TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Thị Phương NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SẮC KÝ KHÍ KHỐI PHỔ GC-MS XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG DIOXIN TR
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Phương
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SẮC KÝ
KHÍ KHỐI PHỔ (GC-MS) XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG DIOXIN
TRONG MỘT SỐ LOẠI ĐẤT KHU VỰC SÂN BAY BIÊN HÕA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Phương
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SẮC KÝ KHÍ
KHỐI PHỔ (GC-MS) XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG DIOXIN TRONG MỘT
SỐ LOẠI ĐẤT KHU VỰC SÂN BAY BIÊN HÕA
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60440118
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân
tích sắc ký khí khối phổ (GC-MS) xác định hàm lượng Dioxin trong một số
loại đất khu vực sân bay Biên Hòa” là công trình nghiên cứu của bản thân
Tất cả những thông tin tham khảo dùng trong luận văn lấy từ các công trình
nghiên cứu có liên quan đều được nêu rõ nguồn gốc trong danh mục tài liệu
tham khảo Các kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Trung đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm thực nghiệm cũng
như hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Đại tá PGS TS Đinh Ngọc Tấn; Đại tá
ThS Nguyễn Trọng Dân; Đại tá TS Phạm Văn Âu; Đại úy ThS Trần Đức
Hùng cùng các cán bộ phòng Công nghệ xử lý môi trường và cán bộ Viện
Hóa học – Môi trường Quân sự đã luôn quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ và
đóng góp nhiều ý kiến bổ ích về mặt khoa học để tôi hoàn thành bản luận văn
này
Ngày 18 tháng 02 năm 2014
Nguyễn Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU….……… ……… 1
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 3
1.1 Chất hữu cơ ô nhiễm khó phân hủy dioxin/furan 3
1.1.1 Tổng quan về chất độc dioxin/furan…….……… 3
1.1.2 Hiện trạng ô nhiễm dioxin/furan ở Việt Nam và tác hại của chúng đến môi trường sinh thái, con người.……… ……… 4
1.1.3 Độc tính của dioxin……… 5
1.2 Các phương pháp phân tích hợp chất dioxin/furan……… 6
1.3 Sắc ký khí khối phổ và kỹ thuật ion ……… 8
1.3.1 Giới thiệu về sắc ký khí khối phổ……… 8
1.3.2 Các kỹ thuật ion hóa phổ biến 10
1.3.2.1 Ion hóa hóa học 10
1.3.2.2 Ion hóa va chạm electron 10
1.3.2.3 Ion hóa trường……… 12
1.3.2.4 Ion hóa bằng bắn phá ion……… ……… 12
1.3.2.5 Ion hóa bằng bắn phá nguyên tử nhanh (FAB)……… 12
1.3.2.6 Giới thiệu về phương pháp ion hóa hóa học, ion âm (NCI)…… 13
1.3.3 Bộ phân tích khối…… ……… …… 14
CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM……… 16
2.1 Thiết bị, vật tư, hóa chất……….……… 16
2.1.1 Hóa chất, vật tư……… 16
2.1.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm……… 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 18
2.2.1 Thiết lập điều kiện phân tích sắc ký khí……… 18
2.2.2 Thiết lập điều kiện làm việc của detector khối phổ………….…… 18
2.2.2.1 Phương pháp chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa
Trang 62.2.2.2 Phương pháp chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa hóa
học, ion âm……… ……… 19
2.2.3 Tối ưu hóa các điều kiện phân tích với GC-MS/NCI ……… 19
2.2.3.1 Xác định tác nhân ion hóa trung gian tối ưu……… 19
2.2.3.2 Xác định lưu lượng khí tác nhân ion hóa tối ưu……… 20
2.2.3.3 Xác định nhiệt độ tối ưu của nguồn ion……… 20
2.2.4 Đánh giá hiệu suất thu hồi của quá trình xử lý mẫu ……… 21
2.2.4.1 Tóm tắt quy trình xử lý mẫu phân tích các chất dioxin/furan… 21 2.2.4.2 Khảo sát thời gian chiết cần thiết của quá trình chiết soxhlet … 21 2.2.4.3 Đánh giá hiệu suất thu hồi quá trình làm sạch bằng cột silicagel đa lớp….21 2.2.4.4 Đánh giá hiệu suất thu hồi quá trình làm sạch bằng cột than… 22
2.2.5 Đánh giá khả năng phân tích các hợp chất dioxin/furan ………… 22
2.2.5.1 Giới hạn phát hiện……… 22
2.2.5.2 Đánh giá độ lặp lại 22
2.2.5.3 Độ tái lặp 22
2.2.6 Ứng dụng phương pháp phân tích, phân tích mẫu thực lấy tại sân bay Biên Hòa 23
2.2.6.1 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng…… ……… 23
2.2.6.2 Phương pháp lấy mẫu……… ……… 24
CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 26
3.1 Thiết lập điều kiện phân tích sắc ký khí……… 26
3.2 Chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa hóa học, ion âm (Tuning NCI)……….……… 27
3.3 Nghiên cứu lựa chọn khí tác nhân ion hóa trung gian tối ưu 29
3.4 Nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn lưu lượng tối ưu của khí ion hóa trung gian 31
3.5 Nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn nhiệt độ làm việc tối ưu của nguồn ion 34
3.6 Đánh giá hiệu suất thu hồi của quá trình chuẩn bị mẫu 38
Trang 73.6.1 Khảo sát thời gian chiết cần thiết của quá trình chiết soxhlet…… 39
3.6.2 Hiệu suất thu hồi của quá trình làm sạch với cột silicagel đa lớp… 40 3.6.3 Hiệu suất thu hồi của quá trình làm sạch với cột carboxen 2 lớp… 43 3.7 Đánh giá khả năng phân tích các hợp chất dioxin/furan……… 46
3.7.1 Giới hạn phát hiện 47
3.7.2 Đánh giá độ tuyến tính và khoảng tuyến tính của phương pháp 50
3.7.3 Độ chụm của phương pháp……… 52
3.7.3.1 Độ lặp lại……… 52
37.3.2 Độ tái lặp 54
3.7.4 Đánh giá độ đúng của phương pháp 57
3.8 Áp dụng phương pháp phân tích để phân tích mẫu lấy tại sân bay Biên Hòa 59
3.8.1 Danh sách mẫu phân tích 59
3.8.2 Tính toán kết quả phân tích 60
3.8.3 Kết quả phân tích thu được 62
3.8.4 Đánh giá độ sai lệch so với mẫu đối chứng 66
3.8.5 Đánh giá sơ bộ về hiện trạng ô nhiễm dioxin 67
KẾT LUẬN……… ……… ……….… 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO…… ……… 71
PHỤ LỤC……… ……….……… 74
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GC-MS/EI Sắc ký khí khối phổ, ion hóa bằng va chạm điện tử
GC-MS/NCI Sắc ký khí khối phổ, ion hóa hóa học, ion âm
ECD Detector cộng kết điện tử
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Ái lực proton của một số tác nhân ion hóa trung gian 13
Bảng 2.1 Danh sách 17 chất thuộc nhóm dioxin/furan và nồng độ
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của lưu lượng metan lên áp suất buồng ion 31
Bảng 3.3 Điều kiện tối ưu phân tích các chất dioxin/furan bằng kỹ thuật
thuậtGC-47
Bảng 3.6 Tỷ lệ tín hiệu/nhiễu khi phân tích 17 đồng phân của
dioxin/furan ở các nồng độ khác nhau bằng kỹ thuật MS/EI và GC-MS/NCI
GC-48
Bảng 3.7 Khoảng tuyến tính và hệ số hồi quy tuyến tính R2
khi phân tích nhóm dioxin/furan bằng kỹ thuật GC-MS/NCI 51 Bảng 3.8 Danh sách mẫu phân tích hàm lượng dioxin lấy tại sân bay
Bảng 3.9 Kết quả phân tích hàm lượng dioxin lấy tại sân bay Biên Hòa 64
Bảng 3.10 Kết quả tính độ sai lệch so với mẫu phân tích đối chứng 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang Hình 1.1 Công thức cấu tạo của các chất thuộc nhóm dioxin/furan 3
Hình 1.2 Sơ đồ nguyên lý của detector khối phổ 9
Hình 1.3 Hình ảnh sơ đồ khu vực ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa 17
Hình 3.1 Sắc ký đồ thu được khi kiểm tra độ phân giải của sắc ký ứng với
“dioxin GC method”
26
Hình 3.2 Ảnh hưởng của EMV tới chiều cao peak và Tỷ lệ S/N 28
Hình 3.3a Ảnh hưởng của khí ion hóa trung gian tới diện tích pic của 16
Hình 3.4 Ảnh hưởng của phần trăm lưu lượng khí tác nhân ion hóa trung
gian lên diện tích peak của các dioxin/furan
Hình 3.8 Sắc ký đồ của 17 đồng phân dioxin/furan 37
Hình 3.9 Sơ đồ quá trình xử lý mẫu phân tích dioxin/furan trong đất và trầm
tích
38
Hình 3.10 Sắc đồ của mẫu có nồng độ 1000ppt được chiết tiếp sau 48giờ 39
Hình 3.11 Sắc đồ của mẫu có nồng độ 2.000.000ppt được chiết tiếp 48 giờ 40
Hình 3.12 Cấu tạo của cột Silicagel đa lớp của hãng Supelco 41
Hình 3.13 Sắc đồ của mẫu chuẩn có nồng độ 100pg/µl trước khi qua cột
Trang 11Hình 3.14 Sắc đồ của mẫu chuẩn có nồng độ 100pg/µl sau khi qua cột
Silicagel
43
Hình 3.15 Cấu tạo của cột Carboxen 2 lớp của hãng Supelco 44
Hình 3.16 Sắc đồ của mẫu chuẩn có nồng độ 100pg/µl sau khi qua cột
Carboxen
46
Hình 3.18 Kết quả phân tích dioxin/furan 5 lần liên tiếp 53
Hình 3.19 Sự suy giảm hàm lượng oxy và hơi nước trong buồng ion theo thời
Hình 3.22 So sánh kết quả phân tích dioxin/furan với hàm lượng chuẩn 58
Hình 3.23 Sơ đồ quy trình chuẩn bị mẫu tại Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga 63
Hình 3.24 Sắc đồ phân tích dioxin/furan trong mẫu CD.3.4.1 65
Hình 3.25 Sắc đồ phân tích dioxin/furan trong mẫu CD.6.7.1 65
Hình 3.26 Sắc đồ phân tích dioxin/furan trong mẫu XY.20.21.2 66
Trang 12MỞ ĐẦU
Hậu quả của cuộc chiến tranh da cam do quân đội Mỹ để lại trên chiến
trường Việt Nam cho đến hôm nay còn rất nặng nề, một thảm họa da cam chưa từng
có trong lịch sử loài người Việt Nam là nước có các vùng nhiễm dioxin cao nhất
trên thế giới Đặc biệt là những “điểm nóng” có hàm lượng chất dacam/dioxin vượt
xa giới hạn cho phép như tại sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát…[2,3]
Cơ Quan Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (US EPA) đã có những định nghĩa khác
nhau về nhóm chất dioxin Theo định nghĩa ngày 12/6/2001, nhóm chất dioxin là
một tập hợp của 29 hợp chất gây nhiều tác động sinh hóa lên thú vật gồm 7 chất
PCDD, 10 hợp chất PCDF, và 12 chất PCB tương tự dioxin
Theo các nhà khoa học châu Âu, nhóm chất dioxin đã được nhìn rộng ra xa
hơn nữa, gồm có tất cả 210 hóa chất trong nhóm dibenzo-p-dioxin, dibenzofuran, và
209 chất trong nhóm PCB Trong số 210 hợp chất của PCDD và PCDF, chỉ có 17
chất thế clo ở các vị trí 2,3,7,8 được xem là độc hại hơn cả Vì vậy, chúng được gọi
là 17 chất đồng loại độc dioxin/furan Để phân tích nồng độ, hay ước lượng định
mức hấp thụ hàng ngày cho con người, các nhà hóa học thường dùng chỉ số “độ độc
tương đương” (toxicity equivalence – TEQ) để chỉ lượng dioxin trong máu hay sữa
mẹ Thí dụ khi nói 1ng TEQ có nghĩa là hỗn hợp dioxin hiện diện trên tương đương
với 1ng 2,3,7,8-TCDD [1, 2]
Theo kết quả của các nhà dịch tễ học thuộc Đại học Columbia (New York)
kéo dài hơn 3 năm, công bố trên tập san Nature ngày 17/4/2003, bộ 422, trang
681-687 với tựa đề “The extent and patterns of usage of Agent Orange other herbicides
on Vietnam” Trong khoảng 10 năm từ 1961-1971, Mỹ đã phun rải ở Miền Nam
Việt Nam 76.9 triệu lít hóa chất, trong đó có khoảng 64% là chất độc da cam (hay
49,3 triệu lít), một hàm lượng dioxin tương đương 366kg 2,3,7,8 - TCDD (trong khi
đó khoảng 30kg dioxin thải ra môi trường sẽ để lại di chứng cho sức khỏe và sinh
sản 30 năm sau, chỉ cần 80g tan trong hệ thống cấp nước có thể tiêu diệt một thành
phố 8 triệu dân) Trong đó, sân bay Biên Hòa là một căn cứ chính của chiến dịch
Trang 13và 16.000 thùng chất xanh (US DOD report, 2007) Hơn 11.000 thùng chất diệt cỏ
đã được vận chuyển ra khỏi sân bay Biên Hòa trong chiến dịch Pacer Ivy vào năm
1970 Các nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm dioxin tại Biên Hòa là rất
cao [3, 20, 21] Như vậy, việc phân tích phát hiện nồng độ của dioxin trong môi
trường là rất cần thiết…
Tuy nhiên, việc phân tích các chất dioxin ở nước ta còn nhiều khó khăn, đặc
biệt hạn chế trong việc phân tích các mẫu có hàm lượng siêu vết Với mục tiêu
nghiên cứu thiết lập kỹ thuật phân tích hàm lượng dioxin trong mẫu đất, Luận văn
đã thực hiện nghiên cứu, khảo sát, tìm các điều kiện tối ưu phân tích hàm lượng 17
đồng loại độc dioxin/furan trong mẫu đất trên máy sắc ký khí phân giải cao - khối
phổ phân giải thấp, dùng nguồn ion hóa va chạm điện tử (EI) Đông thời, nghiên
cứu ứng dụng kỹ thuật ion hóa hóa học, ion âm (CI) Phương pháp này được xây
dựng dựa trên tài liệu gốc là tài liệu “phương pháp EPA 8280b - phân tích dioxin và
furan bằng sắc ký khí phân giải cao kết hợp với detector khối phổ phân giải thấp”
do Cục Bảo vệ môi trường Mỹ ban hành
Hiện nay, trên thế giới đã phát triển và sử dụng sắc ký khí phân giải cao kết
hợp với detector khối phổ phân giải cao để phân tích dioxin/furan Tuy nhiên, do
điều kiện PTN, chưa có máy sắc ký khí khối phổ phân giải cao và mức độ ô nhiễm
dioxin ở sân bay Biên Hòa là khá cao nên đề tài định hướng nghiên cứu, khai thác,
sử dụng hiệu quả hơn các thiết bị sắc ký khí khối phổ phân giải thấp hiện có tại
phòng thí nghiệm, dùng ngưồn ion hóa hóa học, ion âm (CI) giúp phát huy tốt năng
lực phân tích, nhằm đáp ứng nhu cầu phân tích dioxin trong tình hình hiện nay
Trang 14CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 1.1 CHẤT HỮU CƠ Ô NHIỄM KHÓ PHÂN HỦY DIOXIN/FURAN
1.1.1 Tổng quan về chất độc dioxin/furan
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn
tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh
vật khác Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này,
dioxin có 75 đồng loại độc PCDD (polychlorodibenzo-p-dioxin) và 135 đồng loại
độc PCDF (polychlorodibenzofuran) với độc tính khác nhau [16]
Dioxin (PCDDs) và furan (PCDFs): là các hoá chất độc hại nhất hiện nay, có
cấu trúc phân tử tổng quát trên hình 1.1 [23] Chúng được tạo ra không chủ định do
sự đốt cháy không hoàn toàn một số nhiên liệu cũng như trong quá trình sản xuất
một số loại thuốc bảo vệ thực vật và các hoá chất khác Ngoài ra, một số hình thức
tái chế kim loại, nghiền và tẩy trắng giấy cũng có thể sinh ra các dioxin Các chất
này còn có trong khí thải động cơ, khói thuốc lá và khói than
Đồng loại độc độc nhất trong họ các chất dioxin/furan là
2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD) Ở điều kiện thường 2,3,7,8-TCDD ở
thể rắn, rất bền vững trong môi trường, ít bị phân huỷ do các yếu tố bên ngoài như
nhiệt độ, độ ẩm, tia cực tím và các hoá chất
2,3,7,8-TCDD hầu như không tan trong nước (0.2g/l) và tan trong một số
dung môi hữu cơ (MeOH 10mg/l; Metanol 48mg/l; Axeton 118; Benzen 500mg/l)
LD50 (Liều lượng gây chết) : 70(mg/kg)
Hình 1.1: Công thức cấu tạo của các chất thuộc nhóm dioxin/furan
Trang 15Nhiệt nóng chảy : 305 0
C Nhiệt độ sôi tại 760 mmHg : 421 0C
Nhiệt độ phân hủy : 8000C đến 10000C
Chu kỳ bán phân hủy của dioxin từ 3-5 năm và có khả năng lên tới 12 năm
Độ bền vững của dioxin đã được xác định theo chu kỳ bán hủy (thời gian
dioxin tự phân hủy một nửa khối lượng) Nhưng chu kỳ bán hủy của dioxin trong
thực tế còn nhiều tranh cãi
Theo D.Pautenbach và R.Puri, trên lớp đất bề mặt, chu kỳ bán hủy của
dioxin dao động từ 9-25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn là 25-100 năm, theo Hội
nghị quốc tế tại TPHCM là 5-7 năm
Ở Việt Nam, một lượng lớn dioxin do không lực Hoa kỳ đã rải xuống chiến
trường miền Nam thời kỳ chiến tranh giai đoạn 1961-1972 trong chiến dịch
Ranch-Hand Tác động của dioxin có nguồn gốc trong chiến tranh đã gây nên hậu quả
nghiêm trọng đối với sức khoẻ con người và môi trường Việt Nam trong mấy chục
năm qua và còn tiếp tục lâu dài trong thế kỷ XXI [5, 23]
1.1.2 Hiện trạng ô nhiễm dioxin/furan ở Việt Nam và tác hại của chúng đến
môi trường sinh thái, con người
Nước ta bị ô nhiễm bởi một lượng lớn chất diệt cỏ do Mỹ sử dụng tại chiến
trường Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1972 gồm ba loại chất chính: chất da cam
(50% n-butyl 2,4-D và 50% n-butyl 2,4,5-T), chất xanh lá cây (n-butyl 2,4,5-T),
chất xanh da trời (gồm 65% Cacodylic Axit và 35% là muối hữu cơ clo) và chất
trắng (4-amino-3,5,6-trichloropicolinic axit) Trong đó, chất da cam có chứa sản
phẩm phụ là các chất dioxin/furan, có độc tính cao và nguy hiểm nhất mà loài người
từng biết đến, hiện còn tồn tại một lượng lớn trong môi trường đất tại các điểm
nóng thuộc 3 sân bay: Đà Nẵng, Biên Hoà và Phù Cát [3, 5]
Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã
công bố 2,3,7,8-TCDD là chất gây ung thư nhóm 1 Đồng thời, tháng 1 năm 2001,
Hội nghị Độc học Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm “các chất gây ung
Trang 16thư cho người” Cuối cùng, trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà
khoa học cũng khẳng định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng
dioxin mà dưới nó thì không gây ung thư Điều này có thể hiểu là nếu một người
phơi nhiễm dioxin dù lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư
Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy hiểm khác
như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không Hodgkin,
thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ, đẻ
trứng (ở nữ) [5]
Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ thể người, động vật
vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết Thông thường, dioxin gây độc tế bào thông
qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratecarbon thơm có tên là AhR
(Arylhydrocarbon Receptor) Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kết hợp với protein vận
chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân tế bào Tại
đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế bào như Cyp1A,
Cyp1B,… Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin làm tăng nồng
độ các gốc ion tự do trong tế bào Điều này, có thể là làm phá huỷ các cấu trúc tế
bào, các protein quan trọng và quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột biến trên phân
tử ADN [3, 5]
Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề chính sách được đưa
ra trong Hội nghị Quốc tế về dioxin tổ chức tại Berlin 2004, nhóm tác giả đến từ
Cục Môi trường Liên bang Đức (Federal environmental agency) đã đưa ra kiến nghị
không có mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép Theo WHO
2002 thì mức phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg
đương lượng độc (TEQ)/ngày [5]
1.1.3 Độc tính của Dioxin
Một số nghiên cứu về tiêu chuẩn liều lượng dioxin [2] cho thấy dioxin là 1
trong những hóa chất độc nhất được biết đến hiện nay trong khoa học Trong bản
báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) năm 1994 đã miêu tả
Trang 17dioxin như là một mối tác nhân đe doạ nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng EPA
đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con người
Viện Hàn lâm khoa học Mỹ đã chấp nhận có ít nhất 13 bệnh liên quan đến
dioxin
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định liều cho phép của dioxin là:
- 1 - 4 pg cho 1 kg trọng lượng cơ thể trong một ngày đêm (phần nghìn tỷ
gram)
- Một người có trọng lượng là 50 kg thì liều cho phép trong một ngày đêm tối
đa là 50-200 pg
Mỹ còn đánh giá dioxin độc hại lớn hơn nên liều cho phép của cơ quan bảo vệ
môi trường Mỹ (EPA) là 0,006 pg, bé hơn 160 lần so với liều cho phép của Tổ chức
Y tế thế giới
1.2 Các phương pháp phân tích các hợp chất dioxin/furan
Nhóm chất hữu cơ ô nhiễm khó phân dioxin/furan có số lượng đồng loại độc
rất lớn, chúng chỉ khác nhau ở số nguyên tử clo hoặc thậm chí chỉ khác nhau ở vị trí
nguyên tử clo đính vào vòng thơm, do đó, trong quá trình phân tích trên sắc ký khí,
để tách được các đồng loại độc này một cách hiệu quả nhất thì mỗi nhóm chất cần
có điều kiện phân tích riêng, với nhóm chất dioxin/furan là nhóm chất có các đồng
loại độc rất khó phân tách
Tuy nhiên, các nước trên thế giới hết sức quan tâm, đặc biệt Cộng hòa liên
bang Đức là một trong những nước đi đầu về lĩnh vực này Các phòng thí nghiệm
hiện đại của CHLB Đức như Viện môi trường Bayrouth, Viện vệ sinh an toàn thành
phố Freigburg, Berlin, cơ quan bảo vệ môi trường Đức,… đã nghiên cứu và xây
dựng một số các quy trình phân tích dioxin và các đồng loại độc trên thiết bị phân
tích sắc ký khí, sắc ký khí khối phổ Hiện nay, các quy trình phân tích dioxin trên
máy sắc ký khí khối phổ có độ phân giải cao, độ phân giải thấp đã được áp dụng
phổ biến trên thế giới
Trang 18- Method 23: phân tích dioxin trong khí thải
- TO-9: phân tích, quan trắc dioxin trong không khí xung quanh
- Phương pháp EPA 1613 cho phân tích dioxin và furan trong nước thải, sử
dụng thiết sắc ký khí có độ phân giải cao cùng với khối phổ độ phân giải cao
- Một số phương pháp phân tích dioxin trong đất, nước được phát triển bởi
cơ quan bảo vệ môi trường Hoa kỳ US EPA như : 8280a, 8280b, 8290, 1613…
trong đó 8280b là phương pháp phân tích được áp dụng cho máy sắc ký khí khối
phổ phân giải thấp
Ở nước ta, hiện nay chưa có một phương pháp tiêu chuẩn để phân tích các
chất dioxin/furan mà chỉ có một số tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành về phân
tích các thuốc bảo vệ thực vật và PCB trong các đối tượng mẫu
Hiện nay, nước ta đã chú trọng đầu tư cho việc phân tích hàm lượng
dioxin/furan và có một số cơ sở đã phân tích xác định hàm lượng nhóm chất
dioxin/furan đó là:
- Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga/Bộ Quốc phòng;
- Phòng phân tích của Ban 10-80 thuộc Bộ Y tế
- Trung tâm Dịch vụ Phân tích thí nghiệm TP Hồ Chí Minh
- Phòng thí nghiệm dioxin – Trung tâm Quan trắc môi trường
Song song với các phương pháp phân tích đã được tiêu chuẩn hóa nêu trên,
có rất nhiều các công trình nghiên cứu nhằm hạ thấp hơn nữa giới hạn phân tích các
chất dioxin/furan bằng kỹ thuật ion hóa học, ion âm như:
Công bố của Hans-Rudolf Buser và các đồng nghiệp về kết quả phân tích các
chất dioxin/furan bằng sắc ký khí khối phổ, ion hóa hóa học, ion âm (GC-MS/NCI)
trên tạp chí Environmental Health Perspective [16]
Nhìn chung, các phương pháp, tiêu chuẩn phân tích trên chỉ sử dụng sắc ký
khí kết hợp với detector cộng kết điện tử (ECD) nên giới hạn phát hiện của phương
pháp còn nhiều hạn chế, giới hạn phân tích thấp nhất chỉ đạt đến cỡ hàng chục ppb
Trang 19Để hạ thấp hơn giới hạn phân tích của phương pháp, các tác giả Nguyễn Văn
Thới và GS, TSKH Chu Phạm Ngọc Sơn đã nghiên cứu thành công và công bố kết
quả áp dụng khối phổ dùng nguồn ion hóa hóa học, ion âm (MS/NCI) để phân tích
một số loại thuốc bảo vệ thực vật họ cơ clo và cơ phospho Nghiên cứu này chứng
minh được lợi thế của kỹ thuật MS/NCI trong phân tích các chất hữu cơ có chứa
clo, giới hạn phân tích định lượng có thể đạt tới cỡ vài ppb [4]
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu sử dụng phương pháp khối phổ
dùng nguồn ion hóa va chạm điện tử (EI) nên giới hạn phân tích còn hạn chế Một
số công trình nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật ion hóa hóa học, ion âm (NCI) để hạ
thấp hơn nữa ngưỡng phân tích so với kỹ thuật EI Nhìn chung phương pháp NCI áp
dụng để phân tích các chất hữu cơ chứa clo nhạy hơn EI nhưng lại phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện ion hóa như: áp suất, nhiệt độ, loại khí làm tác nhân ion hóa
trung gian…[9, 11, 13, 28, 29] Các nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật NCI trên chỉ
đưa ra các điều kiện ion hóa mà không đề cập, hay phân tích điều kiện ion hóa tối
ưu cho NCI, do đó kết quả nghiên cứu đưa ra chỉ mang tính chất thăm dò ban đầu,
chưa thật sự thấy rõ được những ưu, nhược điểm cụ thể của phương pháp NCI để từ
đó có thể nghiên cứu, áp dụng để phát triển thành phương pháp chính thống Để xây
dựng phương pháp phân tích hiệu quả hàm lượng vết các hợp chất dioxin/furan,
trong luận văn này, kỹ thuật GC-MS/NCI sẽ được nghiên cứu cụ thể áp dụng cho
phân tích trong phòng thí nghiệm
Viện Hóa học – Môi trường quân sự là một đơn vị đã và đang giữ trọng trách
trong việc xử lý đất nhiễm dioxin, do đó, nhu cầu nghiên cứu phương pháp phân
tích dioxin 8280b để áp dụng phân tích các mẫu đất nhiễm càng trở nên cấp thiết
Việc phân tích này giúp chúng ta chủ động nắm bắt, đánh giá mức độ nhiễm trên cơ
sở đó điều chỉnh công nghệ thi công hợp lý, hiệu quả hơn
1.3 Sắc ký khí khối phổ và kỹ thuật ion hóa
1.3.1 Giới thiệu về sắc ký khí khối phổ
Trang 20Gas Chromatography Mass Spectometry (viết tắt là GC-MS hoặc GCMS,
thường gọi là phương pháp sắc ký khí kết hợp với khối phổ) là một phương pháp
phân tích hiệu quả với độ nhạy cao được sử dụng trong các nghiên cứu về thành
phần các chất hữu cơ bay hơi và bán bay hơi Bản chất GC-MS, đúng như tên gọi
của nó, là sự kết hợp của sắc ký khí (Gas Chromatography) và khối phổ (Mass
Spectometry) Khối phổ đóng vai trò như một detector “vạn năng” kiểu như
detector ion hóa ngọn lửa (FID), nhưng khác với detector thông thường chỉ định
danh chất bằng chỉ số thời gian lưu Detector khối phổ có thể định danh chính xác
hơn nhờ các mảnh phổ đặc trưng thu được Nguyên lý chung của một detector khối
phổ được miêu tả ở hình 1.2 [6]
Cơ sở của phương pháp phổ khối lượng là sự bắn phá các hợp chất hữu cơ ở
thể khí, trung hòa về điện tích thành các ion phân tử mang điện tích âm hoặc dương
hoặc thành các mảnh ion, các gốc bằng phần tử năng lượng cao Sự phân mảnh này
phụ thuộc cấu tạo chất, phương pháp bắn phá (ion hóa) và năng lượng bắn phá
Detector khối phổ sử dụng các phương pháp ion hóa, phương pháp tách khối
khác nhau, mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm nhất định Phân loại theo
phương pháp ion hóa ta có: ion hóa hóa học, ion dương (PCI), ion hóa hóa học, ion
âm (NCI), ion hóa va chạm điện tử (EI), ion hóa bằng trường điện từ, ion hóa bằng
bắn phá nguyên tử nhanh (FAB)…
Hình 1.2 : Sơ đồ nguyên lý của thiết bị Sắc ký khí khối phổ
Phân loại theo phương pháp tách khối ta có: tách khối bằng thanh tứ cực
Trang 21khối bằng bẫy ion (ion trap), tách khối bằng từ trường dẻ quạt (sector magnetic) ,
tách khối bằng thời gian bay (time of fly)
Dựa vào các kỹ thuật tách khối có thể chia detector khối phổ thành 2 loại:
phân giải cao và phân giải thấp
Người ta có thể kết hợp các kỹ thuật ion hóa, kỹ thuật lọc khối để chế tạo ra
các thiết bị đặc trưng riêng, ứng dụng trong các lĩnh vực: hóa học, sinh học…
Sự kết hợp giữa ion hóa va chạm điện tử với bộ tách khối bằng thanh tứ cực
được ứng dụng phổ biến nhất vì thiết bị không quá phức tạp, chất lượng phổ thu
được tương đối ổn định, độ nhạy tương đối cao (đạt đến mức picro gam) Người ta
đã xây dựng hệ thống thư viện phổ chuẩn đơn chất EI/MS tương đối rộng giúp định
danh chất không cần chất chuẩn như thư viện NIST, thư viện Willey có số lượng
đến vài trăm nghìn đơn chất
1.3.2 Các kỹ thuật ion hóa phổ biến
1.3.2.1 Ion hóa hóa học
Đây là phương pháp cho dòng phân tử khí trung gian va chạm với dòng ion
dương hoặc âm để biến khí trung gian này thành các ion phân tử hay ion mảnh,
chính các ion này lại được sử dụng như nguồn ion để ion hóa mẫu phân tích ở dạng
khí Các khí ion hóa trung gian thường được sử dụng là: NH3, H2, CH4, C4H10…
Phương pháp ion hóa hóa học thường có năng lượng thấp hơn, nên sản phẩm
ion hóa của khí phân tích hầu hết chứa ion phân tử, do đó thường áp dụng phương
pháp này để xác định khối lượng phân tử của mẫu khí cần phân tích
1.3.2.2 Ion hóa va chạm electron
Đây là phương pháp phổ biến, được áp dụng rộng rãi, sinh ra phổ tương đối
ổn định ở mỗi năng lượng ion hóa Dòng khí phân tích trong buồng ion hóa bị các
electron sinh ra từ sợi đốt chuyển động vuông góc với dòng chuyển động của phân
tử khí, phá vỡ cấu trúc của phân tử khí phân tích thành các mảnh ion Các mảnh ion
này được chọn lọc theo điện tích (âm hoặc dương) rồi được gia tốc bằng điện
trường trước khi vào bộ lọc
Trang 22Các phân tử khí đi vào nguồn ion hóa bằng va chạm electron và bị bắn phá
bởi các electron có năng lượng động học khoảng 70 eV Năng lượng này đủ lớn để
ion hóa các phân tử (M + e →M+ + 2e) và phá vỡ chúng thành những mảnh vỡ nhỏ
hơn
Một thế hiệu dương nhỏ ở đĩa đẩy (repeller plate) đẩy những ion hướng về
ống phân tích và một thế nhỏ ở các đĩa hội tụ ion (ion focus plates) gia tốc ion giúp
các ion có vận tốc cao bị tống khỏi phần đáy của bộ phận này và đi vào ống phân
tích
Ống phân tích (Analyser tube) được duy trì ở áp suất chân không cao
(khoảng 10-5 Pa) để các ion chuyển động qua ống không bị lệch hướng bởi những
va chạm với các phân tử khí pha động
Các cation di chuyển qua ống phân tích chịu tác động của từ trường đặt
vuông góc với hướng di chuyển của chúng Trường này sẽ hướng các cation về
detector đặt ở cuối ống phân tích
Một khe ở detector chỉ cho những ion trong một khoảng giá trị khối lượng
nhỏ xác định tiếp cận detector Các phân tử có khối lượng không phù hợp va phải
các thành ống hoặc bị loại bỏ bởi khe thoát ion nên không vươn tới được detector
Tại bộ phận thu ion (ion collector), mỗi cation đến bị trung hòa bởi một
electron Dòng điện đòi hỏi để trung hòa chùm ion tỉ lệ với số lượng các ion đến bộ
phận thu ion này
Phổ khối là một đồ thị cho thấy dòng điện như là một hàm của số khối được
chọn bởi từ trường
Phương pháp ion hóa bởi tương tác electron (electron impact ionization) cho
phổ khối có nhiều mảnh vỡ Ion phân tử có thể có hàm lượng thấp thậm chí bị biến
mất
Nếu phân tử lớn thì việc có quá nhiều mảnh vỡ sẽ làm cho việc giải thích
phổ khối của nó gặp nhiều khó khăn Trong trường hợp này các chương trình máy
tính có thể được sử dụng để làm khớp phổ của chất chưa biết này với một phổ khối
Trang 23Năng lượng cấp để ion thường được sử dụng là 70eV Đây là mức năng
lượng đã được quy chuẩn để lập thư viện phổ chuẩn cho các chất hữu cơ vì tại giá
trị này, các chất bị phân mảnh hợp lý nhất [6, 11]
1.3.2.3 Ion hóa trường
Phương pháp này sử dụng một điện trường mạnh để làm bật ra electron từ
phân tử, khi đó ta sẽ thu được ion phân tử mang điện tích dương Đây là phương
pháp rất hiệu quả để xác định khối lượng phân tử của một chất Khi đặt phân tử vào
giữa 2 điện cực với một điện trường mạnh cỡ 107-108 V/cm, nó chịu một lực tĩnh
điện tương tự như ở các tấm tĩnh điện Nếu bề mặt kim loại làm anốt có hình dạng
thích hợp kiểu đầu nhọn hay sợi mỏng và đặt dưới áp suất chân không cao 10
-6mbar, lực này làm bật các electron ra khỏi phân tử
1.3.2.4 Ion hóa bằng bắn phá ion
Sử dụng một dòng ion được bắn ra từ súng bắn ion, bắn thẳng vào mẫu Khi
dòng ion này đập vào mặt mẫu thì các dòng ion thứ cấp sinh ra Nếu mẫu là các đơn
nguyên tử thì các ion thứ cấp sẽ được tách biệt và phát hiện Ion phân tử có thể bị
phân ly thành các ion dương và âm, và được sử dụng để định danh chất Phương
pháp này hiện nay ít được sử dụng do tính hiệu quả thấp
1.3.2.5 Ion hóa bằng bắn phá nguyên tử nhanh (FAB)
Sử dụng khí argon hay xenon được ion hóa bằng sợi đốt, sau đó tăng tốc nhờ
điện trường rồi bắn thẳng vào mẫu Ion Ar+ cung cấp động năng cao và trao đổi điện
tích với dung môi hòa tan mẫu, hình thành nên các ion dung môi Các dung môi
thường được dùng như: glycerin, monothioglicerin… do chúng khó bay hơi trong
điều kiện chân không, nhưng lại dễ hòa tan các chất hữu cơ cần phân tích Dung
môi bị ion hóa sẽ ion hóa các ion của mẫu tương tự như phương pháp ion hóa hóa
học, các ion của mẫu bị ion hóa sẽ được tách ra bởi hệ thấu kính và đi thẳng đến bộ
phận phân tích khối
1.3.2.6 Giới thiệu về phương pháp ion hóa hóa học, ion âm (NCI)
Trang 24Kỹ thuật khối phổ dùng phương pháp ion hóa hóa học, ion âm (NCI) là một
kỹ thuật được dùng rất phổ biến để phân tích mẫu môi trường tại các phòng thí
nghiệm trên thế giới vì NCI có độ chọn lọc cao và rất nhạy với các chất hữu cơ có
chứa nguyên tố thuộc nhóm Halogen như clo, brom, flo
Ion hóa hóa học là cho dòng phân tử khí va chạm với một dòng ion dương
hoặc âm để biến đổi các phân tử trung hòa thành ion phân tử hay ion mảnh
Các ion này được hình thành từ dạng khí làm tác nhân ion hóa trung gian
như: H2, CH4, H2O, CH3OH, i-C4H10, NH3… qua sự ion hóa như bắn phá chúng
bằng một dòng electron mang năng lượng cao Mỗi phân tử khí có thể tạo ra các ion
khác nhau làm tác nhân ion hóa hóa học
Bảng 1.1: Ái lực proton của một số tác nhân ion hóa trung gian
hóa trung gian
Ion trung gian
Ái lực proton Ion hình được thành
Khí nào sinh ra các tác nhân ion hóa hóa học có ái lực proton càng nhỏ thì
khả năng ion hóa càng tốt
Quá trình ion hóa các ion âm cũng diễn ra như sau [16]: Các electron sinh ra
từ sợi đốt filament bị mất năng lượng do quá trình va chạm, ion hóa khí ion hóa
(NH3, CH4, i-C4H10…) và trở thành các electron mang năng lượng thấp (xấp xỉ
0eV) Các electron mang năng lượng thấp này tác dụng với mẫu khí là các chất dễ
dàng nhận thêm electron và hình thành ion phân tử khối mang điện tích âm
Trang 25Một số electron mang năng lượng thấp cỡ từ 0 đến 15eV, nếu năng lượng
này đủ để tiếp tục phân mảnh ion phân tử khối thì sẽ xảy ra quá trình phân mảnh
tiếp để tạo ra các ion khác có số khối thấp hơn
Ngoài 2 quá trình chính xảy ra ở trên, còn xảy ra một số quá trình khác như:
Quá trình ion hóa hóa học, ion âm phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ion hóa
trong buồng ion như: áp suất, nhiệt độ, loại khí làm tác nhân ion hóa trung gian,
hàm lượng oxy… Các điều kiện này gây ảnh hưởng rất lớn đến cường độ các mảnh
phổ thu được, đặc biệt là ion phân tử khối, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến độ nhạy
của phương pháp
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích sắc ký khí khối
phổ (GC-MS) xác định hàm lượng dioxin trong một số loại đất khu vực sân bay
Biên Hòa” sẽ tiến hành nghiên cứu, khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong sử dụng kỹ
thuật khối phổ NCI để từ đó đưa ra điều kiện tối ưu trong phân tích các chất hữu cơ
chứa clo thuộc nhóm chất hữu cơ gây ô nhiễm khó phân hủy dioxin/furan Ứng
dụng phương pháp, phân tích các mẫu đất lấy tại sân bay Biên Hòa, so sánh với
mẫu đối chứng phân tích tại Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga Đồng thời, từ kết quả
phân tích đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa
1.3.3 Bộ phân tích khối
Máy khối phổ nam châm hình quạt thường ít được chọn để ghép nối với sắc
kí bởi vì từ trường không thể thay đổi đủ nhanh để ghi phổ của những dải sắc kí
Trang 26hẹp Loại được sử dụng phổ biến hiện nay để kết nối với sắc kí là máy khối phổ tứ
cực (quadrupole mass spectrometer)
Khi đó mỗi chất đi qua cột sắc kí được tách ra khỏi nhau và tín hiệu thu được
dưới dạng pic Chất đó được dẫn đến buồng ion hóa tương tác electron có áp suất
chân không, tại đây các phân tử chất phân tích bị các electron được gia tốc bắn phá
tạo các ion mảnh vỡ Các ion này lại tiếp tục được gia tốc bởi một thế khoảng
5-15V trước khi đi vào bộ tách theo khối lượng tứ cực (quadupole mass seperator)
Bộ tách gồm 4 thanh kim loại song song với nhau, trong đó một cặp sẽ được
áp vào một thế không đổi và cặp kia một thế hiệu dao động tần số radio Từ trường
được tạo ra làm lệch các hành trình phức tạp khi chúng di chuyển từ buồng ion hóa
hướng đến detector và chỉ các ion nào có tỉ số khối lượng với điện tích (m/z) đã
chọn trước mới tiếp cận với detector Các ion khác va đập vào các thanh kim loại và
bị mất trước khi vươn đến detector
Bằng việc thay đổi nhanh chóng thế áp vào, các ion có khối lượng khác nhau
được chọn lọc để được tiếp cận với detector Các bộ tách khối phổ tứ cực được quét
đủ nhanh để ghi lại đến tám phổ trong một giây với khoảng 800 đơn vị khối
Trang 27CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
2.1 THIẾT BỊ, VẬT TƯ HÓA CHẤT
2.1.1 Hóa chất, vật tư
Sử dụng dãy chất chuẩn gồm 17 đồng loại độc thuộc nhóm các chất
dioxin/furan để nghiên cứu và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy của
Trang 28Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số hóa chất, vật tư khác cho quá trình chuẩn
bị mẫu phân tích các chất dioxin/furan theo phương pháp EPA 8280b bao gồm:
- Na2SO4 (tinh thể, khan): Làm sạch bằng cách nung ở 4000C trong 4h, hoặc
chiết với Dichlor metane Sau khi nung nếu Na2SO4 chuyển thành màu xám
(do sự có mặt của cacbon trong tinh thể nền) thì mẻ Na2SO4 đó không sử
dụng được
- KOH: chuẩn bị dung dịch 5% trong nước không có chất hữu cơ
- Sulfuric axit, đặc: khối lượng riêng 1,84kg/l
- Cột silicagel đa lớp
- Cột than 2 lớp
2.1.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
Nghiên cứu này sử dụng hệ thiết bị phân tích gồm hai phần chính: Thiết bị
sắc ký và detector khối phổ Mỗi phần
có một chức năng riêng nhưng được liên
kết với nhau tạo thành một thiết bị phân
tích hoàn chỉnh Thiết bị sắc ký có chức
năng phân tách ra các chất riêng biệt từ
hỗn hợp mẫu được bơm vào ban đầu và
chuyển vào detector khối phổ
Hệ thống thiết bị sử dụng là máy
sắc kí khí phân giải cao/khối phổ phân
giải thấp: Agilent GC 6890/MSD 5975
gồm hai bộ phận chính:
Trang 29Sắc ký khí: Agilent GC 6890, cột DB-5MS, dài 30m, đường kính trong
0,25m, bề dày film 0,25m
Detector khối phổ: Agilent MSD 5975, Nguồn EI, CI, sử dụng bộ tách khối
bằng thanh tứ cực, detector khối lượng EMS có giải điện áp làm việc từ 700V đến
3000V, chế độ quét toàn dải (SCAN), giám sát ion đơn (SIM) hoặc kết hợp cả 2 chế
độ trên Thư viện phổ NIST 05 Có 163,198 phổ chuẩn EI/MS Ngoài ra thiết bị còn
được trang bị bơm mẫu tự động, thể tích bơm từ 0,2l đến 10l, khay chứa mẫu tối
- Máy chiết Soxhlet
- Các loại dụng cụ thủy tinh, micro pipet…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết lập điều kiện phân tích sắc ký khí
Các chất thuộc nhóm dioxin/furan có cấu trúc và số lượng chất khác nhau
nên khả năng phân tách khi phân tích trên sắc ký rất khác nhau Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, tiến hành nghiên cứu, khảo sát các điều kiện phân tích
khác nhau đối với nhóm các chất dioxin/furan Điều kiện làm việc của sắc ký cho
phân tích nhóm chất được thiết lập dựa trên phương pháp US-EPA 8280b [25]
2.2.2 Thiết lập điều kiện làm việc của detector khối phổ
2.2.2.1 Phương pháp chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa va chạm
điện tử (EI)
Tối ưu hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa va chạm điện tử được tiến
hành dựa vào việc sử dụng 3 ion với số khối khác nhau: 69amu; 219amu và
502amu Các ion này được cung cấp từ chất Perfluorotributylamine, kèm theo thiết
bị Việc tối ưu hóa gồm 3 công đoạn: hiệu chỉnh số khối với độ sai lệch tiêu chuẩn
Trang 30trong khoảng ±0,2amu; Hiệu chỉnh giá trị độ rộng nửa chân pic về giá trị trong
khoảng 0,6 ± 0,1; Hiệu chỉnh điện thế cấp cho detector khối lượng để giá trị chiều
cao tín hiệu trên chiều cao nhiễu là cực đại Việc hiệu chỉnh có thể tiến hành thủ
công hoặc hoàn toàn tự động, sau đó các thông số này được lưu lại để sử dụng trong
suốt quá trình phân tích
Trong luận văn này, tác giả sử dụng chức năng tự động chuẩn hóa có sẵn
trong thiết bị để chuẩn hóa detector khối phổ ở chế độ EI
2.2.2.2 Phương pháp chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa hóa học,
ion âm
Tối ưu hóa detector khối phổ với NCI cần thực hiện 3 bước:
- Bước 1: Tối ưu hóa tự động detector khối phổ với nguồn ion hóa va chạm điện tử
EI đã được đề cập ở phần 2.2.2.1
- Bước 2: Thay nguồn ion va chạm điện tử EI bằng nguồn ion hóa hóa học CI với
khí làm tác nhân ion hóa trung gian là metan Để máy ổn định 8giờ rồi chuẩn hóa
bán tự động ở chế độ ion hóa hóa học, ion dương (PCI) theo trình tự: tối ưu hóa lưu
lượng khí metan, tối ưu hóa detector khối phổ ở chế độ PCI Nếu sử dụng khí ion
hóa trung gian khác khí metan thì phải tối ưu hóa với metan trước, sau đó lựa chọn
khí cần dùng rồi thực hiện lại bước 2 với khí mới
- Bước 3: Tối ưu hóa detector khối phổ với chế độ ion hóa hóa học, ion âm: do tính
chất phức tạp của NCI nên ở chế độ này, người dùng hoàn toàn phải tối ưu hóa thủ
công bằng cách chuyển máy sang chế độ làm việc với ion âm, sau đó thay đổi điện
thế cấp với detector khối lượng EMV và vận hành máy với đối tượng mẫu chất tùy
chọn Trong nghiên cứu này, 2,3,7,8-TCDF được lựa chọn làm đối tượng để chuẩn
hóa, sau đó thu giá trị tín hiệu/nhiễu để so sánh và lựa chọn giá trị của EMV mà tại
đó tỷ lệ tín hiệu/nhiễu (S/N) lớn nhất
2.2.3 Tối ưu hóa các điều kiện phân tích với GC-MS/NCI
2.2.3.1 Xác định tác nhân ion hóa trung gian tối ưu
Quá trình nghiên cứu, khảo sát được thực hiện trên cơ sở thử nghiệm 3 loại
Trang 31nguồn ion đặt ở chế độ mặc định với NCI là 1500C, nhiệt độ thanh tứ cực đặt ở giá trị
mặc định: 1000C, áp suất buồng ion phụ thuộc vào lưu lượng khí ion hóa trung gian,
giá trị này được lựa chọn từ bước 2 tối ưu hóa detector khối phổ với chế độ PCI
Nghiên cứu lựa chọn khí làm tác nhân ion hóa trung gian tối ưu cho phân
tích các chất dioxin/furan bằng cách chọn lần lượt 3 loại khí trên, phân tích dãy
chuẩn với mỗi loại khí, so sánh diện tích pic của các chất thu được để lựa chọn khí
cho độ nhạy tốt nhất Trước khi phân tích dãy chuẩn cần tiến hành chuẩn hóa
detector khối phổ với mỗi loại khí trước để đảm bảo thiết bị đang hoạt động ở chế
độ tốt nhất với loại khí đang sử dụng
2.2.3.2 Xác định lưu lượng khí tác nhân ion hóa tối ưu
Áp suất trong buồng ion gây ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ion hóa hóa học
mẫu chất phân tích Nhưng áp suất này lại phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng khí làm
tác nhân ion hóa trung gian Do đó, tiến hành thay đổi lưu lượng khí này để khảo
sát, lựa chọn lưu lượng khí tối ưu để tại đó detector khối phổ đạt độ nhạy cao nhất
đối với các chất nghiên cứu
Phương pháp tiến hành: chuẩn hóa detector khối phổ ở chế độ NCI với khí
ion hóa trung gian tối ưu đã được lựa chọn từ kết quả nghiên cứu ở mục 2.3.1 Đặt
các giá trị nhiệt độ nguồn ion ở giá trị mặc định là 1500C, tiến hành phân tích lần
lượt cả 3 dãy chuẩn trên với các lưu lượng khí tác nhân ion hóa trung gian khác
nhau: từ 10 đến 70% Dãy chuẩn được phân tích 3 lần ở cùng điều kiện, diện tích
pic trung bình của 3 lần phân tích của từng chất trong dãy ở mỗi điều kiện được thu
thập và so sánh, lựa chọn giá trị lưu lượng khí mà tại đó diện tích pic thu được của
hầu hết các chất cực đại
2.2.3.3 Xác định nhiệt độ tối ưu của nguồn ion
Tương tự như quá trình nghiên cứu, khảo sát lưu lượng khí làm tác nhân ion
hóa trung gian Tối ưu hóa detector khối phổ ở chế độ NCI với khí tác nhân ion hóa
và giá trị lưu lượng tối ưu đã được lựa chọn từ kết quả nghiên cứu trước Thay đổi
nhiệt độ buồng ion: khảo sát với nhiệt độ buồng ion từ 120oC đến 220oC
Trang 32So sánh giá trị diện tích pic mỗi chất tại các nhiệt độ của buồng ion từ đó lựa
chọn nhiệt độ tối ưu trên cơ sở diện tích pic lớn nhất tương ứng độ nhạy detector
cao nhất
2.2.4 Đánh giá hiệu suất thu hồi của quá trình xử lý mẫu
2.2.4.1 Tóm tắt quy trình xử lý mẫu phân tích các chất dioxin/furan
Phương pháp phân tích EPA 8280b hướng dẫn quy trình phân tích hàm
lượng các chất dioxin/furan trong mẫu đất, nước và trầm tích trên máy sắc ký khí
khối phổ phân giải thấp sử dụng nguồn ion hóa va chạm điện tử Quy trình xử lý
mẫu đất và mẫu trầm tích gồm các bước sau:
- Đồng hóa mẫu đất
- Cân 30g mẫu, thêm nội chuẩn
- Chiết soxhlet với 250ml toluen trong 24 giờ với tốc độ hồi lưu của dung
môi là 6-8 lần/giờ
- Cô cạn dịch chiết để chuyển sang dung môi n-hexan
- Rửa dịch chiết bằng axit và bazơ sau đó chiết tách loại bỏ axit, bazơ
- Cho qua cột silicagel đa lớp để loại bỏ các chất gây ảnh hưởng, thu dung
dịch rửa giải cần thiết
- Tiếp tục cho qua cột than 2 lớp, sử dụng dung môi toluen để rửa giải các
chất dioxin/furan ra khỏi cột than 2 lớp
- Dung dịch rửa giải được bổ sung thêm 100l n-Nonan và cô đặc còn 100l,
và phân tích trên máy
2.2.4.2 Khảo sát thời gian chiết cần thiết của quá trình chiết soxhlet
Tiến hành chiết 02 mẫu (30g đất/mẫu) có nồng độ khác nhau, một mẫu có
nồng độ rất lớn (cỡ 2.000.000ppt) và một mẫu có nồng độ cỡ 1000ppt chiết 02 mẫu
này trên máy chiết soxhlet với dung môi Toluen (250ml/mẫu) trong 24 giờ (hồi lưu
từ 6 đến 8 lần/giờ), thu dịch chiết lại Tiếp tục chiết tiếp 02 mẫu đất này thêm 24giờ
nữa bằng dung môi toluene khác Sau 48 giờ chiết ta thu dịch chiết lại, cô đặc còn
1ml và tiến hành phân tích trên máy ở chế độ SIM
Trang 33Cho một lượng chất chuẩn có nồng độ 100pg/μl 2,3,7,8-TCDD qua cột đa
lớp, sau đó thu lại dung dịch qua cột và tiến hành rửa giải để thu hồi phần nhỏ
2,3,7,8-TCDD còn bị giữ lại trong cột Sau đó phân tích trên máy, so sánh kết quả
phân tích thu được của mẫu trước và sau khi đi qua cột
2.2.4.4 Đánh giá hiệu suất thu hồi quá trình làm sạch bằng cột than
Cho một lượng chất chuẩn có nồng độ 100pg/μl 2,3,7,8-TCDD qua cột than
2 lớp, sau đó tiến hành rửa giải để thu hồi 2,3,7,8-TCDD Tiến hành phân tích trên
máy, so sánh kết quả phân tích thu được của mẫu trước và sau khi đi qua cột
2.2.5 Đánh giá khả năng phân tích các hợp chất dioxin/furan
2.2.5.1 Giới hạn phát hiện
Để đánh giá giới hạn phát hiện của phương pháp với 1 chất, cần tiến hành
làm giảm nồng độ chất phân tích đến khi nào pic của chất đấy có giá trị tín
hiệu/nhiễu (S/N) đạt giá trị 2,5 Khi đó, hàm lượng của chất tại thời điểm đấy chính
là giới hạn phát hiện của phương pháp với chất đó
Pha 1 dãy mẫu chuẩn gần với giá trị khuyến cáo của phương pháp phân tích,
tiến hành phân tích và đánh giá kết quả thông qua giá trị tín hiệu/nhiễu (S/N), so với
giá trị 2,5
2.2.5.2 Đánh giá độ lặp lại
Độ lặp lại của phương pháp được đánh giá qua kết quả phân tích của cùng 1
mẫu trong 3 lần phân tích khác nhau
Lấy một mẫu, thêm chuẩn chia thành 3 và tiến hành xử lý mẫu, phân
tích trên máy, từ kết quả thu được đánh giá độ sai lệch về diện tích pic giữa
các lần đo
2.2.5.3 Độ tái lặp
Tiến hành thực nghiệm 3 lần, lần thứ nhất: tắt máy 3 ngày; lần thứ 2: tắt máy
7 ngày; lần thứ 3: tắt máy 15 ngày
Sau khi tắt máy, mỗi lần bật lại thiết bị, cần để máy ổn định trong 24 giờ và
tiến hành phân tích cùng 1 mẫu chuẩn ở các thời điểm khác nhau Đánh giá kết quả
Trang 342.2.6 Ứng dụng phương pháp phân tích, phân tích mẫu thực lấy tại sân bay
Biên Hòa
Để bước đầu sơ bộ đánh giá khả năng ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa,
Luận văn đã tiến hành phân tích các mẫu lấy tại sân bay biên Hòa thuộc dự án Z9:
“Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc hoá học/dioxin do Mỹ sử dụng trong
chiến tranh ở Việt Nam tại 7 sân bay và đề xuất các giải pháp xử lý” do Viện Hóa
học - Môi trường quân sự chủ trì thực hiện
2.2.6.1 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
Dự án đã tiến hành khoan 3 lỗ khoan K1, K2, K3 để khảo sát Kết quả phân
tích thổ nhướng như sau:
Tại lỗ khoan K1: độ sâu từ 0 - 0,6 m thành phần lớp chủ yếu là đá 1x2, đất
và cát; từ độ sâu 0,6 - 1,3 m là sét pha màu nâu trạng thái cứng; Từ 1,3 - 4,6 m là sét
pha nặng màu hồng nhạt, vàng nhạt loang lổ xám trạng thái dẻo cứng đến nửa cứng;
từ 4,5 - 10,2 m là sét pha màu xám xi măng vàng nhạt, xám xanh, nâu; lớp sâu hơn
chủ yếu là đá granit nứt nẻ; Chình vì thành phần như vậy nên khả năng thẩm thấu
nước mặt từ trên xuống dưới tương đối yếu do có các lớp sét pha trạng thái nửa
cứng ở phía trên làm lớp ngăn thấm nước, nhưng bù lại bề mặt nước áp lực ở lỗ
khoan này khá cao xuất hiện ở độ sâu 0,5 - 1,0 m, từ đó chứng tỏ mực nước ngầm ở
khu vực này xuất hiện ở độ sâu khá nông và dễ chịu sự ảnh hưởng của nước chảy
ngang Qua tiến hành phân tích chất lượng nước ngầm tại lỗ khoan K1 này cho kết
luận, nước tại khu vực này có mùi lạ (có mùi thuốc trừ sâu) có xuất hiện tại độ sâu
tới 5 m, hàm lượng clo trong nước khá cao chiếm tới 4,6 mg/l
Tại vị trí lỗ khoan K2: ở độ sâu từ 0 - 1,8 m thành phần chủ yếu là sét pha
nặng màu xám ximăng loang lổ hổng, đỏ Trạng thái dẻo cứng đến nửa cứng Từ độ
sâu 1,8 - 3,5 m thành phần là sét pha màu xám ximăng loang lổ hồng, đỏ Trạng thái
nửa cứng Từ 3,5 -13,2 m là cát pha màu xám trắng, vàng nghệ, trạng thái dẻo Từ
độ sâu 13,2 - 15,1m là sét nhẹ xen kẹp cát màu xám đen, xám xanh Trạng thái dẻo
mềm Từ 15,1 m là đá granit màu xám nứt nẻ Tầng lớp nước áp lực tồn tại ở độ sâu
Trang 35tích thành phần nước, nước không có mùi vị gì đặc trưng như ở lỗ khoan K1, hàm
lượng Cl thấp hơn, chỉ chiếm 2,13 mg/l
Lỗ khoan K3: ở độ sâu 0 - 0,5 m cát lẫn sỏi đá 4x6, từ 0,5 - 1,8 cát hạt vừa
màu vàng, trạng thái chặt vừa Từ độ sâu 1,8 - 4,5 m sét nhẹ đến sét pha nặng màu
xám nhạt, xám ximăng lẫn ít hữu cơ phân bố không đều, trạng thái dẻo mềm Tại độ
sâu 4,0 - 4,5 m gặp lớp hữu cơ màu nâu Ở độ sâu 4,5- 7,5 m cát pha màu xám lẫn ít
hữu cơ phân bố không đều, trạng thái dẻo Từ 7,5 - 10,8 m sét pha màu xám, trạng
thái dẻo mềm đến dẻo cứng Từ độ sâu 17 m là lớp đá granit màu xám nứt nẻ nhiều
dăm, tảng Phân tích thành phần nước, nước không có mùi vị gì đặc biệt, hàm lượng
clo 5,67 mg/L Tại lỗ khoan này, có xuất hiện nước áp lực dương, và nước bề mặt
có khả năng thẩm thấu xuống dưới khá lớn, đặc biệt là về mùa mưa
Từ những đặc điểm khoan địa chất tại khu vực, ta thấy về mặt địa chất ở khu
vực tương đối đồng đều và ổn định về mặt địa chất Chỉ có thành phần lớp đất bề
mặt là khác nhau Do vậy, đã tiến hành lấy và lựa chọn các mẫu có độ sâu khác
nhau theo các tầng bao gồm: từ 0- 0,5m; 0,5 -1,5; 1,5 – 2,5m; 2,5 – 3,5m
2.2.6.2 Phương pháp lấy mẫu
Hình 1.3: Hình ảnh sơ đồ khu vực ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa
Trang 36- Việc lấy mẫu chỉ thực hiện ở những vị trí nhiễm mà giai đoạn khảo sát
thăm dò trước đã xác định được Cứ 10.000m2 mặt đất, chia thành 16 ô kích thước
25m x 25m, mỗi ô đào một hố có kích thước 2m x 1m x 0,5m và lấy ở đó 3 mẫu đất
ở độ sâu từ 0 - 0,5m Cứ 4 ô đào 1 hố có kích thước 2m x 1m x 3,5m lấy 12 mẫu (3
mẫu ở độ sâu 0 - 0,5m, 3 mẫu ở độ sâu 0,5 - 1,5m, 3 mẫu ở độ sâu 1,5 - 2,5m, 3
mẫu ở độ sâu 2,5 - 3,5m)
Khối lượng mỗi mẫu đất là 1,5 - 2,0 kg, mẫu được đựng trong túi nilon, cho
trong hộp nhựa bên ngoài ghi số thứ tự và ký hiệu mẫu Sau khi lấy mẫu xong hoàn
thổ trả lại mặt bằng các vị trí thi công
Trang 37CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thiết lập điều kiện phân tích sắc ký khí
Sử dụng các điều kiện phân tích trên sắc ký khí theo phương pháp EPA
8280b và đặt tên là: “dioxin GC method”:
Chương trình nhiệt độ cho lò: 170oC (giữ 10 phút), tăng 8oC/phút đến 320o
C (giữ 5phút) kết thúc chương trình Tổng thời gian làm việc 33,75 phút
Điều kiện vận hành buồng bơm mẫu:
Bơm mẫu ở chế độ không chia dòng, nhiệt độ buồng bơm mẫu: 250oC, áp suất
đầu cột 14psi, lưu lượng dòng làm sạch: 300ml/phút, thời gian làm sạch: 1 phút
khí mang: Heli, lưu lượng khí mang không đổi và bằng 1ml/phút
Vì nhiệm vụ chính của thiết bị sắc ký khí là phân tách các đơn chất từ hỗn
hợp chất ban đầu, do đó để xác định tính khả dụng của phương pháp, cần tiến hành
kiểm tra độ phân giải của sắc ký, mỗi điều kiện vận hành sắc ký sẽ tương ứng với
một độ phân giải Kiểm tra độ phân giải khi sử dụng “dioxin GC method” bằng
cách bơm 1l chuẩn CC3 có chứa 2 đồng loại độc 13C-1,2,3,4-TCDD và 13
Trang 38Hai đồng loại độc trên chỉ khác nhau ở vị trí đính của nguyên tử clo vào
vòng benzen nên chúng có thời gian lưu rất gần nhau Theo EPA 8280b thì 2 đồng
loại độc này được sử dụng để đánh giá độ phân giải R của sắc ký, R = X/Y với X là
khoảng cách từ chân pic đến nền, Y là khoảng cách từ đỉnh pic của 13
TCDD đến nền (mô tả trên hình 3.1)
C-1,2,3,4-Detector khối phổ với chế độ ion hóa va chạm điện tử đã ghi lại sự hiện diện
của 2 pic của 2 chất trên Từ hình 3.1, có thể tính được R xấp xỉ 24%, phù hợp với
yêu cầu của phương pháp EPA 8280b là R≤ 25% Từ kết quả, ta có thể kết luận
phương pháp “dioxin GC method” đã thiết lập có thể sử dụng với sắc ký khí để
phân tích dioxin/furan
Từ kết quả khảo sát độ phân giải của sắc ký khí, ta thấy, với các điều kiện
sắc ký đã thiết lập, độ phân giải của sắc ký thu được đạt yêu cầu Do đó, chúng ta
có thể áp dụng điều kiện vận hành cho sắc ký nói trên và tiếp tục tiến hành thay
đổi điều kiện phân tích của detector khối phổ để so sánh, nghiên cứu và thiết lập
điều kiện tối ưu cho detector khối phổ
3.2 Chuẩn hóa detector khối phổ với nguồn ion hóa hóa học, ion âm (Tuning NCI)
Đối với detector khối phổ, việc chuẩn hóa nguồn ion trước khi phân tích rất
quan trọng bởi nó không những quyết định độ chính xác của phổ khối thu được mà
còn quyết định độ nhạy của thiết bị Tùy thuộc vào từng chế độ làm việc, loại nguồn
ion được sử dụng mà việc chuẩn hóa được thực hiện khác nhau Thông thường, các
hãng đều có chế độ chuẩn hóa tự động khi phân tích máy với nguồn ion EI nên việc
chuẩn hóa tương đối đơn giản, không yêu cầu nhiều thao tác kỹ thuật phức tạp Tuy
nhiên, với nguồn CI, đặc biệt là NCI, việc chuẩn hóa detector khối phổ tương đối
phức tạp, các thao tác hoàn toàn phải thực hiện thủ công Đây là một quá trình phức
tạp, ảnh hưởng rất lớn đến độ nhạy của thiết bị [9]
Để chuẩn hóa được detector khối phổ ở chế độ NCI, cần phải chuẩn hóa thiết
bị tự động với nguồn EI trước, sau đó chuyển qua nguồn CI để hiệu chỉnh thủ công
Trong số các thông số hiệu chỉnh, cần đặc biệt quan tâm đến giá trị điện thế cấp cho
Trang 39detector khối phổ Điện thế cấp càng lớn thì cường độ tín hiệu đầu ra càng lớn nghĩa
là pic càng cao nhưng khi điện thế cấp cao thì nhiễu cũng cao và tuổi thọ của
detector khối lượng giảm Do đó, cần tối ưu hóa EMV để thu được pic của chất với
tỷ lệ tín hiệu/nhiễu cực đại (S/N)
Sau khi chuẩn hóa bán tự động với nguồn CI, ion dương (PCI) bằng PFDTD
(Freon E3), chuyển sang chế độ NCI và tối ưu hóa giá trị EMV bằng cách bơm 1l
2,3,7,8-TCDF ở nồng độ 1pg/l và phân tích trên máy với chế độ giám sát ion 306
Thay đổi các giá trị của EMV trong lân cận giá trị EMV đã xác định từ quá trình
chuẩn hóa PCI, so sánh chiều cao pic và tỷ lệ S/N ta có biểu đồ ở hình 3.4 dưới đây
Từ biểu đồ hình 3.4 ta thấy, càng tăng giá trị EMV thì chiều cao pic của ion
306 càng cao Giá trị này tăng do cường độ tín hiệu pic được khuếch đại, điều đó có
nghĩa tín hiệu của nhiễu cũng được khuếch đại Ngưỡng phát hiện của máy phụ
thuộc vào tỷ lệ S/N của pic do đó tăng giá trị của EMV giá trị S/N sẽ tăng Tuy
nhiên phải chọn giá trị EMV tối ưu để đảm bảo độ nhạy của máy và tuổi thọ của
detector khối lượng Từ đồ thị quan hệ giữa giá trị EMV và tỷ lệ S/N, ta thấy giá trị
của EMV tại 1600V là giá trị tối ưu Do đó, giá trị này sẽ được sử dụng trong các
nghiên cứu tiếp theo
Trang 403.3 Nghiên cứu lựa chọn khí tác nhân ion hóa trung gian tối ưu
Nghiên cứu, khảo sát để lựa chọn khí tác nhân ion hóa trung gian tối ưu ở
chế độ NCI được tiến hành trên cơ sở thiết lập các thông số về nhiệt độ buồng ion,
lưu lượng khí tác nhân ion hóa ở giá trị mặc định, điện thế cấp cho detector khối
lượng EMV ở giá trị tối ưu là 1600V Metan, iso-butane và amôniắc lần lượt được
thử nghiệm làm tác nhân ion hóa trung gian để phân tích nhóm chất dioxin/furan
Mỗi khi thay đổi khí tác nhân ion hóa trung gian, máy được chuẩn hóa lại từ đầu,
nghĩa là cần chuẩn hóa máy tự động với nguồn ion hóa va chạm điện tử (EI) sau đó
thay nguồn ion hóa hóa học và chuẩn hóa bán tự động với khí metan, rồi chuẩn hóa
với khí tác nhân ion cần thiết
Ba loại khí: metan, iso-butane và amôniắc được thử nghiệm làm tác nhân ion
hóa trung gian để phân tích 1l mẫu của dãy chuẩn CC3 chứa 17 đồng loại độc
dioxin/furan ở nồng độ 7pg/l Các ion đặc trưng cần giám sát thể hiện trên bảng 3.1
Bảng 3.1: Các ion đặc trưng cần giám sát của các chất dioxin/furan với chế độ NCI
Đối với mỗi loại khí, mẫu được phân tích trên máy 3 lần Giá trị trung bình
diện tích các pic sau ba lần đo được thể hiện trên hình 3.3
Hình 3.3(a) biểu diễn sự thay đổi diện tích pic của các chất thuộc nhóm các
chất dioxin/furan khi thay đổi khí tác nhân ion hóa trung gian Vì diện tích pic của
2,3,7,8-TCDD rất nhỏ (nhỏ hơn 500 đơn vị diện tích) so với các chất khác trong
nhóm (khoảng 50.000 đến 350.000 đơn vị diện tích), do đó sự biến đổi của
2,3,7,8-TCDD khi thay đổi khí tác nhân ion hóa trung gian được biểu diễn riêng trên hình
3.3(b) để tiện quan sát