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ
Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để làm sáng tỏ những vấn đề
gì liên quan?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu đặt ra, luận án sẽ thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, kế thừa và tập hợp, hệ thống lại kết quả nghiên cứu của một số
công trình đi trước, rút ra những chỉ dấu cần được kế thừa, tiếp tục nghiên cứu bổ khuyết từ góc độ tư liệu Hán Nôm và văn hóa học;
Thứ hai, kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, thông qua tư liệu
Hán Nôm xác lập một số khái niệm liên quan
Thứ ba, kế thừa và tập hợp, hệ thống lại di sản tư liệu Hán Nôm gắn với tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, chỉ ra các mặt giá trị và hướng tiếp cận khai thác
Thứ tư, thông quan tư liệu Hán Nôm nhận diện các phương diện cơ bản (hệ
thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng) và một số vấn đề lịch sử - văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày dưới góc nhìn văn hóa học
Thứ năm, phân tích, biện giải một số vấn đề, hiện tượng văn hóa liên quan
đang đặt ra quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giày qua Tư liệu Hán Nôm từ
Trang 10góc nhìn văn hóa học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Thông qua tư liệu Hán Nôm, luận án nghiên cứu tín ngưỡng thờ
Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước năm 1945 trong không gian văn hóa liên quan và môi cảnh văn hóa chung của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ theo diễn trình lịch sử
Về không gian: Thông qua tư liệu Hán Nôm, luận án đặt đối tượng nghiên
cứu trong không gian văn hóa Kẻ Giầy, với vùng lõi là quần thể di tích phủ Giày, bao gồm các di tích liên quan đến quần thể di tích này, nay thuộc địa bàn xã Kim Thái, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Trong một số thao tác phân tích, so sánh, đối chiếu, dẫn dụ…, cần thiết đặt đối tượng nghiên cứu trong phạm vi mở rộng, tương ứng với không gian văn hóa Bắc Bộ
Về thời gian: Do hướng tiếp cận tương đối nghiên cứu tương đối hẹp (chỉ thông
qua tư liệu Hán Nôm để nhìn nhận về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày) Theo
đó, về lý thuyết và lịch sử vấn đề, đối tượng nghiên cứu được đặt trong khung niên đại từ khi tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được định hình đến năm 1945 (đây cũng
là thời điểm văn tự Hán Nôm chính thức bị thay thế bởi chữ Quốc ngữ)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ tổng thể và liên ngành để nhìn nhận, phân tích các hiện tượng văn hóa Trong đó, hai hướng tiếp cận chính là văn bản học và văn hóa học Bên cạnh đó, cách tiếp cận liên ngành gồm sử học,
ngôn ngữ học, tôn giáo học… cũng sẽ được sử dụng trong các phân tích cụ thể…
5 Những đóng góp mới của luận án
- Kế thừa được thành tựu tập hợp tư liệu Hán Nôm của các tác giả đi trước, khảo sát, tập hợp bổ sung một cách có hệ thống và toàn diện nguồn tư liệu Hán Nôm hiện có về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Đồng thời, chỉ ra được những giá trị cơ bản của hệ thống tư liệu và hướng tiếp cận khai thác phục vụ cho nghiên cứu
- Thông qua tư liệu Hán Nôm, đưa ra được một số khái niệm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu
Trang 11- Khảo qua tư liệu Hán Nôm xác lập lại lịch sử địa chính và văn hóa khu vực Kẻ Giày trong mối quan hệ phụng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đồng thời, góp phần cải chính một số chi tiết về lịch sử địa phương
- Thông qua tư liệu Hán Nôm, diễn giải một cách có hệ thống về tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy trước năm 1945 thông qua hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng Kết quả nghiên được công bố có giá trị tham khảo, đối sánh, đặc biệt trong việc nghiên cứu lịch sử, sự biến đổi và diễn biến của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
- Phân tích, biện giải về một số vấn đề lịch sử và văn hóa có liên quan đến tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đang đặt ra, như câu chuyện văn hóa quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát Thần nữ truyện, hành trạng thế tục của Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày, vai trò của các cộng đồng làng xã trực tiếp liên quan trong việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy trong lịch sử và vấn đề Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ…
và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (45 trang)
Chương 3: Nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm (44 trang)
Chương 4: Bàn luận thêm về một số vấn đề văn hóa liên quan tới tín ngưỡng thờ
Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ qua tư liệu Hán Nôm (34 trang)
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Một số nghiên cứu cơ bản
Trước tiên, xin đề cập tới công trình Việc phụng thờ Mẫu Liễu ở phủ Giầy,
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, của Nguyễn Minh San, bảo vệ thành công năm 1996 Có lẽ, đây là một trong những công trình nghiên cứu trong nước đề cập tương đối toàn diện về việc phụng thờ Mẫu Liễu ở phủ Giầy tương đối sớm, mang tính khai phá và gợi mở, đặt nền móng cho nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo, cụ thể:
1 Từ việc nghiên cứu tổng hợp, luạn án đã phác dựng lên một hoạt động văn hóa dân gian tổng thể qua truyền thuyết, di tích và điện thần, nghi lễ thờ cúng
và lễ hội ở phủ Giầy; bước đầu đưa ra những đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu ở vùng đất này
2 Bằng sự so sánh phủ Giầy với một số nơi thờ Mẫu khác của người Việt ở Trung và Nam Bộ, luận án cho rằng, phủ Giầy với việc thờ cúng Mẫu Liễu, đã hội tụ đầy đủ các yếu tố, xứng đáng là trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu lớn nhất, nơi phản ánh rõ nét nhất sự biến chuyển của một tín ngưỡng dân gian tiến tới một tôn giáo bản địa sơ khai; đồng thời đưa ra những nhận xét bước đầu về quy luật vận động, phát triển, đặc tính cơ bản về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt trên bước đường mở cõi về phía Nam
3 Kết quả nghiên cứu việc thờ phụng Mẫu Liễu ở phủ Giầy đã góp một tiếng nói vào việc bảo tồn, phát huy vốn văn hóa truyền thống ở một địa bàn
cụ thể, ở một lĩnh vực phức tạp, tế nhị khi kế thừa vốn di sản của các thế hệ trước để lại [48, tr 4]
Tuy nhiên, việc khai thác tư liệu Hán Nôm để phục vụ nghiên cứu trong công trình này cũng chỉ được coi như một nguồn tài liệu tham khảo, một số vấn đề về văn bản học Hán Nôm và lịch sử địa chính - văn hóa, vai trò của từng cộng đồng trực tiếp liên quan đến việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trong lịch sử chưa có điều kiện bàn luận sâu
Trang 13Tiếp theo, phải kể đến Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ
thuật quốc gia Việt Nam biên soạn, Nxb Thế giới ấn hành năm 2019 [50]
Đây là một quyển trong bộ 4 quyển: Tuyển tập những bài hát văn, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình của các tác giả nước ngoài, do Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn “Nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và quảng bá giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, trên cơ sở ấy góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” [50, tr 9]
Theo thống kê trong công trình này, tại thời điểm xuất bản và công bố, đã thống kê được 658 tài liệu sưu tầm, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở khu vực Bắc Bộ Đây là một công trình biên soạn công phu, đã tập hợp và hệ thống tương đối đầy đủ các công trình nghiên về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Bắc Bộ của các nhà nghiên cứu trong nước, đề cập đến hều hết nhiều khía cạnh liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Tuy nhiên, những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ Hán Nôm được tuyển chọn lại hết sức khiêm tốn Điểm qua nội dung các nghiên cứu được tuyển chọn trong sách, có thể nhận thấy, hầu hết các tác giả thường dẫn tư liệu Hán Nôm như một nguồn tài liệu tham khảo và mặc nhiên thừa nhận về giá trị nội dung trích dẫn, trong khi các công trình nghiên cứu từ góc tiếp cận hẹp - “Nhìn nhận tín ngưỡng thờ Mẫu” hoặc vấn đề liên quan qua tư liệu Hán Nôm chưa mấy được chú trọng hoặc ít người tiếp cận
