1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan Hệ Kinh Tế - Xã Hội Của Việt Nam Với Các Nước Hạ Nguồn Sông Mekong Từ Năm 1802 Đến Năm 2018

248 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 248
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Xiêm, Lào, Cao Miên và những chủ trương của triều Nguyễn trong công cuộc khai dẫn dòng Mekong ở khu vực biên giới Tây Nam cần được nhận t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

BÙI ANH THƯ

QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI

CÁC NƯỚC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG

TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 2018

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 62 22 03 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS TRẦN THỊ THANH THANH

2 PGS TS NGUYỄN ĐỨC HÒA

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

2.1 Đối tượng nghiên cứu 3

2.2 Phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Cơ sở lý luận 6

4.2 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu 7

6 Những đóng góp mới của luận án 7

6.1 Về phương diện khoa học 7

6.2 Về phương diện thực tiễn 8

7 Cấu trúc của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 2018” 10

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong 10

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội ở khu vực sông Mekong 11

1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 14

1.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong 14

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương 14

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ đa phương 18

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 19

Trang 3

1.3.1 Về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 19

1.3.2 Về các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 20

1.4 Nhiệm vụ và đóng góp của luận án 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CHO QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC VÙNG NÀY 24

2.1 Sông Mekong và vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Hạ nguồn 24

2.2 Khu vực Hạ nguồn sông Mekong – đặc điểm, tiềm năng, tình hình hợp tác quốc tế 27

2.2.1 Khái niệm “Khu vực Hạ nguồn sông Mekong” 27

2.2.2 Đặc điểm của khu vực Hạ nguồn sông Mekong 30

2.2.3 Tiềm năng phát triển của khu vực Hạ nguồn sông Mekong 35

2.2.4 Khái quát về hiện trạng hợp tác quốc tế tại khu vực Hạ nguồn sông Mekong 36

2.3 Các điều kiện cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong 51

2.3.1 Các điều kiện cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Thái Lan 51

2.3.2 Các điều kiện cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Lào 52

2.3.3 Các điều kiện cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Campuchia 55

2.3.4 Chủ trương của các nước Hạ nguồn sông Mekong hiện nay về một hợp tác phát triển bền vững ở khu vực 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3 QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1975 61

3.1 Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 1884 61

3.1.1 Quan hệ với Xiêm 61

3.1.2 Quan hệ với Lào 66

3.1.3 Quan hệ với Cao Miên 72

3.2 Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1884 đến năm 1945 84

Trang 4

3.2.1 Quan hệ kinh tế 85

3.2.2 Quan hệ xã hội 94

3.3 Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1945 đến năm 1975 101

3.3.1 Những kết quả hợp tác về mặt kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân và đế quốc 102

3.3.2 Những kết quả hợp tác trong khuôn khổ Ủy ban sông Mekong (MC) từ năm 1957 đến năm 1975 109

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 114

CHƯƠNG 4 QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2018 118

4.1 Quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1975 đến năm 2018 118

4.1.1 Quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương 118

4.1.2 Quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ đa phương 146

4.2 Quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1975 đến năm 2018 158

4.2.1 Quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương 158

4.2.2 Quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ đa phương 180

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 193

KẾT LUẬN 197

TÀI LIỆU THAM KHẢO 208

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 225

PHỤ LỤC………226

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

ACMECS Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong

Economic Cooperation Strategy

Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong ADB The Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á

AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN

AFTA The ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do ASEAN AMBDC The ASEAN-Mekong Basin

Development Cooperation

Hợp tác phát triển lưu vực Mekong – ASEAN

ARF The ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BCI Biodiversity Conservation

Corridors Initiative

Sáng kiến Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học

CASP Core Agriculture Support Program Chương trình hỗ trợ Nông nghiệp trọng

tâm của Tiểu vùng CBTA Cross-Border Transport Facilitation

Sáng kiến Thích ứng Biến đổi khí hậu

CEP Core Environment Program Chương trình môi trường trọng tâm CEPT Common Effective Preferential

Initiative against Trafficking

Sáng kiến phối hợp cấp Bộ trưởng về phòng, chống mua bán người

EU European Union Liên minh châu Âu

EWEC East – West Economic Corridor Hành lang kinh tế Đông – Tây

FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

FMMP Flood Management and Mitigation

Programme

Chương trình quản lý và giảm nhẹ Lũ của Ủy hội sông Mekong

GMS The Greater Mekong Subregion Tiểu vùng Mekong mở rộng

ICMP The Integrated Coastal

Management Programe

Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển

IMF The International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế

ISH The Initiative on Sustainable

Hydropower

Sáng kiến Thủy điện bền vững

LMI The Lower Mekong Initiative Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong

MC The Mekong Committee Ủy ban sông Mekong

MLC Mekong-Lancang Cooperation Hợp tác Mekong-Lan Thương

Trang 6

MGC Mekong-Ganga Cooperation Hợp tác Mekong-sông Hằng

MRC The Mekong River Commission Ủy hội sông Mekong quốc tế

MTCO Mekong Tourism Coordinating

Office

Văn phòng điều phối du lịch Mekong

NAP Navigation Programme Chương trình Giao thông thủy của Ủy

hội sông Mekong NGO Non-Governmental Organization Tổ chức phi chính phủ

NSEC The North-South Economic

Corridor

Hành lang kinh tế Bắc-Nam

OBOR One Belt One Road Một vành đai, một con đường

ODA Official Development Assistance Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

PDIES The Procedures for Data and

Information Exchange and Sharing

Thủ tục Trao đổi và Chia sẻ Thông tin

Số liệu PMFM The Procedures for the

Maintenance of Flow on the Mainstream

Thủ tục Duy trì dòng chảy trên dòng chính

PNPCA The Procedures for Notification,

Prior Consultation and Agreement

Thủ tục Thông báo, Tham vấn trước và Thỏa thuận

PWQ The Procedures for water Quality Thủ tục Chất lượng nước

PWUM The Procedures for Water Use

Monitoring

Thủ tục Giám sát Sử dụng Nước

RETA The regional Technical Assistance Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật vùng

RIF The Regional Investment

Framework

Khung Đầu tư khu vực GMS

SEA Strategic Environmental

Assessment

Đánh giá môi trường chiến lược của Ủy hội sông Mekong

SEC Southern Economic Corridor Hành lang kinh tế phía Nam

SFA-TFI The Strategic Framework for

Action for Trade Facilitation and Investment

Khung chiến lược hành động về thương mại và đầu tư

UN United Nations Liên Hợp quốc

UNDCP The United Nations International

Drug Control Program

Chương trình kiểm soát ma túy của Liên Hợp Quốc

UNDP United Nations Development

Programme

Chương trình Hỗ trợ phát triển của Liên Hợp Quốc

WB The World Bank Ngân hàng Thế giới

WTO The World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói về buổi đầu quần tụ, xây dựng xã hội ở khu vực Đông Nam Á, trong công trình

nghiên cứu Lịch sử Đông Nam Á, D G E Hall đã nhận định: “Mặc dù có một số ngoại lệ

đáng kể, nhưng nói chung các luồng di cư đều tiến dọc theo các lưu vực hẹp của các con sông khởi nguồn từ Trung Quốc và các biên giới của Tây Tạng và chịu sự hấp dẫn của các vùng châu thổ và biển cả” (D G E Hall, 1997, tr 30) Một trong số các dòng sông mà D G E Hall đề cập có lưu vực sông Mekong, một điểm khởi sinh quan trọng góp phần hình thành các quốc gia – dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có các nước ở vùng hạ nguồn gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam

Trước thế kỷ XIX, theo thư tịch cổ, bang giao của Việt Nam với các nước nói trên còn khá mờ nhạt Từ đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn xác lập địa vị thống trị ở Việt Nam, quan

hệ với nước láng giềng dần dần được phát triển toàn diện, cả trên lĩnh vực chính trị và lĩnh vực kinh tế - xã hội Điều này bắt nguồn từ việc triều Nguyễn tiếp tục công cuộc khai phá vùng đất phía Nam, mở mang dòng Mekong để tạo sự kết nối, thông thương và đón tiếp sứ giả các nước trong khu vực Vấn đề quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Xiêm, Lào, Cao Miên

và những chủ trương của triều Nguyễn trong công cuộc khai dẫn dòng Mekong ở khu vực biên giới Tây Nam cần được nhận thức một cách đầy đủ vì có mối liên hệ trực tiếp đến hai vấn đề cấp bách hiện nay là nguồn nước sông Mekong và chủ quyền quốc gia của Việt Nam

Năm 1887, khi Liên bang Đông Dương ra đời, quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Cao Miên đã bị thay đổi về hình thức – từ quan hệ giữa những quốc gia độc lập trở thành quan hệ giữa các xứ thuộc địa trong một liên bang thuộc Pháp Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào ngày 02/09/1945, vị thế tự chủ trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam được chính thức phục hồi Mặc dù hoàn cảnh chiến tranh liên tục đã làm mờ nhạt quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, song quan hệ xã hội trong khu vực lại gắn kết chặt chẽ hơn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Đặc biệt, giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1975 đã xuất hiện các cuộc thám hiểm, các nghiên cứu và hợp tác quốc tế liên quan đến vấn đề sông Mekong Những thay đổi lớn trong quan hệ kinh tế - xã hội

ở khu vực, tiềm năng của khu vực Hạ nguồn sông Mekong đã được nhận diện từ lúc này Vấn

đề quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1884 đến năm 1975 vì vậy chứa đựng nhiều giá trị khoa học và thực tiễn

Trang 8

Việt Nam là một quốc gia với mạng lưới sông ngòi chằng chịt với hơn 2.600 con sông

có chiều dài trên 10 km (Lê Anh Tuấn và nhiều người khác, 2014, tr 7) Như một lẽ tự nhiên, yếu tố “nước” đã góp phần định hình những giá trị văn hóa – lịch sử của dân tộc Việt Nam Ngày nay, bên cạnh những giá trị truyền thống, yếu tố “nước” lại đóng góp thêm những giá trị mới cho sự phát triển của mỗi quốc gia, như quan điểm của Liên Hợp Quốc: “Nước là nhân tố cốt lõi cho sự phát triển bền vững và là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế-xã hội, hệ sinh thái lành mạnh và sự sống còn của nhân loại” (www.un.org, 2015) Đối với khu vực Hạ nguồn sông Mekong, sinh kế của hơn 60 triệu cư dân ở hạ lưu vực phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước Đây là nền tảng cho sự phát triển giao thông vận tải, nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Với tính chất là một dòng sông quốc tế như trường hợp của Mekong, nước còn là yếu tố thúc đẩy quan hệ đa phương và song phương tại khu vực Đặc biệt, với vị trí là quốc gia nằm ở cuối nguồn sông Mekong, trong một khu vực có diễn biến phức tạp nhất của biến đổi khí hậu, Việt Nam hiện phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến vấn đề an ninh nguồn nước Chính vì thế, nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề an ninh nguồn nước là một việc làm cần thiết và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Việt Nam hiện có 13 con sông có diện tích lưu vực lớn hơn 10.000 km2 Trong số đó,

10 con sông có lưu vực liên quốc gia với Trung Quốc, Lào, Campuchia và phần diện tích lưu vực ở ngoài biên giới Việt Nam lớn gấp 3,3 lần diện tích lưu vực trong nước (Đào Trọng Tứ, Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Hải Vân, 2011, tr 4) Điều này cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề an ninh nguồn nước mà Việt Nam phải đối mặt trong hiện tại và tương lai Giải quyết tốt mối quan hệ với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong việc quản trị dòng sông quốc tế sẽ giúp Việt Nam có thêm những bài học kinh nghiệm và định hướng hợp tác ở những lưu vực sông mà Việt Nam đang cùng chia sẻ lợi ích

Việt Nam hiện đang đối diện với những thách thức lớn trong vấn đề bảo vệ chủ quyền

