1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc điểm và nhiệt độ thành tạo các khoáng vật quặng trong một số mỏ thiếc gốc khu vực pia oắc

81 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 16,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Phạm Thanh Thuỳ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ NHIỆT ĐỘ THÀNH TẠO CÁC KHOÁNG VẬT QUẶNG TRONG MỘT SỐ MỎ THIẾC GỐC KHU VỰC PIA OẮC LUẬN V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Phạm Thanh Thuỳ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ NHIỆT ĐỘ THÀNH TẠO CÁC KHOÁNG VẬT

QUẶNG TRONG MỘT SỐ MỎ THIẾC GỐC KHU VỰC PIA OẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN LƯU ANH

TS LÊ THỊ THU HƯƠNG

Hà Nội – Năm 2013

Trang 3

Lời cảm ơn

Để thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ và cho phép sử dụng

tài liệu của đề tài KHCN cấp Nhà nước: “Nghiên cứu đánh giá triển vọng và khả

năng thu hồi Inđi trong các tụ khoáng thiếc ở Việt Nam nhằm xác lập một nguồn nguyên liệu mới ứng dụng trong công nghệ nano” mã số ĐTĐL.2011 – T/22 Tôi

xin gửi lời cám ơn trân trọng đến Chủ nhiệm và tập thể tác giả đề tài đã tạo điềukiện để tôi thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm từ

TS Phan Lưu Anh Thầy không chỉ hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn mà còn làtấm gương về tinh thần trách nhiệm trong công việc để tôi noi theo Tôi xin bày tỏlòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Thu Hương, cán bộ trường Đại HọcKhoa Học Tự Nhiên - người đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những góp ý quý báugiúp tôi nhìn nhận vấn đề tốt hơn trong quá trình thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, không thể không nói tới các thầy cô, cán bộ trong khoa ĐịaChất, trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, đã chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thờigian tôi theo học chương trình cao học tại trường Tôi xin được gửi tới các thầy cô

và cán bộ trong khoa Địa Chất lời cảm ơn chân thành nhất

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Viện địa chất và các đồngnghiệp tại Viện Địa Chất-Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam, đãgiúp đỡ và tạo điều kiện để tôi thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

Nhân dịp này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên

và tạo mọi điều kiện để tôi có thể học tập, làm việc và đặc biệt là thực hiện luận vănnày

Trong quá trình thực hiện luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôirất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các bạn để tôi có thể hoànthiện luận văn của mình tốt hơn

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên Phạm Thanh Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC HÌNH 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 7

Mục tiêu nghiên cứu 8

Nhiệm vụ nghiên cứu 8

Nguồn tài liệu 8

Nội dung chính 9

Bố cục 9

CHƯƠNG 1 11

TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

CHƯƠNG 2 26

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .26

2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 26

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

CHƯƠNG 3 34

ĐẶC ĐIỂM KHOÁNG VẬT QUẶNG TRONG MỘT SỐ MỎ THIẾC GỐC KHU VỰC PIA OẮC 34

CHƯƠNG 4 73

NHIỆT ĐỘ THÀNH TẠO CÁC KHOÁNG VẬT QUẶNG TRONG MỘT SỐ MỎ THIẾC GỐC KHU VỰC PIA OẮC 73

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1-1 Sơ đồ địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 11Hình 1-2 Sơ đồ địa chất khu vực Pia Oắc (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:200.000) 17Hình 1-3 Vị trí khu vực nghiên cứu trên sơ đồ cấu trúc miền Bắc Việt Nam (theo Trần Văn Trị , 2008) 21Hình 2-4 Thực hiện phân tích trọng sa (a) và phân tích khoáng tướng (b) 32Hình 3-5.Mạch thạch anh chứa cassiterit tại điểm V08-11 36Hình 3-6 Mẫu đơn khoáng cassiterit (a) và cassiterit bị xuyên cắt bởi tổ hợp kesterit+ sphalerit + chalcopyrit (b) 36Hình 3-7 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tố tạp chất với Sn trong cassiteritkhu vực Pia Oắc 39Hình 3-8 Mạch thạch anh chứa wolframit điểm V08-11(a) và đơn khoáng

wolframit (b) 45Hình 3-9 Wolframit dưới kính hiển vi phản quang tại điểm quặng Pia Oắc 45Hình 3-10 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tốchính và tạp chất với W trongwolframit điểm quặng hóa Pia Oắc 47Hình 3-11 Đơn khoáng kesterit (a) và kesterit cùng chalcopyrit thế hệ 2 tạo dạng bao thể nhũ tương trên bềmặt sphalerit [đường kính thị trường 3,7mm](b) 51Hình 3-12 Tương quan giữa các nguyên tố chính và tạp chất với Sn trong kesterit tại điểm quặng hóa Pia Oắc 54Hình 3-13 Đơn khoáng sphalerit (a) và sphalerit chứa các bao thể chalcopyrit nằm xen kẽ wolframit (b) mẫu T22-31-2-2 55Hình 3-14 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tố chính và tạp chất với với Zn trong sphalerit tại điểm quặng hóa Pia Oắc 57Hình 3-15 Đơn khoáng chalcopyrit (a) và chalcopyrit dạng hạt hình thù không xác định nằm tiếp xúc tổ hợp cộng sinh sphalerit + kesterit+chalcopyrit 60Hình 3-16 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tố chính và tạp chất với Cu trong chalcopyrit khu vực điểm quặng hoá Pia Oắc 62Hình 3-17 Đơn khoáng pyrit (a) và đơn tinh bán tự hình của pyrit xâm tán trong mẫu mài láng T22-31-2-2 64Hình 3-18 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tố chính và tạp chất với Fe trong pyrit khu vực Pia Oắc 65Hình 3-19 Đơn khoáng arsenopyrit khu vực Pia Oắc 68Hình 3-20 Molybdenit màu xám sáng trong mẫu mài láng 69Hình 4-21 Bao thể dung nham (MI) và các bao thể khí (FI) cùng nguồn gốc trong ban tinh thạch anh của greizen Mẫu V08-13-2 75Hình 4-22 Bao thể hai pha (khí+dung dịch) trong thạch anh ở mạch quặng mỏ Cami Mẫu V08-6-1 75Hình 4-23 Bao thể chất bốc nguyên sinh hai pha trong thạch anh của greizen Mẫu V08-11-2 76

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2-1 Vị trí lấy mẫu quặng gốc vùng Pia Oắc 31Bảng 3-2 Thành phần hoá học (%) các nguyên tố trong khoáng vật cassiterit khu vực Pia Oắc, phân tích bằng phương pháp microsond 40Bảng 3-3 Thành phần hoá học (%) trong khoáng vật wolframit điểm quặng hoá Pia Oắc, phân tích bằng phương pháp microsond 48Bảng 3-4 Thành phần hoá học (%) trong khoáng vật kesterit điểm quặng hoá Pia Oắc, phân tích bằng phương pháp microsond 52Bảng 3-5 Thành phần hoá học (%) trong khoáng vật sphalerit điểm quặng hoá Pia Oắc, phân tích bằng microsond 58Bảng 3-6 Thành phần hoá học (%) trong khoáng vật chalcopyrit điểm quặng hoá PiaOắc, phân tích bằng phương pháp microsond 63Bảng 3-7 Thành phần hoá học (%) trong khoáng vật pyrit khu vực Pia Oắc, phân tích bằng phương pháp microsond 65Bảng 4-8 Kết quả nghiên cứu đồng hóa bao thể trong thạch anh khu vực Pia Oắc.74Bảng 4-9 Thành phần chất bốc trong bao thể khí (%mol) 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

Quặng thiếc là một trong những nguồn tài nguyên có giá trị lớn về kinh tế và

có ứng dụng rộng rãi trong sản xuất Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu củathị trường đối với quặng thiếc ngày càng gia tăng Ở Việt Nam, các mỏ thiếc lớnTĩnh Túc, Trúc Khê, Khuôn Phầy, Ngòi Lẹm, Đa Cương, Đa Chay… hầu hết đã bịkhai thác cạn kiệt hoặc việc khai thác đã đi vào giai đoạn cuối

Pia Oắc – Cao Bằng là một trong 8 vùng quặng chứa thiếc lớn ở Việt Nam.Khu vực này đã có nhiều mỏ thiếc sa khoáng được khai thác từ rất sớm và đang đivào giai đoạn cạn kiệt như mỏ Tĩnh Túc và Thái Lạc, một số mỏ thiếc sa khoángkhác đã được tìm kiếm – thăm dò, đánh giá ở các cấp trữ lượng khác nhau Trongkhi đó, các khu khai thác mỏ thiếc gốc phức hệ Pia Oắc đã bị khai thác khá nhiềunhưng vẫn còn những dấu hiệu quặng và tiền đề địa chất cho thấy tiềm năng triểnvọng của quặng thiếc gốc Các tài liệu nghiên cứu về các mỏ thiếc gốc của khu vựcPia Oắc tương đối đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào phương diện đánh giá trữlượng phục vụ khai thác khoáng sản Thực trạng nghiên cứu tại khu vực này chothấy cần có một nghiên cứu chi tiết về đặc điểm khoáng vật quặng trong các mỏthiếc gốc trên phương diện đặc điểm vật lý, đặc điểm hóa học, tổ hợp khoáng vậtcộng sinh và nhiệt độ thành tạo Việc nghiên cứu kỹ các khoáng vật quặng trong các

mỏ thiếc gốc và các nguyên tố đi kèm, cũng như nhiệt độ thành tạo các khoáng vậtquặng trong mỏ sẽ giúp định hướng, đánh giá tiềm năng một số hợp phần có íchtrong quặng thiếc gốc của khu vực

Chính vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và nhiệt độ

thành tạo các khoáng vật quặng trong một số mỏ thiếc gốc khu vực Pia Oắc” làm

luận văn của mình, nhằm góp phần làm sáng tỏ đặc điểm khoáng vật, tổ hợp cộngsinh khoáng vật và nhiệt độ thành tạo của các khoáng vật quặng ở các mỏ thiếc gốckhu vực Pia Oắc – Cao Bằng

Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập đặc điểm cơ bản của các khoáng vật quặng trong một số mỏ thiêc

Trang 8

gốc khu vưc Pia Oắc trên cơ sở các nghiên cứu về hình thái - kiên trúc, thành phầnhóa học của các khoáng vật quặng và nhiệt độ thành tạo của chúng.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần khoáng vật quặng (cassiterit, stannit, pyrit,chalcopyrit, sphalerit và các khoáng vật quặng khác) trong các mỏ thiếc gốc khuvực Pia Oắc

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, kiến trúc của các khoáng vật quặng

- Nghiên cứu thành phần hóa học của các khoáng vật quặng, đặc biệt lànguyên tố quặng hiếm đi kèm

- Xác lập các đặc thù về hình thái, kiến trúc và thành phần hóa học củakhoáng vật quặng thiếc khu vực Pia Oắc

- Xác định nhiệt độ thành tạo của khoáng vật quặng trong các mỏ thiếc

Nguồn tài liệu

Luận văn được xây dựng trên cơ sở các tài liệu thu thập và nghiên cứu củachính học viên cùng các đồng nghiệp ở phòng Khoáng vật, Viện Địa chất - ViệnHàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện, bao gồm:

- Sử dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài KHCN cấp Nhà nước: “Nghiên

cứu đánh giá triển vọng và khả năng thu hồi Inđi trong các tụ khoáng thiếc ở Việt Nam nhằm xác lập một nguồn nguyên liệu mới ứng dụng trong công nghệ nano” mã

Trang 9

địa chất thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, các tài liệu nghiên cứuchuyên đề, bài báo khoa học đã công bố trên các website.

- Xử lý kết quả phân tích: 30 mẫu trọng sa nhân tạo, 50 mẫu mài láng bằngkính hiển vi phản quang, kết quả phân tích microsond, bao gồm: 58 mẫu cassiterit,

10 mẫu sphalerit, 19 mẫu wolframit, 7 mẫu stannit, 15 mẫu pyrit, 9 mẫu chalcopyrit

từ Đề tài ĐTĐL.2011-T/22 và Đề tài hợp tác cơ bản Nga do phòng Khoáng Vật,

Viện Địa Chất - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam thực hiện; và sửdụng kết quả phân tích nhiệt độ đồng hoá bao thể của đề tài hợp tác khoa học cơ bảnvới Viện Hàn Lâm Khoa học Nga – Phân viện Siberia do phòng Khoáng Vật, ViệnĐịa Chất - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam thực hiện

Với các kết quả nghiên cứu thu được, học viên đã xác lập đặc điểm cơ bảncủa các khoáng vật quặng cụ thể là cassiterit, wolframit, sphalerit, stannit,chalcopyrit và pyrit ở điểm quặng hoá Pia Oắc và mỏ thiếc gốc Ca Mi, khu vực PiaOắc, Cao Bằng

Bố cục

Kết quả của các nghiên cứu này được trình bày trong luận văn có bố cụcchính như sau:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan khu vực nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứuChương 3: Đặc điểm khoáng vật quặng trong một số mỏ thiếc gốc khu vực Pia Oắc

Trang 10

Chương 4: Nhiệt độ thành tạo các khoáng vật quặng trong một số mỏ thiếc gốc khu vực Pia Oắc

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 11

thành dải kéo dài theo hướng Tây bắc - Đông nam (hình 1-1)

Hình 1-1 Sơ đồ địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu

Những đỉnh cao đáng kể là: Pia Oắc (1930m), Phia Đén (1428m) Xen kẽgiữa các hệ thống núi cao là những đồi núi thấp và thung lũng phân bố trùng khớpvới các lưu vực sông và suối lớn

Trang 12

Khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Trong mùa đông, từ tháng

11 năm trước đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ giảm xuống khoảng 10-150C, đôi khitới 50C, có ngày xuống tới 00C, có tuyết rơi ở các vùng núi cao như Tĩnh Túc, PiaOắc Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ khoảng 28-35°C, ít khi vượt quá40°C Mưa rào thường xảy ra vào mùa hè, với lượng mưa trung bình trong cáctháng này khoảng 400-600mm/tháng

Trong vùng nghiên cứu có các sông suối đầu nguồn của các hệ thống sôngNhieo, sông Năng là các chi lưu của sông Gâm, sông Nguyên Bình là chi lưu củasông Bằng Lưu lượng nước của các hệ thống sông suối không ổn định, có sự chênhlệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa Mạng sông suối là nguồn cung cấp nước thuậnlợi cho nông nghiệp và phát triển thủy điện cỡ nhỏ và trung bình

1.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong vùng nghiên cứu có quốc lộ 34 nối thành phố Cao Bằng qua Tĩnh Túcđến Bảo Lạc và tỉnh lộ 212 nối Nà Phặc và Tĩnh Túc Giữa các xã trong khu vựcnghiên cứu đã có đường liên xã thuận lợi cho việc vận chuyển bằng ô tô, đa số các

xã đã được điện khí hoá

Vùng có mật độ dân số tương đối thấp và nằm cách xa các đô thị lớn Đô thịgần nhất là thành phố Cao Bằng, cách khoảng 60km về phía đông Nơi đông dân cưnhất và là trung tâm công nghiệp là mỏ Tĩnh Túc Dân cư trong vùng gồm 5 dântộc: Dao đỏ, H'mông, Ngái (Hoa), Nùng và Kinh, chủ yếu là người Dao đỏ Trình

độ văn hóa của nhân dân các dân tộc trong vùng khá cao Tính đến năm 2002, đãphổ cập giáo dục tiểu học; tỷ lệ người biết chữ chiếm 75,7% Nghề nghiệp chínhcủa dân cư trong vùng là nghề nông và một ít là lâm nghiệp Công nghiệp khaikhoáng của vùng nút quặng Pia Oắc rất phát triển gồm các mỏ thiếc, wolfram,sắt thu hút nhiều nhân công bản địa và nhân công của tỉnh Cao Bằng

Hệ sinh thái có tính chất đa dạng sinh học cao với nhiều loại động thực vậtquý hiếm, các loại rau quả ôn đới, các loại côn trùng dùng cho nghiên cứu khoa học

và sưu tập, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhaunhư: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa

Trang 13

1.4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

1.4.1 Địa tầng

Trong khu vực nghiên cứu có mặt các thành tạo từ giới Paleozoi đến giớiMesozoi và giới Kainozoi Từ dưới lên trên gồm các loạt Sông Cầu (D1 sc), hệ tầng

Mia Lé (D1 ml), Nà Quản (D1-2 nq), Bắc Sơn (C-P bs), Đồng Đăng (P2 đđ) thuộc giới

Paleozoi, Sông Hiến (T1 sh), Lân Pảng (T2a lp) thuộc giới Mesozoi và Đệ Tứ thuộc giới Kainozoi (hình 1-2).

GIỚI PALEOZOI DEVON HẠ

Loạt Sông Cầu (D 1 sc)

Loạt Sông Cầu lộ ra rất hạn chế ở phía Tây khu vực nghiên cứu của khối PiaOắc và chiếm một diện tích rất nhỏ 7.5 km2 Ở các vùng này, mặt cắt của loạt lộ rabao gồm sạn kết, cát kết màu nâu đỏ chuyển lên đá phiến sét và sét vôi Bề dày quansát được khoảng 150-180m

Các ranh giới dưới và trên của loạt đều không quan sát được Tuổi của loạt làĐevon sớm được xác định dựa theo tài liệu ở tờ Tuyên Quang [Trần Văn Trị vànnk, 1964], [Tống Duy Thanh, 1979]

Bề dày chung của phân hệ tầng dưới khoảng 370-500m

Phân hệ tầng trên (D1 ml 2): đặc trưng bằng những tập dày đá vôi đen xen vớicác tập trầm tích lục nguyên mỏng, bao gồm 5 tập đá xen kẽ: đá vôi xám đen, đáphiến sét sericit, đá vôi và đá vôi sét xám đen, cát kết phân lớp dày, đá vôi xámphân lớp trung bình Bề dày chung của phân hệ tầng trên khoảng 500m

Hệ tầng Mia Lé nằm chỉnh hợp trên loạt Sông Cầu và dưới hệ tầng Nà Quản

Trang 14

Tuổi của hệ tầng là Đevon sớm, có bề dày tổng cộng khoảng 900-1000m [DươngXuân Hảo và nnk, 1968]

DEVON HẠ-TRUNG

Hệ tầng Nà Quản (D1-2 nq)

Hệ tầng lộ ra khá rộng trong vùng, chiếm diện tích khoảng 106 km2, hệ tầngnằm ở phía tây bắc, một ít ở trung tâm và một phần ở đông nam của vùng nghiêncứu, ở rìa các nếp lồi Ngân Sơn, Phia Đén Mặt cắt được chia làm 2 hệ tầng

Phân hệ tầng dưới (D1-2 nq 1): đặc trưng chủ yếu bằng các tập dày sét vôi và đávôi xen ít đá lục nguyên, bao gồm 2 tập: đá phiến sét vôi và đá vôi đen phân lớptrung bình Bề dày khoảng 340m

Phân hệ tầng trên (D1-2 nq 2): đá vôi sạch màu xám, đôi nơi bị hoa hoá, đá vôiđolomit phân lớp dày Bề dày của phân hệ tầng khoảng 400m

Bề dày chung của hệ tầng đạt khoảng 740m Hệ tầng Nà Quản nằm chỉnhhợp trên hệ tầng Mia Lé và bị các hệ tầng Tam Hoa và Bắc Sơn phủ không chỉnhhợp lên trên Tuổi của hệ tầng được xác định là Đevon sớm-giữa dựa vào hoá thạchthu thập được [Dương Xuân Hảo và nnk, 1968]

CARBON – PERMI

Hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs)

Hệ tầng lộ ra một phần nhỏ ở phía Bắc của vùng và gần Tĩnh Túc (rìa phíabắc tờ bản đồ) Chiếm diện tích rất nhỏ khoảng 4 km2 trong vùng, dày 350m, gồm 5tập đá xen kẽ: đá vôi màu xám đen, đá vôi dạng trứng cá màu xám sáng phân lớpdày, đá vôi màu xám tro, đá vôi dạng trứng cá màu xám sáng phân lớp dày đến dạngkhối, đá vôi dạng khối màu xám sáng

Hệ tầng Bắc Sơn có tuổi từ Moscovi đến Permi sớm Hệ tầng Bắc Sơn nằm khôngchỉnh hợp trên các trầm tích Đevon hạ và bản thân nó lại bị hệ tầng Đồng Đăng phủkhông chỉnh hợp [Nguyễn Văn Liêm, 1978]

PERMI

Hệ tầng Đồng Đăng (P2 đđ)

Hệ tầng này lộ ra một phần ở phía Bắc và Đông Bắc tờ bản đồ, ở Tĩnh Túc,

Trang 15

huyện Nguyên Bình, trong khoảng diện tích 13 km2 Theo mặt cắt từ đèo Khao Sơnđến Làng Giàu - Khuổi Cáp, hệ tầng có 4 tập đá xen kẽ: đá vôi xám đen, đá vôi xámsáng, đá vôi dạng khối xám nhạt, đá vôi trứng cá màu xám lục nhạt, đá vôi dạngkhối màu xám sáng Bề dày của hệ tầng là 245m [Nguyễn Văn Liêm, 1966]

GIỚI MESOZOITRIAS HẠ

Hệ tầng Sông Hiến (T1 sh)

Trong vùng đo vẽ, hệ tầng Sông Hiến lộ ra một diện tích rất lớn khoảng 150

km2 ở phía đông bắc và trung tâm thuộc vùng Nguyên Bình - Ngân Sơn Mặt cắt ởđây gồm cả hai phân hệ tầng

Phân hệ tầng dưới (T1 sh1): lộ ra ở rìa nếp lồi Ngân Sơn - Phia Đén, gồm 4tập đá xen kẽ: porphyr thạch anh xám sáng, đá phiến sét xám sẫm, tuf ryolit xámsáng, ryolit porphyr xám sáng

Phân hệ tầng trên (T1 sh2): nằm chỉnh hợp và liên quan chặt chẽ về khônggian phân bố với phân hệ tầng dưới, gồm 5 tập đá xen kẽ: đá phiến sét sericit, cuộikết, đá phiến sét sericit xám sẫm, cuội sạn kết tuf, đá phiến sét xám sẫm

Bề dày chung của hệ tầng đạt khoảng 855m Hệ tầng Sông Hiến nằm khôngchỉnh hợp trên nhiều thành tạo cổ hơn và bị hệ tầng Lân Pảng phủ không chỉnh hợpbên trên Tuổi của hệ tầng được định là Trias sớm trên cơ sở hoá thạch tìm được ởnhững vùng lân cận [Đovjikov và nnk, 1965]

TRIAS TRUNG, ANISI

Hệ tầng Lân Pảng (T2a lp)

Hệ tầng Lân Pảng phân bố khá hạn chế, chiếm khoảng diện tích 16 km2 ởgóc đông nam khối Pia Oắc gần đứt gãy Sông Năng và vùng Làng Đán Theo mặtcắt đỉnh 1111 m đến Pác Giài, hệ tầng gồm 4 tập đá xen kẽ: cuội kết hỗn tạp, đáphiến sét xám đen, cát kết xám vàng, cát kết hạt vừa đến thô Bề dày chung của hệtầng đạt khoảng 650m Hệ tầng được định tuổi là Anisi [Nguyễn Kinh Quốc vànnk, 1991]

Trang 18

GIỚI KAINOZOI

ĐỆ TỨ Trong vùng nghiên cứu, các trầm tích Đệ tứ có khối lượng ít, phân bố tảnmạn dọc theo các sông suối lớn hoặc thung lũng karst như ở Tĩnh Túc, NguyênBình Trầm tích có nguồn gốc sông (aQII-III) phân bố dưới dạng thềm bậc II dọctheo sông suối lớn Ở thung lũng karst (Tĩnh Túc, Nậm Kép), trầm tích dày và phân

- Pha 1 (γρD3 ns 1): granit biotit, granit 2 mica, plagiogranit

Granit biotit hạt vừa, đôi khi có dạng porphyr, phiến hoá dạng gneis Granit 2mica hạt vừa, có tỷ lệ felspat kali-microclin-pertit trội hơn plagioclas 2-3 lần Phầnlớn có kiến trúc vảy hạt biến tinh, cấu tạo định hướng, hiếm khi còn tàn dư kiến trúchạt nửa tự hình Plagiogranit sáng màu, hạt nhỏ và đều, hiếm khi dạng porphyr, giàumuscovit, thạch anh, ít turmalin

- Pha 2 (γρD3 ns 2): là các đá mạch granit, granit aplit, pegmatit turmalinxuyên trong pha 1

Khoáng vật phụ của phức hệ có ilmenit, turmalin, apatit, anđalusit, zircon,granat, rutil, galenitit, monazit, Về địa hoá, các nguyên tố đáng lưu ý là Zr, Y, Yb,

Cu, Pb, Zn và nhóm đất hiếm, xạ Chúng cao hơn mức Chỉ số Clark từ 2 đến 6 lần.Phức hệ thuộc kiểu "S" granit Quặng hoá liên quan là Sn, Pb, Zn, Ag, Fe

Tuổi Đevon muộn của phức hệ Ngân Sơn được xác định trên cơ sở quan hệxuyên cắt các trầm tích Đevon hạ-trung và tuổi đồng vị 226-263 triệu năm theofelspat kali và biotit [Đào Đình Thục và nnk, 1995]

Trang 19

Phức hệ Cao Bằng (γνT 1 cb)

Phân bố ở góc đông bắc khu vực nghiên cứu, bao gồm khối Nguyên Bình, 4khối nhỏ ở phía tây Tĩnh Túc (Lũng Luông) và nam huyện Nguyên Bình, chiếmkhoảng diện tích 13.5 km2 Phức hệ có 2 pha:

- Pha 1 (γνT1 cb 1) gồm các đá gabro, gabro điabas, congađiabas

- Pha 2 (γνT1 cb 2) đặc trưng là điorit thạch anh, granođiorit, granit granophyrhorblenđ biotit, granit biotit và granit porphyr

Các đá của phức hệ Cao Bằng đều có màu xanh lục đến xám sáng, kết tinhyếu, hạt nhỏ-vừa, dạng porphyr, cấu tạo khối Các khoáng vật phụ thường gặpapatit, magnetit, đôi khi có zircon, granat, epiđot-zoizit, cromit, ilmenit, pyrrhotit vàcorinđon Các nguyên tố phụ đặc trưng của phức hệ Cao Bằng là: Cr, Ni, Co, Ag và

Yb Đáng lưu ý là hàm lượng cao của Fe trong đá felsic là điều kiện thuận lợi khixuyên cắt các đá vôi để hình thành các tụ khoáng magnetit kiểu skarn (NguyênBình, Lũng Luông, Cao Bằng) Về thạch địa hoá, phức hệ có 2 nhóm đá: gabrođiabas và granit granophyr [Đovjikov A E và nnk, 1965]

Phức hệ Pia Oắc (γK 2 po)

Phức hệ gồm 2 pha: pha 1 (γK2 po 1): granit 2 mica và granit muscovit dạngporphyr hạt vừa-lớn; pha 2 (γK2 po 1): granosyenit, granit aplit, pegmatit muscovitturmalin [Izokh E P (trong Đovjikov A E và nnk), 1965]

Khối Pia Oắc nằm cách huyện Nguyên Bình khoảng 13km về phía tây nam,chiếm khoảng diện tích 16 km2, xuyên cắt các hệ tầng Mia Lé và Sông Hiến, tạothành đới biến chất tiếp xúc rộng từ 1 đến 4km, gồm các đá sừng biotit, corđierit,anđalusit, đá hoa, quarzit, greizen

Liên quan đến granit Pia Oắc có thiếc-wolfram, thiếc - đa kim, quặng phóng

xạ fluorit, beril, barit, topaz

Các nguyên tố phụ đặc trưng của phức hệ là Sn, Be, Mn, La, Nb Kết quảphân tích định lượng cho thấy hàm lượng cao (g/t) của F (2736), Rb (696), Li (493),

Be (63), W (225), Th (6), U (16), TR (88), Au-Ag (4,7)

Căn cứ vào quan hệ địa tầng và tuổi tuyệt đối 70-98 tr năm, phức hệ Pia Oắc

Trang 20

được xếp vào Creta muộn [Đovjikov A E và nnk, 1965].

1.4.3 Cấu trúc kiến tạo

Kiến tạo chung của vùng nằm ở gần trung tâm miền kiến tạo Đông Bắc Bộ.Khu vực nghiên cứu thuộc 2 đới cấu trúc là Lô-Gâm và Sông Hiến, mang tính chất

của hoạt động uốn nếp Caleđonit (hình 1-3).

1.4.3.1 Các đơn vị cấu trúc - kiến tạo

- Đới Lô - Gâm (phần phía đông) phân bố trên 3/4 diện tích Ranh giới phíađông với đới Sông Hiến là đứt gãy vòng cung dọc theo quốc lộ 3, từ Cao Kỳ đếnPắc Nậm Đới này nâng lên vài lần vào đầu Cambri, giữa Orđovic, giữa Silur và sụtlún vào Silur muộn - Đevon Vào cuối Đevon, toàn đới được nâng lên Trong giaiđoạn Mesozoi, các trầm tích màu đỏ (J-K) và chứa than (T3 n-r) được thành tạo dọc

theo những đứt gãy dạng hào sụt

Hình 1-3 Vị trí khu vực nghiên cứu trên sơ đồ cấu trúc miền Bắc Việt Nam (theo

Trần Văn Trị , 2008)

- Đới Sông Hiến (phần phía tây) tạo thành dải hẹp ở phía đông, có lịch sử

Trang 21

phát triển kéo dài từ Paleozoi sớm đến Mesozoi với các gián đoạn trầm tích vàogiữa Orđovic, đầu Đevon, Givet muộn, Carbon sớm, cuối Permi sớm và đầu Triasgiữa [Đovjikov A E và nnk, 1965] Tuy nhiên, những quan điểm sau này xem đớiSông Hiến thực chất chỉ là võng chồng Mesozoi kiểu rift nội lục và có diện tích nhỏhơn nhiều so với phân chia trước [Trần Văn Trị và nnk, 1964]

Các phức hệ thạch - kiến tạo

• Phức hệ TKT tạo núi Đevon (D) phân bố khá rộng rãi ở cả 2 đới Lô-Gâm

và Sông Hiến, bao gồm các thành tạo lục nguyên carbonat, carbonat, lục nguyên silic - carbonat xen phun trào felsic - á kiềm chứa Mn-Fe Ở khu vực nghiên cứuphức hệ này là loạt Sông Cầu có cuội - sạn kết, cát kết màu đỏ dạng molas nằmkhông chỉnh hợp trên các thành tạo cổ hơn Các đá thuộc phức hệ này đều bị biếnchất nhiệt động khá mạnh mẽ, với những nếp uốn ngắn kế tiếp nhau

-• Phức hệ TKT thềm lục địa có dạng lớp phủ nền Carbon - Permi (C-P) chỉphân bố ở đới Sông Hiến (Tĩnh Túc), gồm các trầm tích carbonat của hệ tầng Bắc

Sơn (C-P bs), phủ không chỉnh hợp trên các trầm tích Đevon

• Phức hệ TKT hoạt hoá Permi-Trias (P-T) có 2 tầng cấu trúc

- Tầng cấu trúc Permi thượng - Trias hạ bao gồm các thành tạo carbonat chứabauxit của hệ tầng Đồng Đăng (P2 đđ) và lục nguyên - phun trào hệ tầng Sông Hiến

(T1 sh).

- Tầng cấu trúc Trias giữa với trầm tích lục nguyên xen ít phun trào felsicloạt kiềm-vôi và carbonat tạo thành các nếp lõm nhỏ thuộc hệ tầng Lân Pảng (T2a

lp) Chế độ rift nội lục ở đới Sông Hiến kết thúc vào thời kỳ này.

• Phức hệ TKT trũng lục địa tân kiến tạo Kainozoi có diện phân bố hạn chếtrong các thung lũng giữa núi, thung lũng karst và dọc các sông, đặc trưng bởi trầmtích bở rời, vụn thô [Trần Văn Trị và nnk, 1964]

Trang 22

gãy dọc quốc lộ 3A (Chợ Mới - Cao Kỳ - Pắc Nậm), phân chia 2 đới Lô-Gâm, SôngHiến Đứt gãy có chiều dài 50-100 km, đới cà nát rộng, dốc về T - TB với góc 80-

850 Sinh khoáng liên quan là quặng đa kim

- Nhóm đứt gãy phương tây bắc - đông nam bao gồm các đứt gãy dọc sông

Lô, thượng nguồn sông Gâm, ngòi Quang và vùng Nguyên Bình Có lẽ chúng bắtđầu hoạt động từ Paleozoi sớm và tái hoạt động nhiều lần sau đó Nhóm đứt gãy nàythường bị các đứt gãy phương á kinh tuyến hoặc đông bắc - tây nam làm dịchchuyển với cự ly 0,5 - 1 km Phần lớn các đứt gãy có độ dài trên 50 km, cắm về tâynam với góc dốc 70-800 Riêng đứt gãy ở vùng sông Nhieo là đứt gãy nghịch dạngvảy, nghiêng về đông bắc với góc dốc 750, cự ly dịch chuyển 0,3 - 0,8 km Dọc theocác đứt gãy thuộc nhóm này có đới cà nát rộng 5-7 km, sinh khoáng liên quan rấtphong phú: Pb-Zn, Ag, Sb, Ba, Sn, Au, thạch anh tinh thể, fluorit,

- Nhóm đứt gãy á vĩ tuyến thường là những đứt gãy trẻ cắt qua nhiều cấu tạođịa chất và các nhóm đứt gãy khác, có độ dốc đứng, phân bố rải rác ở Nguyên Bình

Độ dài của các đứt gãy 2-15 km Liên quan đến nhóm này là những sa khoáng Sn và

Au (Tĩnh Túc, Nguyên Bình, Hà Hiệu, Thượng Lâm, Bằng Khẩu, ) [Trần Văn Trị

Nhóm không kim loại có fluorit, pyrit, nguyên liệu và vật liệu xây dựng có

đá vôi, cát - cuội - sỏi và các nguyên liệu quang học – áp điện có tinh thể thạch anh,wolfram, fluorit, nguyên liệu dán cách có asbet

Sự phân bố các loại khoáng sản không đồng đều mà tập trung ở các khu vực.Đến nay đã thống kê được 34 mỏ và điểm khoáng sản của các loại khoáng sản trênphân bố trong phạm vi của vùng Những mỏ quặng mang tính chiến lược trong nềnkinh tế quốc dân và quốc phòng gồm có: thiếc, wolfram, vàng, chì - kẽm Thiếc có

Trang 23

ở Tĩnh Túc, Nậm Kép, Nguyên Bình, Bình Đường, Phương Xuân Sắt có ở LàngChanh, Nguyên Bình, Bản Nùng, Khuổi Lếch, Nà Rai Đá vôi có ở Lũng Niêm,Nguyên Bình, Chòn Bù Chì - kẽm có ở Vũ Nông, Bản Đồng, Nà Mùng, Pắc Sẻ, TàSoỏng, Lũng Mỏng, Bản Chiếu, Nà Mun Beri có ở Pia Oắc Fluorit có ở Cami,wolfram có ở Sant Alexandre, Tà Soỏng, Lũng Mười Anbit có ở Bản Chạng Sắt –Mangan có ở Tà Soỏng Thạch anh tinh thể có ở Phia Đén.

Các kiểu nguồn gốc mỏ thiếc và trữ lượng

Thiếc ở trường quặng Pia Oắc bao gồm 2 loại hình: gốc và sa khoáng

Do là loại mỏ có giá trị nhất chiếm tới 90% trữ lượng thiếc đã thăm dò và làđối tượng chủ yếu của công nghiệp khai thác thiếc của Việt Nam trong nhiều thập

kỷ qua, các mỏ sa khoáng được nghiên cứu đánh giá khá tỉ mỉ; các mỏ thiếc gốc

được đánh giá còn sơ lược Cho đến nay ở khu vực Tĩnh Túc-Nguyên Bình đã có 11

mỏ và điểm quặng sa khoáng và gốc đã được tìm kiếm, thăm dò, đánh giá Các mỏ

và điểm quặng sa khoáng gồm: Thái Lạc , Lê A, Tĩnh Túc, Nậm Kép, Nguyên Bình,Cami, Bản Ổ và Phương Xuân; 3 mỏ quặng gốc là: Lũng Mười, Tài Soỏng, SantAlexandre Mặc dù các mỏ thiếc cả sa khoáng lẫn thiếc gốc trong trường quặng PiaOắc - Tĩnh Túc đều đã được tìm kiếm thăm dò đánh giá ở các cấp khác nhau, trong

đó có mỏ được tính toán đến cấp B, C1 và C2, song đánh giá trữ lượng chính xácquặng còn lại ở các mỏ đã bị khai thác là vấn đề rất khó khăn Ngay cả Cục Địa chấtViệt Nam, cũng như Viện Mỏ và Luyện kim cũng không có số liệu chính xác

Các mỏ quặng thiếc gốc: Các mỏ thiếc nguồn gốc greizen-nhiệt dịch chủ yếu

thuộc thành hệ casiterit-wolframit-thạch anh (nhóm nghèo sulfua liên quan vớigranit cao nhôm (kiểu S-granit) phức hệ Pia Oắc Mức độ nghiên cứu về các mỏ nàyđến nay còn khá sơ sài Tất cả 4 mỏ thiếc gốc đều bị người Pháp khai thác hầu nhưcạn kiệt, đặc biệt là những thân quặng giàu, nằm ở phần nông, dễ khai thác hơn.Phần còn lại trong điều kiện hiện nay, nếu khai thác là không có hiệu quả Vì vậykhả năng phát hiện các thân quặng gốc có hàm lượng cao là rất hiếm, nếu có, chỉ cóthể ở dưới sâu hơn thuộc phần đông - đông bắc của khối Pia Oắc, nơi tiếp xúc vớitrầm tích T2-3sh Do đó, trữ lượng quặng gốc hiện nay chỉ còn lại ở các mỏ Sant

Trang 24

Alexanđơ, Lũng Mười và Tài Soỏng là 2.471 tấn Theo kết quả khảo sát bổ sungcủa đội địa chất thuộc Công ty Khoáng sản I (mỏ thiếc Tĩnh Túc) kết hợp với Đoàn

105 đã tìm kiếm thiếc và wolfram tại mỏ Sant Alexandre cũng không tìm thêm đượcthân quặng nào có giá trị Cũng vì thế những mỏ này hiện nay không được liệt vàodanh sách thống kê trữ lượng và tài nguyên thiếc Việt Nam

Các mỏ quặng thiếc sa khoáng: Hầu hết các mỏ thiếc sa khoáng ở trường

quặng Pia Oắc được hình thành do phá huỷ và tích tụ lại thiếc, wolfram từ các mạchquặng gốc Các mỏ điển hình là Tĩnh Túc, Nậm Kép, Thái Lạc, Nguyên Bình,Phương Xuân đã được thăm dò-tìm kiếm, đánh giá ở các cấp trữ lượng khác nhau từ

B đến C1 và C2 Các mỏ có quy mô lớn hơn tập trung trong thung lũng thượngnguồn sông Nguyên Bình: Tĩnh Túc và Nậm Kép Các mỏ khác cũng phân bố dọctheo các thung lũng suối bắt nguồn từ núi Pia Oăc: Thái Lạc, Lê A Trữ lượng củacác mỏ sa khoáng lần lượt từ lớn đến nhỏ như sau: Tĩnh Túc 2.260 tấn, Thái Lạc1.295 tấn, Nguyên Bình 1.110 tấn, Nậm Kép 240 tấn, Phương Xuân 120 tấn và Lê A

64 tấn

Ở thời điểm hiện tại, trong khu vực chỉ có các mỏ Tĩnh Túc và Thái Lạc đangcòn hoạt động khai thác quy mô tận thu

Trang 25

CHƯƠNG 2.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Thiếc là một nguyên tố hóa học có tên Latinh là Stannum, ký hiệu là Sn và

số nguyên tử là 50 trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, có màu trắng bạc,

dễ uốn cong và dát mỏng Trong vỏ Trái đất, thiêc có hàm lượng trung bình rất nhỏ,

là kim loại phổ biên đứng thứ 50 vơi hàm lượng khoảng 2,5 ppm

Thiêc được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vưc như: công nghiêp điên tư,que hàn, mạ, chê tạo hợp kim làm nam châm siêu dân, chế tạo hợp kim Sn-Sb-Culàm ổ trục quay, lơp phụ cho nhiên liêu hạt nhân, trong công nghiêp gia dụng, trongnha khoa…Ngoài ra, thiếc còn là một chất xúc tác

Thiếc tồn tại trong khoáng vật thuộc các nhóm oxyt, sulfostanat, sulfua,silicat, borat và niobat Khoáng vật quan trọng nhất của thiếc là cassiterit (SnO2)chứa 69-78 % Sn, stannit (Cu2FeSnS4) chứa 19-24 % Sn, tilit (PbSnS2) chứa 30,4 %

Sn, cylindrite (Pb3Sn4Sb2S14) chứa khoảng 25,12% Sn, franckeite (Pb3Sn4Sb2S14)chứa từ 9,5 - 17,1% Sn Tuy nhiên, chỉ có cassiterit và stannit là tạo thành tụkhoáng Cassiterit là khoáng vật bền vững trong điều kiện phong hóa, do vậy có thếtạo nên những mỏ sa khoáng lớn Stanite rất dễ bị phá hủy, cho nên chỉ tồn tại trongquặng gốc

Cassiterit (SnO2) với thành phần: Sn = 78,62%; O = 21,38%; tỷ trọng 6,8 7,1; độ cứng 6 - 7 Trong thực tế luôn có Fe, Mn, W, Ta, Nb, In, Ge, Be, Zr, SiO2 đôikhi có cả V, Ni, Sb, Se Ngoài dạng kết tinh, còn có dạng thiếc thớ gỗ có hình quả

-lê, hình giọt nước với cấu tạo tỏa tia đồng tâm do các gel SnO2 đông kết

Stannit (Cu2FeSnS4) với thành phần lý thuyết: Cu = 29,6%, Fe = 13%, Sn =27,6%, s = 29,8%; tỷ trọng 4,3 - 5,2; độ cứng 3 - 4 Hàm lượng thiếc thực tế biếnđộng từ 24,08 - 29,08%; thường có Zn (đến 8,71%), Cd (đến 0,83%), Bi (đến0,2%), Sb (0,2%), đôi khi có Pb và Ag Loại chứa Zn còn được gọi là khoáng vật

Trang 26

Kesterit Stannit thường rất ít gặp so với cassiterit; nó thường chỉ có mặt trong các

thành tạo quặng thiếc thuộc thành hệ cassiterit - sulfua

Ngoài ra, người ta còn tìm thấy gần 40 khoáng vật khác nhau có chứa thiếc,tuy nhiên các khoáng vật này ít phố biến, và nếu có thì cũng không đủ hàm lượng

để khai thác công nghiệp

Ngoài các khoáng vật quặng thiếc (cassiterit, stannit…), các khoáng vậtquặng trong các mỏ thiếc bao gồm: wolframit, rutil, molybdenit, sphalerit,chalcopyrit, asrenopyrit, pyrit, galenitit, bismuthinit, ilmenit, pyrrhotit, bornit,covellit, chalcocit… và nhiều loại khoáng vật khác

Các mỏ thiếc lớn trên thế giới khi phân loại theo nguồn gốc được chia thành:

mỏ thạch anh – cassiterit (mỏ Kornuelsk, Anh; mỏ Saus - Krofti Nga, và các mỏ ở

Malaysia, Trung Phi, Tây Âu, Đông Úc và Siberi), mỏ cassiteritsulfua (mỏ Maunt Bisof, Úc; mỏ Khaptseranginsk (Zabaical); mỏ Khrustalbit, Nga; mỏ Potosi,Bolivia), mỏ pegmatite (mỏ Manono - Kitotolo ở tỉnh Saba, Zair, ngoài ra còn gặp ởLiên Xô (Trung Á), Ruanda, Brazin), mỏ Skarn (Mỏ Genxu, Trung Quốc), mỏ sakhoáng (phổ biến ở nước Đông Nam Á: Malaysia, Indonesia, nam Trung Quốc,Phần Lan, Úc)

-2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Thiếc là kim loại được khai thác và ứng dụng từ rất sớm trên thế giới Một

mỏ thiếc cổ đại ở Kestel (Thổ Nhĩ Kỳ) có tuổi vào khoảng thiên niên kỷ thứ baTCN Đã phát hiện cassiterit trong các mảnh vụn của hoạt động khai khoáng cổ, cácmạch, các mỏ sa khoáng trong lòng suối Trong thời kỳ Đồng Thiếc, mỏ cổ này lànguồn cung cấp thiếc chính cho hoạt động chế tạo hợp kim đồng thiếc của khu vực[K Aslihan Yenera và nnk, 1989]

Để nghiên cứu về các mỏ thiếc vừa tổng hợp vừa chi tiết, các nhà khoa họctrên thế giới đã sử dụng hàng loạt các phương pháp khác nhau để nghiên cứu cáckhoáng vật quặng, các tổ hợp cộng sinh và các nguyên tố đi kèm trong quặng thiếc:Kết quả nghiên cứu về địa chất và thăm dò sinh khoáng thiếc tại dãy Himalaya,Nepal cho thấy ba kiểu sinh khoáng chính của thiếc đó là: 1) thành hệ casiterite-

Trang 27

pyrit và các khoáng vật sulfua bao gồm chalcopyrit, pyrrhotit và arsenopyrit; 2)thành hệ cassiterit-molypden nằm trong đá thạch anh và tourmalin; 3) thành hệcassiterit trong đá pegmatite [P R Joshi, 1988]

Nghiên cứu quặng thiếc Orissa trong khối Mathili C18 (Koraput, Ấn Độ)bằng kính hiển vi soi nổi và phương pháp XRD cho thấy trong quặng thiếc có mặtcác khoáng vật casiterit, kesterit, varlamoffite, tapiolite, fersmite, sterryite vàtantalite [S Acharya và nnk, 1982]

Tổ hợp cộng sinh của sphalerit, chalcopyrit và stanite đã được phân tích ởvùng St.Agnes (Cornwall) Sự mọc ghép các khoáng vật được hình thành từ quátrình phá hủy dung dịch cứng bao gồm hỗn hợp của kesterit chứa kẽm (kesterit), cácvảy nhỏ chalcopyrit và được bao quanh bởi sphalerit tha hình [M.G.Dobrovol’skaya và nnk, 2008]

Nghiên cứu về khoáng hóa thiếc ở Dupangling (Trung Quốc) cho thấycassiterit và wolframit có trong các đá granit hạt trung bình đến mịn, các mạchthạch anh và đá greizens Ngoài ra, thành phần hóa học của cassiterit đã đượcnghiên cứu bằng các phương pháp như ICP-MS, LA-ICP-MS, XRF… Chỉ ra cácnguyên tố có trong cassiterit bao gồm Ta, W, Fe, Mn, Ti, Zr, V, Sc, Si, Al, In, Ga,

Ge, Be, Bi, Ag, Sb, As, Cu, Pb, Zn, Co và các nguyên tố đất hiếm.[Guoliang Gan vànnk, 1994]

Nghiên cứu bao thể của khoáng hoá thiếc trong đá skarn tại khu vực Redaven(Anh) cho thấy trong khu vực đã xảy ra hai quá trình nhiệt dịch thành tạo khoánghoá thiếc trong đá skarn Nhiệt độ thành tạo của đá skarn trong quá trình đầu tiên là

6000C, độ muối NaCl 10-20% khối lượng, độ sâu 2856m (850 bar); trong quá trìnhsau là 350 – 4600C, độ muối NaCl 30 -50% khối lượng, độ sâu 2526m (185bar)[Qiming Peng và nnk, 1992]

Có thể nói rằng: Quặng thiếc đã được nghiên cứu rất đầy đủ và chi tiết; được

mô tả tổng thể về nguồn gốc, đặc điểm khoáng vật, đặc điểm hóa học, quang học vànhiệt độ, áp suất thành tạo khoáng vật quặng Từ đó, giúp ích cho việc định hướngcủa các nghiên cứu sau này

Trang 28

2.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Là một trong những nước có trữ lượng thiếc tương đối lớn, Việt Nam đã cókhá nhiều công trình nghiên cứu về thiếc và các quặng thiếc trong nước Nghiêncứu các thành hệ chứa thiếc tại miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra các thành hệ chínhchứa thiếc đó là:1) thành hệ thạch anh – cassiterit, thành hệ sulfua – cassiterit, thành

hệ sulfua – silicat – cassiterit; 2) thành hệ pegmatite chứa thiếc; 3) thành hệ skarnchứa thiếc [Phạm Văn Mẫn, 1982] Tương tự như vậy, ở vùng quặng thiếc miềnThanh – Nghệ - Tĩnh, các thành hệ chứa thiếc chính bao gồm: Thành hệ cassiterit –thạch anh, cassiterit-silicat-sulfua, cassiterit-sulfua, pegmatite chứa thiếc và kim loạihiếm, skarn chứa thiếc [Nguyễn Thị Kim Hoàn và nnk, 1987]

Nghiên cứu quặng thiếc gốc Bắc Lũng đã cho thấy thành phần khoáng vậtcủa quặng gồm: cassiterit, asenoyrit, pyrit, pyrrhotit, thạch anh, turmalin và một ítrutil Về mặt nguyên tố phổ biến Sn, As, Pb, Zn và một ít W [Dương Đức Kiêm,1971] Kết quả của nghiên cứu về các kiểu cassiterit dạng keo trong đá riolit vùngTam Đảo cho thấy các khoáng vật chính của quặng thiếc trong vùng là cassiterit,pyrit, Arsenopyrit Thành phần hóa học của cassiterit bao gồm các nguyên tố: Sn,

Fe, Mn, Ti, Sb, Zn, Cu, Ag, Si, Al, Ca, Mg [Lê Văn Thân, 1973]

Khi nghiên cứu đặc điểm khoáng hóa và nhiệt độ thành tạo quặng thiếc –wolfram ở các mỏ Thiện Kế, Suối Bắc, Bù Me, Trúc Khê, Hoàng Sao đã sử dụngphương pháp đồng hóa bao thể đặc trưng cho hai giai đoạn tạo quặng thiếc –wolfram để đưa ra khoảng nhiệt độ thành tạo của mỗi giai đoạn Giai đoạn tạoquặng đầu có nhiệt độ thành tạo: 500o-315oC Giai đoạn tạo quặng sau cónhiệt độ thành tạo: 390o-180oC, đặc trưng cho giai đoạn tạo quặng nhiệt dịch,nhiệt độ cao – trung bình [Hoàng Sao, 2008]

Nghiên cứu trữ lượng thiếc vùng Cao Bằng cho thấy: tuy các mỏ quặng thiếcgốc đã bị khai thác nhiều nhưng vẫn có những dấu hiệu quặng và tiền đề địa chấtcho thấy tiềm năng triển vọng của quặng thiếc gốc trong đới biến đổi greizen củakhối Pia Oắc Vì vậy, vùng quặng này cần được điều tra-thăm dò, đánh giá lại (kể cảcác điểm, mỏ cũ) một cách tổng thể [Phan Lưu Anh và nnk, 2010]

Trang 29

Tóm lại, các nghiên cứu về quặng thiếc ở Việt Nam tương đối đa dạng, tuynhiên chưa có được sự đồng bộ trong nghiên cứu tổng thể của một vùng quặng thiếchay một khu mỏ nhất định Ở vùng quặng thiếc Cao Bằng, các mỏ thiếc gốc Pia Oắcđược đưa vào nghiên cứu và khai thác từ rất sớm, có nhiều mỏ đã bị ngừng khaithác, tuy còn nhiều dấu hiệu triển vọng khai thác nhưng đến nay vẫn chưa được điềutra, nghiên cứu và đánh giá lại; đây cũng là vùng quặng thiếc tại Việt Nam duy nhấtchưa có số liệu về nhiệt độ thành tạo quặng.

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với mục tiêu xác lập các đặc điểm của khoáng vật quặng trong mỏ thiếc gốc

khu vực Pia Oắc các phương pháp nghiên cứu chủ đạo được sử dụng gồm:

2.2.1 Tổng hợp tài liệu

Luận văn được xây dựng trên cơ sở các tài liệu thu thập và nghiên cứu củachính học viên cùng các đồng nghiệp ở phòng Khoáng vật, Viện Địa chất - ViệnHàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện, bao gồm:

- Sử dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài KHCN cấp Nhà nước: “Nghiên

cứu đánh giá triển vọng và khả năng thu hồi Inđi trong các tụ khoáng thiếc ở Việt Nam nhằm xác lập một nguồn nguyên liệu mới ứng dụng trong công nghệ nano” do

- Thư viện Viện Địa chất - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Lưu trữ địa chất thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

- Các tài liệu nghiên cứu chuyên đề, bài báo khoa học đã công bố trên các

Trang 30

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Tiến hành nghiên cứu chi tiết một số khu vực đang khai thác của mỏ hoặcbiểu hiện khoáng hóa thiếc Quan sát đặc điểm phân bố của khoáng vật quặng trongthân quặng, trong các đới biến đổi gần quặng Sau đó lấy mẫu gốc để tiến hành phântích cụ thể trong phòng thí nghiệm Chi tiết về số hiệu và vị trí lấy mẫu được thểhiện trong bảng sau:

Bảng 2-1 Vị trí lấy mẫu quặng gốc vùng Pia Oắc

2.2.3 Các phương pháp phân tích xác định thành phần vật chất

a, Phương pháp phân tích mẫu trọng sa nhân tạo: Học viên đã sử dụng phương

pháp trọng sa nhân tạo để phân tích 30 mẫu tổng, nhằm xác định thành phần khoángvật của quặng, các đặc điểm tiêu hình của các khoáng vật quặng gốc Quá trìnhnghiên cứu được thực hiện tại Phòng Khoáng vật, Viện Địa chất - Viện Hàn LâmKhoa học và Công nghệ Việt Nam

Các bước thực hiện phương pháp trọng sa, gồm:

+ Đập phá các mẫu đá có chứa quặng, sau đó nghiền và rây mẫu

+ Rửa mẫu, đãi mẫu lấy các khoáng vật nặng (quặng) trong nước

+ Lấy một lượng trung bình của mẫu cần nghiên cứu, phân loại theo cấp hạtbằng các rây sàng tiêu chuẩn (<1,0 mm)

+ Dùng nam châm để tách rời các phần có từ tính (từ cảm)

Trang 31

+ Dùng nam châm điện với các mức độ mạnh yếu khác nhau để chia ra cácloại từ thẩm khác nhau.

+ Sau đó các khoáng vật này được đem soi dưới kính hiển vi soi nổi Stemi2000C xuất xứ Carl Zeiss (Đức) để xác định các tính chất về hình thái và vật lý củachúng

b, Phân tích khoáng tướng: Học viên đã sử dụng kính hiển vi phản quang để phân

tích 50 mẫu mài láng nhằm xác định thành phần khoáng, cấu tạo - kiến trúc quặngqua đó xác lập mối quan hệ giữa các tập hợp khoáng vật chứa trong quặng với nhau,xác lập tổ hợp cộng sinh khoáng vật góp phần đánh giá chất lượng quặng Quá trìnhnghiên cứu khoáng tướng được học viên thực hiện tại Viện Địa chất - Viện HànLâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Các bước thực hiện phương pháp nghiên cứu khoáng tướng, gồm:

+ Chuẩn bị mẫu: Lựa chọn các vị trí chứa quặng tiêu biểu trong mẫu, tiếnhành cắt mẫu, các mẫu khoáng vật quặng sau cắt được mài láng đến bóng đều và cókích cỡ 3x2x1cm Mẫu mài láng được gắn với một tấm kính dày 3-5mm bằng sétdẻo Dùng bàn ép mẫu để tạo mặt phẳng nằm ngang song song của mặt mẫu lángvới bàn kính hiển vi

+ Mẫu mài láng được nghiên cứu dưới kính hiển vi phản quang Nikon sốhiệu 286073-Antimould (Nhật Bản), vật kính 3,5mm

Hình 2-4 Thực hiện phân tích trọng sa (a) và phân tích khoáng tướng (b)

Trang 32

c, Phương pháp nghiên cứu microsond: Để xác định thành phần hóa học của các khoáng vật đã sử dụng kính hiển vi điện tử quét đầu dò S-4800, số hiệu HI-9057-

0006 (Nhật Bản), điện áp 15kV, cường độ dòng điện 8600 nA – 10500 nA tuỳ từng mẫu Và kính hiển vi điện tử quét đầu dò CAMEBAX Cameca EPMA (Pháp), số hiệu SX-100, điện áp 20kV, cường độ dòng điện 8600 nA – 10500 nA tuỳ từng mẫu Phân tích microsond được thực hiện tại Viện Địa chất và Khoáng vật học, Viện Hàn Lâm Khoa học Nga, phân viện Siberia Số lượng mẫu phân tích của khu vực Pia Oắc bao gồm 58 mẫu cassiterit, 10 mẫu sphalerit, 19 mẫu wolframit, 7 mẫu kesterit (nhóm stannit), 15 mẫu pyrit, 9 mẫu chalcopyrit từ Đề tài ĐTĐL.2011-T/22 và Đề tài hợp tác cơ bản Nga do phòng Khoáng Vật, Viện Địa Chất - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam thực hiện

d, Phân tích nhiệt độ đồng hoá bao thể: nhằm xác định nhiệt độ thành tạo quặng

Để nghiên cứu bao thể, sử dụng các lát mỏng thạch anh và greizen độ dày 0,3mm.Thành phần bao thể được nghiên cứu trên máy Camebax-Microprobe (Trung tâmPhân tích của Viện Địa chất và Khoáng vật học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga phânviện Siberia, Novosibirsk) và phổ kế ion (MS-IR) (Viện công nghệ Vật lý, Viện Hànlâm Khoa học Nga, chi nhánh Yaroslavl) Các nguyên tố chính và các nguyên tố vết(Mn, Rb, Cs, F, Cl) được xác định bằng phân tích XRF Các phân tích được thựchiện với điện thế gia tốc 20 kV và chùm điện tử 20 nA Hàm lượng H2O, Li, Rb, Cs,

và F được xác định bằng phổ kế ion (MS-SI)

2.2.4 Xử lý, tổng hợp các kết quả phân tích

- Xử lý, tổng hợp các kết quả phân tích thành phần vật chất, cấu tạo, kiếntrúc quặng, tổ hợp cộng sinh khoáng vật và thứ tự thành tạo của chúng bằng cácphần mềm chuyên dụng

- Luận giải tài liệu

Trang 33

CHƯƠNG 3.

ĐẶC ĐIỂM KHOÁNG VẬT QUẶNG TRONG MỘT SỐ MỎ THIẾC GỐC

KHU VỰC PIA OẮC 3.1 CÁC MỎ THIẾC GỐC NGHIÊN CỨU

3.1.1 Mỏ Ca Mi

Mỏ Ca Mi là một khu ở sườn phía Tây thuộc mỏ Sant Alexandre, có toạ độ:22.64400E - 105.86700N Khu mỏ này được bắt đầu khai thác từ thế kỷ XIX bởi

người Trung Hoa Mỏ nằm trên sườn dốc phía bắc núi Pia Oắc, cách mỏ sa khoáng

Tĩnh Túc khoảng 4km, ở thượng lưu sông Pia Oắc Địa hình bề mặt mỏ bị phâncách mãnh liệt, độ cao tuyệt đối của nó từ 1200m đến 1800m

Mỏ nằm trong vùng phía bắc đới ngoại tiếp xúc của khối granit với các trầmtích đá phun trào hệ tầng sông Hiến Trong khu vực mỏ chủ yếu bắt gặp các đá sừnghoá, granit và granit bị greizen hoá Các thân quặng nằm trong dải chứa quặng kéodài từ đông nam lên tây bắc, dài gần 1,5km, rộng 0,4km Quặng hoá tối đa tập trung

ở phần giữa của mỏ, trong loại đá sừng tiếp xúc trực tiếp với granit Các thân quặngcassiterit – wolframit là các mạch thạch anh có chiều dày khác nhau

Trong khu mỏ có hai mạch thạch anh bề dày 0,2-0,6m có hướng tây bắc vàđông bắc Hai mạch này cắt nhau, tại nơi giao nhau của hai mạch có sự phát triểnkhoáng hoá tương đối giàu

Theo nghiên cứu khoáng tướng, thành phần khoáng vật trong các mẫu màiláng khá đa dạng, chủ yếu là wolframit chiếm từ 25-95% lượng quặng trong mộtmẫu, cassiterit (10-45%) và molybdenit (1-5%) Ngoài ra, còn chứa các khoáng vậtsulfua: sphalerit (5-13%), kesterit (nhóm stannit) (3-7%), chalcopyrit (1-15%),asrenopyrit (1-3%), pyrit (2-4%), galenit (<1%), bismuthinit (<1%) và rất ít hạtkhoáng vật thứ sinh bornit (<3%), covellit (<1%), chalcocit (<1%)

3.1.2 Điểm quặng hoá Pia Oắc

Điểm quặng hoá Pia Oắc nằm ở sườn đông nam trường quặng, chân đỉnh Pia

Trang 34

Oắc Có toạ độ: 22.60804E - 105.86831N.

Điểm quặng có cấu tạo địa chất khá đơn giản Trong khu vực điểm quặng cógranit xuất hiện ở sườn phía đông, bị các đá sừng hoá hệ tầng sông Hiến phủ lêntrên Ở phía đông và đông bắc, mặt phẳng tiếp xúc của granit thoai thoải chìmxuống (8 – 160) ở trên diện tích vùng granit phát triển có gặp những tàn dư đá sừngcủa vòm với độ lớn 100 – 200 x 50 - 100m và chiều dày dưới 10m

Phần lớn các thân quặng của điểm quặng tập trung ở trong một dải chứaquặng kéo dài 700 m, chiều rộng từ 200 – 300m, ở hướng tây bắc Trong dải này,granit đặc biệt bị nứt rạn khá mạnh, đôi chỗ chuyển thành các đới bị nghiền nát và

bị greizen hoá nhiều

Các thân quặng chủ yếu là các mạch thạch anh – cassiterit – wolframit cóchiều dày đến 8 cm cấu tạo từ thạch anh, calcit – sắt và muscovit dạng vảy hạt nhỏ.Chúng chứa các dăm kết granit biến đổi vây quanh Các mạch quặng có hướng tâybắc, cắm dốc về phía tây nam dưới một góc 75 - 900 Các thân quặng có hình tháikhá phức tạp, từ mạch chính còn có hàng loạt các bướu và các mạch nhỏ theohướng khác nhau Các đường riềm greizen đi kèm theo các thân quặng có chiều dàykhông lớn khoảng vài chục cm

Theo nghiên cứu khoáng tướng, các khoáng vật quặng có mặt trong điểmquặng hóa Pia Oắc là wolframit (7-12%), cassiterit (35-72%) và một số ítmolybdenit (3-10%), chalcopyrit (10-30%), sphalerit (7-30%), arsenopyrit (3-5%),galenit (1-4%), kesterit (nhóm stannit) (25-40%), pyrit (<1%) và khoáng vật thứsinh bornit (1-7%), goethit, limonit (<1%)

3.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC KHOÁNG VẬT QUẶNG

3.2.1 Cassiterit [SnO 2]

Cassiterit nằm xâm tán trong mạch thạch anh, thường tập trung trong cácphần rìa của các thân quặng Cassiterit gặp dưới dạng đơn tinh có góc cạnh rõ ràng,dạng song tinh có khuỷu, dạng liên tinh phức tạp, đôi khi tạo thành các mạch nhỏrất mỏng lấp đầy các khe nứt nhỏ Các tinh thể cassiterit có các mặt lưỡng tháp, lăngkính lưỡng tháp, thường gặp nhất là các liên tinh có hình dạng vô định Cassiterit có

Trang 35

màu nâu sẫm, cấu tạo phân đới với những đới màu đậm nhạt, khác nhau trong từnghạt Vết vạch màu sẫm đến màu hơi nâu, ánh kim cương; ở các vết vỡ thì ánh nhựahơi mỡ Độ lớn chung của các hạt cassiterit thay đổi từ 0,1-5mm, các đơn thể riêng

biệt lên đến 1-2cm (hình 3-1, 3-2a)

Hình 3-5.Mạch thạch anh chứa cassiterit tại điểm V08-11

Hình 3-6 Mẫu đơn khoáng cassiterit (a) và cassiterit bị xuyên cắt bởi tổ hợp

kesterit + sphalerit + chalcopyrit (b)

Kết quả nghiên cứu khoáng tướng cho thấy, cassiterit chiếm hàm lượng daođộng từ 1-35% tổng hàm lượng quặng, có kích thước từ 0,15 x 0,2mm đến 0,6 x1,2 mm, phổ biến dạng các đám hạt hình thù không xác định, kiến trúc tha hình Rìakhoáng vật không rõ ràng bị xuyên cắt mạnh bởi wolframit, sphalerit và chalcopyrit

Bề mặt xù xì, đôi chỗ chứa các hạt galenit nhỏ tha hình màu trắng lấp trong các lỗhổng của tinh thể Ngoài ra còn bắt gặp cassiterit bị xuyên cắt bởi tổ hợp kesterit +

Trang 36

sphalerit + chalcopyrit (hình 3-2b) Điều này chứng tỏ cassiterit là khoáng vật được

thành tạo sớm nhất trong đới quặng hoá của khu vực Pia Oắc

Hàm lượng Sn trong cassiterit của khu vực biến thiên từ 77,00% đến79,26%; hàm lượng trung bình là 78,42%, Sn tập trung trong khoảng 77,95–78,87% Hàm lượng Sn có sự khác biệt tuy không lớn ở điểm quặng Pia Oắc, mỏ Ca

Mi, mỏ sa khoáng Tĩnh Túc, mỏ sa khoáng Thái Lạc lần lượt là: 77,85–79,26%;

gia vào các pha thành tạo khoáng vật cassiterit tiếp theo (hình 3-3)

Ti có hàm lượng biến thiên từ 0% đến 0,85%, hàm lượng trung bình 0,27%,tập trung trong khoảng 0-0,47%, trong khu vực điểm quặng Pia Oắc, mỏ Ca Mi, mỏ

sa khoáng Tĩnh Túc, mỏ sa khoáng Thái Lạc lần lượt là: 0–0,52%; 0,09 – 0,67%;0,04 – 0,85%; 0,09 – 0,26% Hàm lượng nguyên tố Ti có tương quan nghịch biến

với hàm lượng Sn, hệ số tương quan R= 0,84 (hình 3-3) Tương tự như với Fe, Ti là

nguyên tố siderofil trong quá trình nhiệt dịch, Ti thường dễ kết hợp cùng với lưuhuỳnh thành tạo các khoáng vật sulfua nên ít tham gia vào việc thành tạo cackhoáng vật oxyt

Hàm lượng W xuất hiện rất ít, khoảng giá trị là 0,22-0,223% ở mỏ Ca Mi và0,01-0,35% trong sa khoáng mỏ Tĩnh Túc, không quan sát được sự tập trung

Hàm lượng Nb biến thiên từ 0% đến 0,21%, hàm lượng trung bình là 0,018

Trang 37

% Ngoại trừ mẫu V08-12-5 có hàm lượng Nb 0,21 % thì Nb chỉ xuất hiện trong sakhoáng mỏ Tĩnh Túc với hàm lượng biến thiên trong khoảng 0,02–0,187% Hàmlượng nguyên tố Nb của mỏ sa khoáng Tĩnh Túc trong cassiterit có giá trị cao hơn

so với chỉ số Clark 0,002 % (20 ppm)

Mn có hàm lượng thay đổi từ 0% đến 0,09%, tập trung trong khoảng 0,03% Trong các tập mẫu nghiên cứu, Mn xuất hiện ở mẫu điểm quặng Pia Oắc,mẫu sa khoáng Tĩnh Túc với hàm lượng trung bình lần lượt là 0,018%; 0,03%; mẫu

0,01-sa khoáng Thái Lạc là 0,01%

Indi có hàm lượng thay đổi từ 0% đến 0,23%, hàm lượng trung bình 0,03%

In tập trung nhất trong điểm quặng Pia Oắc với hàm lượng trung bình 0,03%; tại mỏ

Ca Mi, mỏ sa khoáng Tĩnh Túc, mỏ sa khoáng Thái Lạc hàm lượng trung bình lầnlượt là: 0,01%; 0,03% và 0,02% Đáng chú ý, mẫu TT-6 của mỏ sa khoáng Tĩnh Túc

có hàm lượng In cao đột biến 0,23% - gấp 7 lần giá trị trung bình của khu vực Sovới chỉ số Clark là 0,0049 % (49ppm), hàm lượng In của khu vực có giá trị cao hơnnhiều Điều này cho thấy, hàm lượng In trong cassiterit có giá trị công nghiệp cao

Trang 38

Hình 3-7 Tương quan hàm lượng giữa các nguyên tố tạp chất với Sn trong

cassiterit khu vực Pia Oắc

Nhìn chung, khoáng vật cassiterit là khoáng vật thành tạo sớm nhất trong các

mỏ thiếc gốc khu vực Pia Oắc Cassiterit thường là các hạt có dạng méo mó, màunâu sẫm với các đới màu đậm nhạt khác nhau Hàm lượng Sn chiếm 78,42%, cácnguyên tố tạp chất bao gồm: Fe, Ti, Nb, Mn, In Nguyên tố Nb, Mn chỉ xuất hiện tạiđiểm quặng Pia Oắc và mỏ sa khoáng Tĩnh Túc Trong các nguyên tố tạp chất củacassiterit, In và Nb là hai nguyên tố giá trị tập trung cao hơn so với chỉ số Clark

Trang 39

Bảng 3-2 Thành phần hoá học (%) các nguyên tố trong khoáng vật cassiterit khu

vực Pia Oắc, phân tích bằng phương pháp microsond.

T22- 12-1

12-2

12-3

12-4

12-5

12-6

11-1

11-2

11-3

11-4

V08-Số liệu phân tích microsond FeO 0.78 0.73 0.09 0.07 0.00 0.17 0.19 0.07 0.47 0.03 0.00 0.01

Trang 40

11-7

11-8

11-9

6-1

6-2

6-3

6-4

V08- 37(1)

37(2)

37

T22-Số liệu phân tích microsond FeO 0.08 0.03 0.00 0.03 0.00 0.03 0.20 0.16 0.17 0.00 0.00 0.06

Ngày đăng: 06/12/2020, 09:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w