Về nghiên cứu nền mang tính nguyên lý khi tìm hiểu văn hóa Việt nói chung, phải kể đến “Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Vượng được tập hợp trong sách Qua các thao tác nghiên cứu và lập luận, ông khẳng định:
“Nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã từng có NGUYÊN LÝ MẸ” Đây là một phát hiện đặc biệt quan trọng, có tính chất chỉ dẫn và gợi mở khi tiếp cận lịch
sử - văn hóa truyền thống Việt Nam, đặc biệt là đối với tín ngưỡng thờ Mẫu
Trang 14Một nghiên cứu nền tiêu biểu khác cũng mang đậm dấu ấn của tác giả Trần Quốc Vượng (viết cùng Nguyễn Hồng Kiên) cũng được tập hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, đó là: “Vị thế và bản sắc địa - văn hóa của khu vực phủ Giầy” Trong nghiên cứu này, ông đã đưa ra một số nhận xét mang tính kết luận về vị thế và bản sắc địa - văn hóa “cổ truyền” vùng quê Mẫu dưới cái nhìn địa - khảo cổ và địa - lịch sử hết sức độc đáo Theo đó, ông khẳng định, khu vực phủ Giày có bề dày lịch sử - văn hóa đáng kể trong tiến trình lịch sử dân tộc:
1 Từ cuối thời đá mới, cách đây 4000 năm, con người đã xuất hiện ở khu vực Kẻ Giầy, dấu tích vật chất còn lưu lại ở chân núi Lê, núi Ngăm
ở Tiên Hương, nhưng chủ nhân của nó chủ yếu là dân chài ven biển hơn
là dân ruộng vườn
2 Đã từng phát hiện được 6 trống đồng Đông Sơn ở chân núi Gôi dưới thời Pháp thuộc Các trống này đều mang niên đại cách đây hơn 2000 năm Trong nền cảnh đương thời, Kẻ Giầy và toàn miền xung quanh (khu vực Ninh Bình, Nam Định ngày nay) vẫn là một miền ven biển, dân Việt cổ Đông Sơn mới tụ
cư ở chân đồi núi giáp biển
3 Vùng Kẻ Giầy vẫn có dân tụ cư dưới thời Bắc thuộc qua chứng tích
mộ Hán rải rác trên sườn núi, đồi cát Bằng chứng tinh thần là huyền tích
về thời Lý Nam Đế - Triệu Quang Phục chống quân Bắc thuộc vào khoảng thế kỷ VI
4 Vùng này tiếp tục được khai khẩn dưới thời Lý - Trần Chứng cứ là đền thờ Minh Không - Không Lộ, Chùa Keo trên - dưới, cùng những
“vết chân ông Khổng Lồ” - Đó chính là hệ thủy lợi ao chuôm, đầm hồ giữa những cánh đồng
5 Trước khi Mẫu ra đời, dòng họ Mẫu, gốc Trần tránh loạn (?) chạy về
Kẻ Giầy - Côi Sơn đổi sang họ Lê (Song, sau đó, dòng họ này vẫn mang tên chính thức là họ Trần Lê Đa phần dân Tiên Hương và Vân Cát đều thuôc dòng họ Trần Lê) Sau đó, dòng họ này và các dòng họ khác tiếp tục khai phá vùng này… Nếu tạm tin Mẫu giáng trần vào năm 1557 thì
Trang 15dòng họ Mẫu đã tới vùng này vào khoảng cuối thế kỷ XV… Khi ấy, văn hóa làng, văn minh dân giã cùng các tín ngưỡng tính linh, đa thần giáo, Phật giáo… đều phát triển
6 Vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVI, các cố đạo Thiên Chúa giáo thuộc dòng Tên đã truyền đạo ở vùng Quần Anh, Ninh Cường (Hải Hậu), Trà Lũ, Hoành Nha (Giao Thủy) ở miệt biển Hà Nam, Ninh Bình, mang theo bà Maria và Chúa Jésus Chritst…
7 … Tại vùng Kẻ Giầy, ngoài thờ Mẫu Liễu, Mẫu Thượng Ngàn ở trên núi Tiên Hương, cùng hệ thống đền, miếu thờ các Mẫu, Tôn Ông, Chầu
Bà, Quan Lớn, các Cô… của đạo Tam phủ, Tứ phủ của Việt Nam, vẫn tồn tại hệ thống thờ thần Mây, Mưa, Sấm, Gió của người dân trồng lúa nước từ thời Nguyên Thủy…
8 Kẻ Giầy thờ “Thánh Khổng Minh Không” tại đình với tư cách là vị Thành hoàng [50, tr 166 - 170]
Cũng trong mạch tìm hiểu, nghiên cứu về Kẻ Giày, phủ Giày, đi vào vấn đề
chi tiết hơn, rất đáng chú ý là: Trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (76) - 2001,
trong bài “Vì sao Vân Cát - Tiên Hương là một hồi sau tách đôi và rồi đã đang lần
kết đôi?” [77] (sau được tuyển chọn in trong Theo dòng lịch sử, Những vùng đất, thần và tâm thức người Việt [79]), tác giả Trần Quốc Vượng đã rất khéo rào trước,
đón sau quanh câu hỏi do ông tự đặt ra, cũng là nhan đề bài viết Thừa nhận, “Đây
là MỘT VẤN - NẠN (câu hỏi khó khăn) đặt ra: trước toàn thể nhân dân hai làng Vân Cát và Tiên Hương, trước các nhà lãnh đạo địa phương và Trung ương, trước các nhà khoa học mong và muốn tìm hiểu SỰ THẬT LỊCH SỬ ở vùng ĐẤT PHỦ GIẦY - KẺ GIÀY của MẪU LIỄU HẠNH” [79, tr 398]
Từ cách đặt vấn đề:
Bất cứ ai, khi đến hành hương hay tham quan vùng Phủ Giầy đều thấy:
Lạ một điều, sao chỉ có một PHỦ GIẦY mà lại, từ một vài thế kỷ trước cho đến hôm nay, thấy là hai phủ
- Phủ Vân Cát (với phức hợp Tứ phủ Công đồng) bằng nhau, với đền
Đức Vua Lý Nam Đế - anh hùng dân tộc thế kỷ VI - …
Trang 16- Phủ Tiên Hương (cùng với cả một phức hợp đền vua Lý Nam đế, phủ Chúa (chúa Liễu), đền Công núi (đền Quan lớn Đệ tam ở chân núi Ngăm), đình Công đồng (thờ thần Sấm - tả Lôi công), đình Ông Khổng
(thờ Thành hoàng - thần làng - KHỔNG LỒ - KHÔNG LỘ - KHỔNG MINH KHÔNG)…
Phủ Vân Cát, thì dân ta cứ gọi tắt là PHỦ VÂN
Nhưng PHỦ TIÊN HƯƠNG - thì có nhiều người cứ gọi là PHỦ CHÍNH
Mà có chính (chánh) thì sẽ có phụ (phó) Vậy PHỦ VÂN là PHỦ PHỤ
của Mẫu Liễu hay sao? [79, tr 398 - 399]
Sau khi đi điền dã và tham khảo sách của bà Đoàn Thị Điểm, ông đưa ra một giả thuyết khoa học về Kẻ Giày như sau:
Xã Vân Cát vốn có cơ cấu 4 giáp: Đông, Tây, Nam, Bắc - là bốn gò (cồn) cát ven biển xưa Sau đó, hai giáp Tây, Nam tách ra thành thôn, (làng) An Thái trong cơ cấu "nhất xã, nhị thôn", rồi sau đó nữa (không đã chắc phải ở thế kỷ XV (Mẫu xuất hiện sau hai ông nghè Vân Cát - An Thái 100 năm và trước bà Hồng Hà nữ sử họ Đoàn 150 năm Thời hai cụ nghè chưa hề có phủ Mẫu Vân Cát - Tiên Hương) nhưng cũng không quá thế kỷ XVIII (đầu thế kỷ XVIII, bà Đoàn nói Mẫu "giáng trần" ở thôn
An Thái xã Vân Cát, thế kỷ XIX đã có tên An Thái), An Thái đã chạy
biệt xã [79, tr 404]
Giả thiết về câu chuyện địa chính giữa Vân Cát và Tiên Hương trong mối quan hệ thờ chung Mẫu Liễu Hạnh do giáo sư đặt ra cũng chính là một nguồn cảm
hứng chủ đạo dẫn dắt nghiên cứu sinh thực hiện đề tài này
Trong “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”,
cũng được tập hợp trong sách Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, qua những phân tích, tác giả Đinh Gia Khánh đã đưa ra một nhận
định hết sức tinh tế: “Tục thờ Mẫu đầy sức sống đã dựng nên hình tượng Mẫu Liễu Hạnh, tức chúa Liễu Hạnh và đã kéo thần linh (mà đạo Tam phủ bắt đầu đẩy lên cao, xa vời đối với con người) trở về với cõi nhân gian, với muôn mặt đời thường” [50, tr 33]… Và “Tục thờ Mẫu gắn với những truyền thống văn hóa dân gian của
Trang 17nhân dân ta từ buổi đầu dựng nước, trải qua trường kỳ lịch sử cho tới tận ngày nay
Và, đến nay, đó vẫn là một hiện tượng đầy sức sống…” [50, tr 34]
Tác giả Ngô Đức Thịnh nổi tiếng với nhiều công trình riêng về tín ngưỡng thờ
Mẫu, trong nghiên cứu Đạo Mẫu Việt Nam (Từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ), cũng được tập hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, đã đưa ra những khái quát về lịch sử các hình thức thờ Mẫu của
người Việt Theo ông, lịch sử này khởi nguồn từ việc thờ Nữ thần, qua các bước phát triển, hệ Mẫu thần được xác lập, và, đỉnh cao của sự phát triển đạt tới mức độ khái quát
là hệ Mẫu Tam, Tứ phủ Đây là dạng thức thờ Mẫu tiêu biểu của người Việt ở khu vực Bắc Bộ, bên cạnh dạng thức thờ Mẫu Trung Bộ, Mẫu Nam Bộ… [50, tr.35 - 67] Thực chất, đây là quan điểm xuyên suốt trong nhiều công trình đã công bố trước đó, được nhiều người đón nhận, tham khảo và trích dẫn… [61], [62], [63], [64]
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả Ngô Đức Thịnh khẳng định:
Thoát thai từ đạo thờ Thần và chịu ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc, Đạo Mẫu với tư cách là một biến thể của Đạo giáo Việt Nam đã và đang thâm nhập và ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác
Cùng một loại hình Đạo giáo, Đạo Mẫu rất gần gũi với đạo thờ Thần Tiên trong cả quan niệm, thần điện và nghi thức thờ cúng Hơn thế nữa,
vị thần chủ Đạo Mẫu là Liễu Hạnh đồng thời là một vị Tiên tiêu biểu của Việt Nam Đấy là chưa kể các hình thức nghi lễ cầu Tiên, luyện đồng giáng bút của hai loại đạo này cũng có rất nhiều nét vay mượn của nhau… [50, tr 64]
Cũng thuộc nghiên cứu cơ bản về địa danh - từ hướng tiếp cận ngữ âm học, diễn giải về ý nghĩa của từ Kẻ Giầy, trong nghiên cứu “Về tên đất Kẻ Giầy, phủ Giầy”, tác giả Cao Xuân Hạo, Trần Thúy Anh, với sự cộng tác của tác giả Trần Quốc Vượng, đã tổng hợp được 3 thuyết dân gian có đề cập đến ngữ nghĩa và nguồn gốc của từ Kẻ Giầy, cụ thể như sau:
1 Năm 21 tuổi (1557), khi Mẫu Liễu Hạnh trở lại “thượng giới” có để lại dưới Trần gian một chiếc Hài (Giầy)
2 Vua (Lê?) hay chúa (Trịnh?) đã đi qua làng Mẫu đã nhặt được chiếc
Trang 18Hài (GIẦY) của Mẫu để lại trần gian
3 Vùng này có nghề bánh GIẦY - GIÒ nổi tiếng Nay mỗi khi hội phủ Giầy tháng Ba lịch Trăng, mọi con nhang đệ tử và khách thập phương vẫn mua bánh giầy (dân chợ Dần (Giầy) giã mang bán) [79, tr 329] Qua những phân tích và dẫn dụ, cuối cùng, ông đã đưa ra một giả thuyết khoa học: “Kẻ Giầy chính là Kẻ Trần, vùng của họ Trần” [79, tr 332]
Đây là một chỉ dẫn quan trọng cho nghiên cứu sinh tiếp tục tìm hiểu thêm về
ý nghĩa lịch sử - văn hóa của vùng đất Kẻ Giầy
Một nghiên cứu cơ bản khác nhưng lại được triển khai từ góc độ khảo cứu tư liệu Hán Nôm, đó là “Đối thoại với Hát Văn và Hầu đồng” của GS Kiều Thu
Hoạch, cũng được tập hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu [50] Với không khí “đối thoại” hiếm hỏi nhưng lại rất cởi mở, qua
khảo cứu tư liệu Hán Nôm, phân tích và diễn giải, ông đi đến một số nhận định trên
cơ sở tư liệu:
Tín ngưỡng thờ Mẫu thuộc loại hình tín ngưỡng Vu Hích (Đồng Cốt)… Qua tư liệu Hán Nôm, tín ngưỡng Đồng Cốt mới chỉ thấy xuất hiện từ thời Lý… Nhiều tư liệu Hán Nôm đều cho thấy, tín ngưỡng thờ Mẫu được quy tự vào Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ thời Lê Trịnh (thế kỷ XVII)
Và, nếu nhìn từ tín ngưỡng Vu Hích thì Liễu Hạnh cũng có thể coi như một nữ vu (magicienne)… [50, tr 648]
Đây cũng là một trong những chỉ dẫn mang tính căn lề cho nghiên cứu sinh triển khai các bước trong đề tài này
Đặc biệt, trong “Tiếp cận thực hành tín ngưỡng Tam phủ của người Việt từ góc nhìn lịch sử”, tác giả Kiều Thu Hoạch, từ một hướng tiếp cận độc đáo, ông đã khẳng định: Việt vu là nguồn gốc của tục lên đồng của người Việt, đồng thời, ông cũng chỉ ra tiến trình lịch sử của lên đồng Theo đó, lên đồng cần phải được tiếp cận trong bức tranh tổng thể và toàn cảnh, bao gồm các hoạt động vu thuật/ma thuật của tín ngưỡng này, cụ thể như phù kê/phụ tiên giáng bút, bói toán [29]…
Một nghiên cứu khác cũng rất đáng quan tâm, đó là Cult, Culture and Authority Princess Liễu Hạnh in Vietnamese Hítory của Olga Dror, một học giả
Trang 19người gốc Nga, hiện đang định cư tại Mỹ, nguyên bản tiếng Anh, đã được Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tuyển dịch Tiếp cận nguồn tư liệu trên diện rộng, gồm cả tư liệu Hán Nôm, truyền thuyết dân gian, ghi chép của các học giả đi trước, Olga Dror đã khảo rất kỹ về nguồn gốc và thời điểm định hình tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giầy qua một loạt giả thuyết để đi đến khẳng định, thế kỷ XVI là tương đối thích hợp cho thời điểm định hình tín ngưỡng này Ngoài ra, cũng trong công trình này, Olga Dror còn đưa ra nhiều nhận xét khá thú vị khác, như về tính chất đặc trưng giới nữ trong tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và cho rằng, Mẫu Liễu Hạnh là một vị thần được sáng tạo bởi những người bình dân…
1.1.2 Một số tập hợp, giới thiệu tư liệu và tiếp cận qua tư liệu Hán Nôm
Trước tiên, phải đề cập tới nguồn tư liệu Hán Nôm liên quan tới hệ thống di tích thờ Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu trên địa bàn Nam Định, đã được sưu tầm, chỉnh
lý, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích với sự đầu tư công sức của các tác giả Dương Văn Vượng, Trần Việt Anh, Nguyễn Xuân Cao, sau được Bảo tàng Nam Định tập hợp thành những tập tài liệu phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đây là bộ tài liệu sưu tầm tương đối toàn diện và đầy đủ nguồn tư liệu Hán Nôm tại di tích phủ Giày và phủ Nấp Trong khuôn khổ phối hợp
thực hiện việc biên soạn cuốn sách Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn, Nxb Thế giới ấn hành năm 2019), tác
giả luận án cùng nhóm thực hiện đã được Bảo tàng tỉnh Nam Đinh, cung cấp cho một số tệp tài liệu Hán Nôm (bản đánh máy) có giá trị tham khảo, cụ thể:
- Kết quả nghiên cứu các đạo sắc phong tại phủ Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tập hợp 14 đạo sắc lưu tại phủ Tiên Hương, với sắc sớm nhất có niên đại năm Vĩnh Khánh 2 (1730), sắc muôn nhất có niên đại năm Khải Định 9 (1924) - Ngoài phần nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa, mỗi sắc đều có phần khảo tả ngắn gọn về đặc điểm, hiện trạng Phần phiên âm, dịch nghĩa do Nguyễn Xuân Cao, cán bộ Bảo tàng Nam Định thực hiện
- Lăng Công chúa liễu Hạnh, sưu tầm, tập hợp văn khắc Hán Nôm tại lăng
Thánh Mẫu Liễu Hạnh, do Dương Văn Vượng dịch nghĩa và chú giải
Trang 20- Phủ Tiên Hương, thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Hà, với nội dung tập hợp tư liệu Hán Nôm tại phủ Tiên Hương (ngoại trừ sắc
phong), do Dương Văn Vượng dịch nghĩa và chú thích
- Phủ Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, với nội dung tập hợp tư liệu Hán Nôm tại phủ Vân Cát, do Dương Văn Vượng dịch nghĩa và chú thích
- Tư liệu Hán Nôm tại di tích phủ Quảng Cung, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, Nam Định, tập hợp tư liệu Hán Nôm tại phủ Quảng Cung, do Trần Việt Anh phiên
âm, dịch nghĩa, chú giải
Những tài liệu này đã được chỉnh lý và tập hợp, giới thiệu trong sách Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm [51], chú thích rõ nguồn
gốc và tác giả
Một công trình tập hợp, giới thiệu tư liệu theo nhóm, cần được điểm tới là
Tuyển tập những bài hát văn [49], do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam
Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn, Nxb Thế giới ấn
hành năm 2017 Đây cũng là một quyển trong bộ 4 quyển: Tuyển tập những bài hát văn, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình của các tác giả nước ngoài, do Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn
Sách tập hợp 225 bản hát Văn (có phần phụ lục: cờn oán, hát dọc, xá cờn, phú dầu) gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, được tập hợp từ nhiều nguồn Trong đó, có nhiều bài bản hát văn được tuyển chọn từ bản phiên dịch từ nguyên
bản Hán Nôm có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ XX, như Trần Triều hiển thánh tán văn, ký hiệu thư viện Hán Nôm A.900, do giáo sư Kiều Thu Hoạch thực hiện, Chư vị tán văn toàn tập, ký hiệu thư viện Hán Nôm AB601, do nghiên cứu sinh
thực hiện Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu, trong đó có lĩnh vực âm nhạc gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thần gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, ngôn ngữ, văn học dân gian và nhiều khía cạnh khác liên quan khác [49]
Trang 21Cũng từ góc độ tập hợp, giới thiệu tư liệu về tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt, có lẽ, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm
[51], do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn, Nxb Thế giới ấn hành năm 2019 là xuất bản phẩm tập hợp và công bố được lượng tư liệu Hán Nôm đáng kể nhất Đây cũng
là một quyển trong bộ 4 quyển: Tuyển tập những bài hát văn, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu, Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình của các tác giả nước ngoài, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam
Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn, tập hợp và hệ thống tương đối về tư liệu Hán Nôm liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, mặc dù trước đó có một số sách khác đã tập hợp nhưng chưa thực sự thành
hệ thống
Sách đã bước đầu tập hợp và công bố bản dịch tiếng Việt tương đối đầy đủ các mảng tư liệu Hán Nôm liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Nam Định, gồm thần tích, sắc phong, văn bia và gia phả Tuy nhiên, về cơ bản, đây mới chỉ là cuốn sách mới sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu được một số tư liệu Hán Nôm liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Nam Định, có giá trị về mặt tài liệu tham khảo nghiên cứu Tuy nhiên, những tư liệu hán Nôm Nôm liên quan đến các vị Thánh Mẫu khác và hệ thần liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu chưa có điều kiện tập hợp, đặc biệt là những vấn đề, như nhìn nhận, đánh giá, kết luận về các vấn
đề liên quan tới “Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm” hoặc đánh giá về giá trị, nội dung tư liệu Hán Nôm, hướng khai thác tư liệu Hán Nôm cũng chưa có điều kiện đề cập đến tới [51]
Trước đây, xóc thẻ, rút thẻ, xem thẻ là một trong những hoạt động tín ngưỡng khá phổ biến trong các đền, chùa, miếu, quán, phủ… ở nước ta Với tín ngưỡng thờ Mẫu, ấn phẩm Thánh Mẫu linh thiêm, do Olivier Tessier (Tổ chức biên soạn), Phạm Văn Ánh, Nguyễn Thị Hiệp (dịch vào giới thiệu), là một ấn phẩm tập hợp, giới thiệu tư liệu tư liệu rất đáng chú ý Bộ sách giới thiệu khá đầy đủ chi tiết
về tục bói thẻ, đặc biệt đã công bố toàn văn (dạng ảnh chụp) và phần phiên âm, dịch
Trang 22nghĩa chú giải cho từng quẻ [45]
Từ góc tiếp cận Hán Nôm, quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, Dương Văn Vượng là tác giả có công rất lớn trong việc sưu tầm, tập hợp tư liệu Hán Nôm Trên nền tảng này, hầu hết các nghiên cứu liên quan của ông thường dựa trên việc khảo cứu tư liệu Hán Nôm để phân định - Xin lấy ra một dẫn dụ liên quan để cùng thấy được điều này: Trong “Tìm hiểu lịch sử Mẫu Liễu qua một số
thơ văn cổ”, cũng được tập hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu [50] Trên nền tảng tư liệu, ông đã tìm cách đặt và giải quyết
vấn đề lịch sử Mẫu Liễu rất đáng chú ý:
Từ câu đối của Giám sát Ngự sử Đồng Công Viện, viết năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712) tại chùa Hải Lạng, huyện Đại An nói về ba kiếp giáng sinh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, bằng những kinh nghiệm điền dã và dịch thuật Hán Nôm, ông tin và lần lượt diễn giải về ba lần giáng sinh xuống trần của thánh Mẫu Liễu Hạnh như sau:
- Lần thứ nhất, Mẫu giáng sinh tại Vỉ Nhuế (Đại An)
- Lần thứ hai, Mẫu giáng sinh ở Yên Thái (Thiên Bản)
- Lần thứ ba, Mẫu giáng sinh ở Tây Mỗ (Nga Sơn)…
Điểm thú vị là khi đề cập tới Vân Cát thần nữ truyện (trong Truyền kỳ Tân phả),
ông đưa ra khẳng định, Vân Cát thần nữ truyện nguyên do Trần Mại từng đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ 2 - 1721, làm quan chức Công bộ Thị Lang viết Theo ông, ghi chép của Trần Mại như sau:
Ở Yên Thái có bà con gái linh thiêng, hiển hiện nói cùng dân thôn và thân nhân trong những đêm trăng sáng dưới khu gò Đa, nơi có xác phàm, rằng mình là con gái của Thượng đế bị trích xuống trần vào nhà họ Lê ở xóm Vân Cát, lấy chồng là Trần Duy Đào, sinh được một trai, một gái, năm 21 tuổi về trời Dân sở tại thấy cô chỉ bảo giúp địa phương tìm lành tránh dữ, nên lập miếu thờ Em trai của cô là Lâm thay cô phụng dưỡng hai thân, dòng dõi họ Trần giữ gìn hiếu nhân tín nghĩa [50, tr 224 - 225]
Tuy nhiên, một điểm đáng tiếc là ông chưa chú thích rõ “Theo ghi chép của Trần Mại” là theo tư liệu nào, tính xác thực lịch sử và văn bản của tư liệu ra sao
Trang 23Bên cạnh đó, cần thiết phải đặt vấn đề tính xác thực cửa tư liệu hoặc bản dịch khi xét lại chi tiết (lời ông Trần Mại) cho rằng: “Ở Yên Thái có bà con gái linh thiêng, hiển hiện nói cùng dân thôn và thân nhân trong những đêm trăng sáng dưới khu gò Đa” - Nếu hiểu, “dân thôn” trong câu này là dân thôn Yên/An Thái thì nguồn tư liệu chưa hẳn đã chính xác, bởi qua khảo cứu và đối chiếu nguồn tư liệu Hán Nôm, đặc biệt là qua các tài liệu gốc mang tính chân xác cao, như sắc phong (hiện lưu tại nhà thờ họ Trần Lê và phủ Tiên Hương), địa bạ lập năm Gia Long thứ 4 - 1805 (hiện lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước - Bộ Nội vụ), xã An/Yên Thái, bản xác thực của Bộ Lễ triều Nguyễn, tục lệ xã Tiên Hương, do hội đồng chức dịch xã Tiên Hương (trước là An/Yên Thái) lập năm Tự Đức thứ 3 - 1850) chưa thấy khi nào An/Yên Thái ở đây giữ tư cách là một xóm/thôn
Cũng theo Dương Văn Vượng:
Trần Mại không đề cập tới tiền thân và hậu thân của Mẫu Tuy nhiên, Đoàn Thị Điểm và em trai của bà là Đoàn Doãn Luân đều là học trò của Trần Mại sau khi ông trí sĩ về hưu sớm Đoàn Thị Điểm tiếp thu được chuyện này đã thêm phần trên dưới có sự linh dị, làm sống thêm cuộc đời, sự nghiệp thơ văn, hiển thánh ra oai tác phúc… Tuy nhiên, khi đến Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (người xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ) biên tập lại, có đưa cho Khiếu Năng Tĩnh xem, sau khắc bản in vào năm Canh Tuất (1910), đã chú trọng đến việc thánh Mẫu chống trọi với quan triều đình như còn thấy trong tác phẩm này [50, tr 225 - 226]
Tiếp theo, dẫn lời của Lý Văn Phức (người xã Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận,
đỗ Hương Cống năm Gia Long 18 - 1819), ông để đi đến khẳng định: “Bà Điểm là người yếu ớt, biết phụng sự chồng, nuôi nấng con cháu, là người học hành uyên bác nhưng chẳng dám đi đâu, nên tập biên mã vàng công chúa đã thiếu mất tiền thân và hậu thế” [50, tr 226]
Cũng trong nghiên cứu này, Dương Văn Vượng khẳng định:
Ông từ Trần Đắc Tuyên, trong một lần ngồi đồng năm Gia Long thứ 15 (1806), đã viết: Ta (Mẫu Liễu) tiền kiếp ở Vỉ Nhuế - Đại An, trung khiếp ở
Trang 24An Thái - Thiên Bản, hậu kiếp ở Tây Mỗ - Nga Sơn, đều có từ 20 đến 40 năm nơi trần thế, việc trinh hiếu là nhân bản không thể thiếu, việc du ngoạn
là việc cảnh tỉnh lũ ô trọc, há lại cho là vô bổ, còn việc họa xướng ở Tây Hồ
là loài hồ yêu mê hoặc không nên gán ghép cho ta… [50, tr 226]
Đó là một chi tiết khá thú vị, để qua đó có thể đặt ra một giả thiết để làm việc là: Phải chăng, trước đây, ngoài mục đích thông linh (con đồng bắc cầu để con người và thần linh giao tiếp với con người), “lên đồng phán truyền” còn được sử dụng với mục đích xây dựng, đắp bồi hành trạng, thân thế của Mẫu và thần linh?
Sau khi dẫn thêm tư liệu sắc phong, Dương Văn Vượng khẳng định:
Trong mối quan hệ với Mẫu, ông Lê Công Tiên là bố đẻ và bà Từ Huệ (Trần Thị Phúc) là mẹ đẻ, ông Lê Công Lâm là em ruột, bà Sâm, tức Duy Tiên phu nhân là em dâu, bà Liên tức Quế Anh hay Quế Hoa là cháu
Về phía chồng, ở xóm Vân Đình (Giáp Nhì) đều có bài vị thờ ở phủ Tiên Hương, mà đời cho là quê chồng mới, là nơi có cửa nhà và nơi gửi xác
Mộ phát tích thì tại xứ Cây Đa Bóng, có mộ cha đẻ tại xứ La Hào (Giáp ba) là mộ tổ tứ đại, còn cồn cây Đa là mộ Mẫu, nơi chôn cất xác phàm, nơi sau này ba chị em họ Lê thuộc hội Đào Chi (Huế) đã xây lăng đá năm Mậu Dần (1938) [50, tr 229]
Cuối cùng, ông đưa ra nhận định:
Có thể nói vị đàn bà mà thời xưa phong là chúa Liễu, về nguồn gốc là người thực việc thực, có ba giai đoạn, mà kết hợp lại thì do lời của ông đồng bà cốt, thần thánh hóa uy đức của người phụ nữ
Về thực chất có ba người phụ nữ ở ba vùng, lần thì không lấy chồng, lần thì có chồng con, đều nêu cao tính chất nhân từ nhu thuận, treo gương trinh hiếu, mà các quan lại là chồng, là thần thích, nên đã vì vợ, em, người yêu quý, góp tay xây dựng tô điểm, để bà thành vị nữ thần đệ nhất thời Việt Nam đầy biến cố [50, tr 235]
Như vậy, tạm bỏ qua những tiểu tiết, có thể nhận thấy, qua khảo cứu, Dương Văn Vượng đã phần nào khẳng định, với Mẫu Liễu, ngoài “hành trạng Thần Tiên”, còn có một “hành trạng thế tục” Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là ông chưa khai
Trang 25thác nguồn tư liệu sắc phong để củng cố cho nhận định này Vậy có hay không một motif hành trạng Mẫu, vốn từ người thực chết thiêng, sau được huyền thoại hóa để mang những yếu tố thần kỳ Và, phải chăng, đây là một xu hướng “thần thánh hóa” con người bên cạnh xu hướng nhân hóa thần linh trong tín ngưỡng truyền thống Việt? Đó là những câu hỏi nhỏ cũng được nghiên cứu sinh đặt ra và thử tìm câu trả lời trong luận án này?
Trong Luận văn thạc sĩ Hán Nôm, Đại học Quốc gia Hà Nội, với đề tài Văn bản Truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích, bảo vệ thành công năm 2011, Lê Tùng Lâm đã rất dày công điểm lại lịch sử nghiên cứu và dịch thuật Truyền kỳ tân phả,
trong đó có truyện Vân Cát Thần nữ Qua đó, một số vấn đề văn bản và truyền bản văn bản này đã được làm rõ Với thao tác tập hợp tư liệu theo thiên hướng khảo cứu, bước đầu tác giả đã thống kê được 29 văn bản thần tích liên quan tới Vân Cát Thần nữ Sau phân tích văn bản, tác giả đã khái quát về hình tượng và hành trạng của Thánh Mẫu
Liễu Hạnh qua Truyền kỳ Tân phả và các bản thần tích dưới các góc độ: danh hiệu, tên
trên thiên đình, tục danh và sự giáng sinh, thần hiệu, ngày sinh và ngày mất, quê hương, bố mẹ, anh em, chồng con… và đưa ra một nhận xét khá thú vị là:
Đoàn Thị Điểm đã thu thập nhiều tích truyện trong dân gian để viết nên Vân Cát Thần nữ theo motip tài tử giai nhân Truyện có sức lan tỏa mạnh mẽ,
khi thâm nhập vào khắp các miền quê lại có thay đổi ít nhiều cho phù hợp điều kiện mới Và, để thống nhất thần quyền, cầu cho vận nước dài lâu, triều đĩnh đã ban sắc, dựng đền đưa vào hàng quốc tế Theo đó, ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng lớn mạnh… [37]
Tuy nhiên, một điều đáng tiếc, là khi khảo văn bản Vân Cát thần nữ lục và tham khảo các bản dịch trước đó, cách diễn giải “truyền thống” vô tình vẫn bóp méo sự thật lịch sử vẫn chưa được phát lộ, nên trong các diễn giải về đất giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh vẫn được cho là ở Thôn/làng An Thái, thuộc xã Vân Cát, trong khi trong cấu trúc câu “An Thái Vân Cát Thiên Bản chi danh hương…, về quan hệ địa chính giữa Vân
Cát và An Thái tại thời điểm định bản Vân Cát Thần nữ lục trong Truyền kỳ tân phả
khắc năm Gia Long 10 (1811) thì Vân Cát chính là một thôn của xã An Thái Trong khi đó, nhiều bản thần tích liên quan do chính tác giả công bố trong phụ lục lại mô tả
Trang 26đúng, là khi ấy, thôn Vân Cát, thuộc xã An Thái Và, sự kiện một số văn bản ghi năm Gia Long thứ 4 (1805) xã An Thái được đổi tên thành xã Tiên Hương cũng mặc nhiên được thừa nhận nhưng trong khi thực tế đây là câu chuyện lịch sử vào cuối thờ Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức Về vấn đề này, nghiên cứu sinh xin được làm rõ trong chương 3 khi đề cập đến biến đổi địa chính khu vực Kẻ Giày trong lịch sử
Một điểm đóng góp đáng kể nữa của luận văn này là tác giả đã công bố khá
nhiều bản dịch dị bản truyện Vân Cát Thần nữ, trong đó có Nội Đạo tràng và các bản
thần tích: AE.A2/86, AE.A2/48, ghi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh từ thời Lý… [37]
Có lẽ, một tác giả có công lớn nhất trong việc đặt tiền đề khai phá tìm hiểu Tín ngưỡng thờ Mẫu (tác giả công trình này gọi là Đạo Mẫu) ở Việt Nam qua tư liwwuj
Hán Nôm, phải kể đến là thạc sĩ Đinh Thị Lệ Huyền, với luận văn thạc sĩ Hán Nôm
mang tên Đạo Mẫu từ nguồn tư liệu Hán Nôm, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
bảo vệ thành công năm 2007
Đây là công trình có đóng góp về khía cạnh tập hợp, chỉ dẫn tư liệu Hán Nôm
và khảo cứu dị bản các văn bản liên quan tới tục thờ Mẫu trên phạm vi cả nước Qua khảo sát tư liệu, tác giả đã thống kê (dù chỉ qua sách thư mục) được 85 đầu mục tư liệu
Hán Nôm liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung qua Thư mục đề yếu, kèm theo
các thông cơ bản về tên văn bản, ký hiệu, niên đại, tác giả, ngôn ngữ nội dung (khái lược) và ghi chú Riêng với nhóm thần tích, tác giả cũng đã thống kê được 31 đơn vị tài liệu, với các thông tin cơ bản về tên văn bản, ký hiệu, hiệu duệ tôn thần, niên đại và tác giả, địa danh lưu trữ thần tích và ghi chú về số tờ, văn tự được thể hiện trên văn bản Đáng chú ý, công trình này đã công bố danh mục 220 bản khai thần tích - thần sắc của các chức dịch làng xã kê khai năm 1938, hiện đang lưu tại Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, với các thông tin khái quát về số đăng
ký, nơi có thần tích và sắc phong, duệ hiệu tôn thần, số lượng, số ký hiệu [36]
Qua các tổng hợp phân tích văn bản, phân loại văn bản theo nhóm loại hình, tác giả đã đưa ra một số nhận xét về lịch sử văn hóa rất đáng lưu tâm, cụ thể:
- Về thời gian, quá trình văn bản hóa truyền thuyết về Mẫu ở nước ta được bắt đầu từ thời Lê Trung hưng, dưới thời vua Lê Anh Tông (1571 - 1573), sau được kế tục qua các triều đại sau
Trang 27- Điểm đáng chú ý là bên cạnh ghi chép bằng chữ Hán, với sự ra đời và phát triển hình thức ghi chép bằng chữ Nôm, đã góp phần giúp cho điều kiện truyền bá, phổ cập tín ngưỡng thờ Mẫu dễ dàng hơn
- Tính dị bản trong các văn bản Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu là hệ quả tất yếu của việc tường lược bất đồng (chỗ mờ chỗ tỏ)
- Nguồn tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu trực tiếp phản ánh nhiều mặt về đời sống tín ngưỡng thờ Mẫu… [36]
Nhân đây, xin nói rõ thêm, là quá trình văn bản hóa truyền thuyết về Mẫu ở nước ta được bắt đầu từ thời Lê Trung hưng, dưới thời vua Lê Anh Tông (1571 - 1573), sau được
kế tục qua các triều đại sau, thực chất là việc “văn bản hóa” mang tính chất quan phương,
do triều đình thực hiện nhằm “điều chỉnh” một số nội dung mà triều đình cho là nhảm nhí Ngoài mặt tích cực và tiện dụng cho việc quản lý bách thần, thì việc làm này cũng là một tác nhân trực tiếp can thiệp vào sự đa dạng văn hóa dân gian, dần biến thần tích của các vị thần thành/theo một motip chung như chúng ta còn thấy hiện nay
Bên cạnh đó, còn thể kể tới một số công trình khác như: Nghiên cứu kinh giáng bút của thiện đàn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - Luận án tiến sĩ Hán Nôm của Trần Quang Huy [32], Quốc văn Nôm trong kinh giáng bút của phong trào thiện đàn đầu thế kỷ XX, Luận văn thạc sĩ Hán Nôm của Trần Quang Huy [33], Đức thánh Trần qua kinh giáng bút, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hiền [24]… và
nhiều công trình khác nữa, như của các tác giả Nguyễn Minh San, [50, tr 210 - 219], Chu Xuân Giao [50, tr 237 - 276], Bùi Văn Tam [50, tr 315 - 319], Nguyễn Duy Hinh [50, tr 346 - 358]…
Điểm qua một số kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước, có thể nhận thấy, mỗi nghiên cứu, với phương pháp riêng, cách tiếp cận riêng, lý luận riêng, biện giải riêng sẽ cho ra một kết quả “tương đối riêng” nhưng nhất định không có “vấn đề cũ” Tạm hợp các mảnh ghép lại, ắt sẽ tạo nên một bức tranh đa sắc về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh từ lịch sử đến đương đại nhưng vẫn có những điểm như vừa mờ, vừa
tỏ Những thành tựu nghiên cứu trên, đặc biệt là những nghiên cứu cơ bản và tập hợp
tư liệu là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa và triển khai đề tài này Theo đó, có thể nhận thấy, từ việc tập hợp, khảo cứu văn bản học Hán Nôm trong
Trang 28điều kiện hiện nay, vấn đề lịch sử địa chính và văn hóa khu vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh cần thiết phải được diễn giải lại để làm sáng tỏ thêm Trên nền này, kết hợp với khai thác giá trị của tư liệu Hán Nôm dưới góc nhìn văn hóa học, những vấn đề cụ thể, như tên gọi Kẻ Giày, phủ Giày, hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng liên quan, vai trò của các cộng đồng chủ thể sáng tạo văn hóa, tư cách chính tự và một số vấn đề khác nữa… quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày cần được diễn giải và phân tích làm sáng tỏ hơn…
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.2.1 Cơ sở lý luận
Thừa hưởng kết quả nghiên cứu của người đi trước, một số thành tựu nghiên cứu
đã điểm qua sẽ được nghiên cứu sinh lựa chọn tiếp thu, trong đó có những lý luận khái quát từ góc nhìn địa - văn hóa, nguyên lý mẹ trong văn hóa Việt Nam của GS Trần Quốc Vượng; nguyên tắc diễn giải ngữ âm dân gian trong việc tìm hiểu về địa danh của
GS Cao Xuân Hạo; lý luận mang tính khái quát về các bước phát triển, các dạng thức thờ Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt của GS Ngô Đức Thịnh
Luận án sử dụng hai cách tiếp cận chính, đó là văn bản học và văn hóa học Bên cạnh đó, cách tiếp cận liên ngành gồm sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học… sẽ được sử dụng trong các phân tích cụ thể
Về văn bản học, theo các chuyên gia Hán Nôm thì bộ môn lý luận văn bản học của Nga (Liên Xô cũ), một nước có nền văn bản học tiếng Nga cổ rất phù hợp
để áp dụng nghiên cứu văn bản học Hán Nôm Hiện nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm vẫn đang lưu bản dịch về văn bản học của Likhatsop, ký hiệu DT.108, có giá
trị tham khảo nhất định đối với những người nghiên cứu văn bản học Hán Nôm
Về thuật ngữ, văn bản học tiếng Nga là “Textologhi” (phiên âm tiếng Pháp là
“Textologi”) Ở Tây Âu không có thuật ngữ tương đương, thường được gọi là phê phán văn bản (“Critique de textes”) Ở Trung Quốc, văn bản học từ đời Thanh đã rất phát triển, thường được định danh bằng thuật ngữ “Bản bản học” (版 本 學)
Ở Việt Nam, nhà bác học Lê Quý Đôn cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu phê phán văn bản Chẳng hạn, khi phê phán văn bản Lam Sơn thực lục, ông cho
Trang 29rằng, văn bản này được sao chép có nhiều chữ sai, không rộng tìm các bản mà chỉ tùy ý sửa đổi, thêm bớt, làm mất tính chân thực của bản gốc
Sách giả ở Trung Quốc rất nhiều, ở Việt Nam cũng không phải không có Chẳng hạn: Quanh sách Lĩnh Nam dật sử của Trần Nhật Duật, đã có nhiều ý kiến phân tích, tuy nhiên, ở nước ta, lĩnh vực văn bản học chưa được định hình để trở thành khoa “Biện ngụy học” như ở Trung Quốc “Theo Đại bách khoa toàn thư Liên
Xô, Văn bản học là một ngành của khoa học ngữ văn, nghiên cứu các tác phẩm có văn tự, các tác phẩm văn học và văn học dân gian nhằm mục đích kiểm tra có phê phán, xác định và tổ chức các văn bản để tiếp tục nghiên cứu để lý giải công bố” [dẫn theo 17, tr.271]
Từ định nghĩa này, có thể xác định, văn bản học hán nôm đảm đương những nhiệm vụ cơ bản sau: “Giám định, phân tích hiệu chỉnh các văn bản Hán Nôm Nghiên cứu lịch sử phát triển, lưu truyền văn bản nhằm khôi phục lại bộ mặt nguyên bản sơ, khi các tác giả văn bản tạo ra” [17, tr 271]
Từ lý thuyết này có thể khẳng định, nghiên cứu văn bản học là một trong những thao tác không thể bỏ qua khi tiếp xúc và khai thác văn bản Hán Nôm Trong phạm vi xử lý tư liệu Hán Nôm trực tiếp liên quan của đề tài Riêng với trường hợp Vân Cát thần nữ truyện trong Truyền kỳ tân phả cũng có nhiều vấn đề về văn bản, nhưng may mắn là đã được một số nhà thư tịch học phân tích khai phá Nghiên cứu sinh cơ bản dựa trên kết luận của học giả Trần Văn Giáp để lựa chọn bản Vân Cát Thần nữ truyện được tập hợp trong Truyền kỳ tân phả [223], do Lạc Thiện đường khắc năm Gia Long thứ 10 (1811) làm bản nền để nghiên cứu, so sánh, đối chiếu để tìm hiểu
về hành trạng Mẫu Liễu Hạnh và một số vấn đề liên quan đến văn bản học như một trường hợp dẫn dụ áp dụng lý thuyết…
Về hướng tiếp cận văn hóa, tiến hóa luận và nhân học sinh thái nửa sau thế kỷ
XX là một thuyết sẽ được nghiên cứu sinh áp dụng để biện giải về quá trình hình thành hệ thần Tam phủ, Tứ phủ như một giả thiết để làm việc
Theo đó:
Nhân học sinh thái liên quan tới mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái Môi trường tự nhiên bao gồm không chỉ cây cối và
Trang 30động vật cần thiết cho sự tồn tại của con người, mà còn là những con sông, hồ nước, khí hậu cũng như kỹ thuật và phương tiện vật chất khác
do con người tạo nên để sử dụng các cơ sở vật chất có trong môi trường
Cơ sở của mỗi nền văn hóa là công cụ, máy móc, kỹ thuật, thực hành Thông qua khoa học kỹ thuật, mỗi nền văn hóa có quan hệ tương tác với môi trường vật chất của nó để có thực phẩm, chất đốt, và các hình thức
sử dụng nhiên liệu khác Kỹ thuật và văn hóa giúp cho cộng đồng con người chống lại dã thú, bệnh tật, sự quá khắc nghiệt của khí hậu… [44,
tr 545]
Qua hướng tiếp cận này sẽ phần nào thấy được:
Những mối liên hệ mới giữa môi trường tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, tổ chức xã hội, các mô hình định cư, phân bố dân cư, và lịch sử Sự tập trung dân số và các mô hình định cư là một phần cơ sở của sự phân tích của Steward về các nhóm săn bắn theo họ cha và sự tiến hóa của người
da đỏ Pueblo ở Hoa Kỳ Ông tranh luận rằng dân số tăng lên có thể là do
sự căng thẳng về môi trường sinh thái làm tăng các tổ chức dòng họ trong các vùng của người da đỏ Pueblo Tỉ lệ tăng dân số cũng là chiếc chìa khóa để giải thích sự phát triển và tan rã của các nhà nước và đế chế
cổ đại [44, tr 547]…
Và,
Tiến hóa xã hội phân biệt với tiến hóa sinh học ở chỗ tiến hóa sinh học liên quan tới sự thay đổi, cạnh tranh và chọn lọc Trong khi tiến hóa xã hội thể hiện sự tương đồng như là sự đa dạng, thích nghi, duy trì, tái sinh, và định hướng Trong cả quá trình tiến hóa có sự tương đồng nhưng lại khác nhau về nội dung Tiến hóa xã hội diễn ra thông qua hữu thức và
vô thức của con người, dựa vào ngôn ngữ và văn hóa mà loài người có được Tiến hóa sinh học mang tính di truyền và không có mặt ý thức của con người [44, tr 548]
- Nhân học giải thích:
Nhân học giải thích áp dụng một cách tiếp cận đặc biệt, nghĩa là nghiên
Trang 31cứu những trường hợp đơn lẻ mà những trường hợp đó có thể đưa ra những hiểu biết sâu sắc và bao hàm nhiều ý nghĩa Đối với việc nghiên cứu một trường hợp riêng lẻ trong một xã hội cụ thể, nhân học theo phương pháp giải thích không xem xét con người ứng xử như thế nào, cũng không đi sâu vào các ý nghĩa hành động và thái độ của con người Giải thích luận cho rằng thế giới vật chất và xã hội của con người có thể hiểu một cách tốt nhất bằng cách hiểu con người sống trong xã hội đó tự
lý giải và tự hiểu các thể chế và tập quán của họ Nhiệm vụ của nhà nhân học là giải mã những lý giải của người bản địa
Clifford Geertz là một nhà nhân học theo phương pháp giải thích, nhưng không phải là nhà sáng lập ra phương pháp tiếp cận nhân học này Ông cho rằng nhân học không thể là một ngành khoa học như ngành vật lý với các quy luật và sự tổng quát dựa vào các số liệu thực tế và thực nghiệm Nhân học cần phải dựa vào hiện thực cụ thể của một xã hội, nhưng phải là ý nghĩa của chúng do con người sống trong xã hội đó hiểu, chứ không phải là những phán đoán chủ quan của nhà nghiên cứu dựa vào số liệu thực tế Đối với Geertz, nhân học cần dựa vào các nguyên tắc nhân văn, sự miêu tả, thi pháp, văn học, thần thoại, biểu tượng, và các đặc tính khác của loài người phân biệt với các loài sinh vật khác
Quan điểm của Geertz về tầm quan trọng của trường hợp đơn lẻ không phải là hoàn toàn mới, mà Boas, Malinowski, và Radcliffe – Brown đã từng nghiên cứu chuyên sâu một nền văn hóa đơn lẻ để nêu ra các chức năng của các thể chế trong xã hội loài người Quan điểm chống lại thuyết
vị chủng và ủng hộ hội nhập của tất cả các nền văn hóa, khuynh hướng tìm hiểu các nền văn hóa khác từ quan điểm của người bản địa là một điểm mạnh trong nhân học của các học giả tiền bối này
Phương pháp tiếp cận của Geertz tìm hiểu ý nghĩa dựa vào những lý giải của người bản địa mang tính tương đối Điều cốt lõi trong các công trình nghiên cứu của Geertz là liên kết các quá trình tự biết, tự nhận thức, tự hiểu của người bản địa với sự hiểu biết của nhà nghiên cứu về văn hóa
Trang 32của họ Cuốn sách cuối cùng của ông Tri thức bản địa (Local
Knowledge) đề cập đến cái đặc biệt, cái cụ thể, trường hợp cá thể, tri thức bản địa và sự kết hợp tri bản địa với hiểu biết của nhà nghiên cứu Quan niệm của Geertz trong nhân học có thể được gọi là nhân văn hay giải thích, với nghĩa là ông hướng vào việc giải thích các vấn đề văn hóa
mà vẫn giữ được đặc thù cá nhân và sự phức hợp của thái độ con người đối với hình thức văn hóa của họ
Quan niệm nhân học truyền thống cho rằng nếu nhà nghiên cứu muốn hiểu các nền văn hóa của dân tộc khác, họ phải đảm nhiệm vai trò của những người bản địa Malinowski cho rằng chỉ bằng cách nghiên cứu thực tế, trực tiếp quan sát những hiện tượng văn hóa của người bản địa mới có thể hiểu được ý nghĩa của những yếu tố văn hóa của họ Geertz ủng hộ quan niệm “giải thích của người bản xứ” như là con đường dẫn tới hiểu biết văn hóa của một dân tộc trong nhân học văn hóa Theo cách tiếp cận này, các điều lý giải được tập hợp lại bao gồm phiên bản của văn bản, lời nói, hành động so sánh với những hình thức tương ứng khác, hoặc một tập hợp những nhận thức của người bản địa so sánh với những nhận thức khác của họ Sau đó là những nhận thức và tri thức của con người nghiên cứu kết hợp với nhận thức của người bản địa về chính văn hóa của họ Với việc tập hợp những lý giải các văn bản, hành động, biểu tượng, các hình thức xã hội, các hiện tượng bằng cách đi từ cụ thể tới cái chung và ngược lại, sự hiểu biết và ý nghĩa của một nền văn hóa sẽ từ từ hiện ra Phương pháp nghiên cứu này còn được gọi là “miêu tả sâu” Trong khi miêu tả, nhà nghiên cứu phải thay đổi đi thay đổi lại từ quan niệm khác, từ mức độ này tới mức độ khác, và cuối cùng dẫn tới một sự hiểu biết sâu sắc về một nền văn hóa cụ thể[44, tr 555 - 557]
Trong luận án này, nhân học giải thích sẽ được áp dụng như một cách tiếp cận đặc biệt, tức xem xét một số hiện tượng văn hóa đơn lẻ nhưng qua đó lại có thể đưa ra những hiểu biết sâu sắc và bao hàm nhiều ý nghĩa
- Quan niệm tôn giáo của nữ giới và các vai trò giới:
Trang 33Theo quan niệm này:
Tôn giáo cá nhân là sự kết hợp hết sức ý nghĩa mang tính chất cá nhân của các niềm tin, giá trị, và thực hành có liên quan đến thế giới quan của nhóm lớn hay mà cá nhân đó quy thuộc Trong quá trình hội nhập, cá nhân tiếp nhận nhiều niềm tin, giá trị và thực hành này từ các vị đại diện của nhóm lớn hơn đó như cha mẹ và thầy cô Cá nhân tiếp thu được nhiều điều trong hệ thống ý nghĩa được tiếp nhận này và chúng trở thành một phần trong cách nghĩ của cá nhân về căn tính của mình và của những người khác Trong hệ thống ý nghĩa mà cá nhân tiếp nhận đó là hình thành nhiều niềm tin, hình ảnh và quy chuẩn mà nhóm định nghĩa về nam giới và nữ giới Tất cả tôn giáo đều đề cập đến chủ đề về bản năng giới tính của con người và các vai trò về giới bởi vì bản năng giới tính có một sức ảnh hưởng đến sức mạnh mẽ trong đời sống con người và giới tính, trong hầu hết các xã hội, là một nhân tố chính quyết định sự phân tầng xã hội
Trước tiên, các nhà xã hội học tập trung nghiên cứu tôn giáo của nữ giới ảnh hưởng như thế nào đến các vai trò về giới và căn tính của họ Thứ hai, các nhà xã hội cho chúng ta thấy tại sao việc chỉ chú trọng vào tôn giáo và tính tôn giáo chính thức thì đôi khi bị sai lạc Khi tôn giáo trở thành một lĩnh vực được khu biệt về mặt định chế, nhiều vai trò và thể hiện tôn giáo của phụ nữ bị loại trừ khỏi tôn giáo chính thức, và tiếp tục, thì chúng được lưu giữ và bảo vệ trong các hình thái phi chính thức như tín ngưỡng chữa lành, tín ngưỡng dân gian, lên đồng, phù thủy và hỗ trợ tâm linh khác Các nhà xã hội học nên xem xét về các nền tảng về mặt cấu trúc xã hội đối với địa vị của phụ nữ; từ góc độ lịch sử, các định chế tôn giáo chính thức điển hình cho việc đàn áp phụ nữ về phương diện cơ chế và hệ tư tưởng Từ đó, việc hợp thức hóa vai trò của nữ giới về mặt tôn giáo đưa ra các câu hỏi thú vị về tính tôn giáo của phụ nữ Chứng cứ lịch sử gây ấn tượng sâu sắc cho thấy tôn giáo phi chính thức là một phương tiện nhằm khẳng định các vai trò tôn giáo khác nhau của nữ giới
Trang 34Trước tiên, các nhà xã hội học tập trung nghiên cứu tôn giáo của nữ giới ảnh hưởng như thế nào đến các vai trò về giới và căn tính của họ Thứ hai, các nhà xã hội cho chúng ta thấy tại sao việc chỉ chú trọng vào tôn giáo và tính tôn giáo chính thức thì đôi khi bị sai lạc Khi tôn giáo trở thành một lĩnh vực được khu biệt về mặt định chế, nhiều vai trò và thể hiện tôn giáo của phụ nữ bị loại trừ khỏi tôn giáo chính thức, và tiếp tục, thì chúng được lưu giữ và bảo vệ trong các hình thái phi chính thức như tín ngưỡng chữa lành, tín ngưỡng dân gian, lên đồng, phù thủy và hỗ trợ tâm linh khác Các nhà xã hội học nên xem xét về các nền tảng về mặt cấu trúc xã hội đối với địa vị của phụ nữ; từ góc độ lịch sử, các định chế tôn giáo chính thức điển hình cho việc đàn áp phụ nữ về phương diện cơ chế và hệ tư tưởng Từ đó, việc hợp thức hóa vai trò của nữ giới về mặt tôn giáo đưa ra các câu hỏi thú vị về tính tôn giáo của phụ nữ Chứng cứ
Trang 35lịch sử gây ấn tượng sâu sắc cho thấy tôn giáo phi chính thức là một phương tiện nhằm khẳng định các vai trò tôn giáo khác nhau của nữ giới [21, tr 294 - 295]
Đó là khung lý thuyết cơ bản để luận án xem xét, bàn luận một số vấn đề về giới có liên quan trong nghiên cứu này
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Kết quả nghiên cứu nền của GS Trần Quốc Vượng như đã trình bày ở trên
đã chỉ rõ, khu vực Kẻ Giày có lịch sử văn hóa lâu đời, phát triển liên tục từ thời sơ
sử đến nay Bề dày văn hóa và tính chất đa văn hóa của khu vực kẻ Giầy còn được phản ánh qua hàng loạt di sản văn hóa vẫn hiện diện, như ngoài thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, cùng hệ thống đền, miếu thờ các Mẫu, Tôn Ông, Chầu
Bà, Quan Lớn, các Cô, trong khu vực Kẻ Giày xưa vẫn tồn tại hệ đền thờ thần nông nghiệp gắn với Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Gió) của người dân trồng lúa nước… [50, tr 166 - 170]
Trong bối cảnh biến đổi lịch sử - xã hội vào khoảng thế kỷ XVI, các tôn giáo, tín ngưỡng dân gian nói chung cũng bị tác động và có bước chuyển đáng kể Một xu hướng đáng quan tâm, đó là hiện tượng định hình Đạo giáo giân gian Việt, dẫn tới sự xuất hiện của phái Nội Đạo và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, những đại diện tiêu biểu cho xu hướng này Trong cục diện chiến tranh Nam - Bắc triều, việc các tôn giáo, tín ngưỡng bị “lôi kéo” để tham gia vào cuộc chiến giữa hai thế lực cũng
là điều dễ hiểu Minh chứng cho nhận định này là những phản ánh dân gian về cuộc chiến giữa Bà chúa Liễu Hạnh và Tiền Quan Thánh do Phật Thích Ca xuất hiện, tín ngưỡng Mẫu Liễu đã kết hợp với Phật giáo và tín ngưỡng dân gian của nông dân để thích ứng với điều kiện lịch sử - xã hội mới, cuối cùng được triều đình thừa nhận và
có bước phát triển, lan tỏa vô cùng mạnh mẽ mà chúng ta còn thấy sự hiện diện qua
di sản văn hóa trên thực địa, “phần xương sống” của một tín ngưỡng dân gian độc đáo đã được UNESCO ghi danh Ngoài ra, còn hàng trăm di tích liên quan trong không gian văn hóa Bắc Bộ và một lượng lớn di sản tư liệu Hán Nôm đã được nghiên cứu sinh sưu tầm, thống kê, chỉnh lý, sẽ được lần lượt đề cập trong những chương mục tiếp theo của luận án này
Trang 361.3 Một số khái niệm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu qua tư liệu Hán Nôm
1.3.1 Mẫu (母)
Mẫu là một từ Hán Việt, có nhiều lớp nghĩa Nguyên ủy, Mẫu chỉ giống cái, sau được dùng để người phụ nữ đã thực hiện chức năng sinh sản, tức người mẹ Một lớp nghĩa khác cũng đáng quan tâm, Mẫu là tiếng gọi tôn kinh dành cho những người phụ Nữ
Như vậy, với tín ngưỡng thờ Mẫu, có thể tạm hiểu: Mẫu là tiếng gọi tôn kính người mẹ
1.3.2 Đồng (僮)
Đồng cũng là một từ Hán Việt, nguyên ủy thường được dùng chỉ người vị thành niên (trẻ con) Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, Đồng chỉ những người được Mẫu sang khăn, sẻ áo hành đồng hầu Mẫu, theo Mẫu làm trọn phận con
1.3.3 Cốt (骨)
Cốt cũng là một từ Hán Việt đa nghĩa, vốn chỉ xương cốt, sau một nghĩa chỉ
bà cốt Theo Khảo đồng sự ký: Bà cốt còn được gọi là Hích (覡), chỉ người phụ nữ
mù theo phép Đông Lâm Đông Lâm còn có tên gọi khác là Đông Triều Người phụ
nữ mù theo phép Đông Lâm cũng lập một tĩnh thờ thần Đông Triều Đông Triều vốn là người Mán, khi mới ba tuổi thì bất hạnh mà chết sớm Sau khi chết trở thành thần, có khả năng tìm được phách của người chết (sau khi người chết thì hồn bay lên trời, phách về với đất), lại có khả năng chiêu vời được phách người chết cho nên người theo Hích thờ thần Đông Triều tục gọi là ông Triều, ông Dí/Rí Nếu như phụ
nữ mù học được phép này thì gọi là bà Cốt Cốt tức là người chết đã rũa mục hết thịt Hồn người bay lên trời, chỉ còn phách ở lại trong đất có chứa phần xương cốt Nếu như phụ nữ mù thỉnh thần Đông Lân nhập vào thân thì sẽ biết được hồn của người chết nên được gọi là bà Hồn, bà Cốt vì hồn và cốt là cùng một cách gọi [152]
1.3.4 Bóng
Bóng là một từ tiếng Việt Theo Khảo đồng sự ký: Bóng tức là ảnh, vốn chỉ
những người thờ thần tiên để ảnh thần tiên giáng vào đàn ông Những người đàn
Trang 37ông này được gọi là ông Bóng Như sách “Ấu học tầm nguyên”, quyển 2, Thích Đạo tập, trang 28 trước, hàng 8 chú rằng: nam Vu gọi là Vu, nữ Vu gọi là Hích Từ điển Khang Hy tập Đần, Bộ Công bốn nét chú rằng: Thần giáng vào nam gọi là Vu, thần giáng vào nữ gọi là Hích Sách “Quốc ngữ” nói rằng: Nam làm Vu gọi là ông Bóng, nữ làm Hích gọi là bà Bóng, còn như Đạo gia thờ thần tiên Thái Thượng Lão quân, Tề Thiên Đại thánh là tiên ông; Thánh Mẫu, Công chúa Thượng Ngàn là tiên
bà Nếu như nam có tiên ông giáng vào thân để chữa bệnh cho người thì gọi là ông Bóng Như vậy, nam thường được tiên ông giáng vào để trị bệnh cho người thì gọi
là ông Bóng, còn phụ nữ được tiên bà giáng vào thân thì gọi là bà Bóng Vậy phụ
nữ thường được tiên bà nhập vào gọi là Bóng [152]
1.3.5 Chính tự (正祀)
Chính tự tức hoạt động thờ tự hợp pháp và chính đáng Đây là một khái niệm gắn với Điển thờ tự, thực hành văn hóa tín ngưỡng gắn với ngôi đền thờ thần của cộng đồng được triều đình xác nhận Theo đó, dưới chế độ quân chủ xưa, từ góc độ quản lý bách thần (Quản giám Bách thần), hoạt động thờ tự và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan (hội lệ) của cộng đồng gắn với một ngôi đền thờ thần, chỉ được coi là chính tự khi vị thần đó có lý lịch rõ ràng, chính đáng, được triều đình xác nhận tư cách hoặc đã được triều đình phong thần sắc, ghi vào Tự điển/祀典/Điển thờ tự của triều đình Đền thờ các vị thần thuộc loại chính tự/正祀 gọi là chính từ/
正祠, thần được thờ trong chính từ/正祠 gọi là chính thần/正神
Trái nghĩa với chính tự/正祀, thường bị gọi là dâm tự/淫1
祀, tức hoạt động thờ tự và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan của cộng đồng gắn với một ngôi đền thờ thần chưa được triều đình công nhận có tư cách là chính tự/正祀 hoặc chưa được triều đình sắc phong, ghi vào Tự điển 祀典/Điển thờ tự Đền thờ các vị thần không thuộc hàng chính tự/正祀 bị gọi là “dâm từ”/淫祠, thần được thờ trong “dâm từ”/淫祠 gọi là “dâm thần”/淫神
1.3.6 Phủ (府)
Phủ cũng là một từ Hán Việt, có nhiều lớp nghĩa Với tín ngưỡng thờ Mẫu, đáng chú ý lớp nghĩa: Phủ là tên gọi của từng địa vực (miền, khu) theo sự phân chia
Trang 38tương tự như đơn vị hành chính (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ, Nhạc phủ) Ngoài
ra, theo Nội đạo tràng và Khảo đồng sự ký, đền chính thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh
không gọi là đền mà tôn trọng Thánh Mẫu gọi là Phủ
1.3.7 Tam phủ (三 府 ):
Theo Khảo đồng sự ký, Tam phủ tức Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ [152]
Thực tế, trong dân gian còn có khái niệm bộ ba, Tam phủ gồm Thiên phủ, Nhạc phủ
và Thủy phủ Như vậy, trong tôn giáo, tín ngưỡng có thể hiểu, Tam phủ là một quan niệm thuộc vũ quan tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, chia thế giới thần linh ra làm ba miền/phủ
1.3.8 Tứ phủ (四府)
Theo khảo đồng sự ký, Tứ phủ tức Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ, Nhạc phủ
[152] Thực tế Tuy nhiên, theo Tứ phủ công đồng khoa nghi sớ văn hợp tập, trong dân gian còn có khai niệm bộ tứ, Tứ phủ gồm Thiên phủ, Địa Phủ, Thủy Phủ, Dương Phủ Qua hệ thần linh, có thể khẳng định, Dương phủ được đồng nhất với Nhạc phủ… Như vậy, trong tôn giáo, tín ngưỡng có thể tạm hiểu, Tứ phủ là một quan niệm thuộc vũ quan tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, chia thế giới thần linh ra làm 4 miền/phủ
Tiểu kết
Điểm qua một số kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước, có thể nhận thấy, mỗi nghiên cứu, với phương pháp riêng, cách tiếp cận riêng, lý luận riêng, biện giải riêng sẽ cho ra một kết quả “tương đối riêng” Tạm hợp các mảnh ghép lại, ắt sẽ tạo nên một bức tranh đa sắc về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh từ lịch sử đến đương đại nhưng vẫn có những điểm như vừa mờ, vừa tỏ Những thành tựu nghiên cứu trên, đặc biệt là những nghiên cứu cơ bản và tập hợp tư liệu là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa và triển khai đề tài này Theo đó, có thể nhận thấy, từ việc tập hợp, khảo cứu văn bản học Hán Nôm trong điều kiện hiện nay, vấn đề lịch sử địa chính
và văn hóa khu vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh cần thiết phải được diễn giải lại để làm sáng tỏ thêm
Trên có sở này, kết hợp với khai thác giá trị của tư liệu Hán Nôm dưới góc nhìn văn hóa học, những vấn đề cụ thể, như tên gọi Kẻ Giày, phủ Giày, hệ thần được thờ,
Trang 39thần điện và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng liên quan, vai trò của các cộng đồng chủ thể sáng tạo văn hóa, tư cách chính tự quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, vấn đề Tam phủ, Tứ phủ, đặc trưng giới trong Tam phủ, Tứ phủ, vấn đề Tam tòa Tứ phủ, vấn đề vị trí và vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thần Tứ phủ… cần được phân tích, diễn giải và làm sáng tỏ hơn…
Cũng trong chương này, nghiên cứu sinh đã đề cập tới cơ sở lý luận và thực tiễn, cơ sở lý luận cơ bản và xây dựng một số khái niệm cơ bản có liên quan, như Mẫu, Đồng, Cốt, Bóng, Chính tự, Phủ, Tam phủ, Tứ phủ để làm công cụ triển khai các bước nghiên cứu tiếp theo
Trang 40Chương 2
TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY
VÀ MẪU TAM PHỦ, TỨ PHỦ 2.1 Khái lược về nguồn tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
Trong tâm thức dân gian, đặc biệt là với tín đồ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ được phụng thờ ở phủ Giày, còn có tên gọi khác là Mẫu phủ Giày/Thánh Mẫu phủ Giày, Mẫu Sòng Sơn/Thánh Mẫu Sòng Sơn, đồng thời, cũng là một vị thần chủ được phụng thờ trong nhiều phủ/điện/đền thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở nhiều địa điểm khác
Thực tiễn cũng cho thấy, nguồn tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày ít nhiều đều liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và ngược lại Vì vậy, khi tiếp cận nguồn tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày nói riêng, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói chung, cần thiết phải tiến hành khảo sát, sưu tầm tư liệu bao quát trên một phạm vi tương đối rộng, ít nhất tương ứng với không gian văn hóa của khu vực Bắc Bộ và một số địa bàn khác có liên quan mà có thể tạm tính trong phạm vi từ Thừa Thiên Huế trở ra Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của vấn đề, phạm vi nghiên cứu và điều kiện khảo sát, sưu tầm, thu thập tư liệu…, trong khả năng và điều kiện cho phép, luận án xin giới hạn chỉ đề cập tới tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong không gian văn hóa Bắc Bộ tại các đơn vị lưu trữ có tài liệu Hán Nôm, tiêu biểu như, Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tư liệu Hán Nôm một số cơ sở lữu trữ khác (Thư viện quốc gia, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước -
Bộ Nội vụ…) và nguồn tư liệu Hán Nôm tại quần thể di tích phủ Giày, cùng một số di tích khác có liên quan… Dưới đây, xin từng bước trình bày khái lược về nguồn tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
2.1.1 Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại Viện Thông tin khoa học xã hội
Tại Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, hiện đang lưu trữ bộ sưu tập 13.211 bản khai thần tích - thần sắc, với