1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đánh giá tác động của luật thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành hà nội

71 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 730,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giải quyết vấn đề này như: Ban hành lệnh cấm sản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lương Thị Bích Việt

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG TÚI NILON CỦA NGƯỜI DÂN NỘI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lương Thị Bích Việt

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG TÚI NILON CỦA NGƯỜI DÂN NỘI THÀNH HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Hoàng Ngọc Quang

Hà Nội - Năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Thực trạng và tác hại của việc sử dụng túi nylon 4

1.1.1 Thực trạng của việc sử dụng túi nylon 4

1.1.2 Tác hại của việc sử dụng túi nylon 7

1.2 Luật thuế bảo vệ môi trường và một số văn bản dưới luật 9

1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường 9

1.2.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường 9

1.2.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường 10

1.2.4 Một số văn bản dưới luật 14

1.2.4.1 Luật thuế bảo vệ môi trường 15

1.2.4.2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP 16

1.2.4.3 Thông tư 152/2011/TT-BTC 16

1.2.4.4 Nghị định 69/2012/NĐ-CP 16

1.2.4.5 Thông tư 159/2012/TT-BTC 17

1.3 Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trường áp dụng với túi nilon ở Việt Nam 23

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường 29

CHƯƠNG 2 31

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

2.1.1 Siêu thị BigC 31

2.1.2 Siêu thị Co.op Mart 32

2.1.3 Quận Cầu Giấy 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3: 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

Trang 4

3.1 Kết quả xử lý phiếu điều tra về hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội

thành Hà Nội 37

3.1.1 Thành phần đối tượng khảo sát 37

3.1.2 Thói quen sử dụng túi nilon của người dân 39

3.1.3 Sự hiểu biết về vấn đề môi trường và tác hại của túi nilon của người dân 42

3.1.4 Mức sẵn lòng của người dân tham gia vào biện pháp, chính sách giảm thiểu việc sử dụng túi nylon 46

3.1.5 Ảnh hưởng của sự nhận thức và thu nhập (tài chính) đến sự sẵn lòng trả tiền cho việc sử dụng túi nylon của người dân 48

3.1.6 Hình thức của túi nylon và số tiền mà người dân chịu chi trả cho 1 túi nylon 50

3.1.7 Mức độ tán thành của người dân đối với việc áp dụng một chương trình chính sách pháp luật nào của nhà nước phát động nhằm giảm thiểu sử dụng túi nilon tại chợ/siêu thị 54

3.2 Tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường đến việc hạn chế sử dụng túi nilon trong cộng đồng dân cư nội thành Hà Nội 55

3.2.1 Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng doanh nghiệp siêu thị 55

3.2.2 Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng người dân 58

3.2.3 Nhận xét 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 66

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Biểu khung thuế bảo vệ môi trường 11

Bảng 3.1 Tổng quan về các đối tượng được khảo sát 37

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát thói quen sử dụng túi nilon của người dân 39

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát thói quen mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ hoặc siêu thị của người dân 40

Bảng 3.4 Lý do không mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ/siêu thị 41

Bảng 3.5 Thói quen sử dụng lại túi nilon 42

Bảng 3.6 Sự nhận thức về hiện trạng sử dụng túi nylon trong nội thành Hà Nội 43

Bảng 3.7 Sự nhận thức về tác hại của túi nilon 44

Bảng 3.8 Loại túi thích hợp thay thế cho túi nylon 45

Bảng 3.9 Phản ứng của người dân khi được yêu cầu trả tiền cho mỗi túi nylon 47

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa thu nhập và mức sẵn lòng trả tiền của người dân 48

Bảng 3.11 Tác động của thu nhập đến mức sẵn lòng trả tiền của người dân 49 Bảng 3.12 Hình thức và mức giá của túi nylon 51

Bảng 3.13 Mức độ tán thành của người dân đối với áp dụng chính sách giảm thiểu việc sử dụng túi nylon 54

Bảng 3.14 Hình thức sử dụng túi nilon trước và sau khi có luật thuế bảo vệ môi trường của 2 siêu thị 55

Bảng 3.15 Lượng túi nilon sử dụng tại 2 siêu thị trung bình 1 tháng 56

Bảng 3.16 Số lượng túi nilon sử dụng trung bình trong 1 tháng tại 2 siêu thị 57

Bảng 3.17 Chi phí mua túi phát miễn phí cho khách hàng 57

Bảng 3.18 Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sử dụng của 2 siêu thị 58

Bảng 3.19 Tỷ lệ người dân biết tới Luật thuế bảo vệ môi trường 58

Bảng 3.20 Mức độ sử dụng túi theo tỷ lệ người dân 59

Bảng 3.21 Liên hệ giữa những người hiểu biết luật thuế bảo vệ môi trường với việc sử dụng túi nilon trong đời sống hàng ngày của họ 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài

Túi nilon khi mới được phát minh, nhân loại coi đó là một phát kiến vĩ đại vì nó là loại vật liệu không thấm nước, có tính dẻo, dai và được ứng dụng lớn trong đời sống của con người Sự tiện dụng của loại vật liệu này góp phần tiện ích cho con người nhưng vì nó vừa tiện lợi lại chi phí nhỏ nên con người

sử dụng và vứt bỏ tràn ngập nơi nơi

Tại Việt Nam, ngày nay túi nilon cũng được sử dụng rộng rãi khoảng

20 năm trở lại đây, thay thế hầu hết các loại lá gói truyền thống như lá sen, lá chuối… bởi nó rất rẻ và tiện dụng trong nhu cầu sinh hoạt hằng ngày

Theo phân tích của các nhà khoa học Viện công nghệ hoá học Việt Nam, túi nilon được làm từ những chất khó phân huỷ, khi thải ra môi trường phải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới bị phân huỷ hoàn toàn Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất và nước bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxi đi qua đất, làm ngăn cản quá trình sinh hóa trong đất diễn ra chậm chạp, từ đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng Túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch gây ứ đọng nước thải và gây ngập úng; các điểm ứ đọng nước thải sẽ là nơi sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh ảnh hưởng tới nguồn nước, đất gây mất mỹ quan

Không chỉ vậy, túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường

Trang 7

sống của con người, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu

Chính vì vậy, việc sử dụng túi nilon dường như là một bài toán khó giải bởi nếu chôn lấp túi nilon sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất, nước; còn nếu đốt chúng sẽ tạo ra khí thải mang tính độc hại tới sức khỏe con người nghiêm trọng như gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá

và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ mặt khác xã hội hiện đại đã phát minh ra những sản phẩm tiện dụng tiện lợi giúp ích cho loài người vậy mà ta lại đi ngược lại lịch sử “nói không với sản phẩm túi nilon” thì quả thật là cũng không phải là một phương án hợp lý tối ưu

Một yếu tố quan trọng nữa cần phải kể đến đó là tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam đạt trên 8,5%, nhưng nếu tính đến cả các tổn thất do môi trường thì tốc độ tăng GDP thực tế của Việt Nam sẽ chỉ là 3 - 4% Trong số thiệt hại này, túi nhựa nylon “góp phần” không ít Đây là một thiệt hại quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam

Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giải quyết vấn đề này như: Ban hành lệnh cấm sản xuất túi nilon khó phân huỷ, đánh thuế nặng đối với sản xuất túi nilon đã được áp dụng tại Đài Loan, Trung Quốc, Vương quốc Anh và một số bang ở Hoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Nam Phi, Đan Mạch…; ngoài ra các nước này cũng yêu cầu người tiêu dùng phải trả tiền mua túi nilon khi mua hàng để khuyến khích người dân tái sử dụng túi nilon hoặc sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường Một số quốc gia ở châu Phi như: Uganda, Kenya, Tanzania… cũng có những động thái cấm nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với túi nhựa nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường

Trang 8

Trước mối lo ngại sử dụng túi nilon tràn lan ảnh hưởng tới sức khỏe con người và học tập những chính sách của các nước có liên quan tới vấn đề này, Việt Nam đã đưa luật thuế bảo vệ môi trường vào áp dụng cho các sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường trong đó có sản phẩm túi nilon Luật mới đưa ra áp dụng nhưng lại gây ra những vướng mắc, bối rối và những bất cập khi áp dụng luật thuế với sản phẩm túi nilon này Xuất phát từ thực tiễn đó cùng với mục tiêu nghiên cứu tìm hướng giải quyết vấn đề, tôi đã tiến hành

thực hiện đề tài Luận văn “Đánh giá tác động của Luật thuế bảo vệ môi

trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội”

Mục tiêu của đề tài bao gồm:

1 Khảo sát được hành vi sử dụng túi nilon trong sinh hoạt hàng ngày của người dân nội thành Hà Nội;

2 Khảo sát, đánh giá được tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường đến việc hạn chế sử dụng túi nilon trong cộng đồng dân cư nội thành Hà Nội

Cấu trúc luận văn nhƣ sau:

Luận văn được chia thành ba phần, gồm: mở đầu, ba chương nội dung và kết luận - kiến nghị Ba chương nội dung gồm:

Chương I: Tổng quan

Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Thực trạng và tác hại của việc sử dụng túi nylon

1.1.1 Thực trạng của việc sử dụng túi nylon

Ngày nay, sản xuất và tiêu dùng đã trở nên phổ biến trong đời sống hàng ngày của con người; các nhà cung cấp và sản xuất hàng hoá chú trọng đến việc làm thế nào để người tiêu dùng mua hàng được thuận tiện Và nó đã trở nên tràn lan trong sự thiếu kiểm soát của chính phủ về tác hại của những túi nylon này Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những túi nylon đủ màu sắc và kích cỡ ở khắp mọi nơi Người ta có thể dùng túi nylon đựng tất cả những vật dụng có thể như: quần áo, thức ăn, thức uống, đồ đạc… Cứ tính trung bình mỗi ngày một gia đình có một người đi chợ mua sắm thức ăn thì có ít nhất 3 -

4 túi nylon được mang về nhà

Người Việt Nam chúng ta đang tiêu dùng khoảng 30 – 40 kg nhựa/người/năm, với dân số 86 triệu dân thì số lượng túi nylon được tiêu thụ mỗi năm ở nước ta là một con số khổng lồ Riêng Thành Phố Hồ Chí Minh có khoảng 30 tấn nylon được sử dụng mỗi ngày trong các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại ở TP.HCM và 34-60 tấn/ngày tương đương từ 5 – 9 triệu túi nylon/ngày từ các hộ dân Và hầu như chúng đều được phát thải ra môi trường, trong đó khu vực phát sinh nhiều nhất là chợ chiếm 70%, kế đến là siêu thị 25% và cuối cùng là trung tâm thương mại 3% Đây là những con số rất đáng báo động

Kết quả khảo sát của Trung tâm Hỗ trợ Ứng phó Biến đổi Khí hậu

(SCC) vào tháng 09/2008 trên 200 khách hàng tại Hà Nội cho thấy, bình quân mỗi gia đình sử dụng (được siêu thị/cửa hàng/người bán hàng cấp miễn phí) 11.3 túi nylon/ngày và đại bộ phận số túi này chỉ sau một lần sử dụng bị thải

Trang 10

ra môi trường Điều này không những gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

mà còn lãng phí tiền của người dân và xã hội Theo tính toán nếu mỗi túi nylon trị giá trung bình 200 đồng thì với khoảng 800.000 gia đình Hà Nội (cũ)

sẽ thải 9 triệu túi nylon/ngày, 270 triệu túi/tháng, 3240 triệu túi/năm tương ứng với số tiền bị lãng phí là 1,8 tỷ đồng/ngày, 54 tỷ đồng/tháng, 648 tỷ đồng/năm Khảo sát việc sử dụng túi nylon cho thấy, 72% lượng túi nylon được tiêu thụ ở 229 chợ, số còn lại tiêu thụ ở siêu thị và các trung tâm thương mại trên địa bàn TPHCM có 93% người mua hàng cần dùng túi nylon Gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ rác thải là túi nylon và những cảnh báo về hiểm họa lâu dài cho môi trường đã khiến nhiều người bắt đầu chú ý đến việc làm sao giảm sử dụng túi nylon Ngày 26-8-2008, Quỹ Tái chế chất thải TPHCM – Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã tổ chức hội thảo “Đề xuất các giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon tại TPHCM hướng đến xã hội tiêu thụ bền vững” Quỹ Tái chế chất thải TPHCM đã đưa ra kết quả khảo sát cho thấy người dân TPHCM đã quá phụ thuộc vào túi nylon khi 93% người đi mua hàng hoàn toàn không đem theo túi vì cho rằng “được phát miễn phí, tội gì không dùng” Ngoài ra, 1/4 số này cho rằng sẽ rất bất tiện nếu phải lỉnh kỉnh xách theo túi từ nhà mỗi khi đi mua sắm

“Giờ đây, túi nylon có mặt khắp mọi nơi vì nó chiếm được cảm tình của người tiêu dùng Đó cũng chính là khó khăn lớn nhất cho việc đưa ra giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon” - TS Nguyễn Văn Quán, Trưởng Khoa Môi trường – Bảo hộ lao động Trường Đại học Tôn Đức Thắng, nhận xét

Tình hình tiêu thụ túi nylon tại các siêu thị còn nhộn nhịp hơn Khách hàng khi rời siêu thị bao giờ cũng “tay xách nách mang” đủ thứ túi nylon Theo bà Nguyễn Ánh Hồng - giám đốc hệ thống Maximark, toàn hệ thống siêu thị này (gồm 3 siêu thị) tiêu thụ bình quân 10 tấn nylon/tháng Nếu tính

Trang 11

trung bình 1kg nylon khoảng 100 túi (bao bì của siêu thị thường dày), mỗi tháng hệ thống cho ra thị trường khoảng 1 triệu túi và một năm là 12 triệu túi

Với bảy siêu thị, hệ thống Big C cũng tiêu tốn 20 tấn/tháng, tương đương 3 triệu túi nylon (150 túi/kg) Bà Quỳnh Trang, phụ trách đối ngoại của Big C, cho biết đó là siêu thị đã nỗ lực hạn chế sử dụng tràn lan túi nylon Tình hình sử dụng túi nylon cũng tỉ lệ thuận với sức mua của khách hàng và qui mô tại các hệ thống siêu thị Co.op Mart, Citimart, Fivimart

Người ta đã thống kê được rằng trên thế giới cứ một giây trôi qua thì có hơn một triệu chiếc túi nylon được thải vào môi trường Hình ảnh người người bước ra khỏi cửa hàng, siêu thị hay chợ… với những chiếc túi nylon lớn nhỏ chắc hẳn đã không còn xa lạ gì nữa Sử dụng túi nylon là một thói quen và nhu cầu tất yếu và chúng thường được sử dụng một lần rồi thải ra môi trường Ngày càng có nhiều người sử dụng nó một cách vô tội vạ và vứt thải nó một cách cẩu thả

Ở Việt Nam, mọi người cũng ngày càng quan tâm hơn đến tác động tiêu cực của loại túi này, nhưng dường như những lo lắng, bức xúc ấy chưa đủ mạnh để có thể hạn chế và thậm chí không dùng nữa

Những số liệu trên cho thấy thực trạng về nhu cầu sử dụng túi nylon ở nước ta hiện nay là rất lớn Nó đã trở thành một thứ thói quen không thể thiếu,

“ăn sâu” vào hoạt động mua bán của nhiều người Từ những mặt hàng bình dân nhất như quả cà, con cá, mớ rau, đến những vật dụng quần áo, giày dép đều được bọc gói bằng túi nylon Và thông thường sau một lần sử dụng, những chiếc túi chỉ đáng giá có vài xu ấy được người ta thuận tay vứt bữa bãi khắp mọi nơi, gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan thành phố [10]

Trang 12

1.1.2 Tác hại của việc sử dụng túi nylon

Túi nylon là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song song với

ưu điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, xã hội, kinh

tế đất nước và cả con người

Xét từ góc độ cấu tạo khoa học, túi nylon được sản xuất từ nhựa polythylen (còn gọi là polyme tổng hợp) cấu thành nên PE Đây là một phần

tử lớn gồm một sợi xích dài các đơn vị nhỏ hơn nối kết với nhau về mặt hoá học Các polyme tạo thành nhựa PE để sản xuất ra các túi nylon hay bao bì nylon được lấy từ các sản phẩm hoá dầu Nhựa PE là hợp chất có độ thấm nước nhỏ, tính đàn hồi và độ bền hoá học cao Đặc điểm này dẫn tới đặc trưng rất khó phân huỷ của túi nylon Theo các nhà chuyên môn, tuỳ vào từng loại chất dẻo mà thời gian phân huỷ 1 chiếc túi nylon có thể dao động trong khoảng từ 20 năm đến 5000 năm

Các loại rác thải này khi nằm trong lòng đất tạo thành những kẽ hở len lỏi xuyên qua hệ thống lọc làm ô nhiễm mạch nước ngầm Thêm vào đó, khi túi nylon lẫn vào đất có thể làm chậm sự tăng trưởng của cây trồng, ngăn cản ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất Túi nylon làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch, gây ngập úng, phá hủy đất nông nghiệp, gia tăng thể tích bãi rác tại các bãi chôn lấp, gây cản trở việc phân hủy rác, tăng chi phí ngân sách trong việc

xử lý rác, làm tắc nghẽn các dòng chảy, làm chết nhiều loài thủy sinh, làm đất ngạt thở, là nơi phát tán và trú ngụ của côn trùng, dịch bệnh

Không những thế, túi nylon còn có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe cho người sử dụng Khi xử lý loại rác thải này nếu đem đốt ở nhiệt độ bình thường

sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin va Furan là những chất có khả năng gây ngộ độc, khó thở, nôn ra máu, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Trang 13

Các loại túi nylon màu chứa thực phẩm có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại như chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi Theo các nhà khoa học, trong một số loại túi nylon có lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit, rất có hại cho phổi Ngoài ra, nhiều người vẫn vô tư dùng túi nylon để đựng cơm, canh và các thực phẩm nóng khác Theo các nhà khoa học, khả năng đồ ăn đựng trong túi bị nhiễm độc là rất cao, đặc biệt là nhiễm chất độc DOP (dioctin phatalat) “DOP là một chất hóa dẻo, có tác dụng giống như hormon nữ vì thế rất có hại cho nam giới và trẻ em khi cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh Nếu bị nhiễm chất này lâu dài, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn trẻ em nữ có nguy cơ dậy thì quá sớm DOP tồn tại 5 – 10% trong các chất hóa dẻo được sử dụng”

Nguy hại hơn là hiểm họa từ các loại túi nylon tái chế Rất nhiều các loại túi nylon được tái chế từ rác thải, công đoạn tái chế xử lý rất thủ công, trong quá trình sản xuất được trộn các loại hóa chất làm tăng độ dẻo và bền của sản phẩm đang bán rộng rãi trên thị trường tiềm ẩn nhiều hoá chất độc hại Các loại túi nylon được sản xuất từ nhựa PP, PE, PS là những loại nhựa không có tính độc Tuy nhiên, một số loại túi nylon được làm từ chất dẻo polyvinyl có các phân tử đơn lẻ polyvinyl có khả năng gây ung thư Còn lại phần lớn các loại túi nylon được sản xuất từ những chất liệu nhựa rất độc hại với sức khoẻ con người Trong đó, nhựa PVC là một loại nhựa có tính độc, không thể dùng sản xuất túi hay các loại khay, hộp đựng thực phẩm Như vậy, tình trạng người dân chưa có ý thức trong việc sử dụng loại rác thải này đã và đang gây ra những nguy cơ, hiểm hoạ khó lường trước cho môi trường sống

và sức khoẻ của chính họ Nó đặc biệt nghiêm trọng khi hiện nay, một phần lớn số rác nylon trong tổng số túi nylon thải ra hàng ngày ở nước ta chưa có

hệ thống công nghệ xử lý hiện đại, khép kín và triệt để [10]

Trang 14

1.2 Luật thuế bảo vệ môi trường và một số văn bản dưới luật

1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường

Việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:

1 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và những năm tới

2 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn

3 Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế

4 Các quy định trong Luật không quá phức tạp, phải rõ ràng, dễ hiểu,

dễ thực hiện, dễ quản lý

5 Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền

kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam [12]

1.2.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường

Luật thuế bảo vệ môi trường gồm 4 Chương, 14 Điều, cụ thể:

Chương 1: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5) Chương này

xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện

Trang 15

Chương 2: Căn cứ tính thuế (từ Điều 6 đến Điều 8) Chương này quy

định các căn cứ tính thuế, xác định thuế, biểu khung thuế bảo vệ môi trường

Chương 3: Kê khai, tính, nộp và hoàn thuế bảo vệ môi trường (từ Điều

9 đến Điều 11)

Chương 4: Điều khoản thi hành (từ Điều 12 đến Điều 14) [5]

1.2.3 Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường

- Người nộp thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

a) Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế;

b) Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế

Căn cứ và phương pháp tính thuế:

Trang 16

- Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và

mức thuế tuyệt đối

- Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:

a) Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là

số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;

b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu

- Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định tại Điều 8 của Luật này

- Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa

Mức thuế tuyệt đối được quy định theo Biểu khung thuế dưới đây:

Bảng 1.1 Biểu khung thuế bảo vệ môi trường

Trang 17

a) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ;

b) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa

Thời điểm tính thuế

1 Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa

Trang 18

2 Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng

3 Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng

ký tờ khai hải quan

4 Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra

Khai thuế, tính thuế, nộp thuế

1 Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho được thực hiện theo tháng và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

2 Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhập khẩu

3 Thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu

Hoàn thuế

Người nộp thuế bảo vệ môi trường được hoàn thuế đã nộp trong các trường hợp sau:

1 Hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu

sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài;

2 Hàng hóa nhập khẩu để giao, bán cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật;

Trang 19

3 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất;

4 Hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước ngoài;

5 Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài

Hiệu lực thi hành:

1 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012

2 Các quy định về thu phí xăng, dầu tại Pháp lệnh về phí và lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có hiệu lực

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành:

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này

để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010.[5]

1.2.4 Một số văn bản dưới luật

Tính cho tới thời điểm này, những văn bản pháp luật quy định có liên

quan tới việc sử dụng “túi nilon” được ban hành theo thứ tự như sau:

1 Luật thuế bảo vệ môi trường;

2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, được ban hành ngày 08 tháng 08 năm 2011 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012;

Trang 20

3 Thông tư 152/2011/TT-BTC của Bộ tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường, được ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012;

4 Nghị định 69/2012/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung khoản

3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, được ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2012 và có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2012

5 Thông tư 159/2012/TT-BTC của Bộ tài chính về việc sửa đổi, bổ sung thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, được ban hành ngày 28 tháng 09 năm 2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2012;

Sau đây tôi xin trình bày thứ tự và quy định chi tiết về đối tượng “túi nilon” thuộc diện chịu thuế còn việc tính thuế, nộp thuế, khai thuế và hoàn thuế trong các văn bản đã nêu rất chi tiết

1.2.4.1 Luật thuế bảo vệ môi trường

- Tại khoản 3 Điều 2 Chương 1 định nghĩa “Túi ni lông thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là

túi nhựa xốp”.[5]

Trang 21

1.2.4.2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP

- Tại Khoản 3 Điều 2 chương 1 của nghị định nêu “Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.[6]

1.2.4.3 Thông tƣ 152/2011/TT-BTC

- Tại Khoản 4 Điều 1 Chương 1 khẳng định lại “Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hoá và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.[8]

1.2.4.4 Nghị định 69/2012/NĐ-CP

- Tại Điều 1 của Nghị định đã nêu:

Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày

08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường như sau:

“3 Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density

Trang 22

polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại Khoản này (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi), bao gồm:

a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa nhập khẩu;

b) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu

để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công

ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói;

c) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch

vụ đóng gói.”[7]

1.2.4.5 Thông tƣ 159/2012/TT-BTC

Là Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 152/2011/TT-BTC sau khi có Nghị định 69/2012/NĐ-CP Thông tư có nêu:

- Điều 1 Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 1 nhƣ sau:

“4 Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm

Trang 23

quyền cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi) tại khoản này được quy định cụ thể như sau:

a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa bao gồm:

a1) Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá nhập khẩu

a2) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu

để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công

ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi

ni lông) để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 100 kg bao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường

Bao bì mà người sản xuất hoặc người nhập khẩu đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không sử dụng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

Ví dụ 2: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi

ni lông), doanh nghiệp A đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công

ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói), nếu doanh nghiệp A chỉ

sử dụng 20 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 30kg bao bì

để trao đổi, 40kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 10kg bao bì để tặng cho thì doanh nghiệp A phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 80 kg bao

Trang 24

bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

a3) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói

Ví dụ 3: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì để đóng gói sản phẩm

áo sơ mi (sản phẩm áo sơ mi do doanh nghiệp B sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 200 kg bao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường

Bao bì mà người mua không sử dụng để đóng gói sản phẩm (đã có cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm) mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho hoặc bán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác thì người mua bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

Ví dụ 4: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì sản xuất để đóng gói sản phẩm (đã có cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm), sản phẩm giầy do doanh nghiệp B, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì nếu doanh nghiệp B chỉ sử dụng 50 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 20kg bao bì để trao đổi, 30kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 40kg bao bì để tặng cho, 60kg bao bì bán cho doanh nghiệp C thì doanh nghiệp B phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp đối với 150 kg bao bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội

Trang 25

bộ, tặng cho, bán cho Doanh nghiệp C và bị xử lý theo quy định của pháp luật

b) Bao bì sản xuất hoặc nhập khẩu được xác định là bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại tiết a2 và a3 điểm a khoản này phải có các giấy tờ sau:

b1) Đối với bao bì do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất (gọi tắt

là người sản xuất bao bì):

- Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì đó sản xuất hoặc gia công ra thì người sản xuất bao bì phải có Bản chính văn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao bì và đóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuất bao bì

để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuất bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoặc gia công ra, số lượng sản phẩm cần đóng gói và số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)

- Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì ngoài Bản chính văn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao

Trang 26

bì và đóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuất bao bì để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuất bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sản phẩm dự kiến mua về hoặc nhận đóng gói, số lượng sản phẩm cần đóng gói

và số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm); người sản xuất bao bì phải

có thêm: Bản chụp Hợp đồng mua bán sản phẩm (trường hợp mua sản phẩm

về để đóng gói) hoặc Bản chụp Hợp đồng đóng gói sản phẩm (trường hợp làm dịch vụ đóng gói) được ký trực tiếp giữa người sản xuất bao bì và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán sản phẩm hoặc có sản phẩm cần đóng gói

- Trường hợp bao bì sản xuất được bán trực tiếp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác (gọi tắt là người mua bao bì) để đóng gói sản phẩm thì người sản xuất bao bì phải có:

+ Bản chụp Hợp đồng mua bán bao bì được ký trực tiếp giữa người sản xuất bao bì và người mua bao bì

+ Bản chính văn bản cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm

có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người mua bao bì và đóng dấu (nếu người mua bao bì là pháp nhân) do người mua bao bì gửi cho người sản xuất bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoặc gia công ra đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm

do mình sản xuất hoặc gia công ra; số lượng sản phẩm dự kiến mua về để đóng gói đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm do mình mua về; số lượng sản phẩm dự kiến nhận đóng gói đối với trường hợp người mua bao bì làm dịch vụ đóng gói; số lượng sản phẩm cần đóng gói và số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)

+ Bảng kê hoá đơn bán bao bì theo mẫu số 03/TBVMT ban hành kèm theo Thông tư này Khi lập hoá đơn bán bao bì phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu

Trang 27

được quy định trên hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc hoá đơn bán hàng dùng cho

cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp), ngoài ra ghi thêm dòng bán theo Hợp đồng số ngày tháng không chịu thuế bảo vệ môi trường trên hoá đơn

b2) Đối với bao bì nhập khẩu thì người nhập khẩu bao bì phải cung cấp cho cơ quan hải quan khi nhập khẩu: Hồ sơ hải quan bao bì nhập khẩu theo quy định Người nhập khẩu tự khai báo, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về nội dung khai báo nhập khẩu bao bì để đóng gói sản phẩm hoặc để bán trực tiếp cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm

Khi bán trực tiếp bao bì nhập khẩu (đã khai báo để đóng gói sản phẩm khi nhập khẩu) cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm thì người nhập khẩu bao bì phải có:

+ Bản chụp Hợp đồng mua bán bao bì được ký trực tiếp giữa người nhập khẩu bao bì và người mua bao bì

+ Bản chính văn bản cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm

có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người mua bao bì và đóng dấu (nếu người mua bao bì là pháp nhân) do người mua bao bì gửi cho người nhập khẩu bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoặc gia công ra đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm do mình sản xuất hoặc gia công ra; số lượng sản phẩm dự kiến mua về

để đóng gói đối với trường hợp người mua bao bì để đóng gói sản phẩm do mình mua về; số lượng sản phẩm dự kiến nhận đóng gói đối với trường hợp người mua bao bì làm dịch vụ đóng gói; số lượng sản phẩm cần đóng gói và

số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm)

+ Bảng kê hoá đơn bán bao bì theo mẫu số 03/TBVMT ban hành kèm theo Thông tư này Khi lập hoá đơn bán bao bì phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu

Trang 28

được quy định trên hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc hoá đơn bán hàng dùng cho

cơ sở nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp), ngoài ra ghi thêm dòng bán theo Hợp đồng số ngày tháng không chịu thuế bảo vệ môi trường trên hoá đơn

Trường hợp bao bì nhập khẩu đã được thông quan theo quy định của pháp luật thì người nhập khẩu bao bì không được kê khai lại để được áp dụng đối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường.”

- Điều 3 Bổ sung thêm điểm 1.4 vào khoản 1 Điều 5 như sau:

“1.4 Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA, ) hoặc các chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác định theo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi ni lông đa lớp Căn cứ định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuất hoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình”.[9]

1.3 Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trường áp dụng với túi nilon ở Việt Nam

Luật Thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 1/1/2012 quy định, túi nilon là 1 trong 8 nhóm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế với mức thu từ

30 – 50 nghìn đồng/kg Sau gần 3 tháng thực hiện, Luật đã bộc lộ nhiều bất cập, gây lúng túng cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế, đó là:

* Luật thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm túi nilon vẫn còn quá

chung chung, khiến cho nhiều doanh nghiệp và cán bộ thu thuế bối rối, lung túng trong thu thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm túi nilon Mặt khác,

Trang 29

việc thực hiện thuế BVMT với túi nilon cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất của nhiều doanh nghiệp Cụ thể là:

Hầu hết các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đều cho rằng, việc ban hành và thực thi Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT) là cần thiết, nhưng các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ

và Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính, đã gây nhiều khó khăn, ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp (DN)

Ông Vũ Văn Thắng, Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư sản xuất, nhập khẩu Trường Giang (Thanh Trì, Hà Nội), cho biết, các quy định trong các văn bản dưới luật đối với các sản phẩm túi nilon quá chung chung, nên Trường Giang không nắm rõ dòng sản phẩm nào của đơn vị phải chịu thuế, dòng nào không Trong khi mức áp thuế đối với tất cả các sản phẩm của DN phải chịu thuế suất 40.000 đồng/kg thành phẩm Ngày 20/2/2012, công ty đã gửi công văn đến Chi cục Thuế huyện Thanh Trì để hỏi lại cho rõ, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được trả lời

Công ty Trường Giang chuyên sản xuất sản phẩm túi nilon và màng nhựa PE, PP, HDPE, BOPP cung cấp cho các DN ngành dệt may, da giày, thủy sản, bánh kẹo… Theo ông Thắng, thời điểm hiện tại, giá hạt nhựa nguyên liệu chỉ giao động khoảng 38.000 - 40.000 đồng/kg, trong khi thuế môi trường đối với sản phẩm thành phẩm là 40.000 đồng/kg, đã làm giá thành sản phẩm tăng gấp đôi Khó khăn của năm 2011 cộng thêm mức thuế những tháng đầu năm 2012, khiến Trường Giang đã phải cắt giảm hơn 50% số lao động thường xuyên

Cùng cảnh, ông Nguyễn Duy Điền, Giám đốc Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Thuận Phát (Văn Giang-Hưng Yên), cho hay, từ cuối năm

Trang 30

2011 đến nay, Thuận phát phải sản xuất cầm chừng và bán hàng tồn kho từ năm trước để đợi hướng dẫn của Sở Tài nguyên - Môi trường Hưng Yên và Chi cục Thuế huyện Văn Giang

Ngày 20/12/2011, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) đã có công văn 50/CV-HHNVN lên tiếng về việc bị áp thuế lên tất cả các bao bì nhựa khiến nhiều DN khó khăn trong sản xuất, kinh doanh Theo VPA, nhiều khách hàng

sử dụng sản phẩm túi nilon đã lựa chọn sản phẩm khác, hoặc tìm nguồn khác

từ nhập khẩu và thậm chí cắt đơn hàng với DN sản xuất

Ba hiệp hội: Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP); Dệt may Việt Nam (VITAS) và Da giày Việt Nam (LEFASO), đã khẩn cấp gửi công văn tới các cơ quan chức năng kiến nghị, xem xét lại việc áp dụng quy định thu thuế BVMT đối với bao bì nilon

Theo tính toán của VITAS, LEFASO và VASEP, khoản chi phí cho bao bì túi PE, PA trong giá thành sản phẩm của họ chiếm lần lượt 5%; 1.5 – 2% và khoảng 0.1 USD/kg sản phẩm thủy sản Từ khi Luật Thuế BVMT có hiệu lực đã làm chi phí bao gói tăng từ 30% đến 50% Hiện các chi phí khác tiếp tục xu hướng tăng giá, đã làm cho sản phẩm dệt may, da giày và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam khó cạnh tranh

Các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quá chung chung Việc định nghĩa túi nilon bao gồm hầu hết ngành bao bì nhựa Nhưng trong Luật Thuế BVMT lại giải thích rõ: “Túi nilon thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là túi nhựa xốp”

VPA cho rằng, Luật Thuế BVMT hàm ý những túi dân gian gọi là túi xốp (T-Shirt Shopping bags) mọi người xách hàng hóa về từ chợ, siêu thị

Trang 31

dụng một lần Trong khi đó, hầu hết các loại túi thuần LLDPE/LDPE không

có quai xách (do bản chất mềm dẻo) và người ta không gọi túi LLDPE là túi xốp Bản thân loại túi này có giá trị tái sinh cao hơn nhiều so với túi xốp

Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quy định, túi nilon thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm

từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về BVMT và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Theo VPA, Nghị định 67 và Thông tư 152 đã “đi quá xa so với tinh thần của Quốc hội và Luật Thuế BVMT khi “đưa thêm hai thành phần nhựa LLDPE/LDPE vào” VPA phân tích, 1kg túi LLDPE dùng xong, rửa qua và tạo hạt có giá từ 23.000-26.000 đồng/kg, tương đương 85% giá nhựa LLDPE chính phẩm Trong khi túi LDPE sau công đoạn tương tự chỉ có giá từ 12.000-16.000 đồng/kg, chưa bằng 50% giá nhựa LDPE chính phẩm vì trong thành phần nhựa này có màu và rất nhiều taical - phụ gia được trộn vào trong quá trình sản xuất túi nilon xốp PP, PE

Xuất phát từ những quy định thiếu rõ ràng này, nên “hầu hết các cán bộ thực hiện thu thuế môi trường không biết rõ thế nào là túi nhựa PE, PP hay BOPP hoặc nhựa khác, túi màng đơn hay màng ghép phức hợp PE nhiều lớp, túi làm từ màng ghép 2 lớp PE/PA, màng ghép 3 lớp BOPP/PET/PE hoặc túi làm từ màng ghép 5 lớp BOPP/PET/nhôm/PET/PE… Như vậy dễ gây gian lận khi thực hiện thu thuế” VPA kiến nghị, cần “trả mọi thứ về với tinh thần của Quốc hội và tinh thần chung của cả thế giới Chỉ nên hạn chế túi xốp mỏng như quy định trong Luật Thuế BVMT”

Trang 32

Liên quan đến nội dung này, ông Nguyễn Duy Điền Giám đốc Công ty

Cổ phần sản xuất và thương mại Thuận Phát (Văn Giang-Hưng Yên) phân tích: “Nếu nói về khả năng tự phân hủy thì màng ghép hay phức hợp (từ 2 lớp trở lên) khó phân hủy và cũng khó tái chế hơn rất nhiều so với màng đơn Tuy nhiên, Luật lại chỉ quy định đánh thuế đối với sản phẩm túi nhựa màng đơn là không thỏa đáng” Vì vậy, cần phải có quy định rõ ràng thế nào là túi nilon

“đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường”

* Luật thuế và các văn bản dưới luật cũng không nêu rõ việc áp dụng

đối với những doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Theo Điểm 2.4, Khoản 2, Điều 2 Thông tư 152 quy định về đối tượng không chịu thuế: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài do cơ sở sản xuất (bao gồm cả gia công) trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT để xuất khẩu Theo ông Vũ Văn Thắng, quy định như vậy, nếu các DN, cơ sở, cá nhân sản xuất túi nilon thuộc diện chịu thuế nhưng trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu ra nước ngoài mà không tiêu thụ trong nước thì không phải nộp thuế BVMT

Ngày 30/1/2012, Bộ Tài chính có công văn 1199/BTC-TCT hướng dẫn thực hiện Thông tư 152, khẳng định: Các trường hợp hàng hóa nhập khẩu để gia công sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì thuộc đối tượng không phải nộp thuế BVMT Nhưng đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu (thủy sản, dệt may,

da giày ) thì túi PE, PA là loại vật tư không thể thiếu Với quy định này, thì chỉ túi nilon nhập khẩu để bao gói hàng xuất khẩu mới được xếp vào đối tượng không chịu thuế BVMT, còn túi nilon mua trong nước để bao gói hàng xuất khẩu không tiêu thụ tại thị trường trong nước, không ảnh hưởng tới môi

Trang 33

trường Việt Nam hoặc có thể xem như hàng hóa xuất khẩu vẫn phải chịu thuế

sẽ trở thành nghịch lý

Trước những vướng mắc khó thực thi Luật Thuế BVMT, các hiệp hội, ngành hàng và DN liên quan đã kiến nghị tạm ngừng áp dụng Luật Thuế BVMT đối với “túi nilon thuộc diện chịu thuế” từ thời điểm cuối tháng 3/2012 cho đến khi có văn bản hướng dẫn điều chỉnh cụ thể

Các hiệp hội DN cũng đề nghị Bộ Tài Chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần nghiên cứu, rà soát sớm ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cụ thể những quy định để làm rõ về đối tượng túi nilon thuộc diện chịu thuế, định nghĩa bao bì đóng gói sẵn hàng hóa, quy định tiêu chuẩn đối với túi nilon chịu thuế, túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường, giúp các DN có kế hoạch điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với năng lực và đảm bảo được sự ổn định và cạnh tranh của DN

Từ tình hình trên ngày 18 tháng 3 năm 2013 Thứ trưởng Bộ Tài chính

Vũ Thị Mai đã ký ban hành Thông tư số 30/2013/TT-BTC hướng dẫn hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7-1-2013 của Chính phủ

Theo đó, phạm vi áp dụng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu được hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đã nộp và tiền phạt chậm nộp nếu có, không truy nộp thuế nếu đã kê khai nhưng chưa nộp và tiền phạt chậm nộp nếu có từ ngày 1-1-2012 đến hết ngày 14-11-2012 đối với túi

ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa, bao gồm: người nhập khẩu bao bì

để đóng gói sản phẩm do người nhập khẩu đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói; người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì bán trực tiếp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để đóng

Trang 34

gói sản phẩm do người mua bao bì sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm

về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói

Hồ sơ hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường bao gồm: giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28-2-2011 của Bộ Tài chính; tờ khai bổ sung hồ sơ khai thuế, tiền phạt chậm nộp theo mẫu số 01/KHBS ban hành kèm theo thông tư này; chứng từ nộp thuế bảo vệ môi trường, tiền phạt chậm nộp… Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 2-5-2013

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường

Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của lĩnh vực tài nguyên

và môi trường cho ngân sách là thuế đất đai, các loại thuế, phí môi trường, thuế khai thác, sử dụng tài nguyên và một số hình thức thu khác

Thuế, phí liên quan đến môi trường được áp dụng trước tiên tại các nước Bắc Âu trong chiến lược “xanh hóa hệ thống thuế”, sau đó trở nên phổ biến trên toàn thế giới, đóng góp khá lớn vào nguồn thu ngân sách quốc gia Doanh thu từ nhóm thuế phí môi trường trung bình chiếm khoảng 5% tổng GDP (dao động từ 3% tới 13%) tại nhiều quốc gia Nếu chia theo đầu người thì một người dân phải đóng các loại thuế/phí môi trường dao động từ 100 USD tới 1700 USD tùy từng quốc gia (trung bình là 500 USD/1 người/1 năm) Xu hướng chung cho thấy, phần đóng góp của nhóm thuế, phí này trong tổng thu ngân sách cũng gia tăng trong những năm cuối thập kỷ 90 và đầu những năm 2000 Trong các nhóm thuế, phí môi trường thì nói chung, phần đóng góp từ khu vực giao thông chiếm phần lớn trong tổng doanh thu thuế mà chủ yếu là

từ thuế xăng, dầu diezen và phương tiện gắn máy (ô tô, xe máy khi mua mới phải đóng thuế môi trường) Có hai xu hướng trong những năm gần đây là việc áp dụng mới các loại thuế liên quan đến chất thải rắn, đồng thời suất thuế

Trang 35

cho chất thải rắn cũng tăng do việc quản lý chất thải rắn ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém hơn

Một số loại thuế, phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí gây ô nhiễm không khí, thuế carbon, thuế lưu huỳnh, phí gây suy thoái tầng ôzôn, phí nước thải, thuế bãi rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường khi tiêu dùng điện, thuế môi trường khi sản xuất điện, thuế môi trường do dùng bếp và năng lượng sinh học, thuế đăng ký phương tiện ô tô, xe máy, máy bay.[12]

Ngày đăng: 05/12/2020, 19:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w