ở Biển Đông Trước một vấn đề Biển Đông nhiều phức tạp, hóa giải bất đồng trong việc sử dụng chung nguồn nước sông Mekong ở biên giới phía Tây là một nhiệm vụ quan trọng giúp Việt Nam tránh thế bế tắc, khủng hoảng nhiều mặt trong vấn đề biên giới Đồng thời, một nghiên cứu về hợp tác của các quốc gia ven sông trong việc quản trị chung nguồn nước sông Mekong có thể sẽ cung cấp hướng tiếp cận và tham khảo cho vấn đề này Xuất phát từ điều

Trang 9

này, có thể khẳng định, việc nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước

Hạ nguồn sông Mekong là rất cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và thời sự

Xét về mặt khoa học, cho đến nay, theo sự tìm hiểu của tác giả luận án, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018 Các công trình nghiên cứu đã công bố, có liên quan chỉ đề cập đến đề tài này ở một số khía cạnh riêng lẻ Do vậy, vấn đề trên cần được nhận thức thêm, tiếp tục nghiên cứu sâu thêm một cách toàn diện và hệ thống Một công trình chuyên khảo với một tiếp cận mới từ góc độ sử học và khu vực học, như dự kiến kết quả nghiên cứu của luận án, sẽ là một sự đáp ứng cho yêu cầu cấp thiết về mặt nhận thức khoa học

Đề tài Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

từ năm 1802 đến năm 2018 được chúng tôi chọn làm luận án xuất phát từ ý nghĩa khoa học

và thực tiễn nói trên

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018

Quan hệ kinh tế được xác định trong luận án là kinh tế đối ngoại - quan hệ kinh tế mà chủ thể của nó là một quốc gia với bên ngoài, nghĩa là với nước khác hoặc với tổ chức kinh tế quốc tế khác Quan hệ xã hội được xác định trong luận án là sự hợp tác giữa chính quyền các nước trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong nhằm giải quyết các vấn đề xã hội trong nước và khu vực Luận án xác định Việt Nam giữ vai trò chủ thể trong mối quan hệ Trải qua các giai đoạn lịch sử trong phạm vi thời gian từ năm 1802 đến năm 2018, quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là những biến chuyển của tình hình trong nước, khu vực và thế giới, vì thế nội hàm của quan hệ kinh tế và quan hệ xã hội có sự thay đổi

Về quan hệ kinh tế, trong giai đoạn 1802-1884, quan hệ của Việt Nam với Xiêm, Lào, Cao Miên được thể hiện qua các khía cạnh như giao thương mua bán, trao đổi phẩm vật Trong giai đoạn 1884-1945, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong thời kỳ này được xác định trong việc phân công hoạt động sản xuất với Lào, Cao Miên trong Liên bang Đông Dương và một vài hoạt động trao đổi thương mại với Thái Lan Trong giai đoạn 1945-1975, quan hệ kinh tế được biểu hiện qua sự tương trợ trong cuộc

Trang 10

đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong khuôn khổ hợp tác của Ủy ban sông Mekong (MC) Giai đoạn 1975-2018, trong khuôn khổ song phương, quan hệ kinh tế được tìm hiểu ở các lĩnh vực cơ bản như thương mại, đầu tư, năng lượng, du lịch, giao thông vận tải; trong khuôn khổ

Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) có hợp tác phát triển nghề cá, giao thông đường thủy, năng lượng; trong khuôn khổ Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) có hợp tác trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, thương mại, đầu tư, du lịch

Về quan hệ xã hội, giai đoạn 1802-1884, quan hệ xã hội được biểu hiện ở các khía cạnh như sự tương trợ khó khăn, bảo vệ vùng biên giới, vấn đề di cư giữa cư dân các nước trong khu vực Giai đoạn 1884-1945, luận án nghiên cứu sự di cư của người Việt sang Lào, Cao Miên, Thái Lan do chính sách cai trị của thực dân Pháp và quá trình tương trợ giữa các nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Giai đoạn 1945-1975, luận án nghiên cứu kết quả hợp tác trong Ủy ban sông Mekong (MC) và trong cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của thực dân, đế quốc Giai đoạn 1975-2018, quan hệ xã hội được nghiên cứu ở khuôn khổ song phương và đa phương Trong khuôn khổ song phương, luận án tập trung vào các lĩnh vực cơ bản như hợp tác phát triển nguồn nhân lực - khoa học kỹ thuật, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, địa vị pháp lý của người Việt tại Thái Lan và Campuchia, hợp tác giải quyết tình trạng di cư tự do và kết hôn không giá thú vùng biên giới Việt Nam với Lào và Campuchia

Về đa phương, trong khuôn khổ Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC), luận án nghiên cứu hợp tác trong vấn đề an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, quản lý lũ lụt và hạn hán; trong khuôn khổ Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) có các lĩnh vực hợp tác về bảo vệ tài nguyên và môi trường, phát triển nguồn nhân lực, y tế, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia

Trong giai đoạn 1884-1945, tuy Việt Nam, Lào, Cao Miên đã bị thực dân Pháp tước đoạt nền độc lập, song ý thức về quốc gia – dân tộc của nhân dân ba nước Đông Dương không

hề thay đổi Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề khai thác, cải tạo sông Mekong của chính quyền thực dân Pháp và kết quả của quá trình tương trợ giữa các nước ở khu vực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Điều này nhằm đảm bảo tính lịch sử và tính logic trong nghiên cứu những vấn đề lịch sử ở các giai đoạn tiếp theo

Trong nghiên cứu của luận án, “Việt Nam” được hiểu với khái niệm là quốc gia – dân tộc Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này vì từ năm 1945 đến năm 1975, nhiều chính thể khác nhau cùng tồn tại trong nền chính trị của Việt Nam như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1976),

Trang 11

Quốc gia Việt Nam (1949-1955), Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) Luận án xác định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đại diện chính thống về mặt Nhà nước trong quan hệ đối ngoại ở khu vực trong giai đoạn 1945-1975 Song để có sự đánh giá toàn diện về lịch sử hợp tác quốc

tế liên quan đến vấn đề nguồn nước sông Mekong, luận án cũng tìm hiểu kết quả hợp tác của

Ủy ban sông Mekong quốc tế (MC) trong giai đoạn 1957-1975 Tuy chính thể Việt Nam Cộng hòa là thành viên của MC, song những kết quả hợp tác kinh tế - xã hội mà MC đạt được trong thời gian tồn tại đã được các thành viên của Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) ngày nay đánh giá cao Điều này đã được khẳng định trong phần Mở đầu của Hiệp định hợp tác phát triển bền vững Lưu vực sông Mekong năm 1995 Vì vậy, việc tìm hiểu về cơ chế hợp tác này

là điều cần thiết

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: luận án có phạm vi thời gian từ năm 1802 đến năm 2018

Luận án lấy mốc mở đầu là năm 1802 Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là mốc

mở đầu sự trị vì của triều Nguyễn, đồng thời là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc – mở ra thời kỳ đất nước thống nhất sau nhiều thế kỷ bị chia cắt bởi các cuộc chiến tranh phân quyền, cát cứ, là thời kỳ cương vực lãnh thổ đã trải dài từ Hà Giang cho đến mũi Cà Mau Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy mối quan hệ toàn diện của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, cả trên lĩnh vực chính trị và lĩnh vực kinh tế - xã hội

Trên tinh thần đáp ứng tích cực yêu cầu khoa học của việc thực hiện một luận án chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, năm 2018 được tác giả lựa chọn làm mốc thời gian cuối của phạm vi nghiên cứu nhằm thể hiện tính “mở”, tính “chuyển động” của việc thực hiện và nghiên cứu vấn đề đang diễn ra, khi có những thông tin cập nhật mang tính thời sự được bổ sung vào kết quả nghiên cứu của luận án, tại thời điểm luận án được trình và bảo vệ Một trong những thông tin được cập nhật là năm 2018 đã diễn ra hàng loạt các hội nghị cấp cao trong các cơ chế hợp tác ở khu vực, điển hình là GMS (tháng 03/2018), MRC (tháng 04/2018) Nội dung các cuộc họp đã đánh giá nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong Vì thế, mốc 2018 rất có ý nghĩa đối với việc tổng kết chặng đường dài trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam ở khu vực

- Về không gian:

Luận án lấy khu vực Hạ nguồn sông Mekong làm nền không gian để nghiên cứu quan

hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Thái Lan, Lào và Campuchia Với cách tiếp cận từ góc

Trang 12

độ sử học, mối quan hệ này được trong đặt trong bối cảnh chuyển biến của khu vực và thế giới qua các thời kỳ lịch sử

3 Mục đích nghiên cứu

Chọn đề tài quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong làm luận án, chúng tôi mong muốn nhận thức đầy đủ và sâu sắc mối quan hệ qua các giai đoạn lịch sử, từ năm 1802 đến năm 2018 Trên cơ sở các luận cứ khoa học, luận án đánh giá kết quả và xác định những đặc điểm cơ bản của mối quan hệ, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm, nhận thức được triển vọng và đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy mối quan

hệ trong tương lai

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quan hệ đối ngoại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở lý luận để giải quyết các vấn đề được đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm

1802 đến năm 2018 là một đề tài có phạm vi thời gian nghiên cứu khá dài Để đạt được mục

đích nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic, cùng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành

Bằng phương pháp lịch sử, luận án phục dựng diễn biến thăng trầm trong quan hệ kinh

tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018

qua các sự kiện, dấu mốc và các giai đoạn phát triển Luận án còn làm rõ sự tác động của tình hình quốc tế và khu vực đến mối quan hệ này, qua đó làm nổi bật tính lịch sử của luận án

Luận án sử dụng phương pháp logic để làm rõ được sự kế thừa, sự chuyển biến và phát triển của mối quan hệ qua các giai đoạn Sử dụng phương pháp logic còn cho phép luận án nhận diện được các đặc điểm cơ bản trong quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước

Hạ nguồn sông Mekong

Là một đề tài nghiên cứu dưới góc độ sử học song lại liên quan trực tiếp đến quan hệ quốc tế, vì thế luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học quan hệ quốc

tế, đặc biệt là phương pháp khu vực học Là một phương pháp khoa học nhấn mạnh tính liên

Trang 13

ngành, phương pháp khu vực học rất phù hợp và cần thiết để nghiên cứu đề tài luận án Bằng phương pháp này, luận án làm rõ tính khu vực của Hạ nguồn sông Mekong bằng những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội và lịch sử

5 Nguồn tư liệu

Nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu sau:

- Các tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP Hồ Chí Minh)

- Các văn kiện ngoại giao của Chính phủ Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong (như các văn bản, hiệp định, thông cáo…)

- Các bài phát biểu, các báo cáo, tuyên bố của những người đứng đầu Chính phủ và các quan chức ngoại giao Việt Nam; lãnh đạo các nước cũng như các tổ chức quốc tế

- Các tài liệu Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan qua các năm

- Các tài liệu trên các trang thông tin điện tử của các Bộ, ban, ngành ở Thái Lan, Lào và Campuchia

- Các tài liệu đã được công bố của các tổ chức quốc tế như MRC, GMS, ASEAN, ADB, WB…

- Các kết quả nghiên cứu về quan hệ quốc tế của các cơ quan như Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Đông Nam Á, Viện Đông Bắc Á thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam; các bài nghiên cứu của các hội thảo khoa học; các luận văn, luận án về những vấn đề liên quan đến đề tài luân án

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Về phương diện khoa học

Thứ nhất, luận án phục dựng bức tranh toàn cảnh quan hệ kinh tế - xã hội của Việt

Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018

Thứ hai, luận án nhận diện các đặc điểm cơ bản trong quan hệ kinh tế - xã hội của Việt

Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018, đồng thời xác định được vai trò và vị trí của Việt Nam trong mối quan hệ này

Thứ ba, luận án so sánh cơ chế hợp tác GMS với MRC; đồng thời khái quát các cơ chế

hợp tác của khu vực sông Mekong với các đối tác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc

Trang 14

Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận án có thể là một tài liệu tham khảo dùng trong

chuyên ngành Lịch sử Việt Nam và Quan hệ quốc tế

6.2 Về phương diện thực tiễn

Thứ nhất, luận án đúc kết một số bài học lịch sử; đánh giá triển vọng quan hệ kinh tế -

xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

Thứ hai, luận án cung cấp tài liệu tham khảo cho việc định hướng thúc đẩy quan hệ

kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong tương lai

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án có 4 chương nội dung Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài “Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018”

Luận án đề cập đến các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài, tập trung vào hai nhóm: nhóm nghiên cứu tổng quan về Mekong và nhóm nghiên cứu về quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong Từ đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, luận án xác định những vấn đề cần tiếp tục làm rõ

Chương 2 Khái quát về khu vực Hạ nguồn sông Mekong và các điều kiện cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước vùng này

Luận án làm rõ vai trò của sông Mekong đối với khu vực và với từng quốc gia ở Hạ nguồn Luận án phân tích đặc điểm, làm rõ tiềm năng và khái quát tình hình hợp tác quốc tế ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong Luận án cũng làm rõ các điều kiện cần thiết cho quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước ở khu vực

Chương 3 Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

từ năm 1802 đến năm 1975

Trong chương 3, luận án làm rõ quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Thái Lan, Lào, Campuchia qua ba giai đoạn là 1802-1884, 1884-1945 và 1945-1975 Trong phần tiểu kết chương này, luận án đúc kết đặc điểm của mối quan hệ qua từng giai đoạn

Chương 4 Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

từ năm 1975 đến năm 2018

Trong chương 4, luận án nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương và đa phương Luận án làm rõ sự

Trang 15

phát triển của quan hệ kinh tế của Việt Nam với Thái Lan, Lào, Campuchia qua từng giai đoạn, tập trung vào các ngành thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, năng lượng, du lịch Trong khuôn khổ đa phương, luận án tập trung làm rõ quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ GMS và MRC Đối với quan hệ xã hội của Việt Nam với Thái Lan, Lào, Campuchia, luận án tập trung vào các vấn đề hợp tác trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, vấn đề địa vị pháp lý của cộng đồng người Việt tại Thái Lan và Campuchia Trong khuôn khổ MRC, quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước trong khu vực tập trung vào các vấn đề an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, quản lý lũ lụt trong khu vực Trong khuôn khổ GMS, quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước trong khu vực tập trung vào các vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Trong phần tiểu kết chương 4, luận án đúc kết các đặc điểm của mối quan hệ từ năm 1975 đến năm 2018

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

“QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HẠ NGUỒN

SÔNG MEKONG TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 2018”

Cuối thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của nhiều cơ chế hợp tác ở khu vực sông Mekong như Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) và Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC), các vấn đề liên quan đến sông Mekong dần thu hút sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, các

cơ chế hợp tác này ngày càng phát huy tính hiệu quả và có những tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, từ đầu thế kỷ XXI đến nay, các công trình nghiên cứu về khu vực sông Mekong đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng Liên quan đến đề tài luận án, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào hai nhóm vấn đề: nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong và nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong

Nghiên cứu tổng thể về khu vực sông Mekong theo tiến trình lịch sử phải kể đến tác

phẩm The Mekong River and the Struggle for Indochina: Water, War and Peace của Nguyen

Thi Dieu được xuất bản tại Mỹ vào năm 1999 Trong sự tìm hiểu của tác giả luận án, đây là công trình có phạm vi thời gian nghiên cứu về Mekong dài nhất Dựa vào các bộ chính sử của triều Nguyễn, Nguyen Thi Dieu đã lấy khu vực sông Mekong làm không gian nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam, Lào, Campuchia từ khởi nguồn cho đến cuối thế kỷ XX Tuy nhiên, công trình này chủ yếu đề cập đến các vấn đề chính trị, rất ít nội dung liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam ở khu vực

Năm 2006, Chương trình Môi trường của Liên Hợp quốc (UNEP) với nhánh dự án GIWA (viết tắt của Global International Water Assessment) đã cho xuất bản công trình

Mekong river nghiên cứu tổng thể về khu vực sông Mekong Công trình này có 75 trang nội

dung và ba phần: (1) nghiên cứu đặc điểm tự nhiên (vùng lãnh thổ, khí hậu, nguồn nước, đa dạng sinh học, môi trường sống) và các đặc điểm kinh tế - xã hội (dân số, điều kiện y tế, thủy điện, nông – ngư nghiệp, khai khoáng cũng như quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa) của khu vực sông Mekong; (2) đánh giá các vấn đề thiếu hụt nguồn nước sạch, ô nhiễm môi trường, những biến đổi môi trường sống, vấn đề khai thác không bền vững các nguồn tài

Trang 17

nguyên và vấn đề biến đổi khí hậu; (3) gợi mở một vài giải pháp cho các thách thức mà khu vực Mekong phải đối mặt trong hiện tại và tương lai Tuy chỉ một vài khía cạnh của công trình

có liên quan đến đề tài luận án song kết quả nghiên cứu của Mekong river đã cung cấp cho tác

giả những đánh giá tổng quan về khu vực sông Mekong

Nghiên cứu về khu vực Hạ nguồn sông Mekong, năm 2011, MRC công bố công trình

Basin Development Plan Programme – Planning Atlas of the Lower Mekong River Basin

Trong phần mở đầu, công trình khái quát về lưu vực sông Mekong, cơ chế hoạt động của MRC và Hiệp định Mekong 1995 Ở phần nội dung, công trình tập trung nghiên cứu các vấn

đề xã hội, hạ tầng giao thông, nguồn nước – việc sử dụng nước và môi trường Phần cuối của

là kết quả được các chuyên gia MRC thu thập từ các trạm quan trắc khí tượng thủy văn ở lưu vực sông Mekong Sự tổng hợp số liệu trong hàng chục năm đã giúp tài liệu có đủ cơ sở khoa học để đưa ra những đánh giá toàn diện và sát thực với hiện trạng lưu vực sông Mekong Tác giả sử dụng một số bản đồ và số liệu thống kê về vấn đề sử dụng nước ở Hạ nguồn sông Mekong từ công trình này

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội ở khu vực sông Mekong

- Các công trình nghiên cứu về các cơ chế hợp tác ở khu vực sông Mekong

Năm 1963, công trình The Lower Mekong Challenge to Cooperation in Southeast Asia

của hai học giả là C Hart Schaaf và Russell H Fifield đã được xuất bản tại nhiều nhiều quốc

gia trên thế giới (New Jersey (Mỹ), London (Anh), Melbourne (Úc), Toronto (Canada)) Công

trình gồm hai phần Phần đầu được viết bởi Russell H Fifield – giáo sư ngành Khoa học Chính trị của Đại học Michigan Russell H Fifield khái quát điều kiện địa lý tự nhiên, xã hội

ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong và ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài (gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp) đến khu vực Ông cũng phác thảo một bức tranh tổng quan về chính trị khu vực qua các thời kỳ tiền thuộc địa, thời kỳ thuộc địa (1887-1945), thời kỳ 1945-1954 Phần hai của công trình này được viết bởi C Hart Schaaf – chuyên viên của tổ chức ECAFE (UN) C Hart Schaaf khái quát quá trình thực dân Pháp phát triển hệ thống thủy vận, thủy lợi trên sông Mekong và các cơ chế hợp tác quốc tế đầu tiên liên quan đến khai thác nguồn nước sông Mekong ở khu vực Trong phần phụ lục, công trình này đã trích dẫn toàn văn Tuyên bố thành lập Ủy ban sông Mekong (MC) vào ngày 17/09/1957, với 6 chương và 8 điều Công trình này đã có cung cấp cho luận án một số tư liệu quan trọng về

Trang 18

sông Mekong, hợp tác quốc tế ở khu vực Hạ nguồn trong thời kỳ Liên bang Đông Dương và

tổ chức Ủy ban sông Mekong (MC)

Năm 2012, ADB công bố Overview Greater Mekong Subregion: Economic

Cooperation Program Công trình này gồm bốn phần chính: (1) Khái quát về Chương trình

Hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng; (2) Cơ cấu tổ chức; (3) Các lĩnh vực hợp tác trong GMS gồm: nông nghiệp, năng lượng, môi trường, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư, viễn thông, du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các điều kiện thuận lợi trong thương mại và giao thông vận tải; (4) các chương trình phát triển (tính đến năm 2012) Với nội dung trên, tài liệu này đã cung cấp cho luận án cơ cấu tổ chức, các lĩnh vực và chương trình hoạt động của GMS

Năm 2016, MRC cho xuất bản công trình 20 Years of Cooperation Công trình này đã

phục dựng chặng đường 20 năm hợp tác giữa bốn nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam trong tổ chức MRC trong giai đoạn 1995-2015 Phần đầu của công trình nêu khái quát lịch sử hợp tác giữa bốn nước Hạ nguồn sông Mekong Phần nội dung tập trung đánh giá kết quả hợp tác trong MRC ở một số lĩnh vực cơ bản, gồm: quản lý giao thông thủy, phát triển thủy điện, quản lý nghề cá, quản lý lũ lụt ở lưu vực Công trình này đã dành 2 trang để đánh giá hợp tác Việt Nam – Campuchia trong giao thông thủy và hợp tác giữa Việt Nam với Thái Lan trong phát triển nghề cá Tuy không đề cập đến tất cả lĩnh vực hoạt động của MRC, song với phạm vi thời gian nghiên cứu 20 năm, công trình này giúp luận án nhận diện bao quát một

số lĩnh vực hợp tác chủ đạo trong khu vực

- Các công trình nghiên cứu đề cập đến về các lĩnh vực hợp tác riêng lẻ

Xét về quan hệ kinh tế, đáng lưu ý là các nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, du lịch, giao thông vận tải, đầu tư, thương mại… trong GMS

Trong lĩnh vực năng lượng, năm 2016, ADB công bố công trình Great Mekong

Subregion: Energy sector assessment, strategy and road map Trong lĩnh vực giao thông vận

tại, ADB công bố các tài liệu Transport and Trade Facilitation in the Greater Mekong

Subregion Time to Shift Gears (2008), Great Mekong Subregion Cross-Border Transport Facilitation Agreement: Instrument and Drafting History (2011), Trade and Trade Facilitation in the Greater Mekong Subregion (2012) Trong lĩnh vực du lịch, ADB công bố Tourism Sector in the Greater Mekong Subregion (2008), Greater Mekong Subregion Tourism Sector Assessment, Strategy and Road map (2011), Tourism Sector Assessment, Strategy and

Trang 19

Road map for Cambodia, Lao People’s Democratic Republic, Myanmar, and Vietnam 2018) (2017) Các nghiên cứu trên đã cung cấp những đánh giá, nhận định từ các chuyên gia

(2016-của ADB về các lĩnh vực hợp tác, các giai đoạn triển khai và sự tác động (2016-của các dự án đến tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực sông Mekong

Các vấn đề xã hội nổi bật ở trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong như việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, các thách thức do biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước… cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của một số học giả nước ngoài

Về vấn đề nguồn nhân lực ở các nước trong khu vực sông Mekong, ADB đã công bố

các tài liệu nghiên cứu Strengthen human resource development Cooperation in the Greater

Mekong Subregion (2007), Strategic Framework and Action Plan for Human Resource Development in the Greater Mekong Subregion (2009-2012) (2009), Strategic Frameword and Action Plan for Human resource development in Greater Mekong Subregion (2013 – 2017) (2013) Các công trình này đã cung cấp các số liệu cụ thể để đánh giá thực trạng nguồn

nhân lực của khu vực sông Mekong Các báo cáo cũng chỉ ra những thách thức to lớn về chênh lệch trình độ phát triển, sự già hóa dân số, sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

Năm 2014, Tuyet L Cosslett và Patrick D Cosslett đã cho xuất bản tại Phần Lan công

trình Water Resources and Food Security in the Vietnam Mekong Delta Chuyên khảo này

gồm có 6 chương, được chia thành hai phần, đề cập trực tiếp đến vùng ĐBSCL của Việt Nam Phần một (gồm 3 chương) giới thiệu toàn cảnh vùng ĐBSCL và phân tích về hiện trạng nguồn nước (khảo sát trong phạm vi nghề trồng lúa và nuôi trồng thủy sản trong vùng), chỉ ra những thách thức to lớn từ việc biến đổi khí hậu và xây dựng các con đập ở thượng nguồn Phần hai

đề cập trực tiếp đến tiến trình hình thành tổ chức Ủy ban sông Mekong (MC) (1957) cho đến việc ra đời tổ chức Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) (1995) Trong chương 6, chương cuối của chuyên khảo, các tác giả phân tích về cơ chế, chương trình hành động, nguyên tắc hợp tác của MRC trong 15 năm (1995-2010) Trong chương này, các tác giả đã chỉ ra những thách thức mà MRC phải đối mặt, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu, tác động từ các con đập trên dòng chính sông Mekong của Trung Quốc và dự án đập Xayaburi của Lào Trong phần kết luận, công trình này nêu lên thách thức mà vùng ĐBSCL phải đối mặt trong tương lai, đặc biệt

là hai vấn đề an ninh lương thực và an ninh nguồn nước

Trang 20

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cung cấp cho luận án một số tư liệu để đánh giá tổng quan khu vực sông Mekong nói chung và Hạ nguồn sông Mekong nói riêng, nổi bật là các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội Hầu hết các công trình chỉ đề cập về hợp tác trong các cơ chế đa phương và không lấy Việt Nam làm chủ thể cho mối quan hệ như đối tượng nghiên cứu của luận án

1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về khu vực sông Mekong

Trong các nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến khu vực sông Mekong, công trình Có một

vùng văn hóa Mekong (Nxb Khoa học xã hội, 2007) của Giáo sư Phạm Đức Dương đã tiếp

cận khu vực này dưới góc độ văn hóa Tác giả đã khẳng định đặc trưng cơ bản trong không gian văn hóa Mekong là sự thống nhất trong đa dạng, từ văn hóa trồng lúa, ngôn ngữ, tộc người cho đến cơ cấu xã hội, phong tục tập quán, lễ hội Tác giả nhận định: “sông Mekong như là mạch sông chính nối tất cả các nước Đông Nam Á lục địa thành một vùng văn hóa đồng nhất trong sự khác biệt” (tr 27) Công trình này đã cung cấp cho tác giả luận án một số

tư liệu về đặc điểm của khu vực Hạ nguồn sông Mekong

Nhắc đến các nghiên cứu về khu vực sông Mekong ở Việt Nam không thể không nhắc

đến Phạm Khắc – Mê Kông ký sự – Phim và ảnh (Nxb Văn Nghệ, 2009) Công trình này gồm

650 tấm ảnh được chọn lọc từ hơn 20.000 tấm ảnh mà Nghệ sĩ nhân dân Phạm Khắc đã chụp trong các chuyến đi thực tế sáu nước ở Tiểu vùng Mekong Dưới ngòi bút của Trần Đức Tuấn, bức tranh về dòng chảy, quy mô hệ thống sông Mekong, những cảnh quan đặc sắc cùng với kiến thức về lịch sử - văn hóa - địa lý của các vùng đất, các nền kinh tế ven sông đã được tái hiện sinh động, chân thực qua 495 trang sách Tham khảo công trình này, luận án có các tư liệu về hệ thống sông Mekong cũng như những tác động của dòng sông đến đời sống kinh tế -

xã hội của các nước ở Hạ nguồn

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ song phương

Nghiên cứu quan hệ song phương của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, các học giả Việt Nam đã cho ra mắt một số công trình về quan hệ của Việt Nam với các nước Thái Lan, Lào và Campuchia

Về quan hệ Việt Nam – Thái Lan

Trang 21

Trong Thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á – phần Xiêm (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, ban Đông Nam Á, 1977), tác giả Nguyễn Lệ Thi đã sưu tầm từ Đại Việt sử ký

toàn thư, Đại Nam thực lục, Việt sử thông giám cương mục… các đoạn tư liệu viết về Xiêm,

trong đó cũng có rải rác các phần viết về quan hệ Đại Việt – Xiêm trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa Giá trị quan trọng mà công trình này đem lại cho tác giả là nhận biết các thư tịch cổ cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Thái Lan thời hiện đại phải kể đến công trình Quan

hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90 (Nxb Khoa học xã hội, 2001) do Nguyễn Tương

Lai làm chủ biên Ngoài nghiên cứu về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Thái Lan từ năm 1989 đến năm 1999, các tác giả còn đánh giá quan hệ hai nước trong tiểu vùng sông Mekong, trong khuôn khổ AFTA Dự đoán về triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng tiềm năng mở rộng quan hệ giữa hai nước khá lớn và

đó cũng là xu thế tất yếu của khu vực ASEAN (Nguyễn Tương Lai (c.b), 2001, tr 235)

Cũng có cùng cách tiếp cận về quan hệ Việt Nam – Thái Lan theo tiến trình lịch sử,

Hoàng Khắc Nam có công trình Quan hệ Việt Nam – Thái Lan (1976-2000) (Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2007) Tác giả nghiên cứu quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội từ năm 1976 đến năm 2000, trong khuôn khổ song phương và đa phương

Về quan hệ đa phương, tác giả chỉ tìm hiểu trong khuôn khổ ASEAN Trong phần kết luận, tác

giả khẳng định dù quan hệ Việt Nam – Thái Lan trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm song trong tương lai xu hướng phát triển là tất yếu vì nó vừa phù hợp với xu thế thế giới và khu vực, vừa đáp ứng lợi ích cơ bản và lâu dài của hai nước (Hoàng Khắc Nam, 2007, tr 241)

Nghiên cứu về quan hệ xã hội Việt Nam – Thái Lan không thể không đề cập đến vấn

đề người gốc Việt tại Thái Lan, tiêu biểu là công trình Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ

Thái Lan – Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 2006) của hai tác giả Trịnh Diệu Thìn và

Thanyathip Sripana Công trình đề cập về quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam vào vương quốc Thái Lan, chủ trương và chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng người gốc Việt, vai trò của Việt kiều trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ cũng như trong việc thiết lập và phát triển quan hệ hai nước

Vấn đề Việt kiều Thái Lan còn được tác giả tìm hiểu qua công trình Người Việt ở Thái

Lan 1910-1960 (Nxb Công an nhân dân, 2008) do Nguyễn Văn Khoan làm chủ biên Công

trình là sự tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, các chuyên viên, cán bộ trong ngành

Trang 22

ngoại giao, Ban liên lạc Việt kiều Lào – Xiêm… Các bài viết cũng nghiên cứu về quá trình người Việt nhập cư vào Thái Lan trong những giai đoạn khác nhau, về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng tình hữu nghị hai nước

Về quan hệ Việt Nam – Lào

Ngoài Thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á – phần Xiêm, tác giả Nguyễn Lệ Thi còn công bố công trình Thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á – phần Lào (Ủy ban Khoa

học xã hội Việt Nam, ban Đông Nam Á, 1977) Với công trình này, tác giả luận án đã tìm được một số tư liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam – Lào trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời kỳ cổ trung đại Ngoài ra, công trình này còn giúp tác giả nhận biết các thư tịch cổ đề cập đến quan hệ Việt Nam – Lào

Nghiên cứu toàn diện mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào trong thời kỳ hiện đại có

công trình Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trong giai đoạn 1954-2000 của

Lê Đình Chỉnh (Nxb Chính trị quốc gia, 2007) Công trình này nghiên cứu quan hệ hai nước

trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Tổng kết chặng đường 70 năm quan

hệ hai nước, tác giả đúc rút các bài học lịch sử để phát huy thành tựu quan hệ Việt – Lào trong giai đoạn tiếp sau Trong công trình này, tác giả chỉ tìm hiểu quan hệ song phương, không đề cập đến cơ chế hợp tác giữa Việt Nam và Lào trong khuôn khổ đa phương

Vì truyền thống đoàn kết đặc biệt và tình hữu nghị sâu sắc của quan hệ Việt Nam – Lào, Ban tuyên giáo Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban tuyên huấn Đảng Cộng sản Lào đã hợp

tác và cho xuất bản công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930

- 2007) (Nxb Chính trị quốc gia, 2011) Công trình này tập trung vào các hợp tác trong lĩnh

vực chính trị còn lĩnh vực kinh tế - xã hội chỉ nêu khái quát, tuy nhiên cũng đã cung cấp một

số tư liệu cho luận án về quan hệ hai nước trong khuôn khổ song phương từ năm 1930 đến năm 2007

Tìm hiểu về quá trình di cư của người Việt sang Lào qua các thời kỳ lịch sử, tác giả

Phạm Đức Thành (chủ biên) công bố công trình Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan

hệ Việt Nam – Lào (Nxb Khoa học xã hội, 2011) Công trình đề cập về lịch sử hình thành

cộng đồng người Việt tại Lào, thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa – giáo dục của cộng đồng người Việt Nam ở Lào Nội dung trọng tâm của công trình này là phần tìm hiểu về vai trò của cộng đồng người Việt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục trong mối quan hệ Việt Nam – Lào Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả khẳng định cộng đồng người Việt đã đóng

Trang 23

góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế, tạo công

ăn việc làm, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ Họ là cầu nối cho sự hợp tác, liên kết kinh

tế, văn hóa, giáo dục giữa hai nước

Về quan hệ Việt Nam – Campuchia

Trong các công trình nghiên cứu thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á của

Nguyễn Lệ Thi, Thư tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam Á – phần Chân Lạp (Ủy ban Khoa

học xã hội Việt Nam, ban Đông Nam Á, 1977) là dày dặn nhất Điều này cho thấy quan hệ với Chân Lạp (Cao Miên) là một trong những vấn đề trọng yếu của lịch sử ngoại giao Việt Nam thời kỳ cổ trung đại Từ công trình này, tác giả luận án nhận biết một số thư tịch cổ có đề cập đến quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa

Năm 2008, Lê Thị Hồng đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử

thế giới với đề tài Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Campuchia từ 1979-2007 (Đại học

Vinh, Nghệ An) Trong giai đoạn 1979-1993, luận văn tìm hiểu về sự viện trợ của Chính phủ Việt Nam cho Campuchia sau ngày 07/01/1979 trên các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải Trong giai đoạn 1993-2007, luận văn tìm hiểu quan hệ kinh tế của hai nước trên các lĩnh vực: thương mại, đầu tư, du lịch Luận văn tập trung vào quan hệ hai nước ở khuôn khổ song phương Hợp tác giữa hai nước trong khuôn khổ đa phương chỉ được tác giả nêu khái quát (2 trang) khi đề cập đến cơ chế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng

Tìm hiểu về quan hệ Việt Nam – Campuchia thời hiện đại, luận án có tham khảo công

trình Quan hệ Việt Nam – Campuchia từ sau chiến tranh Lạnh đến nay (Nxb Khoa học xã

hội, 2014) của tác giả Trần Xuân Hiệp Công trình này nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Campuchia trong bối cảnh khu vực và quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh đến hết thập niên đầu của thế kỷ XXI, tập trung vào nội dung hợp tác kinh tế - chính trị Ở khía cạnh xã hội, tác giả chỉ đề cập ngắn gọn một số thành tựu trong hợp tác về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

Nhìn chung, theo sự tìm hiểu của tác giả, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Lào, Campuchia và Thái Lan từ năm

1802 đến năm 2018 Trước năm 1975, quan hệ của Việt Nam với các nước ở khu vực chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ chính trị Các nghiên cứu liên quan đến giai đoạn 1975-2018 chủ yếu chú trọng vào hợp tác kinh tế, các nội dung hợp tác giải quyết các vấn đề xã hội rất ít được đề cập

Trang 24

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong khuôn khổ đa phương

Do những đặc thù riêng biệt về địa lý – văn hóa – lịch sử, ba nước Đông Dương là Việt

Nam – Lào – Campuchia đã xây dựng một mối quan hệ gắn bó chặt chẽ - quan hệ đặc biệt

Trong lịch sử, mối quan hệ này đã có những thay đổi sâu sắc khi ba nước chịu sự xâm lược, thống trị của thực dân, đế quốc Nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các

quốc gia này trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, luận án đã tham khảo Sự hiện diện tài chính

và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1994) của

Jean-Pierre Aumiphin, Các công trình giao thông công chính Đông Dương của A.A.Pouyanne (NXB Giao thông vận tải, 1998), Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ (2 tập, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2016) của Nguyễn Đình Tư, Xứ Đông Dương (hồi ký) (Nxb Thế giới, 2016)

của Paul Doumer… Các công trình nghiên cứu này đã phác họa những thay đổi về cơ cấu kinh

tế - xã hội của Đông Dương, sự kết nối về hạ tầng giao thông, các chương trình cải tạo, nạo vét, phát triển kênh đào ở lưu vực sông Mekong của chính quyền thực dân Pháp

Trong chuyên khảo Sông và Tiểu vùng Mê Công - tiềm năng và hợp tác phát triển quốc

tế (Nxb Khoa học xã hội, 2001), nhóm tác giả Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung đã trình

bày khái quát đặc điểm tự nhiên toàn vùng và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong khu vực sông Mekong Các tác giả đánh giá cao các tiềm năng kinh tế - xã hội (thủy điện, khai thác khoáng sản, nông nghiệp, du lịch và nguồn nhân lực) của khu vực Công trình

có đề cập khái quát về cơ chế GMS và MRC Các tác giả đã nhấn mạnh sự cần thiết trong vấn

đề hợp tác quốc tế trong khu vực sông Mekong, đồng thời đưa ra những đánh giá về cơ hội và thách thức của các cơ chế hợp tác ở khu vực

Nghiên cứu về quan hệ đa phương của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

trong lĩnh vực thương mại có công trình Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại, hàng

hóa và dịch vụ của Việt Nam với các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng (Viện nghiên cứu

Thương mại, Bộ Thương mại, 2005) do Nguyễn Văn Nam làm chủ nhiệm đề tài Công trình

phân tích về đặc điểm kinh tế - xã hội của Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, về lịch sử hình thành, nguyên tắc, nội dung hợp tác, vai trò của GMS đối với thế giới, khu vực và các nước thuộc Tiểu vùng Trọng tâm của đề tài là kết quả nghiên cứu thực trạng quan hệ thương mại, hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và các nước trong GMS Công trình cũng đưa ra những định hướng và giải pháp để thúc đẩy mối quan hệ trong tương lai

Trang 25

Trên nền tảng chuyên khảo Sông và Tiểu vùng Mê Công - tiềm năng và hợp tác phát

triển quốc tế, với vai trò chủ biên, tác giả Nguyễn Trần Quế cho ra mắt công trình Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công mở rộng hiện tại và tương lai (Nxb Khoa học xã hội, 2007)

Nghiên cứu này cung cấp kiến thức nền tảng về hợp tác quốc tế ở GMS; đánh giá khái quát về những thành tựu, hạn chế, sự tác động của GMS đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viên Trên cơ sở đó, tác giả phân tích những điều kiện mới của hợp tác phát triển GMS, đưa ra dự báo, phân tích đặc điểm xu hướng và những ưu tiên trong hợp tác GMS trong tương lai Đặc biệt, trong chương cuối, tác giả đề cập khái quát về quan hệ hợp tác của Việt Nam trong GMS, đồng thời vạch ra định hướng nâng cao hiệu quả hội nhập của Việt Nam vào cơ chế hợp tác này

Năm 2018, Nguyễn Thị Tú Trinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Lịch sử Việt

Nam với đề tài Hợp tác phát triển bền vững giữa Việt Nam với các nước trong Tiểu vùng sông

Mê Công mở rộng (1992-2012) (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh)

Luận án này đề cập về hợp tác của Việt Nam với các nước Tiểu vùng Mekong mở rộng trong

cả khuôn khổ song phương và đa phương Tác giả cũng đánh giá về vị thế của Việt Nam trong

cơ chế hợp tác GMS, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm và triển vọng của mối quan hệ Công trình này có một khía cạnh nghiên cứu giống với luận án là về hợp tác trong GMS với khung thời gian 1992-2012 Tuy nhiên, nếu công trình này chú trọng vào các hợp tác kinh tế thì luận án có cách tiếp cận toàn diện cả lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội

Nhìn chung, liên quan đến khu vực sông Mekong, các học giả trong nước có các xu hướng nghiên cứu: (1) nghiên cứu về văn hóa, (2) nghiên cứu về quan hệ song phương của Việt Nam với Thái Lan, Lào, Campuchia; (3) nghiên cứu về các cơ chế hợp tác đa phương Tuy nhiên, tìm hiểu về các cơ chế hợp tác đa phương, hầu hết các học giả chỉ chú trọng đến Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), không có các nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về khu vực Hạ nguồn sông Mekong, cũng như Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) Hầu hết các công trình có phạm vi thời gian từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, vì thế không phản ánh được sự chuyển biến về đặc điểm kinh tế – xã hội và quan hệ đối ngoại của Việt Nam ở khu vực qua các thời kỳ lịch sử

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3.1 Về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trang 26

Các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy sự cần thiết tăng cường hợp tác kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội giữa các nước trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong Một số nghiên cứu đã khái quát về cơ chế hoạt động, các chương trình hợp tác của MRC, GMS; đánh giá những cơ hội, thách thức và đề xuất một số giải pháp để các tổ chức này phát huy được vai trò trong giải quyết các vấn đề của khu vực

Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong là một đề tài đòi hỏi vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành Các nghiên cứu nước ngoài tiếp cận những vấn đề ở khu vực sông Mekong dưới nhiều góc độ, bằng nhiều phương pháp khác nhau Do đó, tác giả cũng có điều kiện để học hỏi và áp dụng thêm một vài phương pháp liên ngành trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

Nhìn chung, các nghiên cứu ở nước ngoài chỉ nêu khái quát về thực trạng hợp tác nhưng không lấy Việt Nam làm chủ thể của mối quan hệ như đối tượng nghiên cứu và góc tiếp cận của luận án Sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ lịch sử cũng đem lại khó khăn nhất định cho tác giả trong việc tiếp cận các nguồn tài liệu nước ngoài

1.3.2 Về các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Hầu hết các công trình trong nước nghiên cứu về khu vực sông Mekong đều tiếp cận dưới góc độ lịch sử Nhờ đó tác giả luận án dễ dáng tiếp cận và khai thác các nguồn tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, trong phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 1802 đến năm 1975, các công trình đề cập về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với Lào, Campuchia, Thái Lan rất hạn chế về mặt số lượng Các nghiên cứu trong nước về khu vực Hạ nguồn sông Mekong chỉ mới được công bố trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Hầu hết trong cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian từ thập niên cuối thế

kỷ XX cho đến nay

Các công trình trong nước chỉ tập trung nghiên cứu về GMS Hợp tác trong MRC chỉ được đề cập rải rác, ngắn gọn trong một vài công trình Chính vì thế mà quan hệ đa phương của Việt Nam với các nước trong khu vực chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế, còn các vấn đề

xã hội như an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu không được nghiên cứu chuyên sâu… Các nghiên cứu về quan hệ song phương của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong thì hầu hết chỉ tập trung vào lĩnh vực chính trị, kinh tế, rất ít các nghiên cứu về quan hệ xã hội

Trang 27

1.4 Nhiệm vụ và đóng góp của luận án

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, luận án cần tiếp tục làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, về quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ

năm 1802 đến năm 2018

Trong thời Nguyễn, luận án tìm hiểu quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Xiêm, Lào, Cao Miên qua các khía cạnh như trao đổi phẩm vật, triều cống, giao thương buôn bán, khai khẩn đồn điền Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, luận án tìm hiểu sự phân công sản xuất giữa các xứ bảo hộ và thuộc địa trong Liên bnag Đông Dương, có sự kết nối kinh tế với Thái Lan qua hệ thống giao thông vận tải và một vài trao đổi thương mại Trong giai đoạn 1945-1975, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong được tìm hiểu qua các khía cạnh như sự tương trợ về mặt kinh tế trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

và hợp tác kinh tế trong Ủy ban sông Mekong (MC) từ năm 1957 đến năm 1975 Trong giai đoạn 1975 – 2018, luận án đặt mối quan hệ này trong bối cảnh chuyển biến phức tạp của khu vực và thế giới, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong được tìm hiểu thông qua một số lĩnh vực tiêu biểu như thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, năng lượng, du lịch…

Ngoài quan hệ song phương, luận án còn tìm hiểu quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong các khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) và Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC)

Thứ hai, về quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong từ năm

1802 đến năm 2018

Quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Xiêm, Lào, Cao Miên thời Nguyễn được tìm hiểu trên các khía cạnh tương trợ khó khăn, bảo vệ vùng biên giới, quá trình hợp sức phát triển hệ thống kênh đào, khẩn hoang và mở mang đồn điền khu vực biên giới Việt Nam – Cao Miên, vấn đề di cư giữa cư dân các nước trong khu vực

Trong thời kỳ 1945-1975, quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong tập trung vào sự di cư của người Việt sang Lào, Campuchia, Thái Lan do chính sách cai trị của thực dân Pháp và quá trình tương trợ giữa các nước ở khu vực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

Trong giai đoạn 1975 – 2018, trong khuôn khổ song phương, luận án tập trung vào các vấn đề: địa vị pháp lý cho Việt kiều ở Thái Lan, ở Campuchia, hợp tác giải quyết tình trạng di

Trang 28

cư tự do và kết hôn không giá thú vùng biên giới Việt Nam với Lào và Campuchia, hợp tác trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục - đào tạo; phòng chống tội phạm xuyên quốc gia

Trong khuôn khổ đa phương, luận án tìm hiểu quan hệ xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong các cơ chế MRC và GMS Trong cơ chế MRC, luận án tập trung vào hợp tác về an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, quản lý

lũ lụt và hạn hán ở Hạ nguồn Trong GMS, luận án đề cập đến hợp tác phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ tài nguyên môi trường, phòng chống tội phạm xuyên biên giới

Thứ ba, tác động từ các yếu tố bên ngoài khu vực đến quan hệ kinh tế - xã hội của Việt

Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong, đặc biệt là chiến lược từ các nước lớn và xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Luận án đề cập các cơ chế hợp tác mà Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc chủ động thiết lập ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong Luận án kiến giải những khác biệt trong quan điểm hợp tác của các nước này và thái độ cần thiết của Việt Nam khi tham gia vào các cơ chế trên Luận án cũng nêu ra các cơ hội, thách thức của xu hướng toàn cầu hóa và tác động của xu thế này đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

Thứ tư, vị trí và vai trò của Việt Nam trong quan hệ song phương và đa phương ở khu

vực Hạ nguồn sông Mekong từ năm 1802 đến năm 2018

Trong quan hệ song phương, Việt Nam đã có sự đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan, Lào và Campuchia Việt Nam cũng đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc xây dựng quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước Trong quan hệ đa phương, Việt Nam đã khẳng định được vai trò tích cực thông qua các sáng kiến, tham gia xây dựng khung chương trình, kế hoạch hành động và quá trình triển khai vào thực tiễn quốc gia

Thứ năm, bài học lịch sử, triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế - xã hội của

Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong trong tương lai

Nghiên cứu mối quan hệ kinh tế -xã hội ở khu vực Hạ nguồn Mekong trong khoảng thời gian dài hơn hai thế kỷ, luận án đúc rút một số bài học lịch sử cho sự phát triển quan hệ đối ngoại của đất nước trong tương lai

Về triển vọng quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

trong tương lai, luận án đánh giá những cơ hội và thách thức tác động đến quan hệ đối ngoại

Trang 29

của Việt Nam ở khu vực Từ đó, có thể nhận định rằng trong tương lai gần xu thế hòa bình và hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo ở khu vực Khu vực Hạ nguồn sông Mekong sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng từ chiến lược của các nước lớn Việt Nam cần nhận thức đầy đủ các cơ hội và thách thức để sớm đề ra giải pháp toàn diện nhằm thúc đẩy quan hệ đối ngoại ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các

nước Hạ nguồn Mekong từ năm 1802 đến năm 2018, tác giả luận án có một vài nhận định sau:

1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các

nước Hạ nguồn sông Mekong với phạm vi thời gian là từ năm 1802 đến năm 2018 Xét trong tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả nhận định hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện vấn đề này trùng với phạm vi thời gian của luận án

2 Nghiên cứu về khu vực sông Mekong đã thu hút sự quan tâm của khá nhiều học giả

trong và ngoài nước, nhất là từ những năm 1990 đến nay Số lượng các công trình được xuất bản trong khoảng 10 năm trở lại đây chiếm số lượng lớn Hầu hết các học giả đều có chung quan điểm về tiềm năng phát triển, những triển vọng đối với khu vực sông Mekong trong tương lai Vì thế, chọn khu vực sông Mekong làm nền không gian nghiên cứu, luận án đảm bảo tính thời sự của một đề tài khoa học

3 Trên cơ sở đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, luận án tiếp tục làm rõ

các vấn đề trong quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ nguồn sông Mekong

từ năm 1802 đến năm 2018; đặc điểm, bài học lịch sử và triển vọng của mối quan hệ Thông qua việc tìm hiểu đề tài, tác giả luận án mong muốn được đóng góp một phần tư liệu nhỏ cho khoa học lịch sử, cũng như góp thêm tài liệu tham khảo cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam

4 Luận án sử dụng những tài liệu nghiên cứu đã được công bố rộng rãi và có độ tin cậy

cao Với việc trích dẫn chính xác nguồn tài liệu, luận án đảm bảo tính trung thực, sự nghiêm túc và cẩn trọng trong nghiên cứu khoa học

Trang 30

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CHO QUAN HỆ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

VỚI CÁC NƯỚC VÙNG NÀY 2.1 Sông Mekong và vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Hạ nguồn

Khái quát về sông Mekong

Sông Mekong bắt nguồn từ độ cao khoảng 5.000 m trên cao nguyên Thanh Tạng (Trung Quốc) (Phạm Khắc, 2009, tr 25) Sông có chiều dài dòng chính là 4.350 km, trong đó dòng chính ở hạ lưu vực là 2.395 km (Nguyen Thi Dieu, 1999, tr 3) Dòng chảy trong nội địa Trung Quốc gồm hai đoạn là Trát Khúc Hà và Lan Thương Giang Ra khỏi nội địa Trung Quốc, dòng Mekong lại trở thành biên giới giữa Trung Quốc và Myanmar, rồi lại là biên giới Myanmar và Lào Sau khi đến vùng “Tam giác vàng” – đoạn giao nhau của biên giới ba nước Myanmar, Lào và Thái Lan, dòng Mekong ra khỏi lãnh thổ Myanmar, tiếp tục lộ trình luân phiên là biên giới Lào – Thái và dòng chảy ở vùng nội địa Lào Khi vào lãnh thổ Campuchia, Mekong lại tiếp tục là biên giới giữa hai nước Lào – Campuchia trước khi chảy vào nội địa Campuchia tới Phnom Penh Từ Phnom Penh, dòng chính Mekong chia thành hai nhánh vào Việt Nam là sông Tiền và sông Hậu ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Sông Tiền chia thành sáu cửa (cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu), sông Hậu chia thành hai cửa (cửa Định An và cửa Trần Đề), dẫn nước Mekong đổ ra Biển Đông và vịnh Thái Lan Trong một số bản đồ cũ vào thời Nguyễn và thời thuộc địa của Pháp có ghi cửa thứ 9 có tên là Bát Sát, nằm giữa cửa Định An và cửa Trần Đề nhưng thực tế ngày nay không còn dấu tích của cửa biển này (Phạm Khắc, 2009, tr 395)

Là một “đại trường giang” của châu Á, sông Mekong có hàng trăm phụ lưu và chi lưu Lưu vực sông Mekong có các túi giữ nước, điển hình là Biển Hồ Tonle Sap (Campuchia) và vùng Tứ giác Long Xuyên (Việt Nam) Nhờ các túi giữ nước này, dòng sông có thể điều tiết lũ vào mùa mưa cũng như giúp lưu vực tránh rơi vào tình trạng khô hạn quá mức vào mùa khô

Sự phức tạp của hệ thống sông Mekong là một trong những nguyên nhân làm nên tính kỳ bí của dòng sông Ngày nay, sự gia tăng can thiệp của con người khiến cho dòng sông vốn phức tạp càng trở nên khó lường hơn bao giờ hết

Tên gọi gốc của Mekong là Mè Khoóng, bắt nguồn từ cách gọi của cư dân Lào, Thái

Mè là Mẹ, Khoóng là biến âm của Khlong nghĩa là sông Từ tên gốc này, người Pháp phiên

âm thành Mékong (Phạm Đức Dương, 2007, tr 27) Ngoài ra, tên gọi của dòng sông cũng có

Trang 31

sự thay đổi theo hành trình chảy qua sáu quốc gia trong lưu vực Người Trung Quốc thường gọi chung dòng sông này là Lan Thương Giang, mặc dù vẫn còn một đoạn là Trát Khúc Hà ở đầu nguồn Người Lào và người Thái thì gọi là Mè Khoong hay Nậm Khoong Đoạn qua Campuchia, dòng Mekong còn được gọi là Tông-lê Thơm Người Việt Nam gọi dòng sông này là sông Lớn, sông Cái, song phổ biến nhất là tên gọi Cửu Long

Sông Mekong có tổng diện tích lưu vực là 795.000km2 (đứng thứ 21 trên thế giới) Vùng thượng nguồn sông Mekong đi qua lãnh thổ hai quốc gia là Trung Quốc và Myanmar,

có diện tích 175 km2 Bốn quốc gia còn lại thuộc vùng hạ nguồn là Lào, Thái Lan, Campuchia

và Việt Nam, có diện tích là 620.000 km2 (chiếm trên 77% diện tích lưu vực) (Nguyen Thi Dieu, 1999, tr 3)

Lưu vực sông Mekong có nguồn nước ngọt rất dồi dào Tổng lượng nước hàng năm đổ

ra Biển Đông là khoảng 475 tỷ m3 (đứng thứ 8 trên thế giới) Trong đó, nếu tính lượng nước

mà dòng sông đem lại cho từng quốc gia thì Trung Quốc là 16%, Myanmar 2%, Lào 35%, Thái Lan 18%, Campuchia 18% và Việt Nam là 11% (MRC, 2011b, tr i) Toàn lưu vực có khoảng 260 triệu người sinh sống (Bộ Thương mại, 2005, tr 10) 75% dân số tại vùng này kiếm sống bằng nghề nông và ngư nghiệp (Elena Ponte, 2012, tr 4) Có thể thấy, sông Mekong quyết định đến sinh kế của cư dân nơi đây

Vai trò của sông Mekong đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Hạ nguồn

Là một lưu vực sông có mức độ đa dạng sinh học cao, sông Mekong hiện cung cấp môi trường sống cho hơn 1.200 loài khác nhau Trong đó, vùng hạ lưu là một trong những vựa cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới với khoảng 850 loài cá, sản lượng khoảng 4 triệu tấn/năm, chiếm 25% lượng đánh bắt nước ngọt trên thế giới (Elena Ponte, 2012, tr 3) Khoảng 1/3 loài

cá ở hạ lưu di chuyển hơn 1.000 km dọc theo con sông để kiếm ăn và sinh sản Tại một số vùng, vào mùa di cư cao điểm, lưu lượng cá có thể lên đến 3 triệu con mỗi giờ khiến cho sông Mekong trở thành vùng di cư lớn nhất trên thế giới Theo báo cáo của MRC năm 2010, tổng giá trị kinh tế của ngành thủy sản ở sông Mekong được ước tính ở mức từ 3,9 đến 7 tỷ đô la trong năm 2008 (MRC, 2010a, tr 12), đóng góp đáng kể cho nền kinh tế khu vực

Nguồn nước sông Mekong đem lại lượng phù sa màu mỡ cho các đồng bằng ở hạ lưu

Vì thế, khu vực này không chỉ là vựa lúa của châu Á mà còn là điểm trọng yếu trong an ninh lương thực toàn cầu Điển hình như Thái Lan và Việt Nam là những nước có sản lượng gạo xuất khẩu hàng đầu trên thế giới

Trang 32

Là dòng sông huyết mạch của khu vực Hạ nguồn, từ lâu Mekong đã là tuyến đường thủy, vận chuyển hàng hóa và hành khách Vai trò này ngày càng gia tăng theo nhu cầu phát triển của khu vực Vấn đề tự do đi lại trên dòng Mekong nhận được sự đồng thuận giữa các nước Hạ nguồn Riêng hai nước thượng nguồn là Myanmar và Trung Quốc lại cho đây là vùng

“nội thủy” Họ không tham gia vào cơ chế hợp tác MRC nhằm né tránh sự can thiệp của các nước Hạ nguồn trong các hoạt động khai thác nguồn nước sông Mekong

Không phải ngẫu nhiên mà Mekong được đánh giá là “một kỳ quan sông nước diễm lệ” (Phạm Khắc, 2009, tr 25) Sự đa dạng về địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu đã tạo nên sự đa dạng về cảnh quan: từ núi tuyết và thảo nguyên khô lạnh ở đầu nguồn đến các khe sâu, ghềnh

đá, thác lớn ở trung lưu, cuối cùng là cù lao, bãi bồi, rừng và mặt nước mênh mông ở Hạ nguồn Cảnh quan tuyệt đẹp tại Khu bảo tồn thắng cảnh Tràm Chim (Cà Mau – Việt Nam), Rừng Tràm Trà Sư (An Giang – Việt Nam), vùng thác Khone (Lào), Biển Hồ Tonle Sap (Campuchia)… đã khẳng định vai trò quan trọng của sông Mekong trong việc phát triển kinh

Ngoài những lợi ích chung, sông Mekong còn mang lại giá trị riêng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong khu vực Hạ nguồn

Trong số bốn nước ở khu vực Hạ nguồn, sông Mekong chảy trên lãnh thổ Lào là dài nhất với 1.860km Điều đặc biệt là 17 tỉnh thành của Lào đều có dòng chính hoặc các phụ lưu của sông Mekong chảy qua (Phạm Khắc, 2009, tr 234) Là một quốc gia không giáp biển, lãnh thổ trải dài theo chiều Bắc Nam trùng với hướng chảy của dòng Mekong, vì thế dòng sông được ví là huyết mạch và nguồn tài nguyên lớn nhất của Lào Sự lệ thuộc của kinh tế Lào vào dòng Mekong là điều rất dễ nhận diện “Các ngành nông, lâm, thủy sản chiếm trên một nửa tổng sản phẩm quốc gia và thâu tóm tới 80% lực lượng lao động với trên 5 triệu dân sống tập trung chủ yếu dọc sông Mekong và các phụ lưu, nên có thể nói dòng sông là nguồn sống của người Lào” (Phạm Khắc, 2009, tr 222)

Trang 33

So với Lào, ảnh hưởng của sông Mekong đến kinh tế - xã hội của Thái Lan không rõ nét bằng Tuy nhiên đối với vùng Đông Bắc của đất nước này, dòng sông lại mang ý nghĩa sống còn, đặc biệt là tại sáu tỉnh: Loei, Nong Khai, Nakhon Phanom, Mukdahan, Amnat Charoen và Ubon Ratchathani Ngoài ra, sông Mekong còn có ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh biên giới đối với Thái Lan và Lào, bởi đây là đường biên giới tự nhiên giữa hai nước

Đối với Campuchia, vai trò của sông Mekong được nhận diện rõ rệt qua tác động của Biển Hồ Tonle Sap đối với nước này Được kết nối với sông Mekong bởi dòng Tonle Sap, Biển Hồ là một túi giữ nước trong hệ thống sông Mekong Biển Hồ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết nước vào mùa mưa và mùa khô, tạo sinh kế cho cư dân vùng đồng bằng ở Campuchia và Việt Nam Là khu dự trữ sinh quyển của UNESCO từ năm 1997, với mức độ đa dạng sinh học cao, Biển Hồ có sự tác động rất lớn đến an ninh lương thực toàn cầu

Vì thế, một sự tác động bất lợi đến Biển Hồ Tonle Sap sẽ là mối đe dọa chung đến sự phát triển bền vững của khu vực Hạ nguồn sông Mekong

Đối với Việt Nam, sông Mekong có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội nhất là ở vùng ĐBSCL Vùng này được hình thành chủ yếu từ trầm tích phù sa của dòng sông

và bồi dần qua các kỷ nguyên thay đổi mực nước biển Lượng phù sa từ sông Mekong đổ về làm hạn chế hiện tượng xói lở dọc bờ biển Đặc biệt, các chu kỳ lũ hàng năm đã giúp ĐBSCL đẩy mặn, rửa phèn, cải tạo đất và cải thiện năng suất nông nghiệp Ngoài ra, tương tự như các quốc gia khác trong khu vực, sông Mekong còn cung cấp nguồn lợi thủy sản dồi dào cho ĐBSCL Xét về mặt chính trị, trong bối cảnh vấn đề chủ quyền ở biển Đông đang có diễn biến phức tạp, nếu xử lý không thỏa đáng quan hệ với các nước láng giềng phía Tây và Tây Nam trong vấn đề nguồn nước sông Mekong sẽ là thách thức to lớn đến an ninh đất nước

Những dữ liệu trên đã cho thấy sự tác động toàn diện của sông Mekong đến đời sống kinh tế - xã hội của các nước trong khu vực Hạ nguồn Sự đan xen giữa lợi ích khu vực và lợi ích quốc gia buộc Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam phải có trách nhiệm thúc đẩy mạnh

mẽ các cơ chế hợp tác trong việc bảo vệ và khai thác bền vững nguồn nước sông Mekong

2.2 Khu vực Hạ nguồn sông Mekong – đặc điểm, tiềm năng, tình hình hợp tác quốc tế 2.2.1 Khái niệm “Khu vực Hạ nguồn sông Mekong”

Trong các công trình khoa học, Mekong được nhắc đến với nhiều cách gọi khác nhau

như Lưu vực sông Mekong (Mekong river basin), Khu vực sông Mekong (The Mekong region),

Trang 34

Tiểu vùng sông Mekong (The Mekong subregion) Sự khác biệt này phụ thuộc vào đối tượng

và phạm vi nghiên cứu của các đề tài liên quan đến sông Mekong

Trước hết là khái niệm Lưu vực sông Mekong (Mekong river basin) Đây là một thuật

ngữ thuộc chuyên ngành Địa lý học Có hai cách hiểu về khái niệm này Theo cách hiểu thứ nhất, lưu vực sông Mekong được hiểu là phần diện tích bề mặt đất tự nhiên mà mọi lượng nước mưa khi rơi xuống sẽ tập trung lại và đổ vào sông Mekong Cách hiểu thứ hai thì cho rằng lưu vực Mekong là một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước (đường phân thủy) trên mặt và dưới đất Đường chia nước trên mặt là đường nối các đỉnh cao của địa hình Nước từ đỉnh cao đó chuyển động theo hướng dốc của địa hình để xuống chân dốc đó là các suối nhỏ rồi tập trung xuống các nhánh sông lớn hơn để chảy về biển Cứ như thế chúng tạo thành mạng lưới sông Mekong Ngoài diện tích đất trên cạn, lưu vực sông còn có các thành phần đất chứa nước thuộc dòng chảy sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng chu kỳ Tất cả phần bề mặt lưu vực cả trên cạn và dưới nước đều là môi trường và nơi ở cho các loài sinh sống

MRC đã dựa trên cách hiểu thứ hai để xác định: Lưu vực sông Mekong có tổng diện tích 795.000 km2 từ đường phân thủy phía Đông của cao nguyên Tây Tạng đến ĐBSCL Sông Mekong trải dài khoảng 4.909 km qua ba tỉnh của Trung Quốc, tiếp đến Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam trước khi đổ vào Biển Đông Lưu vực sông Mekong bao gồm bảy khu vực địa-sinh học [physiographic region]: Cao nguyên Tây Tạng, khu vực ba dòng sông [Mekong, Salween và Dương Tử] và lưu vực Lan Thương hình thành nên vùng thượng nguồn Mekong; Cao nguyên phía Bắc, Cao nguyên Khorat, lưu vực Tonle Sap và ĐBSCL tạo nên vùng hạ lưu sông Mekong (www.mrcmekong.org) Như vậy, dù theo cách hiểu nào đi nữa thì lưu vực sông Mekong chỉ gồm nhiều phần lãnh thổ của các quốc gia nơi dòng sông chảy qua Trong đó, vùng hạ lưu vực gồm các phần lãnh thổ thuộc bốn nước ven sông là Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam

Về khái niệm Khu vực sông Mekong (The Mekong Region), đây là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực và có sự linh hoạt trong cách hiểu Khi nhắc đến khu vực, các nhà

nghiên cứu có thể dựa trên tiêu chí khác nhau để đưa ra khái niệm Dựa vào tiêu chí địa lý, Joseph Nye cho rằng khu vực là một số hữu hạn các nhà nước liên kết với nhau về mặt địa lý

và mức độ phụ thuộc lẫn nhau Nhấn mạnh về tính lãnh thổ, Louise Fawcett đã xem khu vực

như một cấu trúc đơn vị của những nhóm, những nhà nước, những vùng lãnh thổ mà các nước

Trang 35

thành viên chia sẻ những tố chất xác thực Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu dựa trên các yếu tố

như kinh tế, văn hóa, xã hội… để đưa ra khái niệm khu vực Sheila Page dựa trên tiêu chí kinh

tế cho rằng khu vực là một nhóm các quốc gia có cùng nỗ lực để xây dựng một khung pháp lý cho việc hợp tác mà chủ yếu là những vấn đề kinh tế Những mối liên hệ này được thiết lập một cách có chủ đích và được cho là sẽ có sự thay đổi và phát triển chứ không hề mang tính

cố định Còn theo Fredrik Soderbaum, không chỉ riêng kinh tế, khu vực còn gắn với các yếu tố

khác gồm văn hóa, xã hội và chính trị Đối với Bruce M Russett, khu vực có năm đặc tính cơ

bản gồm không gian địa lý, tính thống nhất văn hóa xã hội, tính tương đồng về thái độ chính trị, sự phụ thuộc về mặt chính trị thông qua vai trò thành viên của các thiết chế khu vực, sự phụ thuộc về mặt kinh tế (trích dẫn theo nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lực, 2015, tr 12-13)

Từ những khái niệm của các học giả trên, có thể thấy rằng Mekong cần được xác định

là một khu vực khi nghiên cứu lịch sử Khu vực sông Mekong không chỉ bao gồm các quốc gia

có sự cận kề về mặt địa lý mà còn có sự gắn bó chặt chẽ giữa các nước này với nhau trong mối quan hệ toàn diện về chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội, đặc biệt là trong những cơ chế hợp tác quốc tế đã được thiết lập tại đây

Từ thập niên cuối của thế kỷ XX, Mekong được nhắc đến với một khái niệm mới –

Tiểu vùng sông Mekong (The Mekong Subregion) Xét theo ngữ nghĩa thì tiểu vùng (subregion) có phạm vi không gian nhỏ hơn, hay nói cách khác đó là phần lãnh thổ nằm trong

một vùng, khu vực (region) Khái niệm Tiểu vùng sông Mekong xuất phát từ sự ra đời của Tiểu

vùng sông Mekong mở rộng (GMS) – tổ chức được thành lập theo sáng kiến của Ngân hàng

phát triển châu Á (ADB) vào năm 1992 Khi mới thành lập, tổ chức này ưu tiên hợp tác phát triển kinh tế giữa sáu nước thành viên là Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia

và Việt Nam Đến nay, GMS đã mở rộng lĩnh vực hợp tác, bao gồm một số vấn đề xã hội như

bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực Có thể thấy, khái niệm Tiểu vùng là một khái

niệm có nội hàm không cố định, có sự biến đổi theo nhận thức và định hướng chủ quan của các quốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế tùy vào từng thời điểm lịch sử

Như vậy, trong nghiên cứu về quan hệ kinh tế - xã hội của Việt Nam với các nước Hạ

nguồn sông Mekong thì Hạ nguồn sông Mekong cần được xác định là một khu vực Ngoài

những tương đồng về điều kiện kinh tế - tự nhiên, văn hóa - xã hội, tính chất khu vực thể hiện

ở sự gắn kết chặt chẽ giữa Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong quá trình lịch sử, trong giao thương buôn bán, trong hợp tác đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, trong giao lưu

Trang 36

văn hóa và quan hệ tộc người ở vùng biên giới Đến thời hiện đại, các nước này từng có sự hợp tác trong phạm vi khu vực Cơ chế hợp tác quốc tế đầu tiên là Ủy ban sông Mekong (MC)

(thành lập vào ngày 17/09/1957 tại Bangkok) Từ đây khái niệm Hạ nguồn sông Mekong

chính thức xuất hiện trong một văn bản hợp tác quốc tế Trong quá trình tồn tại (1957-1975),

MC đưa ra mục tiêu là “chỉnh trang toàn thể lưu vực, đem lại lợi ích cho các dân tộc sống trong vùng không phân biệt quốc tịch, tôn giáo hay màu sắc chính trị” (Phông Bộ Công Chánh, Hồ sơ BCC/1092, tr 1) Với mục tiêu trên, MC đã định hướng xây dựng một khu vực theo tầm nhìn và lợi ích chung Vì thế, tuy đã ngừng hoạt động từ năm 1975, tổ chức này được đánh giá là đã đặt nền móng cho hợp tác khu vực trong vấn đề khai thác nguồn nước sông Mekong Hiện nay, Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) (được thành lập ngày 05/04/1995 tại Phnom Penh) đang thu hút sự quan tâm, hỗ trợ từ một số quốc gia, tổ chức ở khu vực và trên thế giới So với MC, hợp tác trong MRC mang tính chủ động hơn, nội dung hoạt động cũng toàn diện hơn Dưới tác động của toàn cầu hóa, bốn nước Hạ nguồn sông Mekong đều ra sức củng cố, phát triển mối quan hệ toàn diện dựa trên nền tảng lợi ích chung nhằm thực hiện mục tiêu phát triển khu vực bền vững

2.2.2 Đặc điểm của khu vực Hạ nguồn sông Mekong

Đặc điểm tự nhiên

Khu vực Hạ nguồn sông Mekong được bắt đầu từ vùng “tam giác vàng” – ngã ba biên giới Myanmar, Lào và Thái Lan, kéo dài ra đến cửa sông Diện tích lưu vực Hạ nguồn là khoảng 620.000 km2 Nếu tính theo diện tích của các quốc gia trong vùng vào thời điểm hiện nay thì vùng hạ lưu vực sông Mekong bao gồm gần như toàn bộ lãnh thổ của Lào (207.400

km2), vùng phía Bắc và Đông Bắc Thái Lan (190.500 km2), chín phần mười lãnh thổ Campuchia (157.800 km2) và một phần năm lãnh thổ Việt Nam (64.300 km2) (Nguyen Thi Dieu, 1999, tr 5)

Về chế độ thủy văn

Trong số 475 tỷ m3 nước mà sông Mekong đổ ra biển, vùng thượng lưu chiếm khoảng 18% và hạ lưu là 82% Các chi lưu phía tả ngạn thuộc Lào và Campuchia chiếm 55%, vùng Đông Bắc Thái Lan cung cấp 10% và các vùng còn lại ở hạ lưu cung cấp 17% dòng chảy (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr 23) Những con số trên cho thấy vai trò, tiềm năng to lớn của nguồn nước ở Hạ nguồn sông Mekong, nhất là tại Lào và Campuchia

Trang 37

Chế độ thủy văn ở lưu vực Mekong chịu sự chi phối rõ rệt nhất từ yếu tố gió mùa Vào tháng 5 hoặc tháng 6, nước sông bắt đầu dâng lên khi có gió mùa thổi Thông thường mực nước sẽ đạt mức cao nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10 tại các trạm đo ở hạ lưu Sau đó nước sẽ rút nhanh cho đến tháng 12 rồi chậm dần trong thời kỳ mùa khô, đạt mức thấp nhất vào tháng

4 ngay trước khi bắt đầu có gió mùa (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr 24-25) Ngoài yếu tố gió mùa, chế độ thủy triều, biến động thời tiết… cũng chi phối dòng chảy ở hạ lưu Điều quan trọng là nếu dòng chảy mùa khô bị giảm nhiều thì hiện tượng xâm nhập mặn

sẽ tăng lên, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của cư dân trong vùng

Về khí hậu

Khí hậu ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong chịu sự chi phối của gió mùa, thổi về từ Đông Bắc hoặc từ Tây Nam, mỗi mùa khoảng sáu tháng trong một năm Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến cuối tháng 9 Đặc điểm của loại gió mùa này là có độ ẩm cao, mang lại lượng mưa lớn cho các nước ven sông, nhất là các vùng có nhiều đồi núi Đây cũng là thời gian xuất hiện lũ trên sông Mekong Thông thường lũ sẽ rút vào khoảng tháng 10 khi gió mùa Đông Bắc tràn về từ tháng 11 đến khoảng tháng 3, tháng 4 Vì không có hành trình qua biển như gió mùa Tây Nam mà chủ yếu thổi qua đất liền nên gió mùa Đông Bắc tương đối khô và hầu như không kéo theo mưa, ngoại trừ tại các vùng sườn dốc ven biển ở Việt Nam Sự đan xen, luân phiên của hai loại gió mùa này tạo nên sự đa dạng, phong phú cho

hệ sinh thái động thực vật ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong

Về hệ sinh thái động thực vật

Lưu vực sông Mekong đứng thứ hai trên thế giới về đa dạng sinh học (đứng thứ nhất là lưu vực sông Mississippi) Hệ sinh thái rừng ở vùng hạ lưu rất phong phú, được chia thành hai nhóm chính là nhóm thường xanh (rừng mưa nhiệt đới, rừng đồi thường xanh, rừng lá kim, rừng đầm lầy nước ngọt, rừng ngập mặn) và nhóm rừng rụng lá (rừng rụng lá gió mùa, rừng khô Dipterocap hay còn gọi là rừng savan) Hệ sinh thái rừng phong phú, đa dạng đã đem lại nền tảng thuận lợi cho sự sinh trưởng của hàng ngàn loài động thực vật, đồng thời đem lại nguồn thu nhập cho người dân trong khu vực

Về điều kiện địa chất, địa hình

Hạ lưu sông Mekong có năm vùng riêng biệt là vùng núi phía Bắc, cao nguyên Korat, vùng núi phía Đông, vùng đồng bằng và vùng cao phía Nam

Trang 38

Vùng núi phía Bắc có địa hình chia cắt, xen kẽ giữa núi và thung lũng bao quanh Địa hình vùng này phần lớn có độ dốc vượt quá 30% Vì thế, nơi đây có tiềm năng to lớn về mặt thủy điện song lại khó khăn trong phát triển nông nghiệp Hoạt động nông nghiệp chỉ bó hẹp trong việc trồng lúa tại lòng thung lũng nhỏ hẹp cùng với tập quán du canh, trồng lúa nương

và hoa màu trên các sườn dốc

Vùng cao nguyên Korat có nhiều thung lũng, với những nhánh sông đổ về vùng Đông Bắc Thái Lan và vùng hạ lưu của các chi lưu thuộc Lào Điều kiện tự nhiên nơi đây thuận lợi

để phát triển nông nghiệp

Vùng núi phía Đông thuộc miền Trung Việt Nam, có hình thể thu hẹp về phía Bắc và

mở rộng dần về phía Nam, tạo thành một sườn dốc đứng ở phía Đông chạy thẳng xuống các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển và một triền thoải hơn về phía Tây Với địa hình này, nửa phần Bắc của vùng núi phía Đông thích hợp với việc phát triển thủy điện

Vùng đồng bằng là một khu vực hình tam giác có đỉnh là Phnom Penh và đáy là bờ biển phía cửa sông Mekong Về phía Tây nó kéo dài đến Vịnh Thái Lan và phía đông đến sông Vàm Cỏ Đông Vùng này bao gồm một diện tích 49.520 km2, trong đó có 26% thuộc Campuchia và 74% thuộc Việt Nam (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr.17-18) Đây là vùng có mật độ dân số cao, phát triển kinh tế nông nghiệp và thủy sản Vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, vùng nội địa bán đảo Cà Mau là vùng đất chua phèn song vẫn phát huy được giá trị kinh tế nông nghiệp

Vùng cao phía Nam bao gồm các dãy núi Cardamom và Damrei ở Campuchia, ngăn

cách vùng đồng bằng hạ lưu sông Mekong với vịnh Thái Lan Vùng này phù hợp với trồng cây công nghiệp như hồ tiêu, đậu khấu

Sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng về địa hình, tài nguyên và hệ sinh thái là nền tảng thuận lợi để các cộng đồng cư dân sớm hình thành tại khu vực Hạ nguồn sông Mekong Tuy nhiên, hiện nay, trình độ phát triển của hầu hết các nước ở khu vực còn thấp Điều này được nhận diện qua đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Khu vực Hạ nguồn sông Mekong được xem là cái nôi của nền văn minh lúa nước Đến nay, nông nghiệp và thủy sản vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia vùng này Vùng Đông Bắc và một phần phía Bắc Thái Lan (chủ yếu là tỉnh Chiang Rai) có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản Trong đó, lúa gạo, thuốc lá, rau, đậu, cây ăn

Trang 39

trái… là những cây trồng quan trọng Sản lượng thủy sản hàng năm trong vùng dao động từ 50.000 đến 300.000 tấn (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr.43) Đối với Lào, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm trên một nửa tổng sản phẩm quốc gia và thâu tóm 80% lực lượng lao động (Phạm Khắc, 2009, tr 222) Tương tự như Lào, ở Campuchia, nông nghiệp chiếm khoảng 80% lực lượng lao động và 50% GDP (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr 38) Sản lượng đánh bắt cá nước ngọt hàng năm ở Campuchia lên đến 80.000 tấn (Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung, 2001, tr 35) Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp và thủy sản giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Riêng ĐBSCL

đã đóng góp khoảng 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản, chiếm khoảng 27% GDP của Việt Nam (Bùi Anh Thư và Trần Thị Thanh Thanh, 2015, tr 68) Các

số liệu trên đã cho thấy nông nghiệp không chỉ là nền kinh tế chính mà còn tạo ra các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu cho các nước trong khu vực

Nếu như nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế khu vực thì các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại vẫn chưa có sự phát triển tương xứng với tiềm năng của vùng Ngoại trừ Thái Lan, các quốc gia còn lại đều tiếp cận khá trễ mô hình kinh tế thị trường Việc

áp dụng lâu dài mô hình kinh tế tự cấp tự túc là một trong những nguyên nhân gây ra sự trì trệ trong nền kinh tế của các nước còn lại ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong Ngoài ra, sự hạn chế về trình độ nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng chậm phát triển, chậm tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới… cũng là các nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạc hậu của nền kinh tế hầu hết các nước trong khu vực

Các nước trong khu vực Hạ nguồn sông Mekong có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế Thống kê về GDP quốc gia đã phần nào phản ánh điều này Năm 2018, số liệu từ WB cho biết: GDP của Lào là trên 17,9 tỷ USD, Campuchia là trên 24,5 tỷ USD, Việt Nam là trên

245 tỷ USD và Thái Lan là trên 504 tỷ USD (https://data.worldbank.org, GDP (current US$))

Những con số này phản ánh khoảng cách chênh lệch kinh tế quá lớn giữa Thái Lan với các nước còn lại trong khu vực

Tuy kinh tế vẫn còn chậm phát triển, nguồn nhân lực trong khu vực lại rất dồi dào Theo số liệu từ Danso.org, tính đến ngày 24/12/2018, dân số Thái Lan là 69.242.509 người (đứng ở vị trí 20 trên bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ); dân số Lào là 7.011.002 người (xếp thứ 105); dân số Campuchia là 16.360.034 người (xếp thứ 71); Việt Nam có dân số là 96.944.006 người (xếp thứ 14) Như vậy, tính đến cuối năm 2018, khu vực

Trang 40

Hạ nguồn sông Mekong có khoảng hơn 189 triệu người Điều đặc biệt là dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ rất cao, cụ thể: dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 tuổi ở Lào chiếm 59,6%; Campuchia là 64,1%; Việt Nam là 69,3% và Thái Lan là 70,9% (https://danso.org)

Là khu vực thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư từ các quốc gia và tổ chức trên thế giới, cùng với những đổi mới trong cơ chế quản lý, các nước Hạ nguồn sông Mekong có tỷ

lệ thất nghiệp thấp Theo thống kê của Trading Economics, tỷ lệ thất nghiệp của Thái Lan trong năm 2018 chỉ dao động trong khoảng 1%-1,3%; Campuchia là khoảng 0,1%-0,3%; Lào

là khoảng 0,6%-0,7% và Việt Nam là khoảng 2,1%-2,2% (https://tradingeconomics.com) Tỷ

lệ thất nghiệp ít cũng phản ánh sự ổn định trong đời sống của người dân, cũng như tình hình

an ninh chính trị của các nước trong khu vực

Hạ nguồn sông Mekong là một khu vực đa dân tộc Do quá trình di cư, cộng cư trong lịch sử và nhu cầu hợp tác kinh tế ngày càng gia tăng, ngày nay, ở mỗi nước đều có cộng đồng người dân đến từ các quốc gia còn lại trong khu vực Ở Thái Lan, Lào, Campuchia, cộng đồng người Việt đóng vai trò nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội của những nước này Họ còn

là cầu nối cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam ở khu vực Đảm bảo đời sống kinh tế - xã hội cho kiều bào vẫn luôn là vấn đề ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

Hạ nguồn sông Mekong là một khu vực đa tộc người Việt Nam có 54 tộc người, trong

đó người Việt là tộc người chủ thể, chiếm khoảng 86% dân số Ở Lào, hiện tại có khoảng 48 đơn vị tộc người Người Lào Lùm chiếm gần 70% dân số nước Lào; 30% dân số còn lại bao gồm nhiều dân tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, H’mong-Dao, Tạng-Miến, Việt-Mường và Hán Ở Campuchia, người Khmer chiếm khoảng 88,9% dân số nước này, được phân thành ba nhóm là Khmer Kandal (Khmer trung tâm) có số lượng đông nhất và chủ yếu sống ở đồng bằng, Khmer-Loeu (Khmer Thượng) sống tập trung ở vùng Đông Bắc và Khmer Krom (Khmer Hạ) 10% còn lại trong dân số Campuchia gồm người Malaysia, Chàm, Lào, Myanmar, Việt Nam, Thái Lan, Hoa Đối với Thái Lan, vấn đề tộc người cũng không kém phần phức tạp Các tộc người nói tiếng Thái chiếm 74% dân số; còn lại là các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Tạng-Miến, Malayo-Polinesian và Hán (Nguyễn Duy Thiệu, 2008, tr 46-47) Sự đa dạng về tộc người phản ánh bức tranh văn hóa đầy màu sắc ở khu vực Hạ nguồn sông Mekong Bên cạnh đó, sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển và mức độ thụ hưởng phúc lợi xã hội của các tộc người thiểu số so với tộc người chủ thể cũng đặt

ra thách thức không nhỏ đối với sự phát triển ở mỗi quốc gia Địa bàn tập trung sinh sống của

Ngày đăng: 06/12/2020, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w