DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BUR1: Báo cáo cập nhật lần thứ nhất về phát thải khí nhà kính định kỳ 2 năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC The First Biennial Update Report of Vietnam to UNFCC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=======
DƯƠNG THỊ HƯƠNG
NGHI£N CøU X¢Y DùNG HÖ THèNG KIÓM K£
KHÝ NHµ KÝNH TRONG CH¡N NU¤I GIA SóC Vµ
§Ò XUÊT GI¶I PH¸P QU¶N Lý
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=======
DƯƠNG THỊ HƯƠNG
NGHI£N CøU X¢Y DùNG HÖ THèNG KIÓM K£ KHÝ NHµ KÝNH TRONG CH¡N NU¤I GIA SóC Vµ
§Ò XUÊT GI¶I PH¸P QU¶N Lý
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trang 3Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên lớp Cao học K20 của trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, động viên và chia sẽ khó khăn cùng tôi trong quá trình học tập tại trường
Trong quá trình thực hiện luận văn, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và những người có chuyên môn trong lĩnh vực kiểm kê khí nhà kính để luận văn của tôi có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Học viên
Dương Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ HỆ THỐNG KIỂM KÊ KNK TRONG CHĂN NUÔI GIA SÚC 3
1.1 Biến đổi khí hậu và phát thải khí nhà kính 3
1.1.1 Biến đổi khí hậu 3
1.1.2 Phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc 5
1.2 Hệ thống kiểm kê KNK và kiểm kê KNK trong chăn nuôi 7
1.2.1 Khái niệm chung về hệ thống kiểm kê KNK 7
1.2.2 Giới thiệu về hệ thống kiểm kê KNK quốc gia và hoạt động kiểm kê trong chăn nuôi của một số nước trên thế giới 10
1.2.3 Hiện trạng xây dựng hệ thống kiểm kê KNK ở Việt Nam 16
1.3 Kiểm kê khí nhà kính năm 2010 của Việt Nam 24
1.3.1 Các nguồn phát thải/hấp thụ chính 24
1.3.2 Kết quả kiểm kê khí nhà kính ngành chăn nuôi gia súc 26
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TRONG CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 31
2.1 Phương pháp kế thừa 31
2.1.1 Khái niệm 31
2.1.2 Đối tượng của phương pháp 31
2.1.3 Nội dung phương pháp 31
2.2 Phương pháp điều tra xã hội học 33
2.2.1 Khái niệm 33
2.2.2 Đối tượng của phương pháp 33
Trang 52.2.3 Nội dung phương pháp 33
2.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia 34
2.3.1 Khái niệm 34
2.3.2 Đối tượng của phương pháp 34
2.3.3 Nội dung phương pháp 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN CHO NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TRONG CHĂN NUÔI VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 37
3.1 Kết quả và phân tích về khả năng xây dựng hệ thống kiểm kê KNK cho lĩnh vực chăn nuôi gia súc của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 37
3.1.1 Kết quả và phân tích nhu cầu của các đơn vị liên quan đến kiểm kê KNK trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc 37
3.1.2 Năng lực thực hiện các hoạt động kiểm kê KNK của các đơn vị liên quan 39
3.2 Đề xuất hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc 47
3.2.1 Đề xuất sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê khí nhà kính của Quốc gia 47 3.2.2 Đề xuất sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê khí nhà kính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 49
3.2.3 Biểu mẫu thu thập số liệu hoạt động và phương pháp luận tính toán phát thải cho kiểm kê KNK trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc 51
3.2.4 Hoạt động đảm bảo chất lượng (QA) và kiểm tra chất lượng (QC) trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc 62
3.2.5 Một số biện pháp đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm kê KNK và giảm phát thải trong hoạt động chăn nuôi gia súc 64
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BUR1: Báo cáo cập nhật lần thứ nhất về phát thải khí nhà kính định kỳ 2
năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC (The First Biennial
Update Report of Vietnam to UNFCCC)
Viện CLCSTNMT: Viện Chiến lược, chính sách Tài nguyên và Môi trường
GPG: Hướng dẫn thực hành tốt về kiểm kê (Good Practice Guidance)
IPCC: Ban liên chính phủ về BĐKH (Intergovernmental Panel on
Climate Change)
JICA: Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản
Cục KTTVBĐKH: Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu
Viện KHKTTVBĐKH: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu
LULUCF: Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp
NAMA: Các hoạt động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện Quốc gia
Bộ NNPTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
QA/QC: Hoạt động đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (Quality
Assurance / Quality Control)
Bộ TNMT: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
UNFCCC: Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (United Nations
Framework Convention on Climate Change)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng lượng KNK phát thải năm 2000 theo loại khí 7
Bảng 1.2 Phân tích nguồn phát thải/hấp thụ KNK chính trong các lĩnh vực 25
Bảng 1.3 Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia cho lĩnh vực chăn nuôi gia súc 27
Bảng 1.4 Số đầu gia súc năm 2010 của Việt Nam 28
Bảng 1.5 Phát thải khí nhà kính năm 2010 trong lĩnh vực chăn nuôi 29
Bảng 1.6 Tóm tắt các phương pháp và nguồn số liệu sử dụng 30
Bảng 3.1 Biểu mẫu đề xuất thu thập số liệu cho tiểu lĩnh vực Tiêu hóa thức ăn 52
Bảng 3.2 Biểu mẫu đề xuất thu thập số liệu cho tiểu lĩnh vực Quản lý chất thải 53
Bảng 3.3 Đề xuất hệ số phát thải sử dụng cho chăn nuôi gia súc của Việt Nam căn cứ theo khuyến nghị của IPCC 54
Bảng 3.4 Hệ số phát thải từng hệ thống quản lý chất thải động vật 56
Bảng 3.5 Tỷ lệ bài tiết chất rắn bay hơi 57
Bảng 3.6 Bo - Năng lực sản xuất tối đa của từng loại vật nuôi 58
Bảng 3.7 Hệ số chuyển đổi (MCF) của CH4 59
Bảng 3.8 Hệ số quản lý (MS) phân hữu cơ theo vùng khí hậu 60
Bảng 3.9 Hệ số phát thải của quản lý chất thải đối với CH4 60
Bảng 3.10 Bài tiết Nitơ trên đầu vật nuôi 62
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực nông nghiệp 6
Hình 1.2 Khung sơ đồ hệ thống kiểm kê KNK quốc gia 8
Hình 1.3 Sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Nhật Bản 11
Hình 1.4 Sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại CHLB Đức 12
Hình 1.5 Khung thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Thái Lan 13
Hình 1.6 Khung thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Indonesia 14
Hình 1.7 Kế hoạch thực hiện việc xây dựng và nộp báo cáo kiểm kê quốc gia của các nước không thuộc phụ lục I 17
Hình 1.8 Hai thông báo quốc gia của Việt Nam cho UNFCCC 18
Hình 1.9 Khung thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Việt Nam 20
Hình 1.10 Sắp xếp thể chế thực hiện xây dựng BUR1 của Việt Nam 22
Hình 1.11 Đề xuất mô hình sắp xếp thể chế hệ thống kiểm kê KNK ở Việt Nam 23
Hình 1.12 Phát thải/hấp thụ khí nhà kính năm 2010 theo lĩnh vực 26
Hình 3.1 Mức độ đánh giá tính ưu tiên của các hoạt động xây dựng và thực hiện Kiểm kê KNK trong lĩnh vực nông nghiệp 38
Hình 3.2 Đánh giá về năng lực xây dựng và thực hiện chính sách và các hành động giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực nông nghiệp và chăn nuôi gia súc40 Hình 3.3 Đánh giá năng lực và vai trò của Cục KTTVBĐKH, Bộ TNMT trong hoạt động nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê KNK quốc gia 41
Hình 3.4 Đánh giá về khả năng tham gia và năng lực của các bên liên quan 42
Hình 3.5 Mức độ sử dụng quy trình thu thập và xử lý số liệu kiểm kê trong lĩnh vực chăn nuôi cho hệ thống kiểm kê KNK quốc gia 43
Hình 3.6 Sự phù hợp của các cơ quan có khả năng làm đầu mối trong thu thập, tập hợp và lưu trữ số liệu liên quan tới tính toán phát thải KNK 44
Hình 3.7 Sơ đồ tổ chức Quốc gia thực hiện kiểm kê KNK ở Việt Nam 47
Hình 3.8 Đề xuất sơ đồ tổ chức sắp xếp kiểm kê KNK trong chăn nuôi gia súc ở Việt Nam 50
Hình 3.9 Sơ đồ đề xuất hoạt động kiểm tra chất lượng (QC) và đảm bảo chất lượng (QA) cho kiểm kê KNK trong chăn nuôi gia súc tại Việt Nam 63
Trang 9MỞ ĐẦU
Cho đến năm 2015, việc xây dựng Hệ thống Quốc gia về kiểm kê khí nhà kính (KNK) tại Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh và công bố để áp dụng cho các hoạt động liên quan đến kiểm kê KNK của các Bộ, Nghành và lĩnh vực liên quan Trong đó, hoạt động chăn nuôi gia súc trong lĩnh vực Nông nghiệp cũng cần
có một cơ chế thực hiện để tiến hành kiểm kê phát thải KNK hàng năm Thực tế, nội dung kỹ thuật tính toán kiểm kê KNK của Việt Nam đã thực hiện theo các hướng dẫn
về kiểm kê KNK của Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) Tuy nhiên, kiểm
kê KNK cho các lĩnh vực liên quan mới chỉ được thực hiện một vài năm thí điểm (năm
1994, 2000 và 2010) thông qua các dự án quốc tế với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật Kết quả lượng phát thải KNK đã được chính thức công bố qua hai thông báo quốc gia của Việt Nam cho Công ước khu của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC)
và báo cáo cập nhật hai năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC Đây là các tài liệu chính thống về kết quả phát thải KNK của Việt Nam Do đó, việc hoàn thiện một cơ chế phù hợp để ngành chăn nuôi gia súc có thể kiểm kê KNK hàng năm là một trong những nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) và Bộ Tài nguyên Môi trường (TNMT) trong giai đoạn hiện nay
Với mục tiêu nghiên cứu đánh giá hiện trạng năng lực, nhu cầu hỗ trợ cho hoạt động tính toán phát thải KNK của ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam và đề xuất một
sắp xếp thể chế hợp lý cho Bộ NNPTNT, luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu xây dựng hệ
thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc và đề xuất giải pháp quản lý” sẽ
góp phần đề xuất một hoạt động quản lý cho các đơn vị quản lý nhà nước
Luận văn được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
mang tên: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê KNK tại Việt Nam” (QĐ
1579/BTNMT, 2013) Là một trong 17 hợp phần của Hệ thống Quốc gia, phạm vi của
luận văn hướng đến các hoạt động quản lý và sắp xếp thể chế cho hoạt động chăn nuôi gia súc trong phạm vi rộng lớn của một hệ thống vĩ mô cấp quốc gia Tuy nhiên,
Trang 10nghiên cứu sau cũng cố gắng góp phần để đáp ứng kịp thời yêu cầu của đơn vị quản
lý nhà nước đang được đặt ra Luận văn thạc sĩ sẽ góp phần đưa căn cứ khoa học gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam trong công tác quản lý nhà nước, nhằm
sử dụng và quản lý hợp lý hoạt động chăn nuôi gia súc, đi liền với bảo vệ môi trường
và vẫn đạt được mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ HỆ THỐNG
KIỂM KÊ KNK TRONG CHĂN NUÔI GIA SÚC
1.1 Biến đổi khí hậu và phát thải khí nhà kính
1.1.1 Biến đổi khí hậu
a Khái niệm về BĐKH
Biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ
hay hàng triệu năm (Trần Thục và cs., 2015) Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết
bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình
Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh chính sách môi trường BĐKH thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay và được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về BĐKH Theo báo cáo lần thứ 5 của Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), BĐKH được định nghĩa như sau:
“BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, được nhận biết qua
sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó; duy trì trong một khoảng thời gian dài, điển hình là vài thập kỷ hoặc dài hơn”
“BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”
Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC): “BĐKH là
“những ảnh hưởng có hại của khí hậu” là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và hoạt động quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Trang 12b Tác động của BĐKH
BĐKH có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các loài sinh vật trên trái đất và ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người BĐKH làm cho khí hậu thay đổi thất thường, khi nhiệt độ tăng cao làm ảnh hưởng đến mức chịu đựng
của một số loài, môi trường sinh thái xấu đi (Hoffmann, 2008) Trái đất nóng lên cũng làm tăng sốc nhiệt (stress nhiệt) ở gia súc (Hoffmann, 2008) Sốc nhiệt trong
chăn nuôi ngày một gia tăng do ảnh hưởng của BĐKH và gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi ở nhiều nước như làm giảm năng suất sinh trưởng - sinh sản ở vật nuôi và làm tăng chi phí chăn nuôi do phải đầu tư thêm thiết bị chuồng trại (hệ thống thông gió và làm mát…) để giảm nhẹ tác động của sốc nhiệt
Tác động của BĐKH đối với nền kinh tế xã hội Việt Nam là rất nghiêm trọng
và là một thách thức cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ
và sự phát triển bền vững của đất nước trong đó sản xuất nông nghiệp được coi là một trong những lĩnh vực được đánh giá dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu
và nước biển dâng (Trần Thục và cộng sự, 2015)
Ở nước ta, trong những năm vừa qua dịch bệnh trên gia súc (tai xanh, lở mồm long móng…) không ngừng bùng phát với diễn biến và cường độ ngày càng phức tạp, hậu quả là hàng trăm nghìn gia súc bị chết hoặc bị tiêu hủy gây thiệt hại nghiêm trọng cho người chăn nuôi Tình hình này cho thấy BĐKH đang ảnh hưởng đến mọi mặt của sản xuất nông nghiệp và gây hại nghiêm trọng cho ngành chăn
Trang 13trong quá trình hô hấp…) Tuy nhiên, lượng đóng góp của các nguồn này vào lượng phát thải KNK toàn cầu ít hơn rất nhiều so với hoạt động của con người
1.1.2 Phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc
Theo phân loại của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) phát thải KNK trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau KNK phát thải từ ngành nông nghiệp chủ yếu là các khí CO2, CH4 và N2O (IPCC, 2006)
Ở Nhật Bản, lượng KNK phát thải của ngành nông nghiệp năm 2010 là 25 nghìn tấn
CO2 tương đương chiếm 2% tổng lượng phát thải Lưu ý là hoạt động này không bao gồm phát thải từ lĩnh vực Sử dụng đất, quản lý sử dụng đất và rừng (LULUCF)
(Japan Report, 2012) Trong chăn nuôi gia súc KNK phát thải từ quá trình lên men
đường ruột và quá trình quản lý phân bao gồm khí CH4 và N2O Theo báo cáo kiểm
kê Nhật Bản 2010, lượng CH4 phát thải từ quá trình lên men đường ruột năm 2010
là 6,67 nghìn tấn CO2 tương đương chiếm 0,5% tổng lượng phát thải (Không bao gồm LULUCF), giảm 13,1% so với năm 1990 Lượng CH4 và N2O phát thải từ quá trình quản lý phân trong năm 2010 là 2,205 nghìn tấn CO2 tương đương và 5,475 nghìn tấn CO2 tương đương chiếm 0,2% và 0,4% tổng lượng phát thải (không bao gồm LULUCF), giảm 28,7% và 1% so với năm 1990
Do Việt Nam là một nước nông nghiệp, phát thải KNK trong khu vực nông
nghiệp chiếm một tỷ lệ khá lớn (Bộ TNMT, 2011b) Lượng phát thải KNK từ hoạt
động nông nghiệp mỗi năm tương đương 65 nghìn tấn CO2, chiếm trên 43% tổng lượng KNK phát thải của cả nước Nguồn phát thải chủ yếu là từ canh tác lúa, đốt phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi Dự báo lượng khí thải đến năm 2030
sẽ tăng lên gần 30% Theo Báo cáo cập nhật lần thứ nhất hai năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC (BUR1), tổng phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực nông nghiệp là 88,4 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó 50% phát thải từ canh tác lúa nước, 27% từ đất nông nghiệp, 11% từ quá trình tiêu hóa thức ăn, 10% từ quản lý phân bón, 2% từ đốt phụ phẩm nông nghiệp Kết quả chi tiết phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp được thể hiện trong hình 1.1
Trang 14Hình 1.1 Phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực nông nghiệp
(Bộ TNMT, 2014a)
Phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc bao gồm khí CH4 và khí N2O phát thải từ quá trình lên men tiêu hóa và quá trình quản lý phân của gia súc Theo tính toán trong Thông báo quốc gia lần thứ hai (2010) lượng phát thải KNK của chăn nuôi năm 2000 là 11,2 nghìn tấn CO2 tương đương chiếm tỷ trọng 17% lượng phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2000 Cũng theo thông báo này, kết quả phát
thải theo loại KNK năm 2000 bao gồm (i) CO2 là 0,068 triệu tấn, chiếm 44,9%, (ii)
CH4 là 0,066 triệu tấn CO2 tương đương chiếm 44% và (iii) N2O là 0,017 triệu tấn
CO2 tương đương chiếm 11,1% (Bảng 1.1) Nông nghiệp là nguồn chủ yếu phát thải
CH4 và N2O, chiếm 75 - 80%, trong khi đó năng lượng là nguồn chủ yếu phát thải
CO2 chiếm khoảng 70% tổng lượng phát thải
Trang 15Bảng 1.1 Tổng lượng KNK phát thải năm 2000 theo loại khí
(Bộ TNMT, 2011b)
Loại khí Phát thải (Triệu
tấn)
Hệ số khí CO 2 tđ (Triệu tấn) Tỷ lệ (%)
Nhận thấy sự phát thải KNK từ hoạt động chăn nuôi gia súc gồm tiêu hóa thức
ăn và quản lý phân bón có dấu hiệu tăng lên đáng kể, từ 6,7 triệu tấn năm 2000 lên 88,4 triệu tấn CO2 tương đương năm 2010 Vì vậy việc đánh giá được hiện trạng và
xây dựng hệ thống kiểm kê KNK trong chăn nuôi là rất cần thiết
1.2 Hệ thống kiểm kê KNK và kiểm kê KNK trong chăn nuôi
1.2.1 Khái niệm chung về hệ thống kiểm kê KNK
a Định nghĩa hệ thống kiểm kê KNK
Hệ thống kiểm kê KNK quốc gia là “một hệ thống quốc gia bao gồm các sắp xếp thể chế, luật pháp và các thủ tục được hình thành ở mỗi nước để tính toán lượng phát thải KNK phát sinh bởi các nguồn do hoạt động của con người và lượng KNK nằm ngoài Nghị định thư Montreal được hấp thụ bởi các nguồn hấp thụ để báo cáo và lưu trữ thông tin kiểm kê”(UNFCCC, 2001) Đây là một hệ thống động
bao gồm (i) Sắp xếp thể chế và chức năng nhiệm vụ cho các đơn vị liên quan, (ii) Phương pháp tính toán và biểu mẫu báo cáo kiểm kê KNK, (iii) Quá trình QA/QC hoạt động kiểm kê KNK và (iv) Lưu trữ thông tin và cải thiện chu trình kiểm kê KNK (Hình 1.2)
Trang 16Hình 1.2 Khung sơ đồ hệ thống kiểm kê KNK quốc gia (Nguyễn Phương Nam & Rose Bailey, 2015)
Việc chuẩn bị cho kiểm kê KNK cần có một cơ sở thể chế để làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình kiểm kê quốc gia Bởi vậy, sắp xếp thể chế cho kiểm kê KNK quốc gia chính là cơ cấu tổ chức được thiết lập tại mỗi quốc gia để thực hiện việc kiểm kê Theo như khoản 5.1 trong nghị định thư Kyoto (KP)
(UNFCCC, 2001), sắp xếp thể chế là một trong ba yếu tố cấu thành nên một hệ
thống quốc gia về kiểm kê KNK được yêu cầu bắt buộc phải thiết lập tại các nước trong phụ lục I
Yếu tố quan trọng trong sắp xếp thể chế của một quốc gia là mối liên hệ và quá trình trao đổi giữa cơ quan chịu trách nhiệm chung về kiểm kê KNK với các cơ quan, tổ chức khác tham gia vào quá trình thu thập và xử lý số liệu cho kiểm kê Bên cung cấp thông tin, dữ liệu có thể là các Bộ ngành, công ty tư nhân hoặc các viện nghiên cứu Các hợp phần cụ thể được miêu tả trong báo cáo của tác giả Nguyễn Phương Nam (2015a):
Hệ thống kiểm kê khí nhà kính
Quá trình QA/QC hoạt động kiểm kê KNK
Lưu trữ thông tin
và cải thiện chu trình kiểm kê KNK
Trang 17- Sắp xếp thể chế là những chính sách, hệ thống và quy trình mà các tổ chức
dùng để ban hành luật, kế hoạch và quản lý các hoạt động một cách hiệu quả và phối hợp hiệu quả với những người khác để hoàn thành nhiệm vụ… Đây là hợp phần đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của hệ thống quốc gia về kiểm kê KNK;
- Phương pháp và biểu mẫu báo cáo: Phương pháp kiểm kê KNK quốc
gia được thực hiện theo Hướng dẫn kiểm kê và Hướng dẫn thực hành tốt của
IPCC (IPCC, 2000) Hướng dẫn kỹ thuật được ban hành chính thức bởi IPCC
cũng như có những điều chỉnh áp dụng theo điều kiện thực tế của mỗi quốc gia Trên cơ sở hệ thống các báo cáo, kết quả thu thập số liệu và các công thức tính toán được áp dụng trên quy mô toàn quốc một cách thống nhất
- Hoạt động đảm bảo chất lượng (QA): bao gồm một hệ thống các quy trình
rà soát được thực hiện bởi các cán bộ không liên quan trực tiếp đến quá trình triển khai biên tập kiểm kê, để xác minh lại mục tiêu chất lượng số liệu đã được thực hiện, và đảm bảo rằng kiểm kê đại diện tốt nhất có thể các ước tính phát thải trong
điều kiện khoa học và kiến thức có sẵn, hỗ trợ hiệu quả chương trình QC
- Hoạt động kiểm soát chất lượng (QC): Là một hệ thống các hoạt động kỹ
thuật để đo lường và kiểm soát chất lượng kiểm kê đang được tiến hành Hệ thống
QC được thiết kế để: Cung cấp kiểm tra thường xuyên và nhất quán để đảm bảo thống nhất dữ liệu, tính chính xác và toàn diện; Xác định và xử lý các lỗi và các thiếu sót; Lập hồ sơ và lưu trữ các tư liệu kiểm kê và lưu hồ sơ tất cả các hoạt động
QC Các hoạt động QC bao gồm các biện pháp như kiểm tra độ chính xác trong thu thập dữ liệu, các tính toán và việc sử dụng các thủ tục chuẩn hóa đã được phê duyệt cho tính toán phát thải, đo lường, ước tính các sai số, lưu trữ thông tin và lập báo cáo Các hoạt động QC cao cấp hơn cũng bao gồm rà soát kỹ thuật về loại nguồn, hoạt động, hệ số phát thải và các biện pháp
- Lưu trữ thông tin và cải thiện chu trình: Các thông tin kiểm kê sẽ bao
gồm các hệ số phát thải đã sử dụng, các dữ liệu hoạt động, các tư liệu về các hệ số phát thải và dữ liệu được tạo ra và tổng hợp Thông tin này cũng bao gồm tư liệu
Trang 18nội bộ về quy trình QA/QC, rà soát nội bộ và bên ngoài, tư liệu về các nguồn chính hàng năm và việc xác định nguồn chính, xác định nguồn chính và hoàn thiện kiểm
kê đã được lập kế hoạch
b Mục tiêu của hệ thống kiểm kê KNK
Mục tiêu quan trọng của hệ thống kiểm kê KNK quốc gia là nhằm tăng cường chất lượng cũng như đảm bảo tính minh bạch, thống nhất, so sánh được, tính
hoàn thiện và tính chính xác trong công tác kiểm kê (UNFCCC, 2001) UNFCCC
yêu cầu các nước thuộc phụ lục I (các nước đang phát triển) thiết lập một hệ thống quốc gia về ước tính phát thải KNK và có hướng dẫn chung về hệ thống của các quốc gia này
Theo phân loại của UNFCCC và nghị định thư Kyoto (KP), Việt Nam là một trong các nước không thuộc phụ lục I Theo đó, tuy Việt Nam không có nghĩa vụ phải giảm phát thải các KNK theo quy định của KP nhưng để góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu và thực hiện trách nhiệm của bên ký UNFCCC và KP, Việt Nam đã
và đang thực hiện một số nghĩa vụ chung như: Xây dựng Thông báo quốc gia về BĐKH; tiến hành kiểm kê quốc gia các KNK từ các nguồn do con người gây ra và lượng KNK được hấp thụ bởi các bể hấp thụ; đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương cho các vùng bởi BĐKH…
1.2.2 Giới thiệu về hệ thống kiểm kê KNK quốc gia và hoạt động kiểm kê trong chăn nuôi của một số nước trên thế giới
a Hệ thống kiểm kê KNK quốc gia
Trang 19Hình 1.3 Sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Nhật Bản
(Japan Report, 2012)
Mô hình sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Nhật Bản cho thấy
Bộ Môi trường Nhật Bản là cơ quan duy nhất thực hiện tính toán kiểm kê KNK tất
cả các lĩnh vực Bộ Môi trường Nhật Bản kết hợp cùng với Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp để thực hiện kiểm kê cho ngành nông nghiệp nói chung và hoạt động chăn nuôi gia súc nói riêng Tuy nhiên, cấp độ chi tiết về sắp xếp thể chế cho các tiểu lĩnh vực gồm chăn nuôi gia súc của Nhật Bản chưa được đề cập chi tiết do Bộ Nông
nghiệp Nhật Bản chịu trách nhiệm chung (Nguyễn Phương Nam, 2015b)
CHLB Đức
Theo báo cáo kiểm kê quốc gia KNK của Đức 1990/2009, chính sách hệ thống quốc gia về báo cáo phát thải ngày 05 tháng 06 năm 2007 đã xác định rõ trách
nhiệm của các bộ ngành liên quan (Germany Report, 2012) Trong đó Cục Môi
trường Liên bang (UBA) có vai trò là cơ quan chuyên trách (cơ quan điều phối quốc
Trang 20gia) của Đức để hỗ trợ quá trình lập báo cáo, các Bộ cùng tham gia khác đã thành lập một Ủy ban điều phối nhằm điều phối công việc liên quan trong Cục Môi trường Liên bang, một nhóm công tác về kiểm kê được thành lập (hình 1.4)
Hình 1.4 Sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại CHLB Đức
(Germany Report, 2012)
Nhìn vào hình sắp xếp thể chế cho công tác kiểm kê trong lĩnh vực Nông nghiệp của Đức cho thấy Cục Môi trường Liên bang là cơ quan điều phối quốc gia trong hệ thống quốc gia của Đức, có vai trò là trung tâm liên lạc, điều phối và thông tin cho Bộ Nông nghiệp trong hệ thống quốc gia Khi Bộ Nông nghiệp làm đầu mối, viện nghiên cứu Heindric von Thunen có trách nhiệm cho công tác kiểm kê lĩnh vực chăn nuôi gia súc trong nội dung kiểm kê của lĩnh vực nông nghiệp Các công ty tư nhân liên quan đến chăn nuôi các loại gia súc sẽ là đơn vị cung cấp số liệu đầu vào
để tính toán kiểm kê KNK (Germany Report, 2012)
Trang 21CHLB Đức đã ban hành các chính sách quy định trách nhiệm của các cơ quan tham gia vào quá trình kiểm kê Theo báo cáo kiểm kê quốc gia KNK của Đức
1990 - 2009, chính sách hệ thống quốc gia về báo cáo phát thải đã xác định rõ trách nhiệm cụ thể của các Bộ tham gia tương ứng với các lĩnh vực nguồn phát thải và hấp thụ Ngoài ra, các văn bản liên quan cũng quy định các Bộ liên bang tham gia phải tiến hành các hoạt động phù hợp để đảm bảo dữ liệu trong phạm vi trách nhiệm quản lý của mình
dữ liệu KNK và quản lý chất lượng công tác kiểm kê, sau đó báo cáo lên Văn phòng
kế hoạch chính sách tài nguyên và môi trường, nơi có trách nhiệm đảm bảo chất lượng cũng như tiếp nhận các hành động giảm nhẹ Văn phòng kế hoạch chính sách
Trang 22tài nguyên và môi trường có trách nhiệm báo lên UNFCCC bằng thông báo quốc gia Và dưới đây là mô tả chi tiết các cơ quan có liên quan tham gia công tác kiểm
kê cho lĩnh vực chăn nuôi gia súc:
- Bộ Nông nghiệp và chính quyền địa phương cung cấp các dữ liệu hoạt động của hoạt động chăn nuôi gia súc;
- IPCC cung cấp các nhân tố phát thải;
- Bộ Môi trường có nhiệm vụ tổng hợp, tính toán dữ liệu thu thập, đề xuất các hành động giảm nhẹ;
- Văn phòng kế hoạch Chính sách Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện báo cáo kiểm kê gửi lên UNFCCC
Indonesia
Tương tự Thái Lan, Indonesia cũng đã đưa ra được khung thể chế cho hoạt động kiểm kê quốc gia để báo cáo với UNFCCC trên sơ sở xây dựng các thông báo
quốc gia (Hình 1.6) (Indonesia Report, 2010)
Hình 1.6 Khung thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Indonesia
(Indonesia Report, 2010)
Trang 23Ở Indonesia, Ủy ban quốc gia về BĐKH là cơ quan chuyên trách có trách nhiệm thu thập và xử lý số liệu từ các bộ ngành liên quan, thông qua nhóm phát triển kiểm kê KNK quốc gia, tổ chức các cuộc hội thảo quốc gia về BĐKH để tiến
tới hoàn thiện kiểm kê KNK (Indonesia Report, 2010) Khung thể chế cho công tác
kiểm kê KNK ở Indonesia có điểm khác biệt so với các quốc gia khác đó là Indonesia thành lập Nhóm phát triển thông báo quốc gia liên bộ, tức là có sự tham gia chung xây dựng báo cáo của các Bộ có liên quan chứ không phải trách nhiệm xây dựng là
của riêng Bộ Môi trường (Nguyễn Phương Nam, 2015b) Thông báo quốc gia sau khi
hoàn thiện sẽ được Bộ Môi trường nộp cho UNFCCC Hoạt động tính toán phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc được phụ trách và thực hiện bởi Bộ Nông nghiệp và nhóm chuyên gia phát triển kiểm kê KNK quốc gia Đây là nét khác biệt của quốc gia này trong việc sắp xếp thể chế cho hoạt động kiểm kê phát thải KNK trong chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp nói chung
b Hoạt động kiểm kê KNK trong chăn nuôi gia súc tại Việt Nam
Sản phẩm từ vật nuôi có thể gây ra lượng khí thải CH4 từ quá trình lên men
đường ruột (IPCC, 2006) Gia súc là nguồn chủ yếu sinh ra khí CH4 ở nhiều quốc gia vì gia súc có số lượng lớn và tỷ lệ thải khí CH4 rất cao do chúng có hệ thống tiêu hóa mang đặc điểm của động vật nhai lại CH4 được phát thải từ động vật do nhu động ruột nhờ quá trình phân hủy thức ăn của các vi sinh vật trong đường ruột Lượng CH4 phát thải phụ thuộc vào hình thức tiêu hóa, tuổi, trọng lượng của vật nuôi và số lượng chất lượng của thức ăn Các loài nhai lại như trâu, bò… là nguồn phát thải CH4 chính so với các loài gia súc không nhai lại như lợn, ngựa… Hệ thống tiêu hóa ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ phát thải CH4 Những loài nhai lại có dạ cỏ là nơi vi sinh vật tiêu thụ cenlulo tạo ra khí CH4 gồm có trâu, bò và dê Các loài không nhai lại như ngựa, la và các loài có dạ dày đơn như lợn phát thải CH4 ít vì hệ tiêu hóa của chúng không có dạ cỏ Nhìn chung lượng thức ăn ăn vào càng nhiều thì lượng CH4 phát thải ra càng lớn Mặc dù ở khía cạnh nào đó thì lượng CH4 thải ra
có thể bị ảnh hưởng bởi thành phần thức ăn Lượng thức ăn ăn vào còn phụ thuộc vào kích thước của vật nuôi, tỷ lệ tăng trưởng và sản phẩm của vật nuôi (ví dụ như vật nuôi cho sữa, cho lông hoặc mang thai)
Trang 24CH4 còn được sinh ra do sự phân hủy các chất hữu cơ bởi vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí Trong các nguồn CH4 do con người tạo ra thì ngành nông nghiệp phát thải là lớn nhất CH4 từ quá trình lên men trong ống tiêu hóa động vật chiếm khoảng 20%, từ phân gia súc chiếm khoảng 7% tổng CH4 thải ra (IPCC, 2006)
Chất thải (phân và nước tiểu) của gia súc phát thải N2O trong quá trình phân
hủy sau khi bón ruộng hoặc cất trữ, xử lý (IPCC, 2006) Phát thải trực tiếp thông
qua hai quá trình nitorat hóa và phản nitorat hóa Phát thải N2O gián tiếp xảy ra do
sự phân hủy chất thải tạo thành các hợp chất nitơ không bền vững như Amôniac (NH3) và NO2
Trên Thế giới, phần lớn hệ thống kiểm kê mới được xây dựng chung cho toàn quốc gia, rất ít hệ thống kiểm kê được xây dựng riêng cho từng lĩnh vực hoặc
tiểu lĩnh vực cụ thể (Nguyễn Phương Nam, 2015b) Kiểm kê KNK trong chăn nuôi
gồm tính toán phát thải các khí CH4 và N2O từ quá trình lên men tiêu hóa và quá trình quản lý phân bón của vật nuôi để tìm ra phương pháp ước tính làm giảm phát thải các KNK gây ảnh hưởng đến môi trường
1.2.3 Hiện trạng xây dựng hệ thống kiểm kê KNK ở Việt Nam
a Hiện trạng bối cảnh quốc tế và trong nước của hoạt động kiểm kê KNK tại Việt Nam
Từ sau Hội nghị các bên tham gia UNFCCC tại Durban, Nam Phi 2011 (COP17), các quốc gia không thuộc Phụ lục I được yêu cầu tiến hành kiểm kê và báo cáo thực trạng phát thải KNK định kỳ 2 năm một lần, từ năm 2014 Cho tới nay, Việt Nam mới chính thức có hai thông báo quốc gia và một báo cáo BUR Việc thực hiện kiểm kê KNK này chủ yếu được thực hiện theo mô hình dự án, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và chưa có một hệ thống tổ chức, thể chế chính thức nào được thiết lập cho hoạt động này
COP16 năm 2010 ở Cancun, Mexico quyết định các nước đang phát triển xây dựng và nộp Thông báo quốc gia cho UNFCCC sau mỗi bốn năm (Quyết định 1/CP.16) và bao gồm cả kết quả kiểm kê quốc gia KNK (Quyết định 17/CP.8, COP8 ở New Deli, Ấn Độ)
Trang 25COP17 năm 2011 ở Durban, Nam Phi quyết định các nước đang phát triển
sẽ nộp BUR bao gồm kết quả kiểm kê KNK cho UNFCCC sau mỗi hai năm và nộp BUR đầu tiên vào cuối năm 2014 (Quyết định 2/CP.17) Kết quả kiểm kê quốc gia KNK là một phần bắt buộc trong các BUR với lộ trình và kế hoạch rõ ràng (Hình 1.7)
Hình 1.7 Kế hoạch thực hiện việc xây dựng và nộp báo cáo kiểm kê quốc gia của
các nước không thuộc phụ lục I
Bộ TNMT Việt Nam với sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA) đã tiến hành Dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê KNK quốc gia tại Việt Nam” giai đoạn 2011 - 2014 với mục tiêu tăng cường năng lực và thực hiện kiểm
kê KNK quốc gia cho các năm cơ sở 2005 và 2010 Cục KTTVBĐKH, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (CLCSTNMT), Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (KHKTTVBĐKH) cùng với Tổng cục Môi trường (TCMT) là các đơn vị thuộc Bộ TNMT được giao thực hiện dự án Các kinh nghiệm về hoạt động tính toán kiểm kê cũng như hiện trạng các đơn vị,
tổ chức, cá nhân chuyên gia đang có ở Việt Nam đều có được trên cơ sở thực hiện các dự án nêu trên
Trên cơ sở Công ước UNFCCC và nghị định thư KP, Việt Nam đã ký và cam kết tham gia tích cực vào các hoạt động ứng phó với BĐKH Để thực hiện nhiệm vụ giảm nhẹ của BĐKH, công tác kiểm kê KNK đã được Việt Nam cụ thể hóa thực hiện bằng việc xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ nhất cho UNFCCC cho năm
cơ sở 1994, Thông báo quốc gia lần thứ hai cho năm cơ sở 2000 (Hình 1.8) cũng như các báo cáo kiểm kê quốc gia cho năm 2005 và Báo cáo cập nhật hai năm một lần đầu tiên (BUR1) cho năm cơ sở 2010 Quy trình kiểm kê KNK tại Việt Nam
Trang 26được cơ bản thực hiện theo phương pháp được mô tả trong ba hướng dẫn của
IPCC bao gồm: Hướng dẫn sửa đổi cho kiểm kê KNK của IPCC năm 1996 (IPCC, 2003); Hướng dẫn thực hành tốt và quản lý độ không chắc chắn trong kiểm kê KNK (IPCC, 2000) và Hướng dẫn của IPCC về kiểm kê KNK năm 2006 (IPCC, 2006) Trong đó, phần lớn tính toán được sử dụng theo IPCC 1996 sửa đổi, chỉ
một vài tiểu lĩnh vực có thể tính toán được theo IPCC 2006
Hình 1.8 Hai thông báo quốc gia của Việt Nam cho UNFCCC
Các báo cáo kiểm kê KNK quốc gia cho đến nay đều được các đơn vị của Việt Nam thực hiện trên cơ sở có được sự hỗ trợ về tài chính của cộng đồng quốc tế nói chung, cũng như sự hỗ trợ kỹ thuật của JICA, Nhật Bản nói riêng trong khuôn khổ các dự án hợp tác bằng vốn hỗ trợ phát triển (ODA) của chính phủ Việt Nam Hoạt động tính toán kiểm kê KNK thời gian qua được điều phối và chia sẻ giữa các đơn vị liên quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam Theo tác giả Nguyễn Phương Nam (2015b), dù vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng cơ bản sắp xếp thể chế cho hoạt động kiểm kê KNK quốc gia đã dần có được sự hoàn thiện theo thời gian, từ mức
độ đơn giản như thực hiện cho Thông báo quốc gia 2 (2010) với năm cơ sở 2000
Trang 27đến chi tiết hơn trong phân công trách nhiệm cụ thể trong báo cáo kiểm kê cho năm
cơ sở 2005 và cập nhật trong việc xây dựng BUR1 cho năm cơ sở 2010
b Hiện trạng sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê KNK cho Thông báo quốc gia của Việt Nam
Theo báo cáo của Dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê KNK quốc gia tại Việt Nam” giai đoạn 2011 - 2014 của JICA, để có được báo cáo quốc gia về BĐKH
nói chung và kiểm kê KNK nói riêng, chính phủ Việt Nam đã nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của hoạt động kiểm kê KNK, cũng như cố gắng với tất cả các nguồn lực và dữ liệu hoạt động sẵn có, đã phân công Bộ TNMT là cơ quan đầu mối
và chuyên trách thực hiện với phân cấp điều phối thuộc ban chỉ đạo thực hiện UNFCCC và KP để thành lập Ban điều phối dự án Thông báo quốc gia thực hiện nhiệm vụ do chính phủ giao Hoạt động kiểm kê KNK trong nông nghiệp (bao gồm các nội dung của lĩnh vực chăn nuôi gia súc) được các chuyên gia của Viện Môi trường nông nghiệp, Bộ NNPTNT thực hiện trong một hợp phần thuộc khuôn khổ dự án JICA dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban quản lý dự án Thông báo quốc gia Cũng theo báo cáo của Viện CLCSTNMT (2014), Việt Nam đang trong quá trình thành lập các thể chế, pháp luật và các quy định về thủ tục để đảm bảo việc kiểm kê KNK được thực hiện đúng hạn và hiệu quả Để kiểm kê KNK, các đơn vị thực hiện dự án JICA có hoạt động kiểm kê KNK theo khung thể chế được sơ đồ hoá tại hình 1.9
Trang 28Hình 1.9 Khung thể chế cho công tác kiểm kê KNK tại Việt Nam
(Viện CLCSTNMT, 2014)
Trong khung sắp xếp thể chế, các đơn vị có liên quan bao gồm Cục KTTVBĐKH, Viện khoa học khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu (KHKTTVBĐKH), Tổng cục môi trường (TCMT), Viện chiến lược và chính sách tài nguyên môi trường (CLCSTNMT), nhóm cố vấn khoa học về kiểm kê, chuyên gia tư vấn trong nước về các lĩnh vực và chuyên gia JICA Nhật Bản đảm nhiệm các công việc cụ thể như sau:
- Cục KTTVBĐKH: giám sát toàn bộ quá trình chuẩn bị kiểm kê KNK;
- Viện KHKTTVBĐKH và TCMT: Các chuyên gia tại hai đơn vị có
chuyên môn phù hợp với tính toán kiểm kê KNK có trách nhiệm thực hiện chuẩn bị kiểm kê KNK theo cơ chế dự án với JICA Các nhóm kiểm kê (phân loại theo nhóm nguồn phát thải chính) đã lựa chọn các phương pháp ước tính theo hướng dẫn của IPCC, chuẩn bị các tệp ước tính và dự thảo báo cáo tính toán kiểm kê Cụ thể, chuyên gia của Viện KHKTTVBĐKH chịu trách nhiệm về các lĩnh vực năng lượng, quá trình công nghiệp và LULUCF, trong khi các chuyên gia của TCMT và Viện Môi trường nông nghiệp, Bộ NNPTNT chịu trách nhiệm về lĩnh vực nông nghiệp và
Trang 29chất thải Đồng thời, chuyên gia của hai đơn vị trên sẽ trao đổi kinh nghiệm và thảo luận về lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là với nhóm chuyên gia JICA sang Việt Nam
- Viện CLCSTNMT: Chuyên gia của Viện chịu trách nhiệm xây dựng đề
xuất về hệ thống kiểm kê quốc gia để chuẩn bị kiểm kê KNK Ngoài ra, đơn vị này còn đề xuất danh mục kiểm tra QC để các chuyên gia của Viện KHKTTVBĐKH và TCMT sử dụng để đảm bảo chất lượng của tính toán kiểm kê
- Nhóm cố vấn khoa học về kiểm kê: Các cố vấn khoa học của nhóm đã ký
hợp đồng chuyên gia cố vấn độc lập với JICA Các nhà khoa học với kinh nghiệm
sẽ có nhiệm vụ cung cấp tư vấn kỹ thuật cho các chuyên gia tính toán kiểm kê của Viện KHKTTVBĐKH và TCMT, trong đó bao gồm cả việc thực hiện QC các kết quả cuối cùng Mỗi một thành viên nhóm cố vấn khoa học phụ trách một lĩnh vực
và thường xuyên gặp gỡ các cán bộ của Viện KHKTTVBĐKH và TCMT để cùng nhau hoàn thiện việc kiểm kê KNK
- Chuyên gia thu thập dữ liệu hoạt động: Các chuyên gia trong nước sẽ
được ký hợp đồng ngắn hạn với JICA với mục đích hỗ trợ việc thu thập các dữ liệu hoạt động cần thiết chuẩn bị cho việc kiểm kê KNK Trong đó, mỗi một thành viên phụ trách một lĩnh vực, các chuyên gia làm việc với các đơn vị có thể cung cấp dữ liệu hoạt động để đảm bảo các đơn vị cung cấp được số liệu phù hợp và chính xác nhất cho chuyên gia tính toán kiểm kê của Viện KHKTTVBĐKH và TCMT
- Chuyên gia JICA, Nhật Bản: Nhóm thực hiện dự án của JICA cung cấp
hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các cơ quan đối tác để đảm bảo chất lượng của việc kiểm kê KNK Các chuyên gia kiểm kê đến từ Nhật Bản làm việc với cán bộ của Viện KHKTTVBĐKH, TCMT và Viện CLCSTNMT về các quá trình trong tính toán và báo cáo kiểm kê KNK
c Đánh giá hiện trạng sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê KNK quốc gia cho thông báo BUR1
Cũng trên cơ sở dự án của JICA, Nhật Bản, so với sắp xếp thể chế cho hệ thống kiểm kê KNK cho thông báo Quốc gia, Việt Nam vẫn duy trì một cơ chế
Trang 30tương tự (Hình 1.9), chỉ có một số cải tiến trong phương pháp luận căn cứ trên hoàn
cảnh thực tiễn ở Việt Nam (Cục KTTVBĐKH, 2014)
BUR1 là một trong những nỗ lực lớn của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một quốc gia nộp báo cáo sớm thứ 2 cho Ban thư kí của UNFCCC vào tháng 11 năm 2014 Việc thực hiện điều phối và phân công trách nhiệm thực hiện BUR1 đã được Việt Nam cụ thể hoá như hình 1.10
Hình 1.10 Sắp xếp thể chế thực hiện xây dựng BUR1 của Việt Nam
(Bộ TNMT, 2014a)
Việc thực hiện quản lý hoạt động kiểm kê cho BUR1 được thực hiện từ trên xuống khi đứng đầu là Uỷ ban quốc gia về Biến đổi khí hậu có trách nhiệm phê duyệt báo cáo như một văn bản chính thống đại diện duy nhất cho Việt Nam Trong khi đó, Bộ TNMT là cơ quan đầu mối duy nhất về BĐKH nói chung và kiểm kê KNK nói riêng sẽ bao gồm cơ quan thường trực cho Ban chỉ đạo thực hiện
Trang 31UNFCCC và KP Bộ TNMT có trách nhiệm thu thập các dữ liệu hoạt động từ các
Bộ liên quan cũng như xin ý kiến tham vấn sau khi đã tính toán xong kiểm kê
Trong Bộ TNMT, Cục KTTVBĐKH sẽ có nhiệm vụ giúp việc Bộ trong điều phối và quản lý hoạt động tính toán kiểm kê, soạn thảo báo cáo kiểm kê với các đơn
vị liên quan, các nhóm công tác, các Viện nghiên cứu, trường đại học…
Cũng trong khuôn khổ thực hiện dự án JICA, Nhật Bản giai đoạn 2011-2014, Viện CLCSTNMT cũng đã đề xuất một mô hình sắp xếp thể chế cho hệ thống kiểm kê
KNK quốc gia như hình 1.11 (Viện CLCSTNMT, 2014)
Hình 1.11 Đề xuất mô hình sắp xếp thể chế hệ thống kiểm kê KNK ở Việt Nam
(Viện CLCSTNMT, 2014)
Đây là mô hình tạm thời của hệ thống Quốc gia cho việc chuẩn bị kiểm kê quốc gia KNK trong tương lai bao gồm cả các tiểu lĩnh vực của hoạt động chăn nuôi gia súc, nhưng với kỳ vọng thiết lập được một hệ thống kiểm kê quốc gia KNK tốt hơn, thì cần có sự tham gia rộng rãi của các Bộ, ngành cũng như các cơ quan chính phủ khác, các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học, chuyên gia Mặc dù trong thời gian này sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan vẫn còn chưa đầy đủ nhưng đã khả quan hơn so với trước đây Các kết quả từ nghiên cứu kế thừa cho
Trang 32thấy kết quả tính toán kiểm kê KNK phần lớn dựa trên nguồn số liệu và kinh nghiệm chuyên gia Cũng như các lĩnh vực khác, lĩnh vực Nông nghiệp nói chung
và chăn nuôi gia súc nói riêng vẫn chưa có một hệ thống chính thức với đầy đủ chức năng và nhiệm vụ thực hiện
Theo báo cáo kiểm kê KNK mới nhất vừa được công bố tháng 12 năm 2014 của Việt Nam, ngành nông nghiệp Việt Nam là ngành có nguồn phát thải KNK lớn thứ hai đứng sau ngành công nghiệp Trước tình hình khí hậu ngày càng phức tạp và biến đổi khó lường, việc đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tối đa lượng phát thải KNK góp phần bảo vệ môi trường là rất cần thiết
Vì chăn nuôi gia súc là một trong các tiểu khu vực phát thải KNK chủ yếu của
ngành nông nghiệp (Nguyễn Phương Nam, 2015b) Do vậy mà việc kiểm kê KNK
chính xác khu vực chăn nuôi đang trở thành vấn đề cấp bách và thiết yếu trong nội dung kiểm kê KNK quốc gia cũng như phát triển các dự án giảm nhẹ KNK
Luận văn học viên đang tiến hành nghiên cứu là bước khởi đầu cho việc xây dựng hệ thống kiểm kê KNK trong chăn nuôi, cụ thể hơn ở đây là trong hoạt động chăn nuôi gia súc
1.3 Kiểm kê khí nhà kính năm 2010 của Việt Nam
1.3.1 Các nguồn phát thải/hấp thụ chính
Trong kiểm kê quốc gia KNK cho năm 2010, phương pháp bậc 1 đã được sử
dụng để đánh giá phân tích các nguồn phát thải/hấp thụ chính (Bộ TNMT, 2014a) Việc
phân tích nguồn phát thải/hấp thụ chính được thực hiện theo hai kết quả bao gồm và
không bao gồm LULUCF phù hợp với GPG 2000 và GPG-LULUCF 2003 (IPCC, 2000; IPCC, 2003) Qua kiểm kê, đã xác định và phân tích 25 nguồn phát thải/hấp thụ chính trong trường hợp có LULUCF (Bộ TNMT, 2014a) Kết quả phân tích nguồn phát
thải chính trong các lĩnh vực chính được thể hiện trong bảng 1.2 và hình 1.7
Trang 33Bảng 1.2 Phân tích nguồn phát thải/hấp thụ KNK chính trong các lĩnh vực
Lĩnh vực thải/ hấp thụ Tiểu lĩnh vực Phát thải/hấp thụ
(nghìn tấn CO 2 tđ) Năng lƣợng Đốt nhiên liệu 124275
Phát thải do phát tán 16895
Các quá trình công
nghiệp
Vật liệu xây dựng và khoáng sản 21172
Các ngành sản xuất khác NE Sản xuất Halocác-bon và SF6 NE Tiêu thụ Halocác-bon và SF6 NE
Nông nghiệp
NE: Không ước tính
IE: Đã bao gồm trong nguồn khác
N/O: Không xảy ra
Trang 34Hình 1.12 Phát thải/hấp thụ khí nhà kính năm 2010 theo lĩnh vực
(Bộ TNMT, 2014a)
1.3.2 Kết quả kiểm kê khí nhà kính ngành chăn nuôi gia súc
Phát thải của tiểu lĩnh vực chăn nuôi gia súc sẽ cần đƣợc tính toán trên cơ sở các nguồn số liệu hoạt động của ngành chăn nuôi gia súc và chủ yếu là số các loại đầu gia súc trên toàn quốc từ các đơn vị liên quan, hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia cho lĩnh vực chăn nuôi gia súc (Bảng 1.3)
Trang 35Bảng 1.3 Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia cho lĩnh vực chăn nuôi gia súc
(Ban hành kèm theo quyết định số 3201/QĐ/BNN-KH ngày 26 tháng 11 năm 2010
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT)
Kì cung cấp
nghiệp/trang trại) loại hình kinh tế, tỉnh/T.p
6 tháng
TK/Cục Chăn nuôi
TTTH-TCTK/Sở NN
& PTNT
28 Số lƣợng bò
Mục đích sử dụng, loại hình chăn nuôi (doanh
nghiệp/trang trại), loại hình kinh tế, tỉnh/T.p
6 tháng
TK/Cục Chăn nuôi
TTTH-TCTK/Sở NN
& PTNT
29 Số lƣợng lợn
Mục đích sử dụng, loại hình chăn nuôi (doanh
nghiệp/trang trại), loại hình kinh tế, tỉnh/T.p
6 tháng
TK/Cục Chăn nuôi
6 tháng
TK/Cục Chăn nuôi
TTTH-TCTK/Sở NN
& PTNT
Trang 36Theo kết quả thống kê cho năm 2010, hiện trạng số lượng gia súc của Việt Nam được thu thập và cho kết quả thu thập như dưới đây (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Số đầu gia súc năm 2010 của Việt Nam (Bộ TNMT, 2014a)
6 Lạc đà 0 Không có nguồn cung cấp
7 Ngựa 93.100 Niên giám thống kê, Tổng cục Thống kê
8 La và lừa 0 Không có nguồn cung cấp
9 Lợn 27.373.300 Niên giám thống kê, Tổng cục Thống kê
Trang 37Kết quả chi tiết phát thải trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc bao gồm tiêu hóa thức ăn và quản lý phân bón hữu cơ đƣợc thể hiện trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Phát thải khí nhà kính năm 2010 trong lĩnh vực chăn nuôi
(Bộ TNMT, 2014a)
Đơn vị: nghìn tấn CO2 tương đương
Tỷ lệ trong lĩnh vực nông nghiệp (%)
Trang 38Phần lớn hệ số phát thải được sử dụng cho kiểm kê là các hệ số mặc định trong các tài liệu hướng dẫn kiểm kê của IPCC Bảng 1.6 mô tả tóm tắt các phương pháp, số liệu được sử dụng cho từng lĩnh vực chính bao gồm lĩnh vực nông nghiệp
Bảng 1.6 Tóm tắt các phương pháp và nguồn số liệu sử dụng
Các thông số khác
Năng lượng Bậc 1
Số liệu thống kê quốc gia (Bảng cân bằng năng lượng)
Hầu hết là các hệ
số mặc định của IPCC và số liệu đặc trưng quốc gia
Nhiệt trị đặc trưng quốc gia đối với nhiên liệu rắn
Nông
nghiệp
Hầu hết dùng Bậc 1, vài trường hợp dùng Bậc 2
Số liệu thống kê quốc gia, số liệu từ
cơ quan chính phủ/
cơ sở công nghiệp
Hầu hết là các hệ
số mặc định của IPCC và số liệu đặc trưng quốc gia
Giá trị mặc định của IPCC
LULUCF Kết hợp cả
Bậc 1 và Bậc 2
Số liệu thống kê quốc gia, số liệu
từ cơ quan chính phủ và địa phương, số liệu từ các kết quả nghiên cứu
Các hệ số mặc định của IPCC,
số liệu từ các kết quả nghiên cứu
Số liệu từ các kết quả nghiên cứu cũng được
sử dụng
Chất thải
Hầu hết dùng Bậc 1, vài trường hợp dùng Bậc 2
Số liệu thống kê quốc gia, số liệu
từ cơ quan chính phủ và địa phương, số liệu từ các kết quả nghiên cứu
Hầu hết là các
hệ số mặc định của IPCC, số liệu
từ các kết quả nghiên cứu
Số liệu từ các kết quả nghiên cứu cũng được
sử dụng
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TRONG CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
Trên thế giới, do các quốc gia có đặc thù khác nhau nên có rất nhiều giải pháp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm kê KNK Tuy nhiên, cơ sở khoa học
và cơ sở pháp lý để xây dựng phương pháp luận đều căn cứ trên cơ sở phương pháp
kế thừa, phương pháp tham vấn chuyên gia, phương pháp điều tra xã hội học Căn
cứ trên điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội và thực tế của Việt Nam, các phương pháp luận trên đã được thực hiện và miêu tả cụ thể xây dựng hệ thống kiểm kê trong chăn nuôi gia súc ở Việt Nam
2.1 Phương pháp kế thừa
2.1.1 Khái niệm
Phương pháp kế thừa là phương pháp mà các nghiên cứu sẽ thực hiện trên cơ
sở tổng hợp và kế thừa các kết quả từ các nghiên cứu, các sản phẩm đã được bước đầu thực hiện trước thời điểm tiến hành nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng của phương pháp
Đối tượng của phương pháp kế thừa là các tài liệu, kết quả có liên quan trong và ngoài nước hiện đã một phần được nghiên cứu có liên quan đến nội dung luận văn
2.1.3 Nội dung phương pháp
Trong luận văn này, phương pháp kế thừa được thực hiện để có được kết quả nghiên cứu đã được thực hiện trước đây từ công việc tổng hợp, rà soát các số liệu kết quả từ các tài liệu liên quan
Trang 40Trên cơ sở kết quả của dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê KNK” do Bộ TNMT cùng cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) giai đoạn 2011 - 2013 đã thực hiện, các nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này cũng được kế thừa cũng như tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn, cụ thể hơn, đặc biệt là đi sâu vào một lĩnh vực
cụ thể là lĩnh vực chăn nuôi gia súc Bên cạnh đó phương pháp kế thừa còn được thực hiện trên cơ sở các căn cứ pháp lý, cơ sở lý luận thực hiện của Việt Nam trong hoạt động kiểm kê KNK thông qua đánh giá và kết quả kiểm kê của Thông báo quốc gia hai và BUR1 cho UNFCCC về BĐKH
Cùng với việc kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học trước đó nghiên cứu này còn tham khảo các tài liệu quốc tế về xây dựng hệ thống kiểm kê KNK nói chung và kiểm kê trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc nói riêng của các nước phát triển (Nhật Bản, CHLB Đức…) cũng như các nước trong khu vực có đặc điểm tương đồng (Thái Lan, Indonesia…) Việc tham khảo tài liệu sẽ giúp nghiên cứu làm rõ hơn về hiện trạng các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á cũng như các kinh nghiệm quốc tế từ các nước phát triển Với hoạt động hoàn thiện hệ thống quốc gia về kiểm kê KNK, nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á dù chưa hẳn đã có một hệ thống kiểm kê KNK hoàn thiện, nhưng cũng đã có một số hoạt động đáng kể trong một vài lĩnh vực cũng đáng để tham khảo kinh nghiệm
Bên cạnh đó, các hướng dẫn của IPCC có liên quan đến lĩnh vực chăn nuôi
gia súc bao gồm hướng dẫn của IPCC phiên bản 1996 có sửa đổi (IPCC, 2000), GPG của IPCC cho tính toán kiểm kê KNK (IPCC, 2003) cũng được tổng hợp, kế
thừa để có những thông tin và nội dung phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam