1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu xác định dạng cu, pb, zn và cd trong một số cột trầm tích thuộc lưu vực sông cầu luận văn ths hóa phân tích

81 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể đánh giá một cách đầy đủ về mức độ ô nhiễm của các kim loại nặng ta không thể chỉ dựa vào việc xác định hàm lượng của các kim loại hòa tan trong nước mà cần xác định cả hàm lượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHOA HỌC TỰ NHIÊN

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN HOÁ HỌC

VŨ VĂN TUẤN NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DẠNG Cu, Pb, Zn và Cd TRONG MỘT SỐ CỘT TRẦM TÍCH THUỘC LƯU VỰC SÔNG CẦU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - năm 2013

Trang 2

VŨ VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DẠNG Cu, Pb, Zn và Cd TRONG MỘT SỐ CỘT TRẦM TÍCH

THUỘC LƯU VỰC SÔNG CẦU

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU ……… 1

Chương 1: TỔNG QUAN ……… … 3

1.1 Trầm tích và sự tích lũy kim loại trong trầm tích ………… ……… … 3

1.1.1 Trầm tích và sự hình thành trầm tích ………… ……… … 3

1.1.2 Các nguồn tích lũy kim loại vào trầm tích ……… 3

1.1.3 Cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy kim loại vào trầm tích ……… 3

1.1.4 Các dạng tồn tại của kim loại trong trầm tích ……… 4

1.1.5 Dạng tồn tại của một số kim loại nặng trong trầm tích ………… … 5

1.1.5.1 Kim loại đồng ……… ……….… 5

1.1.5.2 Kim loại chì ………… …… ……… ……… 6

1.1.5.3 Kim loại kẽm ……… ……… …… 7

1.1.5.4 Kim loại cacdimi ……….………… 7

1.2 Phân tích dạng kim loại trong trầm tích ……….….… 8

1.2.1 Khái niệm về phân tích dạng ……….……… … 8

1.2.2 Các qui trình chiết liên tục ……….… 8

1.3 Một số chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trầm tích ……….… 13

1.3.1 Chỉ số tích lũy địa chất (Geoaccumulation Index: Igeo) ……… 13

1.3.2 Chỉ số đánh giá rủi ro RAC (Risk Assessment Code) … … 14

1.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại trong trầm tích theo hàm lượng tổng kim loại của Mỹ và Canada ……….……… 15

1.4 Một số phương pháp hiện đại phân tích lượng vết kim loại ………….… … 16

1.4.1 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) ……….……… 16

Trang 4

1.4.2 Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (AES) ……… ….… 18

1.4.3 Phương pháp phổ huỳnh quang nguyên tử ………….………… … 19

1.4.4 Các phương pháp điện hóa ……….……….…… 19

1.4.5 Phương pháp phổ khối lượng ICP-MS ……….… ……… … 20

1.5 Một số công trình nghiên cứu xác định các dạng kim lọai nặng trong mẫu trầm tích ……….……….… …

20 1.6 Khu vực nghiên cứu ……….….…….……….….… 22

1.6.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội lưu vực sông Cầu …….….… 22

1.6.2 Tình hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu đoạn đi qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên ……… 24

1.6.3 Khu vực lấy mẫu ……….……….…… …… 25

Chương 2: THỰC NGHIỆM 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.3 Trang thiết bị và hóa chất phục vụ nghiên cứu 27

2.4 Lấy mẫu và bảo quản mẫu 28

2.4.1 Vị trí lấy mẫu 28

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 29

2.4.3 Bảo quản mẫu 30

2.5 Tiến hành thực nghiệm 31

2.5.1 Tiền xử lí mẫu 31

2.5.2 Quy trình phân tích hàm lượng tổng kim loại 31

2.5.3 Quy trình phân tích dạng kim loại 31

2.6 Xử lí số liệu 32

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN ……….…… ……….…… 33

3.1 Các điều kiện đo phổ AAS của Cu, Pb, Zn, Cd ……….……… 33

3.1.1 Các điều kiện đo phổ F-AAS của Cu, Pb, Zn ……….… 33

3.1.2 Các điều kiện đo phổ GF-AAS của Cd ……… …… 33

3.2 Khảo sát ảnh hưởng của nền đến phép đo ……….… 34

Trang 5

3.3 Xây dựng đường chuẩn xác định Cu, Pb, Zn, Cd ……… 36

3.3.1 Đường chuẩn của Cu ……….… 37

3.3.2 Đường chuẩn của Pb ……… … … 38

3.3.3 Đường chuẩn của Zn ……… ……… 39

3.3.4 Đường chuẩn của Cd ……… …… 40

3.4 Khảo sát giới hạn phát hiện của phương pháp đo ……… ….….… 41

3.4.1 Khảo sát giới hạn phát hiện trong phép đo F- AAS ……… 41

3.4.2 Khảo sát giới hạn phát hiện trong phép đo GF-AAS ……… 43

3.5 Đánh giá độ chính xác của phương pháp ……… ……… … 43

3.6 Kết quả phân tích hàm lượng tổng của các kim loại Cu, Pb, Zn, Cd 44

3.6.1 Kết quả phân tích hàm lượng tổng kim loại Cu …….………….…… 44

3.6.2 Kết quả phân tích hàm lượng tổng kim loại Pb trong 3 cột trầm tích ……….…… 46

3.6.3 Kết quả phân tích hàm lượng tổng kim loại Zn trong 3 cột trầm tích ……… 48

3.6.4 Kết quả phân tích hàm lượng tổng kim loại Cd trong 3 cột trầm tích ……….…… 50

3.6.5 Mối tương quan về hàm lượng tổng giữa các kim loại Cu, Pb, Zn, Cd trong các cột trầm tích ……… ……… 52

3.6 Kết quả phân tích hàm lượng các dạng kim loại Cu, Pb, Zn, Cd trong 3 cột trầm tích ………….……….… ……… 53

3.6.1 Kết quả phân tích hàm lượng các dạng của kim loại Cu ……… 53

3.6.2 Kết quả phân tích hàm lượng các dạng của kim loại Pb … 57

3.6.3 Kết quả phân tích hàm lượng các dạng của kim loại Zn ……… 60

3.6.4 Kết quả phân tích hàm lượng các dạng của kim loại Cd ……… 62

KẾT LUẬN ……… ………….……… … 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….…….……… …… 66

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAS Atomic Absorption Spectrometry Phổ hấp thụ nguyên tử

AES Atomic Emission Spectrometry Phổ phát xạ nguyên tử

BCR Community Bureau of Reference Ủy ban tham chiếu cộng đồng

EDL Electrodeless Disharge Lamp Đèn không điện cực

GCS Geological Society ò Canada Hiệp hội địa chất Canada

ICP Inductively coupled plasma Plasma cao tần cảm ứng

RSD Relative standard deviation Độ lệch chuẩn tương đối SEP Sequential Extraction Procedure Quy trình chiết liên tục

Trang 7

DANH MỤC BẢNG Chương 1: TỔNG QUAN

Bảng 1.1 Quy trình chiết liên tục của Tessier (1979) ……… 9

Bảng 1.2 Quy trình chiết liên tục của BCR (1993) ……….……

10 Bảng 1.3 Quy trình chiết ngắn của Maiz (2000) ……….………….… 10

Bảng 1.4 Quy trình chiết liên tục của hiệp hội địa chất Canada (GCS) ……… … 11

Bảng 1.5 Qui trình chiết liên tục của J.Zerbe (1999) ……….…….… 12

Bảng 1.6 Qui trình chiết liên tục cải tiến Tessier ( Vũ Đức Lợi, 2010) ….….… … 13

Bảng 1.7 Giá trị hàm lượng các kim loại trong vỏ Trái đất ……….…… 14

Bảng 1.8 Phân loại mức độ ô nhiễm dựa vào Igeo ……….……… 14

Bảng 1.9 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ rủi ro theo chỉ số RAC ……….….… 15

Bảng 1.10 Tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích theo hàm lượng tổng của Canada (2002) ……….… 15

Bảng 1.11 Tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích theo hàm lượng tổng của Mỹ (US EPA (1997) ……….….… 16

Chương 2 THỰC NGHIỆM Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN Bảng 3.1 Các điều kiện đo phổ F-AAS của Cu, Pb, Zn ……… ……….… 33

Bảng 3.2 Các điều kiện đo phổ GF-AAS của Cd ……… 33

Bảng 3.3 Chương trình hóa nhiệt độ cho lò graphit ……….…… 34

Bảng 3.4 Kết quả phân tích mẫu Cu2+ 1 mg/l ……….…… 41

Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu Pb2+ 4 mg/l ……… 42

Bảng 3.6 Kết quả phân tích mẫu Zn2+ 1 mg/l ……… …… 42

Bảng 3.7 Kết quả phân tích mẫu Cd2+ 2 µg/l ……….… 43

Bảng 3.8 Kết quả phân tích Cu, Pb, Zn, Cd trong mẫu trầm tích chuẩn MESS-3 ……….……… … 43

Bảng 3.9 Hàm lượng tổng của kim loại Cu trong các cột trầm tích ……… 44

Bảng 3.10 Giá trị Igeo trong các cột trầm tích ……….….……… … … 45

Bảng 3.11 Hàm lượng tổng Pb trong các cột trầm tích …….…….……… 46

Bảng 3.12 Giá trị Igeo của Pb trong các cột trầm tích ……….….………

47 Bảng 3.13 Hàm lượng tổng Zn trong các cột trầm tích ……….……… 48

Bảng 3.14 Giá trị Igeo của Zn trong các cột trầm tích ……… 50

Bảng 3.15 Hàm lượng tổng Cd trong các cột trầm tích ……… 50

Bảng 3.16 Giá trị Igeo của Cd trong các cột trầm tích ……… 51

Bảng 3.17 Hệ số tương quan giữa hàm lượng tổng Cu, Pb, Zn và Cd trong mỗi cột trầm tích ……….… 52

Trang 8

Bảng 3.18 Hàm lượng các dạng của kim loại Cu (mg/kg) trong các cột trầm

tích……… 54 Bảng 3.19 Hệ số tương quan về hàm lượng các dạng của Cu trong mỗi cột trầm tích

……….…… 56 Bảng 3.20 Hàm lượng các dạng của kim loại Pb (mg/kg) trong các cột trầm tích

……… …… ……… 57 Bảng 3.21 Hệ số tương quan hàm lượng các dạng của Pb trong mỗi cột trầm Tích

.……….……… 59 Bảng 3.22 Hàm lượng các dạng của kim loại Zn (mg/kg) trong các cột trầm tích

……….……… 60 Bảng 3.23 Hàm lượng các dạng của Cd (mg/kg) trong các cột trầm tích ………… 62

Trang 9

DANH MỤC HÌNH Chương 1: TỔNG QUAN

Hình 1.1 Sơ đồ cấu tạo hệ thống máy AAS ……… 18

Hình 1.2 Bản đồ lưu vực sông Cầu ……….… 22

Hình 1.3 Bản đồ nguồn thải khu vực thành phố Thái Nguyên ……… 26

Chương 2 THỰC NGHIỆM Hình 2.1 Vị trí lấy mẫu ……… 29

Hình 2.2 Thiết bị lấy mẫu trầm tích ……….……… 29

Hình 2.3 Ống PVC chứa trầm tích ……… …… 31

Hình 2.4 Ống PVC chứa mẫu trầm tích được để khô tự nhiên …… 32

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN Hình 3.1 Khảo sát ảnh hưởng của nền đến độ hấp thụ của Cu ở các nồng độ khác nhau ……….……….…… 35

Hình 3.2 Khảo sát ảnh hưởng của nền đến độ hấp thụ của Pb ở các nồng độ khác nhau ……… 35

Hình 3.3 Khảo sát ảnh hưởng của nền đến độ hấp thụ của Zn ở các nồng độ khác nhau ……… ……… 35

Hình 3.4 Khảo sát ảnh hưởng của nền đến độ hấp thụ của Cd ở các nồng độ khác nhau ……… ……… 35

Hình 3.5 – 3.9 Đường chuẩn của Cu ở các nền khác nhau……… 37

Hình 3.10 – 3.14 Đường chuẩn của Pb ở các nền khác nhau 38

Hình 3.15 – 3.19 Đường chuẩn của Zn ở các nền khác nhau ……….…… 39

Hình 3.20 – 3.24 Đường chuẩn của Cd ở các nền khác nhau ……… 40

Hình 3.25 Biểu đồ so sánh hàm lượng tổng của ion Cu2+ trong các đoạn của 3 cột trầm tích SC01, SC02 và SC03 ……… … 44

Hình 3.26 Biểu đồ so sánh hàm lượng của ion Pb2+ trong các đoạn của 3 cột trầm tích SC01, SC02 và SC03 ……… … 46

Hình 3.27 Biểu đồ so sánh hàm lượng của ion Zn2+ trong các đoạn của 3 cột trầm tích SC01, SC02 và SC03 ……… …… 49

Hình 3.28 Biểu đồ so sánh hàm lượng của ion Cd2+ trong các đoạn của 3 cột trầm tích SC01, SC02 và SC03 ……… ……… 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người đã và đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Một trong các chương trình đang được nhà nước quan tâm là nghiên cứu và đánh giá mức độ ô nhiễm thuộc lưu vực một số hệ thống sông chính như: sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cầu để từ đó có các biện pháp quản lí thích hợp

Trong số các chỉ số ô nhiễm, ô nhiễm kim loại nặng là một trong những chỉ số được quan tâm nhiều bởi độc tính và khả năng tích lũy sinh học của chúng Để có thể đánh giá một cách đầy đủ về mức độ ô nhiễm của các kim loại nặng ta không thể chỉ dựa vào việc xác định hàm lượng của các kim loại hòa tan trong nước mà cần xác định cả hàm lượng các kim loại trong trầm tích Rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về trầm tích sông, hồ đều cho thấy hàm lượng của các kim loại trong trầm tích lớn hơn nhiều so với trong nước

Dưới một số điều kiện lí hóa nhất định các kim loại nặng từ trong nước có thể tích lũy vào trầm tích đồng thời cũng có thể hòa tan ngược trở lại nước [65, 68] Khả năng hòa tan của kim loại trong mẫu trầm tích vào nước cũng như khả năng tích lũy sinh học của nó phụ thuộc vào dạng tồn tại của kim loại trong trầm tích [69] Vì vậy cần thiết phải xác định

cụ thể dạng tồn tại của các kim loại trong trầm tích mới có thể đưa ra những đánh giá cụ thể và chính xác hơn về mức độ ô nhiễm và ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các kim loại nặng [48]

Một vấn đề đáng lưu ý nữa là hàm lượng của các kim loại trong mẫu trầm tích phụ thuộc vào hàm lượng của các kim loại trong nước tại mỗi thời điểm Do đó dựa vào việc xác định hàm lượng của các kim loại tại các điểm khác nhau trên cùng một cột trầm tích có thể giúp ta thấy được sự thay đổi về mức độ ô nhiễm kim loại nặng tại khu vực nghiên cứu theo thời gian

Để xác định dạng kim loại trong trầm tích, công đoạn quan trọng nhất là chiết tách riêng từng dạng kim loại ra khỏi trầm tích Đã có rất nhiều quy trình chiết được đưa ra nhưng quy trình chiết liên tục của Tessier (Tessier et.al, 1979 [34]) được nhiều tác giả lựa

Trang 11

chọn sử dụng và cải tiến thêm phương pháp này Theo quy trình chiết liên tục của Tessier, kim loại trong trầm tích được chia làm 5 dạng là: dạng trao đổi, dạng liên kết với cacbonat, dạng liên kết với sắt và mangan oxit, dạng liên kết với chất hữu cơ và dạng cặn dư

Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn và tập trung đông dân cư sinh sống ở khu vực phía Bắc Sông Cầu dài 288,5 km bắt nguồn từ núi Vạn On ở độ cao 1175m thuộc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn chạy qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Ninh và đổ vào sông Thái Bình ở thị xã Phả Lại tỉnh Hải Dương Các khu vực sông Cầu chạy qua là những khu vực tập trung rất nhiều các hoạt động sản xuất công nghiệp như: khai khoáng, luyện kim, mạ điện Vì vậy tình hình ô nhiễm nói chung

và ô nhiễm kim loại nặng nói riêng đang ở mức báo động Trước tình hình đó chính phủ đã cho thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu vào tháng 1 năm 2008 để có những giải pháp đồng bộ quản lí và giảm thiểu ô nhiễm trên hệ thống lưu vực sông Cầu Mặt khác, trên hệ thống lưu vực sông Cầu, Thái Nguyên là tỉnh mà ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim rất phát triển nên nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng là rất lớn

Từ những vấn đề trình bày ở trên, chúng tôi đã chọn đề tài “nghiên cứu xác định dạng Cu, Pb, Zn và Cd trong một số cột trầm tích thuộc lưu vực sông Cầu ” với địa bàn

nghiên cứu chính là tỉnh Thái Nguyên theo các nhiệm vụ cụ thể là:

+ Xác định hàm lượng tổng và hàm lượng các dạng liên kết của các kim loại Cu,

Pb, Zn và Cd trong một số cột trầm tích thuộc lưu vực sông Cầu khu vực đi qua thành phố Thái Nguyên

+ Đánh giá sự thay đổi hàm lượng tổng và các dạng của các kim loại Cu, Pb ,Zn và

Cd theo chiều sâu của cột trầm tích và giữa các cột trầm tích

+ Đánh giá mối tương quan về hàm lượng tổng và các dạng của các kim loại Cu, Pb,

Zn và Cd trong cùng 1 cột trầm tích và giữa các cột trầm tích với nhau

+ Đánh giá mức độ ô nhiễm các kim loại Cu, Pb, Zn và Cd theo một số tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm trầm tích

Việc lấy mẫu trầm tích được chúng tôi trực tiếp tiến hành tại sông Cầu đoạn đi qua thành phố Thái Nguyên vào tháng 7 năm 2012 Các công việc bảo quản mẫu trầm tích, xử

lí mẫu và phân tích hàm lượng tổng cũng như các dạng của các kim loại Cu, Pb, Zn và Cd được thực hiện tại phòng Hóa Phân Tích – Viện Hóa Học – Viện Hàn Lâm Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam

Trang 12

Trầm tích là một trong những đối tượng thường được nghiên cứu để đánh giá và xác định mức độ cũng như nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng đối với môi trường nước bởi hàm lượng kim loại trong trầm tích thường lớn hơn nhiều so với lớp nước phía trên và có mối quan hệ chặt chẽ với hàm lượng của các ion kim loại tan trong nước Các kim loại trong nước có thể tích lũy đi vào trầm tích và ngược lại kim loại trong trầm tích ở dạng di động có khả năng hòa tan ngược lại vào nước Chính vì lí do đó nên trầm tích được xem là một chỉ thị quan trọng dùng để nghiên cứu và đánh giá sự ô nhiễm môi trường

1.1.2 Các nguồn tích lũy kim loại vào trầm tích

Sự tích lũy kim loại vào trầm tích đến từ hai nguồn là nguồn nhân tạo và nguồn tự nhiên

Nguồn tự nhiên gồm các kim loại nằm trong thành phần của đất đá xâm nhập vào môi trường nước và trầm tích thông qua các quá trình tự nhiên như: phong hóa, xói mòn, rửa trôi (Ip Crman 2007 [46])

Nguồn nhân tạo là các nguồn ô nhiễm từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người như: nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, y tế Các kim loại này sau khi đi vào nước sẽ tích lũy vào trầm tích cũng như các sinh vật thủy sinh

1.1.3 Cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy kim loại vào trầm tích

Trang 13

Các kim loại tích lũy vào trầm tích có thể xuất phát từ nguồn tự nhiên hoặc nhân tạo Sự tích lũy của các kim loại vào trầm tích có thể xảy ra theo 3 cơ chế sau:

1 Sự hấp phụ hóa lý từ nước

2 Sự hấp thu sinh học bởi các sinh vật hoặc các chất hữu cơ

3 Sự tích lũy vật lí của các hạt vật chất bởi quá trình lắng đọng trầm tích

Sự tích lũy kim loại vào trầm tích phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: các điều kiện thủy văn, môi trường, pH, thành phần vi sinh vật, kết cấu của trầm tích, khả năng trao đổi ion… nhất là sự hấp phụ hóa lý và hấp thu sinh học

Sự hấp phụ hóa lý các kim loại trực tiếp từ nước được thực hiện nhờ các quá trình hấp phụ các kim loại lên trên bề mặt của các hạt keo, các quá trình trao đổi ion, các phản ứng tạo phức của các kim loại nặng với các hợp chất hữu cơ hoặc do các phản ứng hóa học xảy ra làm thay đổi trạng thái oxi hóa của các nguyên tố hay tạo thành các hợp chất ít tan như muối sunfua Quá trình hấp phụ hóa lí phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện như: pH của nước, kích thước của các hạt keo, hàm lượng các chất hữu cơ và quần thể vi sinh vật [65]

Sự hấp thu sinh học chủ yếu do quá trình hấp thu kim loại của các sinh vật trong nước, phản ứng tạo phức của các kim loại với các hợp chất hữu cơ, các hoạt động sinh hóa của hệ vi sinh vật trong trầm tích [42, 68]

1.1.4 Các dạng tồn tại của kim loại trong trầm tích

Theo Tessier [33], kim loại trong mẫu trầm tích và mẫu đất tồn tại ở 5 dạng chủ yếu sau:

+ Dạng trao đổi: Kim loại trong dạng này liên kết với các hạt keo trong trầm tích

(sét, hydrat của oxit săt, oxit mangan, axit humic) bằng lực hấp phụ yếu Sự thay đổi lực ion của nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ hoặc giải hấp các kim loại này dẫn đến

sự giải phóng hoặc tích lũy kim loại tại bề mặt tiếp xúc của nước và trầm tích Chính vì vậy kim loại trong trầm tích ở dạng này rất linh động có thể dễ dàng giải phóng ngược trở lại môi trường nước

+ Dạng liên kết với cácbonat: Các kim loại tồn tại ở dạng kết tủa muối cacbonat

Các kim loại tồn tại ở dạng này rất nhạy cảm với sự thay đổi của pH, khi pH giảm các kim loại ở dạng này sẽ được giải phóng

Trang 14

+ Dạng liên kết với Fe-Mn oxit: Ở dạng liên kết này kim loại được hấp phụ trên

bề mặt của Fe-Mn oxi hydroxit và không bền trong điều kiện khử, bởi vì trong điều kiện khử trạng thái oxi hóa của sắt và mangan sẽ bị thay đổi, dẫn đến các kim loại trong trầm tích sẽ được giải phóng vào pha nước

+ Dạng liên kết với hữu cơ: Các kim loại ở dạng liên kết với hữu cơ sẽ không bền

trong điều kiện oxi hóa, Khi bị oxi hóa các chất cơ sẽ phân hủy và các kim loại sẽ được giải phóng vào pha nước

+ Dạng cặn dƣ: Phần này chứa các khoáng chất bền vững tồn tại trong tự nhiên có

thể giữ các vết kim loại trong nền cấu trúc của chúng, hoặc một số kết tủa bền khó tan của các kim loại như PbS, HgS Do vậy khi kim loại tồn tại trong phân đoạn này sẽ không thể hòa tan vào nước trong các điều kiện như trên

1.1.5 Kim loại nặng và nguồn tích lũy một số kim loại nặng trong trầm tích

Kim loại nặng là các kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm3, nhưng thông thường ta dùng để chỉ những kim loại độc hại và gây ô nhiễm môi trường Trong trầm tích, kim loại nặng có thể tồn tại ở các dạng khác nhau, có khả năng tích lũy trong trầm tích, khả năng tích lũy sinh học và độc tính khác nhau [30] Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu bốn kim loại nặng là: đồng, chì, kẽm và cadimi

1.1.5.1 Kim loại đồng

Đồng là một nguyên tố thiết yếu đối với cơ thể động thực vật và con người Đối với

cơ thể con người, đồng cần thiết cho các quá trình chuyến hóa sắt, lipit và rất cần thiết cho hoạt động của hệ thần kinh, hệ miễn dịch Tuy nhiên, khi cơ thể chúng ta tích tụ đồng với một lượng lớn sẽ gây nguy hiểm Khi hàm lượng đồng trong cơ thể người từ 60 – 100 mg/kg thể trọng có thể gây ra tình trạng nôn mửa Khi hàm lượng là 10g/kg thể trọng có thể gây tử vong Nồng độ đồng giới hạn trong nước uống đối với con người là 2 mg/lit Đồng cũng là một trong số kim loại có rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau như: chế tạo dây dẫn điện, các hợp kim có độ chống mài mòn cao, chế tạo sơn, thuốc trừ sâu…

Ở pH lớn hơn 6 ion Cu2+

có thể kết tủa dưới dạng hidroxit, oxit, hidroxi-cacbonat Đồng cũng tạo được phức rất bền với chất mùn Đặc biệt trong môi trường khử Cu2+

rất dễ kết hợp với ion S2-

để tạo kết tủa CuS rất bền Chính vì vậy mà khả năng tích lũy sinh học

Trang 15

của kim loại đồng trong trầm tích nhỏ và dạng tồn tại chủ yếu của đồng trong trầm tích là ở dạng cặn dư [15, 18, 23]

Nguồn tích lũy của kim loại đồng trong tự nhiên đến từ 2 nguồn là nguồn tự nhiên

và nguồn nhân tạo Trong tự nhiên, hàm lượng trung bình của đồng trong vỏ trái đất vào khoảng 50 ppm và chủ yếu tồn tại dưới dạng một số khoáng chất như: azurit

(2CuCO3Cu(OH)2); malachit (CuCO3Cu(OH)2); các sulfua như: chalcopyrit (CuFeS2),

bornit (Cu5FeS4), covellit (CuS), chalcocit (Cu2S) và các ôxít như cuprit (Cu2O) Trong

đó nhiều nhất là các quặng sunfua tương đối bền Vì vậy khả năng rửa trôi của của kim loại đồng là tương đối nhỏ [23]

Nguồn tích lũy nhân tạo đồng vào trầm tích xuất phát chủ yếu từ các hoạt động sản xuất đặc biệt là từ các ngành công nghiệp luyện kim và mạ điện Theo một số nghiên cứu, hàm lượng kim loại đồng trong nước thải của các nhà máy mạ điện có thể lên đến 200 ppm

1.1.5.2 Kim loại chì

Chì là một nguyên tố có độc tính cao đối với con người và động vật Khi xâm nhập vào cơ thể kim loại chì kết hợp với một số enzim làm rối loạn hoạt động của cơ thể Khi nồng độ chì trong máu lớn hơn 50 μg/dl sẽ gây ra ra nguy cơ mắc chứng thiếu máu, thiếu sắc tố da, hồng cầu kém bền vững Khi nồng độ chì trong máu lớn hơn 80 μg/dl sẽ gây ra các bệnh về thần kinh với các biểu hiện như mất điều hòa, giảm ý thức, vận động khó khăn, hôn mê và co giật [19, 20]

Ở pH cao kim loại chì trở nên ít tan do dễ tạo phức với các hợp chất hữu cơ, kết tủa dưới dạng oxit, hidroxit và liên kết với oxit và silica của đất sét vì vậy ở pH cao kim loại chì có khả năng tích lũy sinh học thấp Nhưng ở pH thấp hơn thì khả năng tích lũy sinh học của chì tăng dần

Trong tự nhiên hàm lượng Pb trong vỏ trái đất khoảng 17 ppm Chì thường được tìm thấy ở dạng quặng cùng với kẽm, bạc, và (phổ biến nhất) đồng, và được thu hồi cùng với các kim loại này Trong tự nhiên, khoáng chì chủ yếu là galena (PbS) ngoài ra còn có một

số dạng khoáng chứa chì khác như cerussite (PbCO3) và anglesite (PbSO4) [15, 18, 22]

Trong công nghiệp, kim loại chì được sử dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau như: công nghiệp chế tạo ắc quy, sơn, nhựa, luyện kim Vì vậy nguồn phát thải chì nhân tạo chủ

Trang 16

yếu từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như: công nghiệp luyện kim, ắc quy, sơn, nhựa và các làng nghề tái chế chì, tái chế nhựa

ngược lại gây ra các bệnh như ngộ độc thần kinh, và hệ miễn nhiễm [20, 21]

Trong công nghiệp, kim loại kẽm có rất nhiều ứng dụng đặc biệt trong lĩnh vực luyện kim, công nghiệp mạ và sản xuất pin điện

Trong môi trường nước ở pH thấp Zn có độ linh động vừa phải do chủ yếu tồn tại ở pha liên kết yếu với sét và mùn Ở pH lớn hơn độ linh động của kẽm giảm đi do tồn tại ở các pha liên kết với oxit, aluminosilicat và mùn Ngoài ra trong môi trường khử, sự linh động của kim loại kẽm cũng bị giảm đi do tạo thành muối ZnS ít tan [ 15, 18, 24, 29]

Trong vỏ trái đất hàm lượng kim loại kẽm vào khoảng 75 ppm Sphalerit (ZnS) là loại quặng kẽm quan trọng nhất Nguồn tích lũy kẽm trong trầm tích ngoài nguồn tự nhiên còn phải kể đến một nguồn rất quan trọng là các nước thải từ các nhà máy luyện kim và mạ điện và khai khoáng [25]

1.1.5.4 Kim loại Cadimi

Cadimi cũng là một kim loại có nhiều ứng dụng trong công nghiệp Một số ứng dụng chính của cadimi là chế tạo hợp kim có nhiệt độ nóng chảy thấp, sử dụng trong mạ điện, chế tạo vật liệu bán dẫn, chất tạo màu Tuy nhiên cadimi lại là kim loại rất độc hại đối với cơ thể người ngay cả ở nồng độ rất thấp bởi vì cadimi có khả năng tích lũy sinh học rất cao Khi xâm nhập vào cơ thể nó can thiệp vào các quá trình sinh học, các enzim liên quan đến kẽm, magie và canxi, gây tổn thương đến gan, thận, gây nên bệnh loãng xương và bệnh ung thư [20]

Trong tự nhiên, hàm lượng cadimi trung bình khoảng 0,1 ppm Quặng cadimi rất hiếm và chủ yếu tồn tại ở dạng CdS có lẫn trong quặng một số kim loại như Zn, Cu, Pb [25]

Trang 17

Trong trầm tích sông ngòi, hàm lượng cadimi có thể cao hơn nhiều lên đến 9 ppm [6] Nguồn phát thải ô nhiễm Cd đối với trầm tích sông ngòi chủ yếu là nguồn nhân tạo, xuất phát từ nước thải từ các ngành công nghiệp dựa trên một số ứng dụng của Cd như: lớp

mạ bảo vệ thép, chất ổn định trong PVC, chất tạo màu trong plastic và thủy tinh, và trong hợp phần của nhiều hợp kim

1.2 Phân tích dạng kim loại trong trầm tích

1.2.1 Khái niệm về phân tích dạng

Thuật ngữ “dạng”, theo Fillip M tack và Marc G Verloo [40], là sự nhận dạng và định lượng các dạng, các hình thức hay các pha khác nhau mà trong đó kim loại tồn tại

Trong thực tế, độ linh động và hoạt tính sinh học cũng như khả năng tích lũy sinh học của kim loại phụ thuộc vào dạng tồn tại bao gồm dạng hóa học ( trạng thái oxi hóa, điện tích, trạng thái hóa trị và liên kết) và dạng vật lí (trạng thái vật lí, kích thước hạt ) Chẳng hạn crôm ở dạng Cr(III) không độc nhưng ở dạng Cr(VI) rất độc Trong các dạng của asen thì As(III) có độc tính cao gấp khoảng 50 lần As(V), asen ở dạng hợp chất vô cơ độc hơn ở dạng hợp chất hữu cơ Trong trầm tích, các kim loại tồn tại ở dạng linh động dễ dàng có thể giải phóng vào nước dẫn đến nguy cơ gia tăng sự hấp thụ các kim loại này vào

cơ thể con người thông qua chuỗi thức ăn Trong khi đó các kim loại tồn tại ở dạng cặn dư rất khó hòa tan vào nước nên rất ít ảnh hưởng đến sức khỏe con người [31, 40] Vì vậy cần thiết phải xác định cụ thể hàm lượng của các kim loại ở từng dạng tồn tại cụ thể của nó

Theo tác giả Tessier, kim loại trong mẫu trầm tích và mẫu đất tồn tại ở 5 dạng chủ

yếu là: dạng trao đổi, dạng liên kết với cácbonat, dạng liên kết với Fe-Mn oxit, dạng liên kết với hữu cơ, dạng cặn dƣ Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra các dung môi và các

điều kiện thích hợp để có thể chiết riêng từng dạng kim loại Có nhiều phương pháp khác nhau đã được đưa ra để chiết riêng từng dạng kim loại như: chiết một giai đoạn, chiết liên tục, sử dụng nhựa trao đổi ion Trong đó, phương pháp chiết liên tục được áp dụng phổ biến nhất do những ưu điểm của nó

1.2.2 Các quy trình chiết liên tục

Có rất nhiều quy trình chiết liên tục được các tác giả khác nhau đưa ra để phân tích dạng kim loại trong trầm tích Dưới đây là một số quy trình tiêu biểu

* Quy trình chiết liên tục của Tessier:

Trang 18

Đây là quy trình được nhiều tác giả khác nhau sử dụng để xác định hàm lượng kim loại trong đất và trầm tích Các điều kiện cụ thể của quy trình chiết liên tục Tessier được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1 Quy trình chiết liên tục của Tessier (1979)[33]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (1 gam mẫu)

Trao đổi (F1) + 8 ml MgCl2 1M (pH = 7), khuấy liên tục trong 1 giờ

+ hoặc 8 ml NaOAc 1M (pH = 8,2), khuấy liên tục trong 1 giờ Liên kết với

cacbonat (F2)

8 ml NaOAc 1M (pH = 5 với HOAc), khuấy liên tục trong 5 giờ

ở nhiệt độ phòng Liên kết với Fe-

(3) sau khi làm nguội thêm 5 ml NH4OAc 3,2 M trong HNO320% và pha loãng thành 20 ml, khuấy liên tục trong 30 phút Cặn dư (F5) (1) HClO4 (2 ml) + HF (10 ml) đun đến gần cạn

(2) HClO4 (1 ml) + HF (10 ml) đun đến gần cạn (3) HClO4 (1 ml)

(4) hòa tan bằng HCl 12N sau đó định mức thành 25 ml

* Quy trình chiết liên tục của Ủy ban tham chiếu cộng đồng (Community Bureau of Reference procedure, BCR):

Quy trình này gần tương tự như quy trình của Tessier nhưng dạng trao đổi và dạng cacbonat được gộp chung lại thành một dạng

Trang 19

Bảng 1.2 Quy trình chiết liên tục của BCR (1993) [32]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (1 gam mẫu)

Trao đổi và liên kết

với cacbonat

40 ml HOAc 0,11M, 22±50C, khuấy liên tục 16 giờ

Liên kết với Fe-Mn

C, khuấy liên tục 16 giờ

* Quy trình chiết ngắn của Maiz:

Tác giả Maiz đã đưa ra quy trình chiết ngắn chỉ có 3 dạng và nhận thấy rằng kết quả của nó tương quan tốt với quy trình chiết của Tessier

Bảng 1.3 Quy trình chiết ngắn của Maiz (2000) [45]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (3 gam mẫu)

Trao đổi (hay di động) 10 ml CaCl2 0,01M, t0 phòng, thỉnh toảng khuấy

trong 2 giờ

Có tiềm năng di động 2ml hh: DTPA(1) 0,005M + CaCl2 0,01M + TEA(2)

0,1M (pH = 7,3), t0 phòng, 4 giờ

(1): DTPA: pentetic axit hay dietylen triamin pentaaxetic axit

(2): TEA: trietanolamin

* Quy trình chiết của Hiệp hội Địa chất Canada (GCS):

Trang 20

Quy trình chiết liên tục của GCS phân chia dạng kim loại liên kết với Fe-Mn oxit thành 2 dạng là dạng liên kết với Fe oxihydroxit vô định hình và dạng kim loại nằm trong cấu trúc tinh thể của oxit Do đó số dạng kim loại tăng từ 5 lên 6 Quy trình này được Benitez và Dubois đưa ra trên cơ sở cải tiến quy trình của Tessier nhờ vậy mà thời gian chiết được giảm đi đáng kể

Bảng 1.4 Quy trình chiết liên tục của Hiệp hội Địa chất Canada (GCS) (1999) [51]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (0,5 gam mẫu)

Dạng di

động

Trao đổi (F1) (1) 30 ml NaNO3 0,1M; 250C; 1,5 giờ

(2) 30 ml NaNO3 0,1M; 250C; 1,5 giờ Liên kết với

cacbonat (F2)

(1) 30 ml NaOAc 1M (pH = 5 với HOAc); 250

C;

1,5 giờ (2) 30 ml NaOAc 1M (pH = 5 với HOAc); 250C;

oxihydroxit vô định

hình (F4)

(1) 30 ml NH2OH.HCl 0,25M trong HCl 0,05M;

600C; 1,5 giờ (2) 30 ml NH2OH.HCl 0,25M trong HCl 0,05M;

600C; 1,5 giờ Nằm trong cấu trúc

tinh thể oxit (F5)

(1) 30 ml NH2OH.HCl 1M trong HOAc 25%;

900C; 1,5 giờ (2) 30 ml NH2OH.HCl 1M trong HOAc 25%;

900C; 1,5 giờ Cặn dư (F6) HF:HNO3:HCl

Nói chung hầu hết các quy trình chiết liên tục đều dựa trên quy trình chiết của Tessier nhưng có những cải tiến để phù hợp với các đối tượng phân tích khác nhau để làm tăng độ chính xác của kết quả phân tích và giảm thời gian chiết Các cải tiến này đều chủ

Trang 21

yếu tập trung vào việc thay đổi loại, thể tích dung môi chiết và thời gian chiết Rất nhiều tác giả như G.Glosinska [42], J.Zerbe [49], P.O.Oviasogie [61], Md.Abull Kashem [53],

Vũ Đức Lợi [6,7] đã thay thế MgCl2 1M trong bước chiết dạng trao đổi (F1) bằng

NH4OAc hoặc NaOAc (pH=5) bằng NH4OAc (pH = 5) Mục đích của việc thay thế này sẽ làm giảm tính mặn (nồng độ các ion kim loại ) trong dung dịch chiết nhờ đó sẽ làm tăng độ chính xác trong kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong dịch chiết bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) Trong giai đoạn chiết dạng liên kết với cacbonat ( F2), các tác giả trên đã tăng lượng thuốc thử từ 2 ml lên 20 ml để làm giảm sự thay đổi pH của dung dịch trong quá trình chiết

Bảng 1.5 Quy trình chiết liên tục của J.Zerbe (1999) [49]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (1 gam mẫu)

Trao đổi (F1) 10 ml CH3COONH4 (pH=7), t0 phòng, khuấy liên tục

trong 1 giờ Liên kết với cacbonat

(F2)

20 ml CH3COONH4 1M (pH = 5 với HOAc), khuấy liên tục trong 5 giờ, t0

phòng Liên kết với Fe-Mn oxit

(F3)

20 ml NH2OH.HCl 0,04M trong HOAc 25%, 950C, khuấy 6 giờ

Liên kết với hữu cơ (F4) (1) 5 ml HNO3 0,02M + 5 ml H2O2 30% (pH= 2 với

HNO3), 850C, khuấy 2 giờ (2) thêm 3 ml H2O2 30% (pH = 2 với HNO3), 850C, khuấy 3 giờ

(3) làm nguội, thêm 10 ml CH3COONH4 3,2M trong HNO3 20% khuấy 30 phút, t0 phòng

Trang 22

Bảng 1.6 quy trình chiết liên tục cải tiến Tessier ( Vũ Đức Lợi, 2010) [6]

Dạng kim loại Điều kiện chiết (1 gam mẫu)

Trao đổi (F1) 10 ml CH3COONH4 1M (pH=7), t0 phòng, lắc liên tục

trong 1 giờ Liên kết với cacbonat

(F2)

20 ml CH3COONH4 1M (pH = 5 với HOAc), lắc liên tục trong 5 giờ, to

phòng Liên kết với Fe-Mn oxit

1.3 Một số chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng trầm tích

Hiện nay, nước ta vẫn chưa có tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng trầm tích Chính vì vậy, trong luận văn chúng tôi đã sử dụng một số chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trầm tích của nước ngoài Để đánh giá chất lượng trầm tích, nhiều tác giả đã đưa ra các tiêu chí và tiêu chuẩn khác nhau, nhưng chủ yếu đều tập trung đánh giá chất lượng trầm tích dựa vào hàm lượng tổng của các kim loại nặng và thành phần phần trăm dạng linh động (F1, F2) Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một số chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá trầm tích hay dùng

1.3.1 Chỉ số tích lũy địa chất (Geoaccumulation Index : I geo )

Igeo là chỉ số dùng để đánh giá sự ô nhiễm bằng cách so sánh hàm lượng tổng kim loại có trong mẫu với giá trị nền của kim loại đó (Juan Liu, 2010 [48]) Chỉ số này được đưa ra bởi Muller P.J và Suess E [55] và có công thức tính như sau:

Trong đó:

Cn: hàm lượng kim loại trong mẫu

Bn: giá trị nền của kim loại trong vỏ Trái đất (Hamilton, 2000 [44]) 1,5: hệ số được đưa ra để giảm thiểu tác động của những thay đổi có

Trang 23

thể xảy ra đối với giá trị nền do những biến đổi về thạch học trong trầm tích

Hàm lượng nền của các kim loại Cu, Pb, Zn và Cd được thể hiện trong bảng sau

Bảng 1.7 Giá trị hàm lượng các kim loại trong vỏ Trái đất (Hamilton, 2000 [44])

Mức độ ô nhiễm trầm tích dựa theo chỉ số Igeo được phân loại như sau:

Bảng 1.8 Phân loại mức độ ô nhiễm dựa vào I geo (Muller P.J và Suess E, 1979 [55])

Phân loại Giá trị I geo Mức độ ô nhiễm

1.3.2 Chỉ số đánh giá mức độ rủi ro RAC (Risk Assessment Code)

Chỉ số đánh giá rủi ro RAC (Risk Assessment Code) là thông số để đánh giá khả năng kim loại trong trầm tích giải phóng vào nước, đi vào chuỗi thức ăn và dẫn đến nguy

cơ tích lũy các kim loại nặng trong cơ thể con người (Rath et.al, 2009 [64]) Trong trầm tích, ở dạng trao đổi (F1) và dạng cacbonat (F2) kim loại liên kết tương đối yếu với trầm tích do đó dễ giải phóng vào nước và đi vào chuỗi thức ăn Vì vậy chỉ số RAC được tính theo tổng phần trăm của dạng trao đổi và cacbonat

Tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm dựa vào chỉ số RAC được trình bày trong bảng sau:

Trang 24

Bảng 1.9 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ rủi ro theo chỉ số RAC

1.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại trong trầm tích theo hàm lượng tổng kim loại của Mỹ và Canada

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng 2 tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích theo hàm lượng tổng là tiêu chuẩn của Canada (2002) và tiêu chuẩn của

Trang 25

Bảng 1.11 Tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích theo hàm lượng

tổng (mg/kg) của Mỹ (US EPA (1997) [68])

Ô nhiễm nghiêm trọng lớn hơn 50 lớn hơn 60 lớn hơn 200 lớn hơn 6

1.4 Một số phương pháp hiện đại phân tích lượng vết kim loại

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ngày nay có rất nhiều phương

pháp công cụ khác nhau để phân tích lượng vết kim loại như: phương pháp quang phổ phân tử UV-VIS, phương pháp quang phổ nguyên tử (hấp thụ, phát xạ và huỳnh quang), phổ khối lượng (MS), phương pháp điện hóa… Tuy nhiên với những đặc tính ưu việt về độ nhạy, độ chọn lọc, độ chính xác, giới hạn phát hiện và sự đơn giản trong vận hành, phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) là phương pháp được áp dụng rộng rãi để phân tích kim loại trong nhiều đối tượng phân tích khác nhau Chính vì vậy, trong đề tài chúng tôi đã áp dụng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) để phân tích hàm lượng của các kim loại

Zn, Cu, Pb, Cd trong một số cột trầm tích sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.4.1 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) [4, 13]

1.4.1.1 Nguyên tắc

Các nguyên tử ở trạng thái khí ở mức năng lượng cơ bản E0 có thể hấp thụ một số bước sóng nhất định và đặc trưng cho nguyên tố hóa học để nhảy lên mức năng lượng cao hơn Khi chiếu qua đám hơi nguyên tử kim loại một chùm sáng đơn sắc có bước sóng thích hợp một phần chùm sáng sẽ bị hấp thụ Dựa vào độ hấp thụ ta có thể xác định được hàm lượng của kim loại cần xác định trong đám hơi đó

Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có độ chọn lọc rất cao và có giới hạn phát hiện

có thể tới cỡ µg/kg vì vậy nó được xem là một phương pháp tiêu chuẩn để xác định hàm lượng các ion kim loại

Thực hiện phép đo AAS để xác định các một nguyên tố thường thực hiện theo các bước sau:

1 Chuyển mẫu phân tích thành dạng dung dịch đồng thể

Trang 26

2 Hóa hơi dung dịch phân tích

3 Nguyên tử hóa chất phân tích Có 4 kỹ thuật nguyên tử hóa trong AAS đó là:

kỹ thuật ngọn lửa (F-AAS); kỹ thuật không ngọn lửa (GF-AAS); kỹ thuật Hydrua hóa; kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu rắn và bột

4 Chiếu chùm sáng có bước sóng đặc trưng qua đám hơi nguyên tử

5 Thu phổ, phân giải và chọn một bước sóng xác định để đo và đo Aλ

6 Ghi lại kết quả đo Aλ

Cường độ của vạch phổ hấp thụ phụ thuộc vào nồng độ của nguyên tố đó trong dung dịch phân tích Trong một khoảng giới hạn nồng độ nhất định (vùng tuyến tính) thì cường

độ vạch phổ phụ thuộc tuyến tính bậc nhất vào nồng độ Vì vậy dựa vào cường độ vạch phổ ta có thể xác định được nồng độ của các kim loại trong dung dịch phân tích

1.4.1.2 Trang thiết bị của máy đo AAS

Hệ thống máy AAS gồm các bộ phận chủ yếu sau:

1 Nguồn cung cấp chùm tia sáng đơn sắc của nguyên tố cần phân tích, có thể là một trong

số các nguồn sau: đèn Catốt rỗng (Hollow Cathod Lamp : HCL), đèn phóng điện không điện cực (Electrodeless Disharge Lamp: EDL), nguồn đèn phổ liên tục biến điệu (lượng tử hoá)

2 Hệ thống trang bị để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu, có thể là:

+ Theo kỹ thuật Ngọn lửa (phép đo F-AAS)

+ Theo kỹ thuật Không ngọn lửa (Phép đo GF-AAS)

+ Theo kỹ thuật hóa hơi lạnh (CV-AAS)

3 Máy quang phổ (thu phổ, phân giải, ghi và chọn vạch phổ λđể đo độ hấp thụ Aλ)

4 Bộ phận ghi nhận tín hiệu đo, xử lý và chỉ thị kết quả

Hiện nay các hệ AAS trang bị hoàn chỉnh còn có thêm một số bộ phận:

5 Hệ thống tự động bơm mẫu (AutoSampler)

6 Hệ thống hoá hơi lạnh (Kỹ thuật Hydrua hoá)

7 Trang bị nguyên tử hoá mẫu rắn và mẫu bột

Trang 27

Hình 1.1 Sơ đồ cấu tạo hệ thống máy AAS 1.4.1.3 Các kỹ thuật nguyên tử hóa

1.4.1.3.1 Kỹ thuật ngọn lửa (F-AAS)

Nguyên tắc: dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hóa hơi và nguyên tử

hóa mẫu phân tích tạo thành các nguyên tử tự do Vì thế mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hóa phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của ngọn lửa trong đó nhiệt độ ngọn lửa là yếu tố quyết định

Đèn khí được đốt bởi một hỗn hợp gồm 1 chất oxi hóa và một khí nhiên liệu.Ví dụ như: hh không khí + axetilen (toC có thể đến 2500o

C); N2O + axetilen (toC có thể đến

2950oC), không khí + propan (toC có thể đến 2200o

C)

1.4.1.3.1 Kỹ thuật không ngọn lửa (GF-AAS)

Nguyên tắc: Dùng năng lượng nhiệt của dòng điện có cường độ cao (300-500 A)

để đốt nóng tức khắc cuvet Graphite chứa mẫu phân tích, thực hiện nguyên tử hoá (NTH) mẫu phân tích trong cuvet (hay trong thuyền Ta đặt trong cuvét graphit để loại trừ sự hình thành hợp chất cacbua kim loại của chất phân tích) Kỹ thuật GF-AAS do tạo được ngọn lửa có nhiệt độ cao và ổn định vì vậy nó có độ nhạy rất cao gấp hàng trăm đến hàng ngàn lần phương pháp ngọn lửa ( giới hạn phát hiện cỡ ppb)

1.4.2 Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (AES) [13]

Cơ sở lí thuyết của phương pháp này dựa trên hiện tượng các nguyên tử ở trạng thái khí khi bị kích thích nó thấp thụ năng lượng chuyển lên mức năng lượng cao Em sau đó nó

Trang 28

phát ra các tia phát xạ có bước sóng xác định đặc trưng cho nguyên tử của mỗi nguyên tố

để trở về trạng thái năng lượng cơ bản E0

Các bước thực hiện khi phân tích một nguyên tố theo phương pháp AES:

1 Hóa hơi mẫu phân tích

2 Nguyên tử hóa chất phân tích

3 Kích thích nguyên tử bằng năng lượng thích hợp để chuyển lên mức năng lượng cao Các nguyên tử kích thích sẽ phát ra các tia phát xạ

4 Thu toàn bộ phổ và phân giải thành từng tia

5 Ghi lại phổ phát xạ

6 Đánh giá định tính và định lượng ion kim loại

Phổ AES là phổ vạch và có nhiều vạch hơn so nên độ nhạy kém hơn so với phổ AAS Những vạch phổ đặc trưng của AES trùng với AAS

1.4.3 Phương pháp phổ huỳnh quang nguyên tử [8, 13]

Cơ sở của phương pháp phổ huỳnh quang nguyên tử dựa trên hiện tượng một số nguyên tử khi bị kích thích bởi các bức xạ nó hấp thu năng lượng chuyển lên mức năng lượng cao sau đó ngay lập tức nó bị suy biến và trở về mức năng lượng cơ bản đồng thời phát ra các bức xạ huỳnh quang đặc trưng cho từng nguyên tố

Phổ huỳnh quang nguyên tử cũng là phổ vạch tương tự như phổ phát xạ nguyên tử nhưng có số vạch ít hơn vì vậy nó có tính chất chọn lọc hơn phổ phát xạ nguyên tử

1.4.4 Các phương pháp điện hóa [4]

1.4.4.1 Phương pháp cực phổ

Cơ sở của phương pháp cực phổ dựa trên việc biểu diễn sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào thế điện cực của điện cực khi làm việc gọi là đường dòng thế hay đường cong Vol-Ampe Dựa vào đường những đặc trưng của đường cong Vol-Ampe có thể xác định định tính (dựa vào thế bán sóng) và định lượng (dựa vào chiều cao sóng) Các phương pháp cực phổ cổ điển có độ nhạy thấp 10-4

đến 10-5 và độ chọn lọc cũng không cao do đường cong cực phổ của các chất điện hoạt trồng lên nhau làm cho phổ đồ có dạng bậc thang Hiện nay, nhờ một số cải tiến đã nâng cao độ nhạy của phương pháp có thể đạt cỡ

10-9 g/g

1.4.4.2 Phương pháp von-ampe hòa tan

Trang 29

Nguyên tắc của phương pháp gồm 3 giai đoạn chính:

+ Làm giàu chất điện hóa lên trên bề mặt điện cực dưới dạng kết tủa kim loại hoặc hợp chất khó tan bằng cách điện phân dung dịch ở những điều kiện thích hợp

+ Giai đoạn nghỉ: ngừng khuấy và điện phân để chất phân tích phân bố đều trên bề mặt điện cực

+ Giai đoạn hòa tan điện hóa: hòa tan kết tủa bằng cách phân cực điện cực chỉ thị theo chiều ngược lại và ghi đường cong Von-Ampe hòa tan

Phương pháp von-ampe hòa tan có ưu điểm là độ chọn lọc, độ nhạy cao; độ lặp lại

và độ chính xác tốt, giới hạn phát hiện có thể đạt cỡ 10-8

đến 10-10M

1.4.5 Phương pháp phổ khối lượng ICP-MS [12]

Trong plasma ICP (ngọn lửa ICP), khi thể sol khí mẫu được dẫn vào, các chất mẫu

sẽ hoá hơi, rồi bị phân ly thành các nguyên tử tự do ở trạng thái khí Trong Plasma ICP năng lượng cao (nhiệt độ 6000- 8000o

C), các nguyên tử sẽ bị ion hoá, tạo ra đám hơi ion bậc I (Me+

) Đó là các ion của nguyên tố trong mẫu phân tích có điện tích +1 và số khối m/Z Các ion này sẽ được đưa vào buồng phân giải phổ để phân ly chúng thành phổ dựa vào giá trị m/Z

Phổ ICP-MS có độ nhạy cao hơn nhiều so với các phương pháp phổ hấp thụ và phát

xạ nguyên tử Giới hạn phát hiện của nó có thể đạt tới cỡ ppt Đồng thời phổ ICP-MS có độ

ổn định cao, độ lặp lại tốt và vùng tuyến tính rộng Chính vì vậy phương pháp phổ ICP-MS ngày càng được chú ý sử dụng rộng rãi

1.5 Một số công trình nghiên cứu xác định các dạng kim lọai nặng trong mẫu trầm tích

Những năm gần đây, ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề nhức nhối của toàn

xã hội Đã có rất nhiều các công trình công bố về phân tích dạng của kim loại trong mẫu trầm tích cả trong và ngoài nước Trong hầu hết các công trình đó quy trình chiết được sử dụng nhiều nhất là quy trình chiết liên tục cải tiến của Tessier [36, 38, 39, 58, 62, 63, 67]

và quy trình của BCR còn phương pháp để xác định nồng độ các kim loại trong dịch chiết chủ yếu là dùng phương pháp AAS, ICP-MS

Tác giả Vũ Đức Lợi cùng các cộng sự (2010) [6] đã phân tích dạng của một số kim loại nặng trong trầm tích lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy trên cơ sở sử dụng quy trình chiết

Trang 30

liên tục cải tiến Tessier và dùng phương pháp AAS để xác định hàm lượng kim loại trong dịch chiết Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tổng của các kim loại là: Zn: 88,2 – 559,2 mg/kg; Cu: 25 – 95 mg/kg; Pb: 25,7 – 91,7 mg/kg; Ni: 34,69 – 81 mg/kg; Cd: 0,406 – 9,071 mg/kg Các nguyên tố Cu, Ni, Pb chủ yếu tồn tại ở các dạng liên kết bền F4, F5 Riêng Cd và Zn chủ yếu tồn tại ở các pha F1, F2 thể hiện nguy cơ lan truyền ô nhiễm và khả năng tích lũy sinh học của hai nguyên tố này

Tác giả Vũ Đức Lợi, Nguyễn Thị Vân (2011) [7] đã phân tích dạng các kim loại

Cu, Pb, Zn trong một số cột trầm tích hồ Trị An cũng sử dụng quy trình chiết liên tục cải tiên Tessier và phương pháp AAS Kết quả thu được cụ thể như sau:

+ với kim loại Cu dạng F1: 0,01 – 0,98 mg/kg; F2: 0,140 – 1,940 mg/kg; F3: 0,78 8,9 mg/kg; F4: 0,47 – 3,58 mg/kg; F5: 13,025 – 42,7 mg/kg

-+ với kim loại Pb dạng F1: 0,023 – 0,35 mg/kg; F2: 1,3 – 7,8 mg/kg; F3: 2,4 – 14 mg/kg; F5: 10,75 – 32,75 mg/kg

+ với kim loại Zn dạng F1: 0,33 – 4,15 mg/kg; F2: 0,98 – 4,62 mg/kg; F3: 4,84 – 18,74 mg/kg; F4: 1,84 – 12,96; F5: 39,75 – 100,75 mg/kg

Qua kết quả tính toán cho thấy các kim loại Cu, Pb, Zn chủ yếu tồn tại ở các

dạng bền F3, F4 và F5 Đồng thời trên cơ sở so sánh với một số tiêu chuẩn về đánh giá mức độ ô nhiễm của trầm tích các tác giả đã kết luận mức độ ô nhiễm trầm tích trong lòng

hồ Trị An mới chỉ ở mức độ nhẹ đến trung bình

M Horsfaal JR và A.I Spiff (2001) [54] đã nghiên cứu sự phân bố hàm lượng tổng

và dạng của các kim loại Pb, Zn, Cd, Co, Cu, Ni trong mẫu trầm tích sông New Calabar sử dụng quy trình chiết liên tục Tessier (1979) và xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp AAS Kết quả thu được hàm lượng tổng của các kim loại Pb: 41,6 mg/kg; Zn: 31,6 mg/kg; Cd: 12,8 mg/kg; Cu: 25,5 mg/kg Ở dạng trao đổi các kim loại có hàm lượng lớn là

Co (19,42 %), Ni (12,67 %) và Cd (5 %); ở dạng F2 có hàm lượng lớn là Cd (53 %), Zn (31,08 %), Pb (17,08 %) Từ kết quả này cho thấy nguy cơ lan truyền ô nhiễm của các kim loại nặng trên từ trầm tích vào nước sông và có thể dẫn đến sự tích lũy sinh học cho các động vật thủy sinh và con người

G Glosinska và cộng sự (2005) [42] đã phân tích dạng các kim loại Cd, Cr, Cu, Fe,

Mn, Ni, Pb và Zn trong mẫu trầm tích bề mặt dọc theo trung lưu sông Odra, sử dụng quy

Trang 31

trình chiết cải tiến Tessier Kết quả phân tích cho thấy kim loại có phần trăm ở dạng linh động (F1 và F2) cao là Ni (59 %) và Cu ( 35 %) Ngoài ra còn có sự tương quan tốt giữa hàm lượng các nguyên tố Zn, Mn và Cd ở dạng F1, F2 với dạng F5

1.6 Khu vực nghiên cứu

1.6.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội lưu vực sông Cầu

1.6.1.1 Điều kiện tự nhiên [26]

Hình 1.2 Bản đồ lưu vực sông Cầu

Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của nó Lưu vực sông Cầu có diện tích 6.030km3

là một phần của Lưu vực sông Hồng – Thái Bình (chiếm khoảng 8% diện tích Lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong lãnh thổ Việt Nam) Lưu vực có tổng chiều dài các nhánh sông khoảng 1.600km Sông Cầu dài 288,5 km bắt nguồn từ núi Vạn On ở độ cao 1175m thuộc huyện

Trang 32

Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn chạy qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Ninh và đổ vào sông Thái Bình ở thị xã Phả Lại tỉnh Hải Dương Lưu vực bao gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hà Nội ( huyện Đông Anh, Sóc Sơn)

Lưu vực sông Cầu có cả 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi Địa hình chung của lưu vực theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Mạng lưới sông suối trong lưu vực sông Cầu tương đối phát triển Các nhánh sông chính phân phối đều dọc theo dòng chính, nhưng các sông nhánh tương đối lớn đều nằm ở phía hữu ngạn lưu vực, như các sông: Chợ Chu,

Đu, Công, Cà Lồ…Trong toàn lưu vực có 68 sông suối có độ dài từ 10 km trở lên

Tổng lượng nước trên Lưu vực sông Cầu khoảng 4,5 tỷ m3/năm Dòng chảy các sông thuộc Lưu vực sôngCầu được phân biệt thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa khô Mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10

Trong lưu vực có vườn quốc gia Ba Bể và vườn quốc gia Tam Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ và các khu văn hóa - lịch sử môi trường với giá trị sinh thái cao Lưu vực sông Cầu khá giầu các nguồn tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên rừng đa dạng, tài nguyên nước dồi dào, tài nguyên khoáng sản phong phú Độ che phủ của rừng trong lưu vực sông Cầu được đánh giá là trung bình, đạt khoảng 45% Tuy nhiên, rừng bị phá hủy mạnh mẽ cùng những hoạt động phát triển kinh tế, xã hội khác như công nghiệp, khai thác

mỏ, làng nghề thủ công và hoạt động nông nghiệp gây áp lực lớn lên môi trường trong lưu vực

1.6.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội [26]

Lưu vực sôngCầu là một vùng tập trung khá đông dân cư, theo số liệu thống kê và tính toán từ niên giám các tỉnh năm 2007, tổng dân số trên lưu vực sông Cầu là 2.939.838 người thuộc 44 dân tộc khác nhau, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh Mật độ dân số bình quân trên lưu vực 487 người/km2 Số dân ở nông thôn chiếm tỷ lệ rất lớn 80,01% (2.354.543 người) trong khi đó dân thành thị chỉ khoảng 585,3 nghìn người chiếm 19,91% Dân số tập trung đông ở vùng đồng bằng

Với các thế mạnh về điều kiện tự nhiên, các hoạt động sản xuất kinh tế trên địa bàn các tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu diễn ra rất mạnh mẽ trên các lĩnh vực nông – lâm - ngư

Trang 33

nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Những hoạt động sản xuất và sinh hoạt này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường lưu vực sông

Trên địa bàn lưu vực sông Cầu tập trung rất nhiều các mỏ khai thác khoáng sản lớn như khai thác than, vàng, sắt, thiếc, kẽm, chì ở các tỉnh Bắc Cạn và Thái nguyên Các hoạt động khai thác khoáng sản nhiều năm nay do chưa được quản lí chặt chẽ đã dẫn đến hiện tượng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước trong khu vực

Trên lưu vực sông Cầu còn tập trung rất nhiều khu công nghiệp và chế xuất lớn như: các khu công nghiệp luyện kim ở Thái Nguyên, các khu công nghiệp lớn ở Bắc Ninh, Hải Dương Đồng thời trong khu vực trên còn tập trung rất nhiều các làng nghề tiểu thủ công nghiệp như: chế biến giấy ở Bắc Giang, Bắc Ninh; luyện và tái chế kim loại ở Bắc Ninh, Thài Nguyên Các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên đã thải vào hệ thống sông Cầu một lượng lớn các chất thải độc hại chứa nhiều các kim loại nặng

Trên địa bàn lưu vực sông Cầu còn tập trung rất nhiều đô thị, các trung tâm y tế lớn nhỏ khác nhau mà hầu hết chưa có hệ thống xử lí rác và nước thải sinh hoạt, y tế đồng bộ cũng góp phần làm cho tình hình ô nhiễm trên hệ thống sông Cầu thêm trầm trọng

Tóm lại do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất chưa được quản lí chặt chẽ đã thải ra một lượng lớn chất thải hầu hết chưa qua xứ lí vào hệ thống sông, khiến cho sông Cầu đang đứng trước tình trạng báo động về ô nhiễm môi trường nguồn nước đặc biệt là ô nhiễm các chất hữu cơ độc hại, các kim loại nặng như Cu, Fe, Zn, Pb, Cd

1.6.2 Tình hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu đoạn đi qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trước sức ép của việc phát triển dân số, kinh tế và xã hội cộng với việc chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường đã khiến cho tình hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu đoạn đi qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đến mức báo động

Theo thống kê của sở tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên: tổng lượng nước thải của các ngành luyện kim, cán thép, chế tạo máy vào hệ thống sông Cầu khoảng 16.000 m3/ngày đêm; các cơ sở sản xuất giấy với tổng lượng thải khoảng 35.000 m3/ngày; các cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm tại các tỉnh trong lưu vực xả lượng nước thải khoảng 2.000 m3

/ngày đêm Sở TN-MT Thái Nguyên cũng cho biết, nhiều sông suối chạy qua thành phố, qua thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên tiếp nhận nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, sinh hoạt đã bị ô nhiễm chất hữu cơ và kim loại nặng trước khi hợp

Trang 34

lưu với dòng sông Cầu Chất lượng nước sông sau các điểm hợp lưu và đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên bị ô nhiễm, không bảo đảm cho mục đích sinh hoạt Bên cạnh đó, nước thải của các nhà máy tuy đã qua hệ thống xử lý nhưng chất lượng nước vẫn không đạt tiêu chuẩn xả thải như: khu công nghiệp Sông Công, Bệnh viện Đa khoa trung ương, khu công nghiệp luyện kim Lưu Xá Nước thải chủ yếu là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng [1, 2]

Hiện nay, tại các suối tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các hoạt động đô thị, công nghiệp, khai khoáng, mức độ ô nhiễm tại các suối là rất lớn Đặc biệt, các suối tiếp nhận nước thải của thành phố Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng là rất cao, so với quy chuẩn Việt Nam, hàm lượng BOD vượt trên 2 lần, hàm lượng amoni vượt 16 lần, hàm lượng tổng dầu mỡ vượt gần 8 lần Đặc biệt, tại suối Cam Giá - suối tiếp nhận nước thải của KCN gang thép Lưu Xá, suối Văn Dương - suối tiếp nhận nước thải của KCN Sông Công, hàm lượng Cd vượt so với quy chuẩn Việt Nam Nước mặt suối Cam Giá có môi trường trung tính pH dao động trong khoảng 7,1-7,2, ôxy hòa tan không lớn dao động từ 4,0 - 4,2, trước điểm tiếp nhận nước thải không ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng nhưng bị ô nhiễm vi sinh, giá trị Coliform vượt hơn 1 lần so với QCVN Đoạn suối Cam Giá sau khi tiếp nhận nước thải sản xuất của khu công nghiệp bị ô nhiễm nặng Thành phần hữu cơ, kim loại nặng, vi sinh, BOD5, COD, Cd, Pb, Phenol và Coliform đều vượt hơn 1 lần, amoni vượt hơn 2 lần so với QCVN [2]

Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản thiếu sự kiểm soát chặt chẽ trên địa bàn Bắc Kạn và Thái Nguyên hàng năm cũng xả thải vào hệ thống sông Cầu một lượng lớn nước thải độc hại Nước thải từ hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ngoài chứa một lượng lớn các chất lơ lửng còn chứa rất nhiều các chất độc hại như xianua và các kim loại nặng

Tóm lại, tình hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu đi qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên

đã lên đến mức báo động Vì vậy nhiều năm nay, kết hợp với Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều hoạt động tích cực để từng bước kiểm soát tình hình ô nhiễm trên hệ thống sông Cầu

1.6.3 Khu vực lấy mẫu

Trang 35

Trên cơ sở khảo sát thực địa, chúng tôi thấy rằng đoạn sông Cầu đi qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên có địa hình tương đối phức tạp, nhiều ghềnh đá và độ dốc tương đối lớn gây khó khăn cho việc lắng tụ trầm tích Kết quả khảo sát cho thấy chỉ đoạn sông chảy qua thành phố Thái Nguyên bắt đầu từ cầu Gia Bảy đến đập Ba Đa là có trầm tích, còn phần lưu vực sông Cầu đoạn phía trên (tiếp giáp với Bắc Kạn) và phía dưới thành phố Thái Nguyên (tiếp giáp với Sóc Sơn và Bắc Giang ) địa hình chủ yếu là ghềnh đá, cát sỏi hầu

như không có trầm tích

Đoạn sông trên là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và nhà máy lớn của thành phố Thái Nguyên như cụm công nghiệp Cao Ngạn, Sơn Cẩm, khu gang thép Thái nguyên… cũng như một lượng lớn dân cư và các bệnh viện Vì vậy tình hình ô nhiễm hiện nay rất đáng lo ngại

Hình 1.3 Bản đồ nguồn thải khu vực thành phố Thái Nguyên ( Nguồn tổng cục môi trường, cổng thông tin môi trường sông Cầu [27])

Việc phân tích dạng của một số kim loại Cu, Pb, Zn, Cd trong một số cột trầm tích

mà đề tài chúng tôi đặt ra sẽ góp phần nhìn rõ hơn bức tranh tổng thể về tình hình ô nhiễm môi trường trên hệ thống sông Cầu trong những năm qua

Trang 36

Chương 2: THỰC NGHIỆM

2.1 Đối tượng nghiên cứu

3 cột trầm tích lấy trên lưu vực sông Cầu đoạn đi qua Thành phố Thái Nguyên kí hiệu là SC01, SC02 và SC03

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tối ưu hóa điều kiện đo phổ hấp thụ nguyên tử của Cu, Pb, Zn, Cd

- Xây dựng đường chuẩn để xác định Cu, Pb, Zn, Cd

- Đánh giá độ chính xác của phương pháp

- Phân tích xác định hàm lượng tổng của Cu, Pb, Zn, Cd

- Phân tích định lượng các dạng trao đổi (F1), dạng liên kết với cacbonat (F2), dạng liên kết với Fe-Mn oxit (F3), dạng liên kết với hữu cơ (F4), dạng cặn dư (F5) theo quy trình chiết liên tục

- Xử lý và đánh giá kết quả thực nghiệm

2.3 Trang thiết bị và hóa chất phục vụ nghiên cứu

2.3.1 Trang thiết bị

1 Hệ thống máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS-3300 của hãng Perkin Elmer ,

có kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa và lò graphit (HGA-600)

2 Cân phân tích chính xác đến 10-5

của hãng Satorius

3 Máy lắc JSOS 500 của hãng JS Research Inc

4 Máy li tâm Multifuge 3S-R, Heraeus

5 Máy đo pH 691 PH Meter Metrolm

Trang 37

10 Cốc thủy tinh, bình định mức, phễu thủy tinh, pipet, giấy lọc

11 Ống ly tâm polyme 50 ml

Các hóa chất đều là loại tinh khiết phân tích của Merck Dụng cụ được ngâm trong dung dịch HNO3 trong 24 giờ, sau đó rửa sạch bằng nước cất

2.3.3 Chuẩn bị hóa chất và dung dịch chuẩn

1 Dung dịch HNO3 20%: pha loãng 337,4g (tương ứng với 241 ml) dung dịch HNO3 65% (d=1,4 g/ml) với 759g (tương ứng với 759 ml) nước cất để thu được 1000ml dung dịch HNO3 20%

2 Dung dịch CH3COOH 25% (v/v): pha loãng 250 ml dung dịch CH3COOH tinh khiết bằng nước cất và định mức đến 1000 ml

3 Dung dịch CH3COONH4 1M: cân chính xác trên cân phân tích 38,500g

CH3COONH4 tinh thể, hòa tan bằng nước cất và định mức đến 500 ml

4 Dung dịch CH3COONH4 1M axit hóa đến pH=5 bằng HOAc: sử dụng máy đo pH điều chỉnh pH đến 5 bằng HOAc

5 Dung dịch CH3COONH4 3,2M trong HNO3 20%: cân chính xác 123,2g

CH3COONH4, sau đó hòa tan bằng dung dịch HNO3 20% và định mức đến 500 ml

6 Dung dịch NH2OH.HCl 0,04M trong CH3COOH 25% (v/v): cân chính xác trên cân phân tích 2,780g NH2OH.HCl sau đó hòa tan bằng dung dịch CH3COOH 25% (v/v) và định mức đến 1000 ml

2.4 Lấy mẫu và bảo quản mẫu

Trang 38

Hình 2.1 vị trí lấy mẫu trầm tích

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu

Mẫu trầm tích được lấy bằng thiết bị chuyên dụng để lấy được toàn bộ lớp trầm tích theo độ sâu, gồm có: ống nhựa PVC, thanh đòn ngang và các quả tạ để gia lực, dây tời để kéo mẫu lên Trầm tích lấy lên được chứa trong các ống nhựa PVC, được bịt kín hai đầu để tránh mất mẫu và xáo trộn mẫu

Hình 2.2 Thiết bị lấy mẫu trầm tích

SC02 SC01

SC03

Trang 39

Hình 2.3 Ống PVC chứa trầm tích

2.4.3 Bảo quản mẫu

Các ống phóng chứa mẫu được bảo quản ở nhiệt độ -4o

C, chuyển về phòng thí nghiệm,

xẻ đôi và để khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng

Sau đó, mỗi ống phóng được chúng tôi chia thành nhiều đoạn mỗi đoạn cao 10 cm Cụ thể chúng tôi đã chia các cột trầm tích SC01 đến SC03 như sau:

Mẫu SC01 được chia làm 8 đoạn kí hiệu tương ứng là 1.1 đến 1.8 với độ sâu tương ứng là:

Trang 40

Mẫu SC02 được chia làm 9 đoạn kí hiệu tương ứng là 2.1 đến 2.9 với độ sâu tương ứng là:

2.5.2 Quy trình phân tích hàm lượng tổng kim loại

Cân 1g mẫu khô cho vào cốc thủy tinh 50 ml, cho thêm 20 ml hỗn hợp cường thủy (HNO3:HCl = 1:3), giữ ở nhiệt độ phòng, sau đó đun trên bếp cách cát ở 80oC đến gần cạn Tiếp tục thêm 10 ml hỗn hợp cường thủy, đun đến khi gần cạn và thu được cặn trắng Để nguội, định mức bằng nước cất đến 25 ml rồi tiến hành lọc lấy dung dịch chứa kim loại

Hàm lượng các kim loại được xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử dùng kỹ thuật ngọn lửa (F-AAS) đối với các kim loại Cu, Pb, Zn, còn kim loại

Cd dùng kỹ thuật không ngọn lửa (GF-AAS)

2.5.3 Quy trình phân tích dạng kim loại

Các dạng của kim loại được chiết theo quy trình chiết liên tục cải tiến của Tessier (Vũ Đức Lợi, 2010) [6]

Ngày đăng: 06/12/2020, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w