1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các đặc điểm hóa lý của nước ngầm tại hai mặt cắt thuộc huyện phúc thọ, phía nam sông hồng hà nội góp phần giải thích nguyên nhân hành thành ô nhiễm asen

89 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ịa điểm nghiên cứu mà đề tài lựa chọn là khu vực phía Nam sông Hồng nằm trong vùng đồng bằng bồi tích sông Hồng được hình thành bởi các trầm tích ệ Tứ cách đây khoảng 20 nghìn năm do sự

Trang 1

-

Trần Thị Mai

NGHIÊN CỨU Á Ặ ỂM HÓA LÝ CỦ ỚC NGẦM

T I HAI MẶT CẮT THUỘC HUYỆN PHÚC TH ,

PHÍA NAM SÔNG HỒNG - HÀ NỘI GÓP PHẦN GIẢI THÍCH NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH

Ô NHIỄM ASEN

U

- 2015

Trang 2

U Ộ

-

Trần Thị Mai

NGHIÊN CỨU Á Ặ ỂM HÓA LÝ CỦ ỚC NGẦM

T I HAI MẶT CẮT THUỘC HUYỆN PHÚC TH ,

PHÍA NAM SÔNG HỒNG - HÀ NỘI GÓP PHẦN GIẢI THÍCH NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH

Trang 3

L I CẢM Ơ

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới Tiến sĩ Phạm Thị Kim

Trang đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong

suốt quá trình làm luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Dieke Postma, Viện Khảo sát Địa

chất Đan Mạch và Greenland (GEUS), người đã trực tiếp giảng dạy các khóa học

hữu ích và truyền đạt những kiến thức chuyên ngành quý báu sử dụng trong luận

văn này

Em xin cảm ơn thầy Phạm Hùng Việt và các anh chị, các bạn trong nhóm

Nghiên cứu Kim loại nặng và nhóm Hóa Môi trường đã nhiệt tình giúp đỡ em trong

suốt quá trình làm việc, nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ Môi trường và Phát

triển Bền vững (CETASD)

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Môi trường – Trường

Đại học Khoa học Tự Nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy và truyền

đạt những kiến thức bổ ích cần thiết để sử dụng trong luận văn cũng như trong các

nghiên cứu và công việc sau này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, luôn luôn chia

sẻ, thấu hiểu và là điểm tựa vữngchắc về tinh thần trong toàn bộ thời gian thực hiện

luận văn

Em xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ quý báu về kinh phí của dự án PREAs và

Trung tâm CETASD, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia

Hà Nội

ác ả l ậ vă

rầ ị Ma

Trang 4

MỤ Ụ

MỞ ẦU 1

ươ 1- TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về Asen 3

1.1.1 Dạng tồn tại của As trong nước ngầm 3

1.1.2 Độc tính của Asen 4

1.2 Tình hình ô nhiễm As ở Việt Nam và Thế giới 7

1.2.1 Ô nhiễm As trong nước ngầm trên Thế giới 7

1.2.2 Hiện trạng ô nhiễm As ở Việt Nam 10

1.3 ặc đ ểm hóa lý của ước ngầm l q a đến sự ô nhiễm As 13

1.3.1 Đặc điểm hóa lý của nước ngầm 13

1.3.2 Các giả thiết về sự hình thành As trong nước ngầm 21

1.4 ặc đ ểm dân s , địa chất v ước ngầm khu vực nghiên cứu 28

ươ 2 – Ợ P Ơ P ÁP ỨU 31

2.1 ịa đ ểm nghiên cứu 31

2.2 tượng nghiên cứu 32

2.3 P ươ p áp cứu 33

2.3.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 33

2.3.2 Phương pháp lấy mẫu nước ngầm 33

2.3.3 Phương pháp lập bản đồ 35

2.4 P ươ p áp p â tíc óa ọc 35

2.4.1 Các chỉ số phân tích tại hiện trường 35

2.4.2 Các thông số phân tích trong phòng thí nghiệm 36

2.5 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất nghiên cứu 38

2.5.1 Thiết bị và dụng cụ 38

2.5.2 Hóa chất 38

ươ 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LU N 40

3.1 ặc đ ểm óa lý ước ngầm giếng nhà dân thu c khu vực nghiên cứu 40

3.1.1 Các thành phần đa lượng 42

Trang 5

3.1.2 Các thành phần vi lượng 46

3.2 M tươ q a ữa m t s thành phần hóa học tro ước ngầm với As tại hai mặt cắt 51

3.2.1 Mối tương quan giữa một số thành phần mang tính oxi hóa và As trong nước ngầm tại hai mặt cắt 58

3.2.2 Mối tương quan giữa một số thành phần mang tính khử và As trong nước ngầm tại hai mặt cắt 61

KẾT LU N 67

KIẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

MỤ Ì Ả

Hình 1.1 Giản đồ phân bố các dạng tồn tại của asen theo Eh-pH 3

Hình 1.2 Sự phân bố của các vùng bị ô nhiễm As trong khu vực am và ông am Á 8

Hình 1.3 Sự phân bố nồng độ s và độ sâu tương ứng trong các giếng khoan ở đồng bằng sông Hồng, các mẫu được thu thập từ năm 2005 – 2007 12

Hình 1.4 Quá trình oxi hóa các chất hữu cơ hình thành môi trường khử 23

Hình 1.5 Sự cạnh tranh hấp phụ của các anion trên bề mặt khoáng 25

Hình 2.1 Vị trí các giếng nhà dân và hai mặt cắt A và B thuộc huyện Phúc Thọ 32

ình 2.2 o các thông số hiện trường sử dụng bộ dẫn dòng chảy kín 34

Hình 2.3 Sục khí itơ các dụng cụ trước khi lấy mẫu 34

Hình 3.1 Sự phân bố của E trong nước ngầm khu vực nghiên cứu 42

Hình 3.2 Bản đồ sự phân bố hàm lượng của các cation chính trong nước ngầm 43

Hình 3.3 Sự phân bố nồng độ của anion chính trong nước 45

Hình 3.4 Sự phân bố của một số thành phân vi lượng trong nước ngầm 47

Hình 3.5 Sự phân bố của NH4+ trong nước ngầm khu vực nghiên cứu 49

Hình 3.6 Lát cắt địa chất của hai mặt cắt A và B 52

Hình 3.7 Giản đồ Piper cho nước ngầm thuộc hai mặt cắt A và B 54

Hình 3.8 Sự phân bố của s( ) trong nước ngầm tại hai mặt cắt 56

Hình 3.9 Sự phân bố NO3-, SO42 -, DOvà PO43- trong nước ngầm ở hai mặt cắt 58

Hình 3.10 Mối tương quan của As(III) và SO42- 59

Hình 3.11 Mối tương quan của As(III) và PO43- 60

Hình 3.12 Sự phân bố Mn2+, NH4+, Fe2+ và CH4 trong nước ngầm tại hai mặt cắt 61 Hình 3.13 Mối tương quan của As(III) và Mn2+ 62

Hình 3.14 Mối tương quan giữa As(III) và NH4+ 63

Hình 3.15 Sự phân bố của s( ) và Fe( ) trong nước ngầm ở hai mặt cắt 65 Hình 3.16 Biểu đồ khả năng bão hòa khoáng Siderit và Vivianit trong nước ngầm66

Trang 7

MỤ BẢ B ỂU

Bảng 1.1 Sự phổ biến của một số bệnh khi phơi nhiễm As và không bị phơi nhiễm 7

Bảng 1.2 Ô nhiễm asen trong nước ngầm ở một số nước trên thế giới 9

Bảng 1.3 Kết quả phân tích As do UNICEF hỗ trợ (2001–2004) 13

Bảng 1.4 ác quá trình địa hóa tự nhiên giải phóng s vào nước ngầm 22

Bảng 3.1 Một số thành phần hóa học nước ngầm tại các giếng nhà dân 40

Bảng 3.2 Giá trị trung bình của một số thành phần hóa học trong nước ngầm tại hai mặt cắt 53

Trang 8

MỤ Ữ Ế Ắ

AAS : Atom Absorption Spectrophotometer- Máy quang phổ hấp

thụ nguyên tử BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi Trường

DO : Dissolved oxygen – Nồng độ oxi hòa tan

HVG : Hydride Vapor Generator - Bộ tạo khí hydrua

ICP : Inductively Coupled Plasma - Plasma cảm ứng cao tần

PHREEQ : Phần mềm mô hình hóa chuyên dụng cho các quá trình thủy

địa hóa diễn ra trong trầm tích và nước ngầm QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

UNICEF : United Nations Children's Fund - Quỹ hi đồng Liên Hiệp

Quốc WHO : World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 9

MỞ ẦU

Ngày nay, khi nguồn nước mặt ngày càng ô nhiễm, nước ngầm được coi là nguồn nước đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển con người cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Việc khai thác và sử dụng nước ngầm cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi… làm cho tình trạng ô nhiễm nước ngầm ngày càng trầm trọng hơn

Ở Việt Nam, trong vài chục năm trở lại đây, nước ngầm được sử dụng rất phổ biến (chiếm tới 35-50% lượng nước cấp) cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt của người dân, đặc biệt tại các vùng đồng bằng, đô thị đông dân cư Vì nước ngầm thường được coi là sạch hơn nước mặt do không tiếp xúc trực tiếp với các nguồn thải con người tạo ra Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã cho thấy nước ngầm tại một số vùng có hàm lượng asen, sắt, amoni, mangan,… cao hơn tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần Khi nước ngầm này được sử dụng cho mục đích ăn uống thì mức độ vượt tiêu chuẩn lại càng nghiêm trọng

Các quá trình tự nhiên như mưa, các dòng chảy nước mặt và các quá trình vận động của địa chất thủy văn cũng như những hoạt động kinh tế của con người làm cho đặc tính hóa lý của nước ngầm biến đổi rất phức tạp ể góp phần đánh giá chất lượng nước ngầm cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất, rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu các đặc tính hóa lý nước ngầm ở các khu vực có đặc điểm địa chất thủy văn khác nhau ịa điểm nghiên cứu mà đề tài lựa chọn là khu vực phía Nam sông Hồng nằm trong vùng đồng bằng bồi tích sông Hồng được hình thành bởi các trầm tích ệ Tứ cách đây khoảng 20 nghìn năm do sự kết hợp ảnh hưởng của nhiều hoạt động địa chất trong quá khứ, có cấu trúc địa chất phức tạp được biến đổi từ một khu vực tích tụ trầm tích dưới mực nước biển thành khu vực chịu sự phong hóa, sói mòn nằm trên mực nước biển Với đối tượng nghiên cứu là các thành phần hóa lý của nước ngầm như các nguyên tố đa lượng, vi lượng, các chất hữu cơ, p , nhiệt độ, độ dẫn, hàm lượng ôxi hòa tan và mối quan hệ giữa các thành phần này trong môi

Trang 10

trường nước ngầm của khu vực nghiên cứu Từ đó, tìm hiểu nguyên nhân hình thành

ô nhiễm s trong nước ngầm tại khu vực này

Xuất phát từ lý do trên, luận văn được thực hiện với đề tài: “Nghiên cứ đặc tính hóa lý của ước ngầm tại hai mặt cắt thu c huyện Phúc Thọ, phía nam sông Hồng - Hà N i, góp phần giải thích nguyên nhân hình thành ô nhiễm Asen” Với các nội dung cụ thể như sau:

1 Khảo sát hàm lượng các thành phần đa lượng và vi lượng trong nước ngầm

từ đó nhận xét xu hướng biến đổi các thành phần này

2 Phân tích đánh giá mối tương quan giữa các thành phần hóa học với s trong nước ngầm

3 Dự đoán nguyên nhân hình thành ô nhiễm sen tại khu vực nghiên cứu

Trang 11

ươ 1- TỔNG QUAN 1.1 ổ q a về e

Trước đây, asen được sử dụng rất phổ biến trong công nghiệp khai mỏ, luyện kim, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thậm chí trong một số chất tăng trọng cho gia súc Tuy nhiên, trong khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã chứng minh được tác hại của asen và sau đó con người mới có cái nhìn đúng đắn về ảnh hưởng của nó tới sức khỏe và đời sống ộc tính của asen phụ thuộc vào dạng hoá học và trạng thái vật lý của hợp chất sen vô cơ được coi là độc nhất đối với sức khoẻ con người

1.1.1 ạ tồ tạ của tro ước ầm

sen là một á kim màu xám trắng, mùi tỏi, khối lượng riêng d=5,7g/cm3, nhiệt

độ nóng chảy là 810o (p = 30 atm) và nhiệt độ sôi là 613oC [7]

Hình 1.1 Giản đồ phân bố các dạng tồn tại của asen theo Eh-pH

Trang 12

Dạng tồn tại của asen phụ thuộc chủ yếu vào p và thế oxy hóa khử, ví dụ trong môi trường mang tính oxi hóa, 2AsO4- chiếm ưu thế ở p thấp (p <6.9), trong khi ở p cao hơn, sO42- lại trở lên phổ biến hơn ( 3AsO40 và AsO43- có thể xuất hiện trong môi trường rất axit và kiềm) Dưới điều kiện khử ở p thấp hơn khoảng 9.2, dạng asenit H3AsO30 sẽ là chủ yếu (hình 1.1) Trong tự nhiên asen vô cơ thường tồn tại dưới dạng các muối asenit, asenat và các oxit asen ác dạng asen hữu

cơ gồm: metyl-, dimetyl-, trimetyl-asenic, thường tìm thấy trong mô của các loài động vật có vú; asenobetan thường tìm thấy trong cá và hải sản; asenocholin, asenosugar, asenolipid thường có trong thực vật Trong nước ngầm, asen xuất hiện chủ yếu ở hai dạng là asenit( ) và asenat(V) Trạng thái oxi hóa, dạng tồn tại của s

sẽ quyết định độc tính, sự linh động và khả năng vận chuyển của nó trong môi trường [36]

1.1.2 c tí của Asen

Rất nhiều các chất ô nhiễm trong nước được định nghĩa như là một chất độc

và có hại cho môi trường và sức khỏe con người Trong đó asen được xem là một chất có độc tính cao hàng đầu sen rất khó bị phá hủy và chỉ có thể chuyển nó thành các dạng khác hoặc chuyển thành hợp chất không tan trong liên kết với các nguyên tố khác như sắt, lưu huỳnh goài ra, canxi, magie, bicacbonat, clo, và sunfat cũng được tìm thấy có liên kết với asen trong nước ngầm ộc tố và các chất gây ung thư của asen phụ thuộc vào trạng thái oxi hóa và dạng hóa học của nó sen vô cơ thường độc hơn asen hữu cơ (trừ MM ( ) và DM (V)), các dạng hóa trị 3 nguy hiểm hơn

so với dạng hóa trị 5 [41] senit được xem là độc hơn asenat gấp 10 lần và 70 lần so với MM (V) và DM (V) ộc tính của các dạng asen được sắp xếp theo thứ tự sau: asenit > asenat > mono-metyl-asenat (MMA) > dimetyl-asenat (DMA) [15]

ộc tính của s đối với động vật có vú liên quan đến sự hấp thụ và thời gian tích lũy của nó trong cơ thể, và độc tính này biến đổi tùy theo dạng tồn tại của asen

ộc tính của asen cũng liên quan đến độ tan của các hợp chất chứa asen trong nước s( ) thường độc hơn s(V) rất nhiều senat được hấp thụ dễ dàng và cũng bị loại

bỏ nhanh chóng, chủ yếu qua đường nước tiểu senit cũng được hấp thụ dễ dàng

Trang 13

nhưng nó tồn tại trong các mô với lượng lớn hơn và trong khoảng thời gian dài hơn Con người có thể bị phơi nhiễm asen qua hít thở không khí, hấp thu thức ăn và qua nước uống

Ở liều lượng nhỏ, asen và các hợp chất của asen có tác dụng kích thích quá trình trao đổi chất và chữa bệnh nhưng chúng lại trở thành những chất độc, rất độc với liều lượng cao hiễm độc asen cấp tính có thể dẫn tới bị kích ứng đường ruột, giảm huyết áp một cách bất thường, bị co giật thậm chí bị trụy tim và dẫn tới tử vong Liều lượng gây chết (LD50) đối với con người là 1-4 mg/kg trọng lượng cơ thể

R xếp asen vô cơ vào nhóm 1 (Phân loại các hóa chất dựa vào nguy cơ gây ung thư ở người) - là chất gây ung thư cho người Tỷ lệ mắc bệnh ung thư da do phơi nhiễm asen tương đối cao Trong những nghiên cứu số người dân uống nước có nồng độ asen cao cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh ung thư gia tăng theo liều lượng asen và thời gian uống nước Tiêu chuẩn mà hầu hết các nước trên thế giới áp dụng đối với asen là 0,01mg/L trong nước uống

Ba ảnh hưởng chính của asen tới sức khoẻ con người là: làm đông keo protein; tạo phức với s( ) và phá hủy quá trình photpho hóa sen gây ung thư và các bệnh liên quan đến da, tim mạch, đường hô hấp, đường tiêu hóa, nội tiết (đái tháo đường), ảnh hưởng đến thần kinh, sinh sản và sự phát triển hững tác động này tùy thuộc vào thời gian phơi nhiễm và liều lượng đáp ứng của từng người

ơ chế gây độc của s( ) là tác dụng lên nhóm Sulphydryl (-S ), làm ức chế hoạt động của enzym trong chu trình axit citric

Trang 14

ác enzym sản sinh năng lượng của tế bào trong chu trình axit citric bị ảnh hưởng rất lớn Enzym bị ức chế do việc tạo phức với s( ), làm ngăn cản sự sản sinh phân tử TP Do asen có tính chất hóa học tương tự với photpho, nên chất này

có thể thay thế photpho ở một số quá trình hóa sinh Trong quá trình tạo thành TP (ademosine triphoglyphate) Sự có mặt của s sẽ gây trở ngại cho sự hình thành 1,3 – diphotphoglycerate và cho ra sản phẩm 1 – arseno – 3 – photphoglycerate gây hiệu ứng xấu cho cơ thể

uá trình tạo TP bình thường theo phương trình:

Khi có mặt của sO43-

Sự xuất hiện của một số bệnh như tiểu đường và tăng huyết áp cao hơn ở những người phơi nhiễm s so với những người không bị phơi nhiễm ác nghiên cứu đã tiến hành với một số người dân ở Bangladesh đã cho thấy rằng sự xuất hiện bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, và các rối loạn hô hấp mãn tính như ho mãn tính và hen phế quản ở bệnh nhân phơi nhiễm s tăng cao hơn so với những người không tiếp xúc với s ác kết quả nghiên cứu (bảng 1.1) cho thấy khi tiếp xúc với s thì

Trang 15

số người mắc bệnh tiểu đường cao hơn 4.4 lần, bệnh tăng huyết áp tăng 1,7 lần và các bệnh rối loạn hô hấp tăng 2,9 lần so với những người không tiếp xúc với s

Bảng 1.1 Sự phổ biến của một số bệnh khi phơi nhiễm As và không bị phơi nhiễm [45]

ài Loan và Việt Nam [26]

Trang 16

Hình 1.2 Sự phân bố của các vùng bị ô nhiễm As trong khu vực Nam và Đông Nam Á

Sự ô nhiễm s trong nước ngầm quy mô lớn có nguồn gốc tự nhiên, thường được tìm thấy ở hai loại môi trường: nội địa hoặc lưu vực kín ở các khu vực khô cằn hoặc bán khô cằn; trong các tầng chứa nước có tính khử mạnh Cả hai môi trường đều có chứa trầm tích trẻ và ở các vùng đồng bằng thấp trũng, nơi có lưu lượng dòng chảy ngầm thấp Về mặt lịch sử, đây là tầng nước ít bị rửa trôi và s được giải phóng

từ trầm tích có thể được tích lũy ngay tại tầng nước này ước ngầm giàu s cũng được tìm thấy ở các vùng địa nhiệt, một số vùng có hoạt động khai thác khoáng sản

và nơi xảy ra quá trình oxy hóa khoáng sunfua [35]

Xét về số lượng người bị phơi nhiễm, vấn đề As ở Bangladesh và Tây Bengal trong các tầng ngậm nước và bồi tích phù sa châu thổ được phát hiện là nghiêm trọng nhất trên toàn cầu àm lượng s trong nước ngầm dao động trong khoảng rộng từ

<0,5 tới 3200µg/L Vấn đề sức khỏe được phát hiện đầu tiên ở Tây Bengal vào những năm 1980 nhưng những chuẩn đoán đầu tiên đã không xác định được nguyên nhân là

do nhiễm độc As ến năm 1993, khoảng 30 – 35 triệu người ở Bangladesh và khoảng 6 triệu người ở Tây Bengal được ước tính là bị phơi nhiễm s trong nước uống với nồng độ trên 50µg/L àm lượng As và mức độ phơi nhiễm của một số quốc gia được thể hiện dưới bảng sau:

Trang 17

Bảng 1.2 Ô nhiễm asen trong nước ngầm ở một số nước trên thế giới [36]

ịa đ ểm S ười bị p ơ

nhiễm

tro ước ngầm (g/L)

Tiêu chuẩn cho phép (g/L)

Tại Hungary nồng độ As trên 50µg/L được phát hiện trong nước ngầm từ trầm tích phù sa ở phía nam của dải đồng bằng Hungary rộng lớn và một phần của nước láng giềng Romania Dải đồng bằng với diện tích 110.000 km2 này chứa chủ yếu là trầm tích ệ Tứ ước ngầm thay đổi từ dạng Ca – Mg – HCO3 ở khu vực tầng nông của đồng bằng tới dạng nước Na – HCO3 nằm ở tầng sâu hơn ước ngầm tầng sâu (độ sâu 80 – 560m) có tính khử với nồng độ As, Fe, NH4 cao và nhiều nghiên cứu cho thấy nơi này có hàm lượng axit humic lên đến 20mg/L ước ngầm có nồng độ

As cao nhất ở vùng thấp nhất của đồng bằng, nơi có trầm tích nhỏ mịn Gurzau (2011) đã ghi nhận rằng nồng độ As lên tới 176µg/L ở tầng chứa nước gần với Romania

Trang 18

Trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2005, Trung Quốc đã có khoảng 10,000 người bị nhiễm độc As mãn tính do sử dụng nước uống từ nước ngầm có nồng độ As cao và do đốt than giàu As Vụ nhiễm độc s đầu tiên ở Trung Quốc được ghi nhận tại thành phố Kuitun, vào năm 1983 ác cuộc điều tra đã ghi nhận ở lưu vực sông thuộc miền Bắc Trung Quốc có nồng độ As trong các tầng chứa nước ngầm thường trên 10µg/L

guyên nhân người dân Mỹ Latinh bị phơi nhiễm As trong nhiều năm qua là

do sử dụng thực phẩm và nước uống có chứa s ầu thế kỷ 21 đến nay, có 15 trong

số 20 quốc gia Mỹ Latinh đã phát hiện trong nguồn nước mặt và nước ngầm có hàm lượng s cao Ước tính khoảng 4,5 triệu người Mỹ Latinh tiếp xúc với nước uống có hàm lượng As trên 50µg/L và 14 triệu người sử dụng nước có hàm lượng 10µg/L [45]

1.2.2 ệ trạ ô ễm ở ệt am

Ở Việt Nam, hai vùng đồng bằng phù sa lớn là đồng bằng sông Mê Kông thuộc miền am và đồng bằng sông Hồng thuộc miền Bắc, nước ngầm thường được khai thác và sử dụng làm nước uống từ các giếng khoan Nhu cầu về nước ngầm được tăng đáng kể từ giữa năm 1990 UNICEF đã ước tính khoảng 20,48% dân số Việt Nam (16,5 triệu người) đang dùng nước giếng khoan, trong đó đồng bằng sông Hồng có khoảng trên 10 triệu người có nguy cơ phơi nhiễm As Asen trong nước ngầm ở đồng bằng sông Mê Kông có nồng độ dao động trong khoảng từ 1-845µg/L (trung bình 39µg/L), còn ở đồng bằng sông Hồng nồng độ As rất khác nhau từ 1 - 3050µg/L (trung bình 159µg/L) tùy thuộc vào vị trí và độ sâu của nước ngầm Ngoài việc sử dụng nước ngầm cho tưới tiêu ở ngoại thành, việc khai thác nước ngầm để cung cấp nước sinh hoạt cho nội thành Hà Nội cũng làm tăng nồng độ As trong các tầng chứa nước Sự gia tăng này là do s di chuyển từ tầng nước ngầm có nồng độ

As cao sang khu vực có nồng độ thấp hoặc không có As Các trầm tích ở độ sâu 40m của đồng bằng sông Hồng có nồng độ As trong khoảng từ 2-33µg/L (trung bình 7µg/g khối lượng khô) Ở khu vực này nồng độ As tương quan đáng kể với trầm tích

12-có sắt liên kết Trong cả hai khu vực đồng bằng, tình trạng ô nhiễm As trong nước

Trang 19

ngầm có nguồn gốc tự nhiên và do quá trình khử hòa tan oxit sắt có chứa As trong trầm tích các tầng chứa nước [13] ể đánh giá sự xuất hiện của s trong nước ngầm đồng bằng sông Mê Kông, tác giả Johanna (2008) đã tiến hành lấy mẫu phân tích ở

112 giếng Kết quả cho thấy 22% mẫu có nồng độ As trên 10µg/L và 69% mẫu có nồng độ Mn vượt tiêu chuẩn (0,4mg/L) [29] Một cuộc khảo sát khác của Merola (2015) ở tỉnh ồng Tháp cho thấy 53% số giếng nghiên cứu (36/68 giếng) có hàm lượng As lớn hơn tiêu chuẩn của WHO (10µg/L) [40, 49]

Vùng đồng bằng sông Hồng là khu vực bằng phẳng trên mực nước biển 5-8m

Nó có một lịch sử phát triển địa chất khá phức tạp với sự di chuyển lên xuống, hiện tượng biển tiến, sự xói mòn và hoạt động của các dòng chảy mà hình thành đồng bằng bồi tích phù sa Kết quả của những quá trình địa chất là lớp trầm tích ệ Tứ tương đối dày (50 - 90m tại Hà Nội), chứa nhiều chất hữu cơ, tạo điều kiện cho quá trình giải phóng As từ trầm tích ra nước ngầm [13] Trung tâm nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát triển Bền Vững, trường ại học Quốc gia Hà Nội cùng các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ ước, Thụy Sĩ đã phối hợp tiến hành khảo sát trên toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng với tổng số 512 mẫu nước giếng khoan và kết quả phân tích cho thấy hàm lượng As nằm trong khoảng rất rộng, từ dưới 0,5µg/L cho tới trên 800µg/L Khu vực có nồng độ As cao tập trung chủ yếu tại vùng bờ trái sông Hồng, xuyên qua một số tỉnh đông dân như à Tây, à am, à Nội, am ịnh, ưng Yên và Thái Bình (hình 1.5) ây là những khu vực mà sông Hồng nguyên thủy đã từng chảy qua [33]

Trang 20

Hình 1.3 Sự phân bố nồng độ As và độ sâu tương ứng trong các giếng khoan ở đồng

bằng sông Hồng, các mẫu được thu thập từ năm 2005 – 2007

Tác giả gusa (2006) đã nghiên cứu s trong nước ngầm khu vực Thanh Trì

và Gia Lâm của Hà Nội, bằng cách tiến hành lấy và phân tích 25 mẫu nước ngầm Kết quả cho thấy nồng độ s trong nước ngầm từ 1-330µg/L, khoảng 40% những mẫu này có chứa nồng độ s cao hơn hướng dẫn của WHO (10µg/L) [38]

Ngoài ra, Nguyễn Vân Anh và cộng sự (2009) đã tiến hành nghiên cứu ở tỉnh

Hà Nam và phát hiện sự ô nhiễm s trong nước ngầm ở bốn xã (Vĩnh Trụ, Bồ ề, Hòa Hậu, hân ạo) nơi mà người dân sử dụng nước ngầm làm nguồn nước ăn uống chính Nồng độ As ở ba xã Vĩnh Trụ, Bồ ề, Hòa Hậu được xác định vượt quá tiêu chuẩn nhiều lần với hàm lượng trung bình tương ứng là 348; 211 và 325µg/L Mặc

dù đã loại bỏ được 90% As bởi hệ thống lọc cát nhưng hàm lượng As sau lọc vẫn cao hơn tiêu chuẩn (10µg/L) Các kết quả điều tra đánh giá rủi ro của việc sử dụng nước ngầm ô nhiễm As cho thấy hơn 40% số người sử dụng nước ngầm đã qua xử lý (lọc cát) vẫn có nguy cơ nhiễm độc mãn tính và ung thư cao [48]

Kết quả tổng hợp của UNICEF từ 2001–2004 ở một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng được thể hiện trong bảng dưới đây:

Trang 21

Bảng 1.3 Kết quả phân tích As do UNICEF hỗ trợ (2001–2004) [7]

là nông dân ở vùng nông thôn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, nhận thức về an toàn vệ sinh nước ăn uống chưa cao nên thường có nguy cơ tiềm ẩn đốivới sức khỏe con người khi tiếp xúc với As một thời gian dài Vì vậy việc giáo dục, tuyên truyền cho người dân về mối nguy hiểm, cách phòng tránh tác động của s đối với sức khỏe con người và việc cung cấp nước sạch là rất cần thiết

1.3 ặc đ ểm óa lý của ước ầm l q a đế ự ô ễm

1.3.1 ặc đ ểm óa lý của ước ầm

ước ngầm được tạo nên do nước mưa và hơi nước thấm vào trong lòng đất

và được giữ lại trong các tầng chứa nước nằm xen kẽ với các tầng không thấm nước

Do nước thấm qua các tầng đất đá, cát sỏi giống như quá trình lọc qua các vật liệu lọc nước nên nước ngầm có hàm lượng chất lơ lửng thấp Các tầng chứa nước thường có chứa các khoáng chất và quá trình rửa lũa hòa tan các khoáng này làm bổ sung các nguyên tố kim loại, đặc biệt là sắt và mangan vào nước ngầm àm lượng các nguyên tố kim loại trong nước ngầm phụ thuộc vào đặc điểm địa chất của từng khu vực Có những nơi nước ngầm rất sạch, hàm lượng các kim loại không vượt quá tiêu

Trang 22

chuẩn, bảo đảm các yêu cầu của nước sinh hoạt và ăn uống chỉ cần xử lý đơn giản như khử trùng rồi đưa vào sử dụng gược lại, có những nơi hàm lượng asen, sắt và mangan rất cao, thậm chí nước ngầm còn có hàm lượng cao các kim loại nặng khác như đồng, chì, thuỷ ngân, crôm và các hợp chất nitơ amôn nên cần phải qua xử lý rất phức tạp mới có thể sử dụng được Nhìn chung chất lượng nước ngầm thường tốt hơn

so với chất lượng nước mặt nên nước ngầm thường được sử dụng làm nguồn nước cho sinh hoạt và công nghiệp Việc sử dụng nước ngầm sẽ bảo đảm vệ sinh hơn so với nước mặt và giảm được giá thành xử lý trước khi sử dụng

Trên cùng một khu vực chất lượng nước ngầm có thể rất khác nhau, ví dụ khu vực phía bắc Thành phố Hà Nội chất lượng nước ngầm tốt hơn nhiều so với phía nam

Hà Nội Sự khác nhau này do nước ngầm là một hệ thống hóa lí phức tạp, luôn biến đổi tùy thuộc vào thành phần, mức độ hoạt tính của các hợp phần tham gia trong nước và các điều kiện nhiệt động học Nước ngầm thường có những đặc điểm sau:

- ộ đục thấp

- Nhiệt độ và thành phần hoá học tương đối ổn định

- Không có oxy, có thể chứa các khí H2S, CH4,…

- Chứa nhiều chất khoáng hoà tan, chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo

ể đánh giá chất lượng của nước ngầm cần dựa vào một số tính chất cơ bản của nước ngầm như:

 Tính chất vật lý

Nhiệt độ nước ngầm thường tương đối thấp, đặc biệt là nhiệt độ nước ngầm tầng sâu trong khoảng 7 - 120C Trong một số trường hợp, nước ngầm có nhiệt độ cao tới 70 - 800 (nước khoáng) chỉ thích hợp sử dụng cho những mục đích đặc biệt Nhìn chung nhiệt độ của nước ngầm không thích hợp với mục đích cấp nước sinh hoạt và cung cấp cho cây trồng Nếu nhiệt độ nước ngầm thấp hơn 300C hoặc cao hơn 350

C khi sử dụng cần phải thông qua xử lý ể xử lý tăng nhiệt độ, nước ngầm

từ giếng bơm lên được trữ lại trong bể để hâm nóng dưới ánh mặt trời ể giảm nhiệt

độ nước ngầm chỉ cần trữ trong các bể ở nhiệt độ thường để nước ngầm tỏa nhiệt [3]

Trang 23

ộ đục của nước ngầm tùy thuộc vào chất khoáng hòa tan trong nước, hàm lượng các hỗn hợp cơ học, các chất hữu cơ và các chất keo ộ đục nước ngầm nhìn chung rất nhỏ và thường thuộc loại nước trong suốt

Màu của nước ngầm phụ thuộc vào thành phần hóa học và sự có mặt của các chất hòa tan Phần lớn nước dưới đất đều không có màu nhưng trong một số trường hợp như nước cứng thường có màu phớt xanh da trời, các hợp chất humic hữu cơ làm nước có màu phớt vàng, các phần tử lơ lửng làm cho nước có màu phớt xám…

Mùi của nước thường liên quan tới hoạt động phân hủy các chất hữu cơ của vi khuẩn ước ngầm thường không có mùi, nhưng đôi khi có mùi trứng thối của H2S

do sự khử sunfat hoặc mùi thiu ôi khó chịu từ nước tù đọng của một số giếng được gia cố bằng gỗ

Vị của nước là do sự có mặt của các hợp chất muối khoáng hòa tan, các khí và các tạp chất khác Phần lớn các chất hữu cơ làm cho nước có vị ngọt, nước có vị mặn

là do sự hòa tan một lượng đáng kể natri clorua, vị đắng do sự có mặt của sunfua magiê và natri, còn bicacbonat canxi, magie và khí cacbonic làm cho nước có vị dễ chịu

Tỷ trọng của nước ngầm thường từ 1 - 1,4g/cm3, nó thể hiện mức độ khoáng hóa trong nước ngầm Giá trị này phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng muối, khí hoà tan và các phần tử lơ lửng [3]

 Tính chất hóa học

ước ngầm được chia thành các tầng, lớp khác nhau và thành phần hóa học của chúng thường khác nhau gười ta phân chia thành phần trong nước ngầm theo nhóm các nguyên tố đa lượng, vi lượng và các nguyên tố phóng xạ, các chất hữu cơ, các vi sinh vật, các chất khí hòa tan cũng như các chất keo và hỗn hợp cơ học khác

Thành phần hóa học của nước ngầm thường được quyết định bởi các đặc tính của trầm tích trong các tầng chứa nước ước ngầm ít chịu ảnh hưởng của sinh vật nhưng chịu ảnh hưởng nhiều bởi hoạt động của vi sinh vật Ở tầng sâu do không có oxy và ánh sáng nên vi sinh vật yếm khí hoạt động mạnh, chi phối nhiều đến thành

Trang 24

phần hóa học của nước ngầm Vì vậy thành phần hóa học của nước ngầm chứa nhiều chất có nguồn gốc vi sinh vật

Kiểu hoá học và tính chất cơ bản của nước do các hợp phần sau quyết định:

Cl–, SO42–, HCO3–, CO32–, Na+, Ca2+, Mg2+ ác hợp chất của nitơ và các nguyên tố khác như K, Si, Fe, Al, đây là những nguyên tố phổ biến rộng rãi trong vỏ Trái đất và trong những điều kiện thiên nhiên nhất định Sự có mặt với nồng độ khác nhau của các thành phần này sẽ hình thành những kiểu nước ngầm đặc trưng khác nhau như nước nhạt, nước lợ và nước khoáng hóa

ác khí phổ biến nhất trong nước ngầm là oxy (O2) và cacbonic (CO2), sunfuahydro (H2S), hydro (H2), metan (CH4), cacbua hydro nặng, nitơ (N2)và các khí hiếm Oxy trong nước ngầm chủ yếu có nguồn gốc khí quyển àm lượng oxy hòa tan trong nước ngầm từ 0 đến 15mg/L và được phát hiện chủ yếu trong nước ngầm của đới thông khí Khi p < 5,5, trong nước ngầm thường chứa nhiều khí O2 ây

là khí có tính ăn mòn kim loại và ngăn cản việc tăng p của nước Thường nước ngầm có nồng độ khí O2 khoảng 30 - 50 mg/l, nhiều nơi nước ngầm tầng sâu (200 –

300 m) nồng độ O2 có thể lên đến 320 mg/l goài ra, trong nước ngầm có thể chứa khí H2S với hàm lượng đến vài chục mg/l Các khí CO2 và H2S đều là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có trong tầng chứa nước

ác nhân tố thành tạo thành phần hóa học của nước ngầm được phân chia thành hai nhóm khác nhau là các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài ác nhân tố bên trong (nhân tố hóa lí) có liên quan đến bản chất hóa học của các nguyên

tử, phân tử, ion của các nguyên tố ác nhân tố bên trong này quyết định bởi tính phổ biến của nguyên tố trong vỏ Trái ất và sự tồn tại các quy luật chung trong sự hình thành thành phần của nước ngầm ác nhân tố bên ngoài quyết định sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến sự thành tạo thành phần hóa học của nước ngầm ồm các nhân tố như: nhân tố địa lí tự nhiên, địa chất, địa mạo, địa chất thủy văn, địa nhiệt

và vi sinh vật Trong quá trình dịch chuyển của vật chất, trong vỏ Trái ất có sự tương tác chặt chẽ giữa các nhân tố trên uá trình hình thành thành phần hóa học của nước ngầm là kết quả của sự phá hủy trạng thái cân bằng động giữa các hệ thống

Trang 25

đất – nước – khí – vật chất sống Yếu tố tác động quan trọng dẫn đến sự phá hủy các cân bằng của hệ thống trên là các nhân tố bên ngoài đặc biệt là các vận động kiến tạo Một số loại môi trường thủy địa hóa thành tạo thành phần hóa học của nước dưới đất là: môi trường oxy hóa, môi trường khử và môi trường biến chất

Môi trường oxy hóa thường có mặt của các khí hòa tan có nguồn gốc khí quyển: 2, O2, CO2 và các khí trơ Trong môi trường oxi hóa, trị số thế oxy hóa khử biến đổi tỷ lệ thuận với hàm lượng của oxy hòa tan Trong điều kiện tự nhiên thì quan

hệ này thường bị phá vỡ do sự thay đổi của p và do sự có mặt của một số chất hữu

cơ Mặc dù vậy, giới hạn dưới và giới hạn trên của đới oxy hóa cũng được phân biệt khá rõ ràng iới hạn dưới được đặc trưng bởi các thông số: Eh= +250mV khi pH = 5,5 – 8,5 và hàm lượng trung bình của oxy hòa tan trong nước khoảng 3,5mg/L Còn giới hạn trên có thể xác định gần đúng như sau: Eh = +1000mV khi pH < 3 và hàm lượng oxy hòa tan lớn nhất khoảng 5mg/L ước của môi trường oxy hóa thường có

độ khoáng hóa thấp thành phần bicacbonat, sunfat, với p thường 6 – 8

ước ngầm của một số quốc gia như Mexicô, hi lê, Ác-hen-ti-na đặc trưng cho môi trường oxi hóa bị ô nhiễm s Khu vực Laugunera của phía Bắc Mexicô, có nước ngầm được biết đến bị ô nhiễm As và đã gây độc mãn tính cho rất nhiều người

ây là khu vực khô cằn và nước ngầm được sử dụng làm nguồn nước uống chính ước ngầm ở đây thường có tính oxi hóa và p trung tính tới kiềm (6,3-8,9) với hàm lượng s từ 8 – 624 µg/L (trung bình 100 µg/L, trên 128 mẫu được nghiên cứu) Một nửa số mẫu có hàm lượng lớn hơn 50 µg/L ầu hết (>90%) mẫu nước ngầm được nghiên cứu có s(V) chiếm ưu thế iều kiện môi trường tương tự cũng được tìm thấy ở hi lê với nồng độ s trung bình 400 µg/L Ở Ác-hen-ti-na hàm lượng s rất khác nhau đối với từng khu vực, dao động trong khoảng từ vài chục cho đến vài nghìn µg/L, ví dụ như: órdoba (6-11500 µg/L), Lapampa (4 - 5280 µg/L), Tucuman (12 - 1660 µg/L) với giá trị p trong khoảng từ 6,3 – 9,2

Môi trường khử thường chứa các khí là sản phẩm của các quá trình sinh hóa:

CH4, CO2, N2, H2S, H2 Trong môi trường khử oxy, hàm lượng của khí 2S trong nước ngầm tỷ lệ nghịch với độ Eh Tùy theo hàm lượng của 2S mà chia ra: môi

Trang 26

trường khử yếu (hàm lượng 2S = 7–10 mg/L, Eh ~ 0 mV), môi trường khử trung bình và môi trường khử mạnh iữa các môi trường này thường dùng tổng hàm lượng 2S + HS– bằng 50 mg/L làm ranh giới; hàm lượng 2S này tương ứng với p

từ 5,5 – 8,5; Eh ~ 150 mV

Bangladesh, Ấn ộ, ài Loan, Phía Bắc Trung uốc, Việt am là những nơi

có nước ngầm đặc trưng cho điều kiện khử và bị ô nhiễm s với nồng độ cao Bangladesh và Ấn ộ (vịnh Bengal) là những điểm nóng về ô nhiễm s trên thế giới, hàm lượng s trong nước ngầm có thể lên tới 3200 µg/L Tính chất hóa học của nước ngầm khu vực giàu s này được đặc trưng bởi hàm lượng Fe (>0,2mg/L), Mn (>0,5mg/L), HCO3- (>500mg/L) cao và hàm lượng l- (<60mg/L), SO42-, NO3- và F- (<1mg/L) thấp iá trị p của nước ngầm thường gần hoặc lớn hơn 7 Trong điều kiện môi trường tương tự, ài Loan bị ô nhiễm s với hàm lượng từ 10 – 1800µg/L, phía Bắc Trung uốc nồng độ s cũng lên tới 1200 µg/L Tại Việt am, à ội là khu vực có tình trạng ô nhiễm s xảy ra trầm trọng nhất với hàm lượng từ 1 – 3050 µg/L (trung bình 159 µg/L) [35]

Môi trường biến chất có chứa các khí như O2, H2S, H2, CH4, CO2, N2, HCl,

HF, NH3, SO2, được thoát ra từ đá dưới tác dụng của nhiệt độ cao Thường các khí này đặc trưng cho các vùng hoạt động núi lửa hay macma trẻ Trong những vùng này nước thường được bão hòa khí O2 Kiểu môi trường này xuất hiện ở một số nơi thuộc Mỹ, hật Bản, ew Zilan, hi lê,…và nước ngầm tại đây có hàm lượng s lên tới vài nghìn µg/L

 Nguồn gốc của một số thành phần hóa học trong nước ngầm

guồn gốc của các thành phần hóa học trong nước ngầm rất khác nhau, thường phụ thuộc vào đặc điểm địa chất khu vực và các yếu tố tự nhiên, nhân tạo tác động tới nguồn nước ngầm Dưới đây trình bày nguồn gốc và đặc điểm của một số nguyên tố thường gặp trong nước ngầm:

Ion clo (Cl-) thường chiếm một lượng nhỏ trong vỏ Trái ất, chỉ tồn tại trong các khoáng vật của đất macma và biến chất như sôđalit và apatit on clo phổ biến

Trang 27

trong các phức hệ chứa nước tầng sâu với nguồn cung cấp chính từ các bồn biển cổ;

từ sự hòa tan của các muối mỏ hoặc từ khí quyển, đặc biệt ở các vùng gần bở biển và đại dương; hoặc là sản phẩm hoạt động của thế giới sinh vật àm lượng Cl- tương đối ổn định trong nước ngầm do ít có khả năng trao đổi ion và tác dụng với các yếu

tố sinh vật Theo quy định của bộ y tế nếu nước ngầm dùng để uống thì hàm lượng

Cl- không vượt quá 400mg/L

Ion sunfat (SO42-) phổ biến trong nước khoáng hóa yếu àm lượng trong nước ngầm bị giới hạn khi có mặt cation Ca2+ do hình thành CaSO4 ít tan guồn gốc của ion SO42- là do sự hòa tan của thạch cao và anhyđrit; sự oxi hóa các hợp chất của lưu huỳnh và các khoáng sunfat khác

Ion bicacbonat (HCO3-) và cacbonat (CO32-) phân bố chủ yếu trong nước nhạt

và nước hơi mặn on O3- đi vào nước ngầm chủ yếu do sự rửa lũa đá vôi, đôlômit, đá sét vôi Nước ngầm có chứa khí O2 thường xảy ra các phản ứng sau:

CaCO3 +CO2 + H2O ↔ a2+ +2HCO3- MgCO3 + CO2 +H2O ↔ Mg2+

+2HCO3Ion CO32- thường ít tồn tại trong nước ngầm hoặc tồn tại một lượng rất nhỏ so với O3-

-Ion natri (Na+) là một trong những ion phổ biến nhất trong nước ngầm, đặc biệt trong các phức hệ chứa nước dưới tầng sâu a+ thường có nguồn gốc từ biển và đại dương; quá trình phong hóa các đá xâm nhập; sự hòa tan các vỉa muối hoặc tinh thể muối phân tán trong đất đá; các phản ứng trao đổi ion…

Ion kali (K+) ít gặp trong nước ngầm mặc dù muối của kali có độ hòa tan lớn Kali tham gia vào các quá trình thành tạo khoáng thứ sinh không tan; ngoài ra còn bị hút thu bởi thực vật hoặc các lớp đá sét nên thường có nồng độ thấp trong nước ngầm guồn cung cấp kali cho nước ngầm chủ yếu từ quá trình phong hóa các đá xâm nhập và các khoáng chứa kali hoặc do sự hòa tan các muối kali

Trang 28

Ion magie (Mg2+) có hàm lượng không lớn Sự có mặt của ion này chủ yếu liên quan tới nước biển hoặc từ khí quyển goài ra Mg2+ trong nước ngầm còn là sản phẩm của quá trình phân hủy các khoáng chứa magie và sự rửa lũa đôlômit

Ion canxi (Ca2+) thường trong các loại nước có độ khoáng hóa khác nhau Nước ngầm có độ khoáng hóa cao, ion canxi thường tạo thành các hợp chất với ion cacbonat (bicacbonat) và ion sunfat Ca2+ xuất hiện trong nước do quá trình rửa lũa

đá vôi, đôlômit, thạch cao và anhyđrit

Ion nitrat (NO3-) có hàm lượng rất nhỏ trong nước ngầm, sự có mặt của chúng chứng tỏ xảy ra quá trình oxi hóa của các vật chất hữu cơ chứa nitơ

Ion amoni (NH4+) được thành tạo do quá trình sinh hóa và hóa học uá trình sinh hóa xảy ra với sự có mặt của vi khuẩn khử nitrit trong điều kiện hiếm khí oặc

do quá trình phân hủy các chất hữu cơ có chứa nitơ

Ion nitrit (NO2-) phân bố khá rộng nhưng lại có hàm lượng rất nhỏ trong nước ngầm Trường hợp nước ngầm có hàm lượng cao có thể là do quá trình oxi hóa các hợp chất amoniac và sự phân hủy các hợp chất hữu cơ, hoặc do sự khử nitrat

Silic là nguyên tố phổ biến nhất trên Trái ất chỉ sau oxy Tuy nhiên lại có hàm lượng tương đối nhỏ trong nước ngầm do khả năng hòa tan của các khoáng silicat và các muối silic rất thấp

Sắt khá phổ biến trong vỏ Trái ất, thường tồn tại trong nước dưới dạng protoxit (môi trường có tính oxy hóa thấp - ở dạng Fe2+) hoặc oxit (ở dạng ion Fe3+) Sắt trong nước ngầm thường được hình thành do sự phong hóa của các khoáng như piroxin, amfibon, manhetit, pyrit,…

Mangan (Mn2+) chiếm 0,1% trong thành phần của vỏ Trái ất Mn2+ xuất hiện trong nước ngầm có môi trường khử do sự khử hòa tan các khoáng của Mn( , V) như rhodochrosit (Mn O3), pyrolusit (MnO2), braunit,… [3]

Trang 29

1.3.2 ác ả t ết về ự ì t tro ước ầm

As có mặt như là thành phần chính trong hơn 200 loại khoáng, bao gồm các dạng As nguyên tố, asenua, sunfua, oxit, asenat, asenit ác khoáng này tương đối hiếm trong môi trường tự nhiên Nồng độ lớn nhất của các khoáng này xuất hiện ở các khu vực khoáng hóa và có mối tương quan chặt chẽ với các kim loại chuyển tiếp như

Cd, Pb, Ag, Au, Sb, P, W và Mo Quặng khoáng As phong phú nhất là asenopyrit, FeAsS Cùng với sự phổ biến của khoáng s sulfua như hùng hoàng và thư hoàng, chúng chỉ được hình thành trong điều kiện nhiệt độ cao Các khoáng này cũng xuất hiện trong trầm tích và hình thành bởi sự kết tủa của vi sinh vật

Tính chất hóa học của s thường giống với S, nguyên tố có hàm lượng lớn nhất trong các khoáng sunfua, trong đó quặng khoáng pyrit là phổ biến nhất Hàm lượng As trong pyrit, chancopyrit, glena và macasit có thể rất khác nhau, thậm chí trong một số trường hợp hàm lượng As có thể lên tới trên 10% theo khối lượng As xuất hiện trong cấu trúc của khoáng sulfua như sự thay thế của S àm lượng As cao cũng được tìm thấy trong rất nhiều khoáng oxit và hydroxit kim loại, dưới dạng là một phần trong cấu trúc khoáng hoặc một dạng hấp phụ trên bề mặt [35]

Asen xuất hiện trong môi trường nước ngầm thường liên quan đến các điều kiện địa hóa và địa chất thủy văn của khu vực cả trong quá khứ và hiện tại ó một nghịch lý tồn tại đó là hàm lượng asen trong nước ngầm cao không phải bao giờ cũng liên quan tới các vùng đá gốc và trầm tích có asen cao Vấn đề s trong nước ngầm xảy ra ở điều kiện oxi hóa, điều kiện khử và ở cả điều kiện khí hậu ẩm ướt và khô hạn iều đó cho thấy rằng s không có sẵn trong các tầng ngậm nước mà được giải phóng từ trầm tích trong các khu vực có điều kiện thích hợp Một số quá trình giải phóng s vào nước ngầm, được chỉ ra trong bảng 1.2, cho thấy các quá trình này

có thể xuất hiện trong một loạt các môi trường địa chất khác nhau Tuy nhiên, hầu hết những sự cố nghiêm trọng nhất (những tác động tới con người) của s chủ yếu nằm

ở các lưu vực phù sa trẻ tiếp giáp với vành đai hoạt động núi lửa

Trang 30

Bảng 1.4 Các quá trình địa hóa tự nhiên giải phóng As vào nước ngầm [47]

Thông tin thêm

Bangladesh, Ấn

ộ, Việt am, Trung uốc, Campuchia, Hungrary

ó thể tác động trên khu vực rộng lớn 64% s xuất hiện là do quá trình này

Ac-hen-ti-na,

Mỹ, Tây ban Nha, Trung uốc

ó thể ảnh hưởng trên khu vực rộng lớn

Ghana, Thái Lan, Mỹ

Thường có vị trí tập trung, liên quan tới

sự hạ thấp mực nước ngầm

ịa nhiệt ước ngầm nhiệt độ

cao; hàm lượng lo

cao

Khu vực có hoạt động địa nhiệt, như: núi lửa

Chi-lê, Trung uốc, icaragu

Thường tập trung tại một khu vực

ến nay, các nguyên nhân giải phóng s từ trầm tích ra nước ngầm vẫn đang là

đề tài được tranh luận và chưa có một cơ chế nào phù hợp với tất cả các tầng chứa nước bị ô nhiễm asen Một số giả thiết được đông đảo các nhà khoa học quan tâm như: cơ chế khử hòa tan các khoáng oxit sắt có asen hấp phụ trên bề mặt trong các tầng ngậm nước mang tính khử; cơ chế trao đổi cạnh tranh với các anion trong nước ngầm về vị trí hấp phụ; cơ chế oxi hóa khoáng sulfua đồng thời giải phóng s trong

Trang 31

môi trường oxi hóa có p cao và cơ chế vận chuyển asen ở tầng đất bề mặt xuống tầng chứa nước

Sự hình thành As trong tầng nước ngầm theo cơ chế khử hòa tan oxit sắt

Sự giải phóng s theo cơ chế khử hòa tan oxit sắt có As hấp phụ trên bề mặt trong các tầng ngậm nước là cơ chế được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay [16, 25]

uá trình này thường xảy ra ở các hồ, vịnh hẹp, các lớp đất và trầm tích ở các tầng chứa nước yếm khí đặc biệt là ở các vùng đồng bằng châu thổ với các nhánh sông uốn khúc rộng mang nhiều phù sa Thành phần cacbon hữu cơ có trong trầm tích bị chôn vùi quyết định tốc độ hình thành điều kiện khử trong tầng ngậm nước Tại các lớp trầm tích giàu chất hữu cơ, hoạt động sống của vi sinh vật diễn ra rất mạnh, đặc biệt là hoạt động của các vi sinh vật kỵ khí Ban đầu, vi sinh vật sử dụng vật chất hữu

cơ trong đất làm nguồn thức ăn, đồng thời tiêu thụ O2 hòa tan, NO3-, SO42- và hình thành môi trường khử yếm khí [25]

Quá trình oxi hóa chất hữu cơ cũng như hoạt động của vi sinh vật nhanh chóng tiêu thụ lượng O2 hòa tan có trong các tầng chứa nước Nếu quá trình khuếch tán và đối lưu của oxi và các tác nhân oxi hóa khác từ bề mặt vào nước ngầm chậm hơn quá trình tiêu thụ thì điều kiện yếm khí trong các tầng chứa nước được duy trì Sau đó, các chất hữu cơ sẽ tiếp tục khử các chất oxi hóa như O3-, MnO2, sắt oxit và SO42-

Vi sinh vật khử oxit sắt

Vi khuẩn khử sunfat Vật chất hữu cơ

Vi khuẩn lên men

Vi khuẩn Methanogenic

Hình 1.4 Quá trình oxi hóa các chất hữu cơ hình thành môi trường khử [12]

Trang 32

ác phương trình phản ứng được xúc tác bởi các hoạt động của vi sinh vật, hình thành nên điều kiện khử trong tầng ngậm nước, tạo điều kiện cho quá trình giải phóng s có thể được mô tả như sau:

(CH2O là công thức biểu diễn cho vật chất hữu cơ)

Dưới tác dụng của điều kiện khử và các vi sinh vật xúc tác, oxit Fe( ) kết tủa trong quặng sắt sẽ bị chuyển thành Fe( ) dạng dễ tan trong nước uá trình này đồng thời giải phóng s(V) hấp phụ trên bề mặt khoáng sắt vào nước ngầm goài ra còn

có quá trình khử s(V) thành dạng s( ) linh động hơn hính vì vậy mà trong nước ngầm tồn tại cả hai dạng s(V) và s( ) Phương trình tổng quát của quá trình giải phóng s:

Phản ứng hóa học trên cho thấy rằng các tầng chứa nước ở điều kiện khử thường có nồng độ s, nồng độ sắt hòa tan và độ kiềm (bicacbonat) cao ước ngầm tại các vùng đồng bằng trầm tích trẻ hàm lượng chất hữu cơ cao thường có nồng độ

As cao lên tới vài nghìn ppb Trầm tích ở khu vực có nồng độ s trong nước cao thường có màu xám, chỉ thị cho trầm tích có tính khử Màu xám của trầm tích là màu của hỗn hợp các oxit Fe có hóa trị khác nhau Fe( + ) Trong khi đó, ở các tầng chứa nước có trầm tích màu vàng cam chỉ thị cho sự tồn tại các oxit Fe( ), đồng nghĩa trầm tích này có tính oxi hóa và thường chứa nước ngầm có hàm lượng s

Trang 33

thấp Mối liên hệ giữa màu sắc trầm tích và nồng độ s trong nước ngầm càng làm cho giả thuyết về cơ chế giải phóng s trong môi trường khử thêm vững chắc [16] Tuy nhiên, chỉ sử dụng cơ chế này không thể giải thích được sự biến thiên của s trong các tầng ngậm nước có tính khử tương tự nhau, càng không thể giải thích được

sự làm giàu s trong các tầng ngậm nước có điều kiện oxy hóa

Cơ chế trao đổi cạnh tranh vị trí hấp phụ với các anion trong nước ngầm

Theo các nghiên cứu đã công bố thì hàm lượng s cao trong nước ngầm thường có mối tương quan khá chặt chẽ với hàm lượng các anion đồng hành, điển hình như PO43–, SiO32–, HCO3–

Hình 1.5 Sự cạnh tranh hấp phụ của các anion trên bề mặt khoáng

Ở những vùng nông nghiệp sử dụng nhiều phân bón hóa học chứa photphat thường xảy ra cơ chế này Do các anion photphat có cấu trúc tương tự asenat nên dễ dàng cạnh tranh vị trí trên bề mặt khoáng chất, cản trở sự hấp phụ của s và làm tăng lượng s linh động trong nước ngầm Tại p =7, asenat cũng bị hấp phụ nhiều như photphat hỉ thị đầu tiên cho cơ chế này đó là nồng độ PO43- trong nước cao [22]

Khả năng cạnh tranh của HCO3– với As trên bề mặt các khoáng thường không lớn Một số nghiên cứu đã đưa ra các số liệu thực nghiệm chứng minh rằng ở nồng

độ dưới 100 mg/l, trong khoảng pH = 6–9, HCO3– hầu như không có ảnh hưởng gì đến quá trình hấp thu asen lên khoáng sắt [35] Tuy nhiên HCO3– thường xuất hiện rất phổ biến trong môi trường nước ngầm, nồng độ của ion này dao động thường rất

Trang 34

lớn từ 300 đến lớn hơn 1000 mg/L Vì vậy, ảnh hưởng của nó cần được nghiên cứu thêm với các nồng độ cao tương đương được tìm thấy trong môi trường mới có thể hiểu được một cách rõ ràng về cơ chế cạnh tranh hấp phụ của HCO3–

Cơ chế oxi hóa khoáng sunfua đồng thời giải phóng As trong môi trường

oxi hóa có pH cao

Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng s được giải phóng thông qua quá trình oxi hóa pyrit có s liên kết ác quá trình oxi hóa có thể xảy ra do sự khai thác nước quá mức làm cho mực nước bị giảm dẫn tới sự thông khí các tầng trầm tích yếm khí trước đây Từ những năm 1970, những nông dân ở vịnh Bengal bắt đầu khai thác nước ngầm phục vụ nông nghiệp làm cho mực nước ngầm xuống thấp ến năm

1978, lần đầu tiên phát hiện ô nhiễm asen trong nước ngầm ở lưu vực Bengal vì vậy quá trình sử dụng nước ngầm có thể làm hòa trộn oxi xuống các tầng chứa nước tạo

ra điều kiện oxy hóa thuận lợi cho sự giải phóng s từ các khoáng sunfua Trầm tích

ở khu vực phía Tây Bengal được ghi nhận là có sự có liên kết của s trên bề mặt quặng pyrit trong các vùng bị ô nhiễm asen uặng pyrit được lấy ở độ sâu 79-82m trong lớp đất sét từ quận Maldal của tây Bengal có hàm lượng s lên tới 123mg/kg Tuy nhiên thì hàm lượng SO42-

trong nước ngầm thấp chưa chắc đã biểu thị cho quá trình oxi hóa pyrit ơn nữa, sự có mặt của pyrit có thể thấy rằng sự oxi hóa chưa đủ

để giải phóng s [34]

Quá trình oxy hóa của asenopyrit là cơ chế khá phổ biến cho sự phân bố As vào môi trường senopyrit được hình thành ở nhiệt độ cao và môi trường khử, như khu vực xung quanh rễ cây hoặc khu vực khác cùng sự phân hủy hữu cơ Pyrit dễ dàng bị oxy hóa trong điều kiện hiếu khí với sự hình thành của các oxit sắt và asen vi lượng s cũng được tìm thấy là liên kết với các khoáng photphat, tuy nhiên nồng độ thấp hơn so với các khoáng oxit của chúng và khoáng sulfit Bằng cách thay thế Si4+,

Al3+, Fe3+ và Ti4+, As có thể liên kết với rất nhiều loại khoáng khác, tuy nhiên, nồng

độ là tương đối thấp [45]

Trang 35

Quá trình oxi hóa sunfua thường xuất hiện ở xung quanh khu vực khai thác

mỏ, nước ngầm có tính axit và chứa nhiều SO42-, Fe2+ và các kim loại vết khác Một

số phản ứng minh họa cho quá trình oxi hóa hòa tan quặng pyrit giải phóng As:

FeS2(+As) + 3,5O 2 + H2O → Fe2+ + 2SO42- + 2H+ + As

4FeAsS + 13O2 + 6H2O → 4FeSO4 + 4H3AsO4

Fe1-xNixS2-wAsw +3,5O2 +H2O → xNi2+ +wH3AsO4 +(1-x)Fe2+ +(2-w)SO42 + 2(1+w)H+

ơ chế này không được chấp nhận rộng rãi vì pyrit không xuất hiện ở tất cả các loại trầm tích Trong nước ngầm SO42- thường có nồng độ thấp, đây là chỉ thị cho môi trường khử và sự hình thành pyrit trong các tầng chứa nước

Cơ chế vận chuyển asen từ tầng đất bề mặt xuống tầng chứa nước phía dưới

ác bằng chứng về địa chất cho thấy, trong hầu hết các tầng chứa nước các loại đá khoáng đều có tuổi già hơn nhiều so với nước ngầm trong đó iều này chứng

tỏ nhiều thể tích nước ngọt có thể đã chảy qua các tầng chứa nước trong lịch sử ước ngọt ngầm lâu đời nhất được tìm thấy ở lưu vực reat rtesian của ustralia,

có tuổi khoảng 400 nghìn năm, nhưng tuổi trầm tích khu vực này lên tới 2,5 triệu năm, chứng tỏ rất nhiều thể tích nước ngọt đã chảy qua hệ thống này

ác hoạt động khai thác nước ngầm trong cả tầng nông và tầng sâu đã và đang tác động đến sự dịch chuyển của s trong các tầng chứa nước [11, 5] Ở Bangladesh, nước ngầm được khai thác với công suất lớn không chỉ phục vụ cho mục đích ăn uống sinh hoạt mà còn sử dụng để tưới tiêu đồng ruộng vào mùa khô Tác giả Fendorf (2010) đã chỉ ra rằng sự khai thác nước ồ ạt ở cả tầng nông và tầng sâu ở Bangladesh, là một trong những nguyên nhân dẫn đến khu vực này bị ô nhiễm s trầm trọng nhất [19]

Tác giả Polizzotto (2008) đã phân tích địa hóa thủy văn ở một vùng nhỏ thuộc đồng bằng sông Mê - kông, ampuchia cho thấy s được rửa trôi từ trầm tích sông

Trang 36

lên tầng đất và ao hồ bề mặt trong mùa lũ Sau đó s được vận chuyển theo thời gian (hàng trăm năm) qua các tầng ngậm nước phía dưới và quay trở lại sông [37].

Tác giả S Nakaya (2011) cũng đã đưa ra các mô hình để đánh giá dòng chảy của nước ngầm bị ô nhiễm s trong tầng chứa nước olocen của vùng đồng bằng sông ằng (Blamaptra-Meghna) trong 30 năm gần đây Mô hình này chỉ ra rằng sự xâm nhập theo chiều dọc của nước bề mặt xuống nước ngầm tầng nông olocen thường xuyên xảy ra ở khu vực này Mô hình dự đoán nước ngầm được bổ sung (nước mưa, nước sông hồ ) từ mặt đất di chuyển khoảng 10-20m theo chiều dọc xuống dưới tầng nước sâu của đồng bằng, hướng về phía tầng chứa nước Pleistocen

Mô hình cũng cho thấy nước ngầm có nồng độ s cao nhất (>700µg/L) ở khu vực có dòng chảy dọc từ bề mặt xuống tầng chứa nước phía dưới chứ không phải khu vực có dòng chảy ngang [43]

Ngoài ra, Postma (2007) đã quan sát thấy trong tầng chứa nước rất trẻ của sông ồng cũng có sự vận động của s Tác giả cho rằng, phù sa sau khi bồi tích theo địa hình như ao hoặc kênh mương, bùn trở nên hoạt động và bắt đầu giải phóng

Fe và s uá trình thấm lọc sau đó thông qua lớp sét ven bờ làm cho nước ngầm có hàm lượng s cao [16] iều này phù hợp với kết luận của Polizzotto và akaya về dòng nước ngầm chứa nhiều s xuất phát từ các ao đầm và lan rộng trong tầng chứa nước

1.4 ặc đ ểm dâ , địa c ất v ước ầm k vực cứ

uyện Phúc Thọ nằm ở phía Tây Bắc à ội, cách trung tâm à ội khoảng 30km Với diện tích khoảng 113km2, với mật độ dân số khoảng 1.400 người/km2thấp hơn rất nhiều so với mật độ dân số của các quận nội thành à ội (trên 11,500 người/km2)(2015) Trong khu vực nghiên cứu, không có các công trình khai thác nước lớn mà chỉ là các giếng khoan dân sinh do các hộ dân tự tiến hành khoan

Phúc Thọ là khu vực trung du miền núi, có một phần giáp với núi Ba Vì, một phần giáp với à ội và sông ồng nên đặc điểm địa chất biến đổi theo chiều hướng

từ núi đến đồng bằng ặc điểm địa hình này quyết định đặc điểm địa chất khu vực,

Trang 37

những khu vực gần núi hơn sẽ có trầm tích già hơn, ít chất hữu cơ hơn do đó khả năng hình thành môi trường thuận lợi để giải phóng s thấp hơn; khu vực gần sông hơn sẽ được thường xuyên bồi đắp phù sa từ con sông ồng và sông áy nên trầm tích khu vực sẽ trẻ hơn và giàu vật chất hữu cơ hơn, quá trình phân hủy vật chất hữu

cơ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải phóng s từ trầm tích ra nước ngầm Theo nghiên cứu của Postma (2012) tại 4 điểm nằm trong khu vực nghiên cứu (Phú Kim, Phụng Thượng gần núi Ba Vì; Vân ốc, -transect có vị trí gần sông ồng) cho thấy rằng những vị trí nghiên cứu gần núi hơn có tuổi trầm tích khoảng từ 3500-

6000 năm và có hàm lượng s rất thấp; khu vực gần sông có tuổi trầm tích trẻ hơn khoảng từ 500 – 600 năm và có hàm lượng s rất cao, cao hơn khu vực gần sông tới

5 – 6 lần [17]

Thông thường, dòng chảy thủy văn sẽ có hướng từ núi ra sông, hay từ khu vực

có địa hình cao xuống khu vực có địa hình thấp ước ngầm khu vực cho thấy những

vị trí gần sông hơn sẽ có nồng độ các thành phần hóa học trong nước cao hơn so với

vị trí gần núi, do quá trình oxi hóa vật chất hữu cơ sẽ làm tăng nồng độ một số thành phần trong nước như O3-, NH4+, s( ), Fe( ) và có thể hình thành môi trường

có tính axit dẫn đến sự hòa tan các loại đá khoáng như đôlômit, canxit làm tăng nồng

độ của a và Mg trong nước ngầm [25] Theo như một nghiên cứu tại Trung hâu ( an Phượng) gần khu vực nghiên cứu cho thấy nước ngầm có hàm lượng s cao nhất khoảng 36µg/L ở vị trí gần sông ồng iá trị p nước ngầm dao động trong khoảng từ 6,8 – 8,7 àm lượng Fe trong nước ngầm tương đối cao, dao động trong khoảng 1 – 45mg/L và có tới 17/20 mẫu có hàm lượng vượt quá quy chuẩn cho nước ngầm (5 mg/L) Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện tại một vị trí nằm trong khu vực nghiên cứu của Postma (2007) cho thấy hầu hết các thành phần hóa học có trong nước ngầm đều có hàm lượng cao hơn nước sông ồng, ngước ngầm có nồng

độ s( ) khoảng trên 300µg/L, nồng độ Fe( ) khoảng 15mg/L, hàm lượng các thành phần oxi hóa như O3-, SO42- rất thấp, gần như bằng 0

hìn chung, khu vực nghiên cứu có dân cư mật độ không cao và không có các công trình khai thác nước lớn nên nước ngầm ít bị ảnh hưởng của con người ịa

Trang 38

hình khu vực khá đặc biệt, thay đổi từ địa hình núi tới đồng bằng nên tuổi trầm tích cũng thay đổi tương ứng từ già tới trẻ ước ngầm có nồng độ cao các thành phần mang tính khử như Fe( ), s( ) và nồng độ rất thấp các thành phần mang tính oxi hóa như O3-, SO42-

Tóm lại, tổng quan trên đây đã cho thấy một vấn đề đang được thế giới quan tâm đó là vấn đề ô nhiễm asen trong nước ngầm Tuy nhiên, nguyên nhân hình thành

ô nhiễm asen trong nước ngầm chưa được giải thích rõ ràng mà chỉ dựa trên các giả thiết được rút ra từ các số liệu phân tích thực tế ở các khu vực khác nhau Vì đặc điểm địa chất thủy văn cũng như các hoạt động khai thác sử dụng nước các khu vực này thường không giống nhau nên một giả thiết không thể đúng cho mọi khu vực Trong tất cả các giả thiết được đưa ra thì giả thiết giải phóng asen trong môi trường khử được chấp nhận rộng rãi nhất Theo giả thiết, vi sinh vật sử dụng các chất oxi hóa như oxy hòa tan, nitrat và sunfat để phân hủy các chất hữu cơ và hình thành môi trường khử, trong điều kiện khử các khoáng oxit sắt bị hòa tan đồng thời giải phóng asen vào nước ngầm Từ giả thiết trên thấy rằng As có thể tỉ lệ thuận với các thành phần đặc trưng cho môi trường khử như amoni, metan, sắt và tỉ lệ nghịch với các thành phần oxi hóa như oxy hòa tan, amoni, sunfat và mangan goài ra, giả thiết về

sự cạnh tranh hấp phụ của photphat cũng được quan sát thấy, khi đó hàm lượng s tỉ

lệ thuận với hàm lượng photphat có trong nước ngầm Do đặc điểm địa chất và các quá trình diễn ra trong các tầng chứa nước rất phức tạp nên để tìm hiểu nguyên nhân hình thành ô nhiễm asen trong nước ngầm không chỉ sử dụng một giả thiết mà cần

có sự kết hợp của các giả thiết khác nhau ồng thời cần xem xét mối tương quan giữa s và các thành phần hóa học trong nước ngầm, đặc biệt là các thành phần đặc trưng cho môi trường oxi hóa khử

Trang 39

C ươ 2 – Ợ P Ơ P ÁP ỨU 2.1 ịa đ ểm cứ

Một trong những vấn đề gặp phải trong nghiên cứu nước ngầm tại nhiều khu vực khác nhau ở Việt Nam và thế giới là sự biến đổi về thành phần hóa học trong nước ngầm, hàm lượng As có thể rất khác nhau giữa các lỗ khoan chỉ trong bán kính 100m [10, 30] Ngoài ra chế độ thủy văn rất phức tạp trong các tầng nước ngầm vùng đồng bằng do chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất nông nghiệp (tưới tiêu, đào

ao, kênh thủy lợi) và khai thác nước ngầm cho sinh hoạt [4, 20] Theo Van Geen và cộng sự (2006) để làm sáng tỏ các quá trình kiểm soát sự hình thành ô nhiễm As thì các nghiên cứu cần được thực hiện trên quy mô nhỏ hư đã nêu trên đây là khu vực

có địa hình khá đặc biệt, biến đổi từ khu vực đồi núi thành đồng bằng nên thấy rõ được sự biến đổi của địa chất từ trầm tích già tới trầm tích trẻ

ể nghiên cứu một hiện tượng tự nhiên cần phải chon khu vực ít chịu tác động của con người, chính vì vậy mà luận văn chọn một địa điểm nghiên cứu cụ thể là khu vực thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội (Hình 2.1), cách Hà Nội khoảng 30km Khu vực nghiên cứu nằm nằm giữa núi Ba Vì và sông Hồng và bao gồm một phần sông áy Diện tích khu vực nghiên cứu khoảng 300km2 và hai mặt cắt nằm cách nhau khoảng 15km có vị trí ở hai bên sông áy Khu vực này có mật độ dân cư thấp (khoảng 100 người/km2) nên các hoạt động khai thác nước ngầm cho các mục đích sinh hoạt, tưới tiêu tương đối thấp, và không có các nhà máy nước cấp sử dụng nước ngầm Do đó nước ngầm ở khu vực này ít bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khai thác và sử dụng nước ngầm của con người Chính vì vậy luận văn chọn khu vực này để nghiên cứu các xu hướng biến đổi của các thành phần tự nhiên trong nước ngầm trong mối liên quan tới asen

Trang 40

Hình 2.1 Vị trí các giếng nhà dân và hai mặt cắt A và B thuộc huyện Phúc Thọ

2.2 tượ cứ

Trong khuôn khổ Dự án “Dự đoán sự ô nhiễm sen trong nước ngầm tại một

số vùng đồng bằng bồi tích khu vực ông am Á (PRE S)” hợp tác giữa Viện Khảo sát ịa chất an Mạch và Greenland (GEUS) và trường ại học Khoa học Tự nhiên,

ại học Mỏ địa chất, đối tượng nghiên cứu của dự án là sự ô nhiễm As trong nước ngầm phía Tây Bắc Hà Nội từ năm 2004 đến nay Mục tiêu của dự án là làm sáng tỏ các quá trình địa hóa liên quan và chi phối sự giải phóng asen từ trầm tích vào nước ngầm trong điều kiện tương đối “nguyên thủy” của địa bàn nghiên cứu

Là một nội dung nhỏ của Dự án, đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nước ngầm thuộc một số huyện phía Tây Bắc Hà Nội với 50 mẫu nước giếng khoan nhà dân và hai mặt cắt A, B thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội với 51 lỗ khoan quan trắc của Dự án ặc điểm địa chất khu vực này biến đổi khá rõ rệt từ địa hình vùng núi với trầm tích già tới địa hình đồng bằng có trầm tích trẻ hơn Chính vì sự biến đổi địa

Ngày đăng: 06/12/2020, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm