đại học quốc gia hà nộiTrường đại học khoa học tự nhiên ---Nguyễn Thùy Liên Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học tự nhiên
-Nguyễn Thùy Liên
Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số
thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà,
tỉnh Đồng Nai
Luận án tiến sĩ ngành sinh học
Trang 2đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học tự nhiên
-Nguyễn Thùy Liên
Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số
Trang 3Mục lục
Lời cám ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ, bản đồ, sơ đồ vi
Danh mục các hình ảnh vi
Mở đầu 1
chương 1 Tổng quan tài liệu 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam trên thế giới 5
1.2 Lịch sử nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam ở Việt Nam 12
1.3 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 21
1.3.1 Vị trí và diện tích khu vực nghiên cứu 21
1.3.2 Đặc điểm khí hậu 21
1.3.3 Địa hình 24
1.3.4 Đất đai 24
1.3.5 Thảm thực vật 25
1.3.6 ảnh hưởng của dân cư lên môi trường nước 25
1.3.7 Các dạng thủy vực 26
1.3.8 Chất lượng nước ở một số điểm thu mẫu tại Mã Đà 29
chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật 32
2.2.2 Xử lý, phân tích và định loại mẫu vật 36
Trang 4chương 3 Kết quả nghiên cứu 42
3.1 Thành phần loài của hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà 42
3.1.1 Cấu trúc thành phần loài và nơi sống 42
3.1.2 Các loài và thứ mới bổ sung cho hệ tảo và Vi khuẩn lam Việt Nam 58
3.1.3 Các loài chưa xác định được tên gọi 77
3.1.4 Các loài đáng chú ý của hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà 87
3.2 Đa dạng sinh học của hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà 89
3.2.1 Tính đa dạng về các bậc taxon 90
3.2.2 So sánh hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà với hệ tảo toàn Việt Nam và một số khu vực lân cận .99
3.3 Sự phân bố các loài tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà theo loại hình thủy vực 105
3.4 Biến động mùa của hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà 112
3.5 Mối liên hệ giữa thành phần và cấu trúc hệ tảo và Vi khuẩn lam với chất lượng nước .116
Kết luận ……… 120
danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án 122
Tài liệu tham khảo 123
Phụ lục 141
I Khóa định loại các loài tảo và vi khuẩn lam tại một số thủy vực vùng Mã Đà
II Bảng tính chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) tại một số điểm nghiên cứu thuộc vùng Mã Đà
III.Hình ảnh về các loài tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà
Trang 5Danh mục các bảng Bảng 1 Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước tại các thủy vực thuộc khu vực
Mã Đà trong mùa khô 30
Bảng 2 Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước tại các thủy vực thuộc khu vực Mã Đà trong mùa mưa 30
Bảng 3 Các đợt thu mẫu 32
Bảng 4 Danh lục tảo và Vi khuẩn lam tại các thủy vực thuộc khu vực Mã Đà 43
Bảng 5 Sự phân bố taxon bậc loài và dưới loài trong các ngành tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà 90
Bảng 6 Đa dạng loài của các họ và chi 91
Bảng 7 Sự phân bố taxon trong các lớp, bộ, họ, chi 92
Bảng 8 Độ đa dạng sinh học tại một số điểm thu mẫu 98
Bảng 9 Số loài tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà so sánh với số loài tảo nước ngọt của Việt Nam 100
Bảng 10 Số lượng các bộ, họ, chi, loài và dưới loài tảo và Vi khuẩn lam tại một số khu vực 101
Bảng 11 So sánh số lượng loài và dưới loài của các chi giàu loài ở địa điểm nghiên cứu (có từ 5 loài và dưới loài trở lên) với khu vực Nam Cát Tiên 104
Bảng 12 Số loài Tảo trong các loại thủy vực khác nhau 105
Bảng 13 Danh sách các loài chỉ gặp ở hồ Trị An 106
Bảng 14 Danh sách các loài chỉ gặp ở hồ, đầm 108
Bảng 15 Các chi tảo và Vi khuẩn lam phổ biến ở suối khu vực Mã Đà 112
Bảng 16 Danh lục các loài và dưới loài tảo và Vi khuẩn lam chỉ được tìm thấy vào mùa khô tại khu vực Mã Đà 113
Bảng 17 Độ phì của nước trong khu vực nghiên cứu 117
Trang 6Danh mục các biểu đồ, bản đồ, sơ đồ
Bản đồ Vị trí khu vực nghiên cứu Mã Đà 23
Sơ đồ Các điểm thu mẫu tại khu vực Mã Đà 33
Biểu đồ 1 Biểu đồ biểu diễn số loài và dưới loài ở các lớp của Tảo lục 93
Biểu đồ 2 Tỷ lệ giữa các ngành tảo và Vi khuẩn lam 100
Biểu đồ 3 Tỷ lệ các ngành tảo và Vi khuẩn lam tại một số khu vực 102
Biểu đồ 4 So sánh các chi giàu loài ở Mã Đà và Nam Cát Tiên 103
Danh mục các hình ảnh Hình 1 Trachelomonas crispa Balech: 58
Hình 2 Gomphonema eriense Grun.: 58
Hình 3 Navicula elongata Poretzky: 59
Hình 4 Navicula lacustris Greg var Paulseniana (Boye P.) Zabelina: 60
Hình 5 Eunotia tauntoniensis Hust.: 60
Hình 6 Carteria klebsii (P.A Dangeard) Francé: 61
Hình 7 Oedogonium stellatum Wittr.: 61
Hình 8 Oedogonium vesicatum (Lyngb.) Wittr.: 62
Hình 9 Bulbochaete mirabilis Wittr.: 63
Hình 10 Actinotaenium curtum (Bréb) Teiling: 63
Hình 11 Arthrodesmus octocornis Ehrenb.: 64
Hình 12 Cosmarium amoenum (Bréb.) Ralfs: 64
Hình 13 Cosmarium candianum Delponte: …… ……… 65
Hình 14 Cosmarium connatum Bréb.: 65
Hình 15 Cosmarium crispatum Hirano: 66
Hình 16 Cosmarium cuneatum Joshua: 66
Hình 17 Cosmarium formosulum W.E Hoff: 67
Trang 7Hình 18 Cosmarium humile (Gay.) Nordst .67
Hình 19 Cosmarium ocellatum Eichl & Gutw.: 68
Hình 20 Cosmarium quadrifarium P Lundell f polysticha P Lundell: 68
Hình 21 Cosmarium reniforme (Kalfs) W Archer var elevatum West & G.S West: 69 Hình 22 Cosmarium subspeciosum Nordst var validius Nordst: 69
Hình 23 Cosmarium trilobulatum Reinsch: 70
Hình 24 Cosmarium tumidum Lund.: 70
Hình 25 Desmidium coarctatum Nordst.: 71
Hình 26 Desmidium pseudostreptonema W & G.S.West: 71
Hình 27 Euastrum fissum W & G.S.West.: 72
Hình 28 Pleurotaenium trabecula (Ehrenb.) Nọg f maximum (Reinsch) Roll.: 72
Hình 29 Spondilosium javanicum (Gutw.) Grửnbl.: 73
Hình 30 Staurastrum freemanii W G.S.West var triquetrum W G.S.West: 74
Hình 31 Staurastrum o-meari Arch.: 74
Hình 32 Spirogyra irregularis Nageli: 76
Hình 33 Spirogyra gallica Petit: 76
Hình 34 Spirogyra notabilis Taft: 77
Hình 35 Batrachospermum sp .82
Hình 36 Pleurotaenium sp 83
Hình 37 Staurastrum sp 83
Hình 38 Chara sp1 .85
Hình 39 Chara sp2 .86
Hình 40 Đoạn suối có tảo đỏ phát triển……… 87
Hình 41 Nơi sinh trưởng của tảo vòng Chara ………87
Hình 42 Quần xã tảo hồ Trị An (ảnh chụp dưới kính hiển vi laze quét) ……88
Hình 43 Coscinodiscus radiatus Ehr………88
Trang 8Mở đầu
Tảo là nhóm sinh vật có nguồn gốc khác nhau, hầu hết chúng có khả năng
tự dưỡng nhờ quang hợp [80] Cấu tạo cơ thể cũng như cách thức sinh sản củachúng rất đơn giản, có thể là đơn bào hoặc đa bào nhưng chưa phân thành rễ,thân, lá thật Cơ quan sinh sản là đơn bào hoặc đa bào nhưng chưa phân hóa chứcnăng tế bào
Kích thước tảo rất đa dạng, những loài hiển vi kích thước chỉ vài phầnmười àm nhưng những tảo lớn kích thước có thể tới vài chục mét Tảo phân bốkhắp nơi trên trái đất Khí hậu, địa hình và môi trường dinh dưỡng ảnh hưởng rấtlớn đến thành phần và cấu trúc quần xã tảo, do vậy quần xã tảo cũng rất đadạng.[61]
Trước đây Vi khuẩn lam vẫn được coi là 1 nhóm tảo có nhân thật (và đượcgọi là Tảo lam) Ngày nay, nhờ các nghiên cứu sâu về mặt tế bào học nhóm sinhvật này đã được xếp vào giới tiền nhân Monera Vai trò của Vi khuẩn lam trongcác thủy vực tương tự như tảo và vị trí của chúng trong mối tương tác với cácthành phần của quần xã Tảo cũng rất quan trọng nên nghiên cứu hệ tảo cần thiếtnghiên cứu đồng thời cả Vi khuẩn lam
Tảo và Vi khuẩn lam là thành phần sinh vật quan trọng của hệ sinh tháithuỷ vực, chúng giữ vai trò sinh vật sản xuất, cung cấp nguồn chất hữu cơ, dưỡngkhí và nơi ẩn nấp, sinh đẻ cho các sinh vật khác của hệ sinh thái nước
Trên thế giới cũng như ở nước ta, nhiều loại tảo được khai thác ngoài tựnhiên hoặc nuôi trồng làm thức ăn cho người và gia súc, là nguồn bổ sung calo,vitamin và các nguyên tố vi lượng Nhiều loài tảo ngoài hàm lượng protein tổng
số cao (40-60% trọng lượng khô ởChlorella, hơn 50% ở Scenedesmus) còn chứa
nhiều axit amin, các nguyên tố vi lượng và vitamin quan trọng Tảo còn lànguyên liệu điều chế một số chất đặc biệt cho sản xuất thuốc, nghiên cứu khoahọc và các công nghệ thực phẩm hay sản xuất sơn, vecni và thuốc nhuộm như
Trang 9chất Alginate (chiết xuất từ Sargassum) có trên 300 công dụng khác nhau hay
agar- agar chiết xuất từ các loài agarophyte (Gelidium, Laurencia, Gracilaria) là
chất không thể thay thế trong nghiên cứu vi sinh vật [26] Trong những năm gần
đây, tảo còn được chú ý với vai trò là nguồn nhiên liệu sinh học tiềm năng [150]
Tảo và Vi khuẩn lam đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ sự cânbằng cho hầu hết các hệ sinh thái nước, đặc biệt ở các hệ thống xử lý nước thảibằng biện pháp sinh học thì tầm quan trọng của chúng càng thể hiện rõ rệt.Chúng cung cấp oxy cho vi sinh vật, động vật và mọi phản ứng hóa học cần oxy,sau đó lấy đi các chất khoáng của quá trình phân giải
Tảo và Vi khuẩn lam có cấu tạo cơ thể đơn giản, phát triển và sinh trưởngnhanh, không cần diện tích lớn nên thuận lợi khi nuôi trồng công nghiệp
Tảo rất mẫn cảm với các thành phần của môi trường sống, do vậy chúng
đã và đang được dùng làm chỉ thị sinh học cho các đặc điểm và mức độ ô nhiễmcủa thủy vực
Tuy nhiên một số tảo và Vi khuẩn lam có độc tố gây hại cho người và cácsinh vật Riêng các chi của ngành Vi khuẩn lam đã có thể sinh ra 8 nhóm độc tố
ảnh hưởng tới sức khỏe con người [88, 119] Một số loài không có độc tố nhưngkhi phát triển quá mức gây hiện tượng nước nở hoa, gây hại lên các sinh vật khácsống trong thủy vực hoặc con người và động vật sử dụng nguồn nước
Tính cấp thiết của luận án:
Toàn thế giới đã phát hiện được khoảng 40.000 loài tảo [Đặng Thị Sy, Tảo học, 2005] Tuy nhiên, so với số loài ước tính thì số loài đã định loại được còn rất
nhỏ bé ở Việt Nam, “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001) ghi nhận2.191 loài tảo thuộc 9 ngành và 368 loài Vi khuẩn lam [55] Như vậy, nghiên cứu
về tảo ở nước ta so với nghiên cứu ở các nhóm sinh vật khác còn rất hạn chế
Vùng Mã Đà thuộc tỉnh Đồng Nai là khu vực gồm 3 lâm trường: Mã Đà,Hiếu Liêm và Vĩnh An Khu vực này trước năm 1975 tuy không hiểm trở nhưng
Trang 10rộng lớn và rậm rạp nên đã từng được lựa chọn là căn cứ của Trung ương cục vàChiến khu D Cũng vì vậy nhiều phần của khu vực đã bị tàn phá nặng do bị rảichất diệt cỏ Sau năm 1975, ba lâm trường khai thác được thành lập Việc khaithác không khoa học đã làm rừng gỗ cạn kiệt, nhiều nơi rừng trồng hoặc điều vàxoài đã thay thế cho rừng tự nhiên Năm 2003, cả ba lâm trường đã có quyết địnhgiải thể và chuyển thành “Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu” trực thuộc UBNDtỉnh Đồng Nai.Năm 2006,trung tâm Quản lý di tích chiến khu D được sát nhập vàoKhu dự trữ và toàn bộ khu vực được đổi tên thành “Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Ditích Vĩnh Cửu” Dù đã được xác định chức năng sản xuất, khai thác và hiện đã làkhu bảo tồn thiên nhiên và di tích nhưng cho tới nay vẫn chưa có nghiên cứu kỹlưỡng nào về tảo và Vi khuẩn lam tại đây Do vậy, việc điều tra thành phần loài
và sự phân bố của tảo và Vi khuẩn lam tại khu vực Mã Đà có tính cấp thiết cả vềkhoa học và định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên khu vực
Luận án “Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và Vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai” là công
trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về tảo và Vi khuẩn lamtrên toàn khu vực Mã Đà là đáp ứng tính cấp thiết trên
Mục đích của luận án:
Điều tra, xác định thành phần loài và cấu trúc hệ tảo và Vi khuẩn lamtại các thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai
Nghiên cứu sự phân bố của thành phần loài tảo và Vi khuẩn lam trongvùng Mã Đà theo thời gian và loại hình thủy vực
Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu trên cơ
sở cấu trúc và thành phần khu hệ tảo và Vi khuẩn lam
ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án là tài liệu cho phân loại tảo và
Vi khuẩn lam, bổ sung kiến thức chuyên ngành thực vật, góp phần cho
Trang 11đánh giá đa dạng sinh học vùng Mã Đà nói riêng và cả Việt Nam nóichung.
ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả của luận án là cơ sở khoa học trongviệc quy hoạch bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học vàcho công tác đào tạo
Điểm mới của luận án:
Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống
về hệ tảo và Vi khuẩn lam tại vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai
Bổ sung 34 loài và dưới loài tảo mới cho Việt Nam
Xác định đặc điểm phân bố và cấu trúc của hệ tảo và Vi khuẩn lamvùng Mã Đà, lấy đó làm cơ sở để đánh giá chất lượng các thủy vựctrong khu vực nghiên cứu và xác định công thức đánh giá chất lượngnước phù hợp với từng loại hình thủy vực
Bố cục của luận án:
Luận án gồm 140 trang (không kể phụ lục), 43 hình, 1 bản đồ, 1 sơ đồ, 4biểu đồ, 17 bảng được chia thành các phần sau: Mở đầu (4 trang), chương 1 (tổngquan tài liệu: 27 trang), chương 2 (Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 10trang), chương 3 (kết quả nghiên cứu: 78 trang), kết luận (2 trang), danh mục cáccông trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án (3 công trình), tài liệutham khảo (151 tài liệu), phụ lục
Trang 12chương 1 Tổng quan tài liệu
1.1 Lịch sử nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam trên thế giới
Ngày 7/9/1674, Antoni van Leeuwenhoek, với phát minh ra kính hiển vi,
đã quan sát được một số tảo đơn bào và trùng roi Gần 1 thế kỷ sau, nhữngnghiên cứu về tảo mới trở thành một hệ thống có tính khoa học Trong 25 nămcuối của thế kỷ 18, khi kính hiển vi trở thành một công cụ hữu hiệu trong nghiêncứu tảo, một số loại tảo đã được mô tả như Fucus, Corallina, Ulva và Conferva.
[101]
Trong lịch sử nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam đã ghi nhận nhiều quan
điểm phân loại khác nhau về vị trí của nhóm sinh vật này trong sinh giới Theoquan điểm 2 giới của Linaeus (1735), phần lớn tảo (bao gồm cả Vi khuẩn lam)thuộc giới Thực vật Ông đã đưa ra 14 chi tảo, nhưng chỉ 4 trong chúng(Conferva, Ulva, Fucus, Chara) là đúng với định nghĩa hiện nay về tảo [86] Tảo
mắt có khả năng chuyển động và quang hợp nên đôi khi được xếp vào cả 2 giới
động vật và thực vật Do có những khó khăn trong việc sắp xếp vị trí của cáctaxon như Euglena và nấm nhày nên Ernst Haeckel (1866) đã đề xuất ra giới thứ
3 là Protista cho các taxon này Theo Ernst Haeckel, phần lớn tảo thuộc Protista,chỉ có Chlorophyta và Charophyta là thuộc giới thực vật [132]
Coperland đề xuất hệ thống 4 giới (Thực vật, động vật, Protoctis và Vikhuẩn) Tuy không có nhiều khác biệt với hệ thống của Haeckel ở trên song ông
đã có 1 tiến bộ lớn là phân biệt sinh giới trên cơ sở nhân thật và nhân sơ [64]
Lấy cơ sở là hệ thống của Coperland, hệ thống 5 giới của Whittaker(1969) xếp Vi khuẩn lam vào giới tiền nhân (Monera), phần lớn tảo được xếp vàogiới thực vật (Plantae) và giới Protista [151] Trong hệ thống 4 giới của Gordon(1974), Vi khuẩn lam được xếp vào giới Monera, các ngành tảo khác được xếpvào giới Thực vật [81]
Trang 13Cho tới nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau trong xây dựng hệ thốngphân loại tảo.
Những quan điểm phân loại ban đầu còn mang nhiều tính nhân tạo nhưquan điểm của Harvey (1836), C A Agardh (1817-1824), Hassall (1857) [theo
61, 72, 101, 147]
Những nghiên cứu sâu rộng hơn về tảo đã giúp cho việc xây dựng hệ thốngphân loại mang tính tự nhiên hơn Nhiều quan điểm chia tảo thành các ngànhkhác nhau
G Smith (1950) chia tảo thành 7 ngành, ngang hàng với ngành Bryophytacũng như các ngành khác của giới thực vật Các ngành này là Chlorophyta,Euglenophyta, Chrysophyta, Phaeophyta, Pyrrhophyta, Cyanophyta vàRhodophyta [106]
Papenfuss (1946) [95], R.Fitter và R.Manuel [70] lại phân chia tảo thànhchín ngành Robert Edward Lee [80] cũng chia tảo thành 9 ngành nhưng thuộc 4nhóm dựa vào cấu tạo màng lạp lục Nhóm tiền nhân có Cyanophyta Nhóm thứhai bao gồm các ngành tảo có lục lạp được bao trong màng (Glaucophyta,Rhodophyta, Chlorophyta) Nhóm thứ ba gồm các ngành có lạp lục được baotrong mạng lưới nội chất đơn (Euglenophyta, Dinophyta) Nhóm thứ tư có lạp lục
được bao trong mạng lưới nội chất kép (Cryptophyta, Heterokontophyta,Prymnesiophyta) [80]
Whittaker (1978) [118] phân chia tảo thành 10 ngành, Vi khuẩn lam thànhmột lớp của ngành Eubacteriophyta Quan điểm của hầu hết các nhà tảo học LiênXô cũ cũng chia toàn bộ tảo thành 10 ngành trong đó Vi khuẩn lam được xếp làmột ngành tảo [theo 34]
Gordon F Leedale (1974) đã phân ra 11 ngành tảo là Rhodophyta,Cryptophyta, Dinophyta, Haptophyta, Chrysophyta, Xanthophyta,Eustigmatophyta, Bacillariophyta, Phaeophyta, Euglenophyta và Chlorophyta[81]
Trang 14Sự khác biệt về số lượng ngành tảo của các tác giả khác nhau chủ yếu ởTảo vàng ánh, Tảo vàng và Tảo silic có tách thành các ngành riêng biệt haykhông Một số tác giả tách phân lớp Coccolithophoridophyceae thuộc lớpChrysomonadophyceae của ngành Tảo vàng ánh thành ngành Tảo có phần phụ(Haptophyta) và tách bộ Tảo vàng dạng monat thành ngành Tảo động bào tử có
điểm mắt (Eustigmatophyta) Tảo vòng được nhiều tác giả xếp trong ngành Tảolục (Chlorophyta) [Smith, 1950] nhưng cũng có quan điểm tách riêng lớp nàythành 1 ngành
Charophyceae có hình thái ngoài khác hẳn Chlorophyceae, điều này khiếncho việc xác định hệ thống phân loại của nó gặp nhiều khó khăn Nó đã đượctách ra thành 1 lớp riêng biệt từ lớp Chlorophyceae (Smith; Fott; Chapman), 1dưới ngành (Round, 1963) hay là 1 ngành (Desikachary & Sundaralingam, 1962;Silva, 1962) Các nghiên cứu về nhân của nhóm loài này chỉ ra sự khác biệt trongcấu trúc tế bào học (Sinha, 1958, 1963; Sarma, 1983; Khan & Sarma, 1984) đãủng hộ cho việc tách nhóm này khỏi Chlorophyceae [theo 57, 105]
Theo chúng tôi, việc tách ngành Tảo vàng ánh thành ba ngành Tảo vàng,Tảo vàng ánh và Tảo silic của một số tác giả như Gordon F Leedale (1974),Whittaker (1978) là hợp lý Ba ngành này có những khác biệt lớn trong cấu trúc
tế bào, ví dụ như ngành Tảo vàng không có sắc tố fucoxanthin, ngành Tảo silic
có cấu tạo vách tế bào gồm hai mảnh, cấu thành bởi lớp trong là pectin và lớpngoài là chất silíc Tảo vòng được xếp thành một lớp của ngành Tảo lục trên cơ
sở sắc tố quang hợp và chất dự trữ là tinh bột theo quan điểm của Whittaker(1978) [81, 118]
Như đã nói ở trên, việc phân loại, định loại tảo mới chỉ đạt được một lượngnhỏ so với thực tế nên những năm gần đây vẫn có nhiều công trình về phân loại,
định loại tảo
Trong hệ tảo nước ngọt, họ Zygnemaceae là đối tượng được quan sát sớmnhất Hợp tử củaSpirogyra được Muller quan sát thấy năm 1782 Đến năm 1798,
Trang 15Josept Gartner mới quan sát được quá trình hình thành hợp tử của chi tảo này[theo 101].
Thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 ghi nhận đóng góp của nhiều nhà tảo học lớnvới các công trình còn giá trị tới ngày nay Có thể kể đến các tác phẩm như
“Histoire des Conferves d'eau douce” của Vaucher [theo 101], “The BritishDesmidiaceae” của J Ralfs [145], “Specimen desmidiacearum subalpinarumum”của J B Delponte [144], “A Monograph of the British Desmidiaceae” của West
W & West G.S [146]
Năm 1855, Pringsheim khám phá ra phương thức sinh sản hữu tính ở
Vaucheria, và trong khoảng từ 1855 đến 1860 là ở Oedogonium và Coleochaete.
[theo 101]
Những công trình nghiên cứu về phân loại tảo giữa thế kỷ 20 của H Skuja[134], Zabelina [141] hay Savicz [137, 138, 139] đến nay vẫn là tài liệu thamkhảo đáng tin cậy cho những công trình về định loại tảo
M.S Randhawa đã nghiên cứu chi tiết họ tảo Zygnemaceae trong cuốnsách cùng tên, bao gồm phân bố, phân loại, hệ thống phát sinh, cấu trúc tế bào vàmô tả cũng như khóa phân loại cho 581 loài của 13 chi thuộc họ Zygnemaceae[101]
Các loài tảo nước ngọt đã được Takaaki Yamagishi và Masaru Akiyamagiới thiệu trong loạt sách “Photomicrographs of the Freshwater Algae” Tập 12
và 14 là mô tả của 200 loài tảo và Vi khuẩn lam khác nhau [124]
Band 19 của cuốn “Sỹβwasserflora von Mitteleuropa- Bd 19:Cyanoprokaryota” là loạt sách giới thiệu tổng quát về các đơn vị phân loạicyanoprokaryotic (Vi khuẩn lam) đã được nhận dạng ở châu Âu Sách mô tả đầy
đủ các đặc điểm nhận dạng, hình thái và sinh thái của từng loài Trong tập 1 cáctác giả (J Komárek và K Anagnostidis) đã mô tả đầy đủ đặc điểm hình thái, sinhthái và đưa ra khoá định loại của 499 loài thuộc 93 chi, 11 họ của bộ
Trang 16Chroococcales ở châu Âu, trong đó các chi phổ biến là Aphanothece, Aphanocapsa, Merismopedia, Gloeocapsa, Chroococcus [76] Năm 2005, tập 2,
Oscillatoriales được xuất bản đã giới thiệu chi tiết về bộ Oscillatoriales [77]
Bên cạnh đó là hàng loạt các bài báo nghiên cứu về phân loại tảo đượccông bố trong thời gian gần đây
Những nghiên cứu trong khu vực Đông Nam á những năm gần đây được
đẩy mạnh như các công trình của Masao Ohno và cộng sự về tảo diatom trong hệthống sông Mêkong ở Campuchia [93], của Minoru Hirano về tảo Desmid thuthập ở Thái Lan và Malaysia [73] Hirano đã ghi nhận và mô tả 663 loài Desmidcủa Thái Lan và Malaysia, trong đó có 99 loài được ông xác định là loài nhiệt
đới Năm 2004, nhóm tác giả Siripen Traichaiyaporn, Shigeru Kumano,Thaweedet Chainapong, Taweesak Khuantrairong và Boonsom Waraegsiri đãphát hiện loài Batrachospermum mahlacense mới cho Thái Lan [113] Công trình
của Yuwadee Peerapornpisal và nhóm nghiên cứu năm 2006 cũng tập trung vào
đối tượng Tảo đỏ nước ngọt ở Thái Lan [125]
Năm 1999, trong bài viết “An Annotated List and Selected Bibliography of Indian Charophyta”, H.S Pundhir và M Khan đã công bố danh sách các loài tảo
thuộc Charophyta của ấn Độ với 142 loài thuộc các chi Chara (57 loài), Lamprothamnium (1 loài), Lychnothamnus (5 loài), Nitellopsis (1 loài), Nitella
(72 loài) vàTolypella (6 loài) [98].
Năm 2000, F.D Opute đã công bố 90 taxon tảo Desmid Nigeria có dạngdài và nhận thấy sự tương đồng cao của tảo Desmid Nigeria với khu vực Nam
Mỹ, Đông Nam á, ấn Độ và Australia [94]
Năm 2002, Tahir Atici công bố 19 loài tảo và Vi khuẩn lam mới cho ThổNhĩ Kỳ tìm thấy tại đập Sariyar [60]
Trang 17Aydin Akbulut, trong bài “Planktonic Diatom (Bacillariophyceae) Flora ofSultan Sazlǧi Marshes (Kayseri)” đã công bố 75 loài tảo silic với các chi ưu thế là
Fragilaria, Navicula, Gomphonema, Nitzschia, Epithemia [59].
Năm 2003, Akihiro Tuji nghiên cứu về tảo silic Navicula sống đáy ở hồ
Biwa (hồ cổ và lớn nhất Nhật Bản) đã phát hiện và mô tả 81 taxon tảo, trong đó
Năm 2005, nhóm tác giả Trung Quốc đã công bố 122 taxa tảo Desmid ở
hồ Donghu, Trung Quốc Các tác giả đã nghiên cứu cả về mật độ, phân bố và mốitương quan giữa tảo với nước hồ [117]
Trong bài “Taxonomic Studies on Some Freshwater Diatoms from the
Eastern Terai Region, Nepal”, S.K Rai đó mụ tả về hỡnh thỏi và phõn bố của 17
loài tảo silic vựng Terai, Nepal [100]
Gần đây, Trung Quốc đã có những công bố về các loài tảo đỏ mới của chi
Batrachospermum Năm 2006, Jui-Yu Chou, Wei-Lung Wang ghi nhận loài Batrachospermum arcuatum mới cho Đài Loan [63], năm 2007, Feng Jia, Xie
Shu-Lian, Yao Ge công bố chi tảo Tuomeya Harvey và loài Batrachospermum hongdongense mới cho Trung Quốc [69, 123].
Năm 2007, Bỹlent Şahin bổ sung thêm 2 loài tảo Desmid mới ở Thổ Nhĩ
Kỳ [109] Fatma ầevik, Brian A Whitton, Okan ệZTĩRK (2007) bổ sung thêmchiHydrurus C.Agardh [67].
Trang 18Bên cạnh việc nghiên cứu thành phần loài tảo trong các thuỷ vực, nhiều tácgiả đã chú ý đến mối tương quan với hiện trạng môi trường nước Ưu điểm nổibật của phương pháp sử dụng tảo trong đánh giá môi trường so với phương phápphân tích hóa học bắt nguồn từ khả năng nhạy cảm với điều kiện sống của chúng.
N De Pauw cho rằng sử dụng quần xã tảo để đánh giá những thay đổi trongthành phần hóa học của thủy vực là biện pháp phù hợp nhất [96]
Sử dụng sự hiện diện của một số loài tảo hay cấu trúc quần xã của chúng
để chỉ thị cho chất lượng nước hay đánh giá môi trường là phương pháp đã đượcnhiều tác giả sử dụng Liebmann (1962) [theo 96] đã đưa ra danh sách 29 loàisinh vật chỉ thị cho môi trường nước bị ô nhiễm nặng, trong đó có hai loài Vikhuẩn lam và một loài Tảo mắt Đối với nước chưa bị ô nhiễm, ông cũng đưa radanh sách 14 loài sinh vật thủy sinh chỉ thị, trong đó phần lớn là các loài tảo[theo 96]
Nhiều tác giả đã xây dựng các công thức để xác định độ phú dưỡng củacác thủy vực dựa vào cấu trúc hệ tảo và Vi khuẩn lam Fefoldy Lajos (1980) đãcông bố các chỉ số Cyanophyta, chỉ số Chlorococcales, chỉ số Diatomeae, chỉ sốEuglenophyta và từ đó rút ra chỉ số chung để xác định độ phì của thủy vực [theo54] Ngoài ra còn có những phương trình dinh dưỡng được xây dựng từ lâu nhưnggiá trị sử dụng vẫn rất cao như phương trình của Nygaard (1949) và Schroevers(1965) [96]
Trong bài báo “Recent dynamics (1995-1999) of the phytoplankton assemblages in Lago Maggiore as a basic tool for defining association patterns
in the Italian deep lakes”, Giuseppe Morabito, Delio Ruggiu và Pierisa Panzani
[90] đã tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm một cách đầy đủ về mối tươngquan giữa tảo và tính chất vật lý, hoá học của nước hồ Lago Maggiore (hồ trên
núi lớn thứ 2 ở Italia) Các tác giả cũng đã đưa ra danh lục các loài tảo cũng nhưbiến động của chúng qua các mùa
Trang 19Năm 2001, Eva Willén đã tổng kết các nghiên cứu về thực vật phù du ở 4
hồ lớn của Thụy Điển trong bài “Phytoplankton and Water Quality Characterization: Experiences from the Swedish Large Lakes Mọlaren, Hjọlmaren, Vọttern and Vọnern” Trong công trình này, tác giả đã xác nhận số
lượng loài phytoplankton ở hồ Vọttern là 300 loài, ở hồ Hjọlmaren là 400 loài.Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra các nhận định về mối liên quan giữa hệ tảo vàchất lượng nước của các hồ Sự khác nhau trong cấu trúc thành phần loài, nhất làkhi xem xét Vi khuẩn lam, Tảo hai roi, Tảo silic và Tảo lục là những loại tảo có
số lượng lớn hơn ở hồ Hjọlmaren cho thấy hồ này có thể giàu dinh dưỡng hơn.Trong khi đó số lượng loài Tảo vàng ánh ở hồ Vọttern nhiều hơn hồ Hjọlmaren
đến 40% cho thấy nước ở hồ này là nghèo dưỡng [120]
Almeida, S F P đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự suy giảm chất lượng nướcvới tảo diatom ở Bồ Đào Nha [58]
Năm 2004, trong công trình “Benthic algal community structure and waterquality of the Zapadna Morava River Basin near Cacak”, Jurisic Ivana đã
đưa ra danh lục của 145 loài tảo và Vi khuẩn lam sống bám ở sông ZapadnaMorava (Serbia) Tác giả cũng phân tích ảnh hưởng của nhiệt độ, pH, tốc độdòng, dinh dưỡng… đến thành phần và cấu trúc hệ tảo [74]
Năm 2007, Kasperovičienė J và Vaikutienė G khi nghiên cứu pháCuronian (phía Đông Nam biển Baltic, thuộc Latvi) đã chỉ ra mối liên hệ giữanhững biến đổi trong quần xã tảo silic với sự gia tăng độ phú dưỡng của nước[75]
1.2 Lịch sử nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu tảo và Vi khuẩn lam ở Việt Nam được tiếnhành muộn hơn so với thế giới nhưng cũng đã có một số thành tựu nhất định
Trang 20Công trình nghiên cứu đầu tiên về tảo ở Việt Nam được J Loureiro tiếnhành từ năm 1793 về tảo lụcUlvapisum [theo 44] Cho đến năm 2001, Việt Nam
đã định loại được 2191 loài tảo thuộc 9 ngành và 368 loài Vi khuẩn lam [55]
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu mang tính chất chuyên khảo vềngành, lớp và bộ tảo lớn ở Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu
Những nghiên cứu ban đầu về tảo ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởicác nhà khoa học nước ngoài như J Loureiro (1793), M D Bois và P Petit(1904), P Fremy (1927) [theo 44] Năm 1933, M Lefevre đã có báo cáo về tảonổi thu thập từ các ao trong Thảo cầm viên Sài Gòn Nghiên cứu có hệ thống đầutiên về tảo ở Việt Nam là của Shirota công bố vào năm 1966 [103] ông đã tiếnhành thu thập mẫu tảo ở hầu hết các tỉnh của Nam Việt Nam và mô tả được 267loài và dưới loài phytoplankton trong môi trường nước ngọt thuộc 3 ngànhCyanophyta, Chrysophyta và Chlorophyta [103]
Các nghiên cứu về tảo do người Việt Nam thực hiện bắt đầu từ năm 1960với công trình về thực vật thủy sinh ở Sài Gòn của Vũ Văn Cương [126] Tiếptheo là các công trình của Phạm Hoàng Hộ về tảo vùng Cần Thơ và tảo Chara
Việt Nam [127, 128] Nghiên cứu về tảo ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạnnày còn phải kể đến một số công trình của Hoàng Quốc Trương [51, 104], củaCao Ngọc Phương (1964) [theo 44], của Nguyễn Thanh Tùng năm 1967 và 1970
về tảo Zygnemataceae [129, 130]
Những nghiên cứu về phân loại tảo và Vi khuẩn lam ở Việt Nam còn rấthạn chế Chính vì vậy, các công trình về phân loại tảo và Vi khuẩn lam và cácvấn đề liên quan trong những năm gần đây vẫn được tiến hành ở nhiều nơi trên cảnước
Các công trình về Vi khuẩn lam của Dương Đức Tiến đã được tiến hànhtrong nhiều năm (1972, 1973, 1975, 1976, 1977) [theo 44]
Trang 21Trong luận án phó tiến sĩ “Dẫn liệu về khu hệ tảo nước ngọt miền Bắc ViệtNam” của Nguyễn Văn Tuyên, tác giả đã xác định được 856 loài, 104 thứ, 19dạng tảo thuộc 181 chi, 70 họ, 25 bộ, 7 ngành là Tảo lục, Tảo silic, Tảo mắt, Tảolam, Tảo giáp, Tảo vàng và Tảo vàng ánh Trong 979 loài và thứ có 766 loài vàthứ lần đầu phát hiện có ở Việt Nam [53].
Năm 1982, trong luận án tiến sĩ về khu hệ tảo trong các thủy vực nội địaViệt Nam, Dương Đức Tiến đã công bố 1.402 loài và dưới loài, bao gồm 78 loàitảo mắt, 344 loài tảo lam, 530 loài tảo lục, 9 loài tảo vòng, 30 loài tảo giáp, 388loài tảo silic, 14 loài tảo vàng ánh, 5 loài tảo vàng và 4 loài tảo đỏ Tác giả cũngchú ý đến mối tương quan giữa các loại hình thủy vực với thành phần của tảo[140]
Năm 1983, Võ Hành công bố 191 loài và dưới loài tảo ở hồ chứa Kẻ Gỗ(Hà Tĩnh) [142]
Nghiên cứu về Vi khuẩn lam đã được tiến hành trong các luận án của cáctác giả Phùng Thị Nguyệt Hồng (1992) [theo 44] và gần đây là Nguyễn Thị Loan[87], Nguyễn Thị Thu Liên [83], Hồ Sĩ Hạnh [12]
Vũ Trung Tạng, Nguyễn Xuân Quýnh, Trịnh Thị Thanh, Đặng Thị Sy đãtiến hành nghiên cứu nhằm kiểm soát và điều chỉnh chất lượng nước thông quaviệc nuôi cá bằng nước thải sinh hoạt ở Thịnh Liệt và đã xác định được 54 loàicủa 6 ngành tảo Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra các thông số cụ thể về mật
độ và sinh khối tảo liên quan đến chất lượng nước [42]
Từ năm 1995 đến năm 1998, Đặng Thị Sy và nhóm nghiên cứu đã tổng kếtkhá đầy đủ về hiện trạng các sông hồ của Hà Nội, trong đó 4 hồ lớn là hồ Tây, hồTrúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm và hồ Bảy Mẫu được đề cập khá chi tiết về chất lượngnước và thành phần cũng như sinh khối thực vật phù du tại các thời điểm khácnhau trong năm Tại hồ Tây, tác giả đã thống kê 107 loài tảo thuộc 5 ngành (Tảolục, Tảo silic, Cryptophyta, Dinophyta, Euglenophyta) và 17 loài Vi khuẩn lam
Trang 22Tại hồ Bảy Mẫu phát hiện 75 loài thuộc 6 ngành Tác giả cũng nhận thấy sự thay
đổi loài ưu thế theo mùa ở hồ này [37, 39, 108]
Năm 1996, Dương Đức Tiến đã công bố 263 loài phát hiện ở Việt Namthuộc 61 chi, 10 họ, 4 bộ trong cuốn “Phân loại Vi khuẩn lam ở Việt Nam” [44]
Tác giả Dương Đức Tiến, Võ Hành đã xuất bản cuốn sách “Tảo nước ngọtViệt Nam - phân loại bộ tảo lục” vào năm 1997 Đây là một công trình nghiêncứu trong đó giới thiệu khá đầy đủ về bộ Tảo lục (Chlorococcales) ở Việt Namvới 429 loài thuộc 80 chi, 19 họ [45]
Năm 1999, Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành công bố danh sách 136 loài và dướiloài vi tảo thuộc 5 ngành: Cyanobacteriophyta, Bacillariophyta, Pyrrophyta,Euglenophyta và Chlorophyta có liên quan đến chất lượng nước thủy vực sông
La, Hà Tĩnh [6]
Báo cáo của Trần Kông Khánh ghi nhận tại hồ Hoàn Kiếm có 142 loài vitảo thuộc 47 chi, 21 họ, 10 bộ, 5 ngành [18]
Nguyễn Đình San đã phát hiện được 196 loài và dưới loài thuộc 60 chi, 31
họ và 11 bộ, tập trung trong 4 ngành tảo khi khảo sát 20 thủy vực bị ô nhiễm ởcác tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Bên cạnh đó, tác giả đã xác định 41taxon chỉ thị cho độ nhiễm bẩn và thử nghiệm khả năng làm sạch nước của tảo
Chlorella pyrenoidosa và Scenedesmus quadricauda cho kết quả tốt [34].
Năm 2000, Nguyễn Thị Minh Lan và Lê Khương Thúy đã nghiên cứu về
Vi khuẩn lam trong các ruộng lúa Hà Nội Các tác giả đã phát hiện được 50 loàithuộc 19 chi, 5 bộ của 2 lớp, trong đó lớp Chroococcophyceae chỉ có 2 loài, 48loài còn lại thuộc lớp Hormogoniophyceae [20]
Cùng các tác giả khác, năm 2002, Dương Đức Tiến đã xuất bản cuốn
“Thuỷ sinh học các thuỷ vực nước ngọt nội địa Việt Nam” [48] Trong cuốn sáchnày danh lục các loài tảo nước ngọt đã biết ở Việt Nam ghi nhận có 1.403 loài vàdưới loài thuộc 8 ngành là Cyanophyta (344), Pyrrophyta (30), Crysophyta (14),
Trang 23Bacillariophyta (388), Xanthophyta (5), Rhodophyta (4), Euglenophyta (78),Chlorophyta (540).
Năm 2002, Trần Ngọc Đức và Dương Đức Tiến đã nghiên cứu và xác định
được 181 loài và dưới loài tảo và Vi khuẩn lam thuộc 5 ngành, trong đó ngànhChlorophyta chiếm ưu thế trên Sông Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An [4]
Cũng trong năm 2002, Dương Đức Tiến, Trịnh Tam Kiệt đã nghiên cứu về
Vi khuẩn lam gây độc ở Việt Nam Nghiên cứu cho thấy hiện tượng nở hoa ở hầuhết các thủy vực là do chi Microcystis Các tác giả đã đưa ra khóa định loại cho
các loài của chi này kèm với mô tả ba loài Microcystis spp có độc tính và biện
pháp xử lý nước nở hoa [143]
Năm 2003, tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã xuất bản cuốn “Đa dạng sinhhọc Tảo trong các thuỷ vực nội địa Việt Nam- Triển vọng và thử thách” [54].Trong công bố này, danh lục các loài tảo nội địa Việt Nam có 1563 loài và dướiloài thuộc các ngành Euglenophyta (218 loài và dưới loài), Chlorophyta (637 loài
và dưới loài), Cyanophyta (268 loài và dưới loài), Bacillariophyta (401 loài vàdưới loài), Chrysophyta (13 loài và dưới loài), Pyrrophyta (17 loài và dưới loài),Xanthophyta (9 loài và dưới loài) Theo tác giả, khu hệ Tảo nội địa Việt Nammang tính nhiệt đới với 27% số loài Ông cũng đã đưa ra những số liệu cụ thểtrong việc áp dụng tảo vào việc xử lý nước thải thành phố cũng như chỉ thị độ bẩn
ở Việt Nam, trong các quá trình diễn thế của thủy vực
Cũng trong năm 2003, Dương Đức Tiến và cộng sự trong bài “Chất lượngnước và khu hệ vi tảo hồ Ba Bể so với một số hồ ở Việt Nam”, đã công bố 138loài vi tảo phát hiện được ở hồ Ba Bể [46]
Vi tảo trên sông Cả đã được nhóm tác giả Lê Thị Thuý Hà, Võ Hành,Dương Đức Tiến nghiên cứu và xác định được 409 loài và dưới loài loài và dướiloài với ưu thế thuộc về Tảo silic [7]
Trang 24Võ Hành và Trần Mộng Lai đã công bố 60 loài và dưới loài thuộc bộProtococcales ở hồ chứa Sông Rác thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, trong đó
bổ sung thêm 4 loài và dưới loài cho bộ này ở Việt Nam [11]
Năm 2003, Đặng Thị Sy công bố nghiên cứu về tảo tại khu bảo tồn thiênnhiên Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn Tác giả đã ghi nhận 145 loài và dưới loàithuộc 23 họ, 4 ngành tảo và ngành Vi khuẩn lam, đặc biệt là ngành Tảo lục đãphát hiện được đại diện của cả 6 lớp Tác giả cũng ghi nhận sự xuất hiện lần đầutiên của 2 loài Chlorodesmis hildebrandii và Triceratium sp trong môi trường
Năm 2004, tác giả Lê Thị Thúy Hà khi nghiên cứu về khu hệ thức vật nổi
ở vùng tây nam hệ thống sông Lam (Nghệ An, Hà Tĩnh) đã xác định được 409loài thực vật nổi thuộc 5 ngành tảo, bổ sung 36 loài và dưới loài mới cho khu hệtảo Việt Nam Tác giả cũng đánh giá đặc điểm phân bố của khu hệ thực vật nổitrong các sinh cảnh khác nhau [8]
Cùng trong năm 2004, nhóm tác giả Dương Đức Tiến, Vũ Thành Lâm,Nguyễn Quốc Hùng, Lê Anh Tân, Trần Hải Linh đã nghiên cứu về vi tảo và Vikhuẩn lam hồ chứa Cấm Sơn, tỉnh Bắc Giang và xác định được 137 loài và dướiloài, thuộc 5 ngành Ngoài 80 loài và dưới loài bổ sung cho danh lục của hồ,nhóm nghiên cứu đã không tìm thấy loài Tảo đỏBatrachospermum đã từng có ở
hồ [47]
Đặng Hoàng Phước Hiền cùng cộng sự [15, 16] tập trung nghiên cứu vào
đối tượng là các loài Vi khuẩn lam độc
Trang 25Lê Thu Hà và Nguyễn Thuỳ Liên năm 2005 đã công bố danh lục tảo và Vikhuẩn lam của 3 hồ lớn ở Hà Nội là hồ Thành Công có 40 loài và dưới loài tảo và
Vi khuẩn lam, hồ Hai Bà Trưng có 65 loài và dưới loài, hồ Thuyền Quang có 35loài và dưới loài Các tác giả trên còn sử dụng các phương pháp khác kết hợp vớiphân tích thành phần loài tảo và Vi khuẩn lam để đánh giá chất lượng nước của 3
hệ tảo ở Việt Nam Hiện tượng và nguyên nhân gây nở hoa liên quan đến môitrường nước của các loài vi tảo cũng được đề cập tới trong nghiên cứu của các tácgiả [31, 56]
Nguyễn Đình San và Nguyễn Đức Diệu đã công bố 110 loài và dưới loàitảo silic thuộc 2 bộ, 13 họ và 29 chi trong các thủy vực nuôi thủy sản nước lợ ởcác huyện Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên (Nghệ An), Nghi Xuân, Thạch Hà (HàTĩnh) [35]
Năm 2007, tại hồ điều hoà Yên Sở, Hà Nội, nhóm tác giả Đặng Thị Sy,Nguyễn Thuỳ Liên, Nguyễn Hoài An, Lê Thu Hà, Bùi Thị Hoa đã ghi nhận được
111 loài tảo và Vi khuẩn lam thuộc 34 chi, 16 họ, 11 bộ, 8 lớp [41] Cùng trong
Trang 26năm này, Nguyễn Thuỳ Liên và cộng sự đã xác định được 63 loài và dưới loàithuộc 5 ngành tảo và ngành Vi khuẩn lam tại vùng cửa sông Bạch Đằng, đồngthời tính toán mật độ tảo và độ phì của môi trường nước thông qua cấu trúc hệ tảotại đây [23].
Lưu Thị Thanh Nhàn, Đào Thanh Sơn, Nguyễn Ngọc Lâm khi nghiên cứu
về Vi khuẩn lam tại các ao nuôi cá ở tỉnh Đồng Tháp năm 2007 đã xác định được
37 loài và dưới loài thuộc 3 bộ là Chroococcales, Oscillatoriales và Nostocales[29]
Lê Thương và Nguyễn Văn Lanh năm 2007 nghiên cứu thực vật nổi ở hồEanhái của tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện được 171 loài, trong đó có 12 loài là mớicho Việt Nam [43]
Trên sông Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, các tác giả Hồ Thanh Hải,Nguyễn Kiêm Sơn, Lê Hùng Anh, Phan Van Mạch năm 2007 đã xác định được
78 loài thực vật nổi thuộc 26 họ của 6 ngành tảo, trong đó Tảo silic có số lượngloài nhiều nhất [10]
Nghiên cứu về tảo trong các thủy vực nước lợ và nước mặn có thể kể tớicác công trình của Rose, Dawydoff, Yamashita [theo 39], Hoàng Quốc Trương[50], Shirota [103] Các tác giả chủ yếu nghiên cứu tảo tại khu vực vịnh NhaTrang Tảo silic phù du nước lợ và nước mặn Việt Nam đã được Trương Ngọc An[1], Đặng Thị Sy [38] nghiên cứu khá kỹ lưỡng trong những công trình có giá trị.Tác giả Lương Quang Đốc cũng lấy đối tượng là Tảo silic sống trên nền đáy ởvùng đầm phá ven biển [3] Luận án phó tiến sĩ khoa học Sinh học với đề tài
“Nghiên cứu thực vật thuỷ sinh ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tácgiả Tôn Thất Pháp bảo vệ năm 1993 đã xác định được 224 loài, 15 thứ, 5 dạngthuộc 6 ngành tảo thuộc cả ba nhóm sinh thái nước mặn, nước lợ và nước ngọt,
đó là các ngành: Chrysophyta (145 loài, 12 thứ, 4 dạng), Chlorophyta (41 loài, 2thứ, 1 dạng), Pyrrophyta (16 loài, 1 thứ), Cyanophyta (16 loài), Rhodophyta (5loài), và Phaeophyta (1 loài) [30] Tảo Hai rãnh biển Việt Nam là đối tượng
Trang 27nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lâm [79], Chu Văn Thuộc [49] Đoàn Như Hải lạitập trung nghiên cứu đối tượng tảo Haptophyta biển Việt Nam [9].
Hiện nay, các nghiên cứu về tảo đã được gắn với nhiều công cụ và phươngpháp hiện đại Kính hiển vi điện tử được sử dụng trong những nghiên cứu sâu vềtừng nhóm tảo giúp cho việc phân loại chính xác hơn như trong các công trìnhcủa Nguyễn Ngọc Lâm [79], Đoàn Như Hải [9], Lương Quang Đốc [3] … Cácphương pháp phân tích ADN được áp dụng với một số nhóm tảo, nhất là với cácnhóm có sinh độc tố giúp cho việc xây dựng cây phát sinh chủng loại và pháthiện các loài và dưới loài mới cũng như thẩm định lại các loài đã biết được chínhxác hơn Có thể kể đến các công trình của Nguyễn Thị Thu Liên [83], Lê NhưHậu và Nguyễn Hữu Đại [14], Đặng Diễm Hồng và cộng sự [17], Đặng ĐìnhKim và cộng sự [19] Các ứng dụng về toán học và tin học trong sinh học cũng
được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố môi trường lên tảo [13]
Tại khu vực Mã Đà cũng đã có một số công bố về thành phần tảo và Vikhuẩn lam Nguyễn Thuỳ Liên, Đặng Thị Sy năm 2005 [22] đã công bố 83 loài
và dưới loài tảo và Vi khuẩn lam, thuộc 35 chi, 16 họ, 12 bộ, 6 lớp, 4 ngành làngành Tảo lục (Chlorophyta), ngành Tảo hai rãnh (Dinophyta), ngành Tảo silic(Bacillariophyta) và ngành Vi khuẩn lam (Cyanobacteriophyta) phát hiện được ởsuối Mã Đà [23] Các tác giả trên cũng đã công bố 21 loài thuộc chi Cosmariumphát hiện được ở hồ Bà Hào, lâm trường Mã Đà, Đồng Nai, trong đó có 11 loàikhông có trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” và 5 loài chưa được địnhdanh có ảnh chụp và mô tả chi tiết kèm theo [84] Năm 2006, Nguyễn Thùy Liên,
Đặng Thị Sy, Trần Văn Thụy đã công bố 347 loài và dưới loài tảo và Vi khuẩnlam phát hiện được tại các thủy vực khác nhau trong khu vực Mã Đà [85]
Hồ Trị An là một hồ thủy điện lớn ở tỉnh Đồng Nai có một phần hồ chính
và hồ phụ nằm trong khu vực nghiên cứu Hồ này cũng đã có một số nghiên cứu
về tảo như công trình của Đỗ Thị Bích Lộc và nhóm nghiên cứu Nhóm tác giảnày đã ghi nhận có 127 loài tảo ở trong hồ Trị An, trong đó có 32 loài Vi khuẩn
Trang 28lam [25] Trong báo cáo đề tài “Phiêu sinh thực vật ở hồ Trị An”, Lưu Thị ThanhNhàn đã công bố 206 loài và dưới loài phiêu sinh thực vật, trong đó ngànhChlorophyta có 121 loài, Bacillariophyta 35 loài, Pyrrophyta 1 loài, Vi khuẩn lam
19 loài, Chrysophyta 5 loài, Euglenophyta 25 loài [28]
1.3 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.3.1 Vị trí và diện tích khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu có phía Đông tiếp giáp với hồ Trị An và vùng đồi
Định Quán, phía Tây được giới hạn bởi sông Bé, đây cũng là ranh giới giữa tỉnh
Đồng Nai và Bình Dương Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu là ranh giới phíaNam của khu vực Phía Bắc là Bình Phước và Nam Cát Tiên
Toạ độ địa lý của khu vực nghiên cứu được xác định từ 11 o08’41’’ – 11o
32’16’’ Vĩ độ Bắc, 106 o 53’14’’ – 107o35’20’’ Kinh độ Đông
Diện tích vùng nghiên cứu là 68.368 ha, trong đó diện tích rừng chiếm từ78,8% (Lâm trường Mã Đà) đến 89,3% (lâm trường Vĩnh An), phần còn lại là đấtnông nghiệp, đất thổ cư, giao thông, mặt nước và các đất khác [36]
Năm 2003, khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu được thành lập theo quyết
định số 4679/2003/QĐ-UBT ngày 03/12/2003 của UBND tỉnh Đồng Nai, trựcthuộc UBND tỉnh Đồng Nai trên cơ sở sát nhập ba lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm
và Vĩnh An nằm trong khu vực Mã Đà Đến năm 2006, khu dự trữ được tổ chứclại thành“Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu”
1.3.2 Đặc điểm khí hậu
Khu vực Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa trong năm lớn trên2.000 mm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (60%) Trong những thángnày, tất cả các thủy vực đều có nước, thủy vực nước chảy có nhiềunước và chảy xiết, kèm theo lượng phù sa lớn khiến tảo bị cuốn trôihoặc không đủ điều kiện ánh sáng để phát triển
Trang 29 Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Trong suốt thờigian này hầu như không có mưa, đại bộ phận suối đầm trong toànvùng nghiên cứu không có nước Ngay cả suối Mã Đà (còn gọi làsông Mã Đà) nhiều đoạn chỉ còn các vũng nước.
Nhiệt độ trung bình 26,40C, cao nhất là 350C vào tháng 4 và thấp nhất là16,50C vào tháng 1 Độ ẩm tương đối khá cao, từ 80 đến 82% Hướng gió chủyếu là Đông Bắc - Đông Nam, ít có gió bão và sương mù
Trang 30Bản đồ Vị trí khu vực nghiên cứu Mã Đà
Trang 31Độ cao lớn nhất 125 m, trung bình từ 70 - 80 m Địa hình tạo ra hai hệ thống suốichính đổ ra sông Bé và đổ vào suối Mã Đà [21]
Lâm trường Vĩnh An có diện tích 13.666 ha, nằm trong vùng chuyển tiếp
từ cao nguyên Bảo Lộc - Lâm Đồng xuống vùng địa hình bằng thoải của ĐôngNam bộ, lâm trường được chia thành hai dạng địa hình rõ rệt:
Dạng địa hình bằng phẳng ở phía Nam: Tập trung chủ yếu ở phântrường IV và một phần ở phân trường V
Dạng địa hình đồi bao gồm toàn bộ diện tích còn lại, chia cắt phứctạp, hệ thống suối, khe chằng chịt và hầu hết các suối ở đây đổ vào
hồ Trị An
Lâm trường Hiếu Liêm có diện tích 16.561 ha, hầu hết diện tích bằngphẳng, độ dốc thấp Đây là vùng hạ lưu của nhiều con suối bắt nguồn từ lâmtrường Mã Đà đổ ra sông Bé [32, 33]
1.3.4 Đất đai
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của trường Đại học Nông - Lâm TP HồChí Minh thì đất trong vùng chủ yếu là Feralít đỏ vàng phát triển trên đá mẹ saphiến thạch (lâm trường Mã Đà) và đất feralit nâu vàng phát triển trên đá sathạch sét (lâm trường Hiếu Liêm) [52]
Tầng đất canh tác ở lâm trường Mã Đà mỏng đến trung bình, kết vónnhiều, nghèo chất dinh dưỡng, ít nguyên tố vi lượng Tuy vậy có hai khu vực là
Trang 32Đồi Mỹ (đất đỏ Bazan) diện tích 100 ha và dọc sông Đồng Nai giáp tỉnh BìnhPhước với (bề rộng dọc sông khoảng 50 m) diện tích khoảng 50 ha, có khả năngtrồng cà phê, cây ăn quả cho năng suất và chất lượng cao Lâm trường Hiếu Liêm
có tầng đất mặt từ 10 – 50 cm, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng [52]
1.3.5 Thảm thực vật
Theo kết quả kiểm kê rừng tháng 10/1999, tổng diện tích rừng tự nhiêncủa lâm trường Mã Đà là 21.642,6 ha, chiếm 78,8% diện tích tự nhiên với tổngtrữ lượng rừng tự nhiên của lâm trường là 1.521.302 m3[36]
Lâm trường Vĩnh An quản lý và bảo vệ 20.306 ha diện tích rừng và đấtrừng Diện tích rừng có tre lồ ô là 8.098,5 ha phân bố rải rác khắp trên diện tíchquản lý Rừng của Lâm trường Vĩnh An mang đặc trưng của rừng lá rộng thườngxanh nhiệt đới ẩm Có ba loại rừng chính phân bổ xen kẽ nhau trên toàn bộ diệntích đất có rừng là rừng gỗ, rừng hỗn giao và rừng tre, lồ ô [36]
Khu vực lâm trường Hiếu Liêm thực bì chủ yếu là cỏ Tranh, cỏ Mỹ, câybụi và Tràm hoặc Bạch đàn tái sinh [36]
Nhìn chung rừng toàn khu vực đã bị khai thác kiệt về gỗ nhưng những câykhông có giá trị, cây gỗ nhỏ và cây tái sinh vẫn tạo nên tán rừng rậm rạp [36].Hầu hết các suối bị tán rừng che phủ không thuận lợi cho tảo phát triển
1.3.6 ảnh hưởng của dân cư lên môi trường nước
Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế của lâm trường năm 2002 phục vụcho việc xây dựng phương án Quy hoạch - di dời ổn định dân cư: trên địa bànlâm trường Mã Đà có 1.870 hộ với 7.532 nhân khẩu sinh sống, trong đó có 11cụm lớn với 27 điểm dân cư, có điểm dân cư chỉ có 11 hộ (khu dân tộc) [27]
Thành phần dân tộc bao gồm: người Kinh, Hoa, Châu Ro, K’hor, Mường,Khơ me, Tày, Mã Lai Đa phần các khu dân cư sinh sống giáp rừng tự nhiên hoặcrừng trồng của lâm trường [27]
Trang 33Một số đồng bào dân tộc thiểu số sống định cư tại đây vẫn mang nặng thóiquen tập quán sống dựa vào thiên nhiên là chủ yếu Sau khi lâm trường giải thể,nhiều công nhân ở lại làm nông nghiệp trên đất lâm trường do vậy nhiều đất rừng
đã chuyển đổi sang trồng cây ăn quả, cây công nghiệp hay củ mì (sắn) Việctrồng trọt cây nông nghiệp cũng góp phần làm gia tăng độ xói mòn vào các dòngsuối Suối trong vùng phần lớn có nền đáy đất và đục vào mùa mưa, không thíchhợp cho tảo phát triển Các khu dân cư thường có nhiều ao nuôi cá do lợi dụng
địa hình phục vụ lối sống tự cung tự cấp Từ đó hình thành nên loại hình thủy vực
ao cá rất phong phú và đặc trưng Các ao nuôi này thường bị ô nhiễm chất hữu cơ
do chất thải chăn nuôi [27]
1.3.7 Các dạng thủy vực
Trong toàn vùng nghiên cứu có 8 dạng thủy vực có thể chia thành cácnhóm: nhóm thủy vực nước chảy, nhóm thủy vực nước đứng và hồ thủy điện TrịAn
1.3.7.1 Nhóm thủy vực nước chảy.
Thuỷ vực nước chảy tiêu biểu là sông và suối Tuy nhiên, Filter, R andManuel, R (1995) cho rằng giữa sông và suối không có định nghĩa để phân biệtmột cách chính xác hai loại thuỷ vực này, chỉ là sông thường to hơn suối [70]
Trong toàn vùng nghiên cứu nhóm này chỉ có một dạng là suối Có 22 suốitương đối lớn có tên đã được khảo sát là suối Mã Đà, suối Đakin, suối Ràng, suốiKốp, suối Sà Mách, suối Sai, suối Nứa, suối Đá, suối Bà Hào, suối Linh, suối Câysung, suối Mười hai ống cống, suối Rộp, suối Bà Cai, suối Lò Than, suối cầu 1,
2, 3, 4, 5, 6 và 8 Ngoài ra còn nhiều suối nhỏ không tên khác đã được khảo sát
Suối Mã Đà (cũng có người gọi là sông Mã Đà) là ranh giới giữa tỉnh
Đồng Nai và tỉnh Bình Phước, bắt nguồn từ các suối thuộc địa phận tỉnh BìnhPhước, chảy qua lâm trường Vĩnh An, qua phân trường Rang Rang (lâm trườngMã Đà), tới phân trường 5 của lâm trường Hiếu Liêm rồi đổ vào sông Bé Đổ vào
Trang 34suối Mã Đà còn có một số suối như suối Đakin của lâm trường Vĩnh An và suốiSai, suối Nứa và một số suối nhỏ thuộc lâm trường Mã Đà Vào mùa mưa, suốirất lớn nên nhiều người gọi là sông nhưng vào mùa khô, nhiều chỗ nước chỉ còn
là các vũng
Suối lớn thứ hai là suối Bà Hào (nằm ở lâm trường Mã Đà) và còn có tên làsuối Đá Dựng ở địa phận lâm trường Hiếu Liêm Suối bắt nguồn từ hồ Bà Hào,chảy qua hai lâm trường rồi đổ ra sông Bé
Toàn vùng chỉ có suối Mã Đà và suối Bà Hào có nước quanh năm Cácsuối còn lại cạn kiệt vào mùa khô hoặc chỉ còn những vũng nước nhỏ
Các suối thuộc lâm trường Hiếu Liêm (suối Đá Dựng, suối Linh, suối Đá,suối Cây sung, suối Mã Đà, suối cấu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8 đều đổ vào sông Bé Vàomùa khô chỉ có suối Đá Dựng và suối Mã Đà có nước
Các suối thuộc lâm trường Mã Đà hoặc đổ vào suối Mã Đà (suối Nứa, suốiSai) hoặc đổ ra sông Bé qua lâm trường Hiếu Liêm (suối Mã Đà, suối Bà Hào,suối Mười hai ống cống, suối Rộp, suối Bà Cai) Vào mùa khô chỉ có suối BàHào và suối Mã Đà có nước
Các suối thuộc lâm trường Vĩnh An (suối Ràng, suối Đakin, suối Kốp,suối Sà Mách) đều đổ vào hồ Trị An Vào mùa khô chỉ suối Ràng có nước tạinhững điểm được ngăn dòng giữ nước phòng cháy rừng Suối Sà Mách bắt nguồn
từ vườn Quốc gia Cát Tiên
Vào mùa mưa, mực nước các suối trên toàn vùng rất lớn, dòng chảy mạnh,mang theo mùn, đất xuống vùng hạ lưu, như suối Mã Đà tại Rang Rang, mựcnước có thể lên tới 7 – 8 m, độ đục rất cao Mùa khô hầu hết các suối không cónước tới 4 – 5 tháng Nền đáy các suối thường là bùn đất, độ che phủ của tánrừng cao nên thiếu ánh sáng cho tảo phát triển Nhìn chung thủy vực nước chảyvùng nghiên cứu khá bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của tảo
Trang 351.3.7.2 Nhóm thủy vực nước đứng.
Nhóm này trong khu vực nghiên cứu có hệ thống hồ Bà Hào, hồ sen, hồtrữ nước phòng cháy rừng, đầm, ao nuôi cá, ruộng lúa nước và một vài hố bomnhỏ ngập nước tạm thời
Hồ Bà Hào là vùng trũng của toàn khu vực nên có thể nước đã được bổsung từ các mạch ngầm khiến mực nước đạt khá cao cả vào mùa khô Hồ lànguồn cung cấp nước cho suối Bà Hào (suối Đá Dựng) có nước quanh năm Phầnlớn diện tích hồ được sử dụng để nuôi cá
Các hồ trữ nước chữa cháy rừng thường là các hồ tự nhiên, các đầm có cảitạo trong khu vực Một số cạn nước vào mùa khô (như hồ thuộc phân trườngRang Rang) hay có nước quanh năm (hồ phòng hộ chốt cửa rừng, LT Mã Đà)
Ao nuôi cá, phần lớn do các hộ dân tự đào, cũng là loại hình phổ biếntrong khu vực Các ao này thường giàu chất hữu cơ do nước thải chăn nuôi vàsinh hoạt của gia đình đổ vào nên thường ở trạng thái nước “nở hoa”
1.3.7.3 Hồ chứa nhân tạo.
Hồ Trị An là hồ nhân tạo lớn nhất nằm trong tỉnh Đồng Nai, được xâydựng từ năm 1986 cho mục đích thủy điện, có chiều dài 50 km, rộng từ 2 đến 15
km với diện tích mặt nước là 32.300 ha, cao trình mực nước dâng bình thường là
62 m, mực nước chết 48 m Dung tích toàn bộ hồ là 2,7 tỉ mét khối nước, dungtích hữu ích 2,6 triệu mét khối Hồ là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng300.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố HồChí Minh Nguồn nước cấp cho hồ là sông Đồng Nai và sông La Ngà Lưu lượngtrung bình nhiều năm là 447 m3/s, trong mùa lũ 929 m3/s, còn trong mùa cạn 126
m3/s Tổng công suất lắp máy của thủy điện Trị An là 400 MW điện
Hồ Trị An luôn luôn tồn tại 4 vùng với các trị số là khá đồng nhất:
+ Vùng đập phụ (khu vực gần nhà máy thủy điện) Tuỳ thuộc vàomức ngập nước và thời gian trong năm mà cao trình mặt thoáng vùng đập
Trang 36phụ thấp hơn vùng đập chính khoảng 6 đến 60 cm Dòng chảy tại đây nóichung là yếu.
+ Vùng kênh dẫn từ đập chính vào đập phụ Độ dốc mặt thoáng dọctheo kênh dẫn là lớn nhất trong hồ Trị An Vùng này dòng chảy có vận tốckhá lớn (có thể vượt 1 m/s)
+ Vùng hồ chính (phần từ đập thượng đến đập hạ) Mặt thoáng ở
đây có độ dốc thấp hơn vùng đập thượng từ 1 đến 90 cm, dòng chảy tại
đây rất yếu
+ Vùng đập thượng (là phần phía trên hồ chính, có các cửa sông đổvào hồ chứa) Vận tốc dòng chảy khá lớn, ứng suất ma sát đáy đôi khi vượtquá ứng suất xói tới hạn Do đó, đây là khu vực lòng dẫn kém ổn địnhnhất
Vùng hồ nằm kế cận với những cánh rừng già nguyên sinh có nhiều loài
gỗ quý thuộc họ Dầu Diện tích rừng bao quanh hồ được đánh giá vào khoảng1.380 ha, trong đó 42% diện tích là rừng trồng
1.3.8 Chất lượng nước ở một số điểm thu mẫu tại Mã Đà
Trong quá trình thu mẫu, chúng tôi đã sử dụng máy đo 6 chỉ tiêu (hãngToa_Nhật Bản) để đo chất lượng nước Các chỉ tiêu được đo gồm: DO, độ dẫn,
Na+, độ đục, nhiệt độ và pH Đây là các chỉ tiêu cơ bản và có ảnh hưởng nhiều tớitảo Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 1 và bảng 2
Trang 37Bảng 1 Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước tại các thủy vực
thuộc khu vực Mã Đà trong mùa khô
DO (mg/l)
Độ dẫn (mS/m) Na (%)
Độ đục (mg/l) T0(0C) pH
Bảng 2 Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước tại các thủy vực
thuộc khu vực Mã Đà trong mùa mưa
DO (mg/l) (mS/m) Độ dẫn Na
(%)
Độ đục (mg/l) T0(0C) pH
Trang 38Kết quả phân tích chất lượng nước tại các thủy vực thuộc khu vực nghiêncứu cho thấy giá trị pH nghiêng về mức axit, thường dao động trong khoảng 5,9 -7,6 Giá trị pH trung bình của mùa khô cao hơn so với mùa mưa.
Độ đục của nước tại các thủy vực: ngoại trừ một số thủy vực không đo
được độ đục (hồ Sen, hố Bom, suối Mã Đà 3 và hồ Bà Hào), nhìn chung độ đụctại khu vực không cao, là điều kiện thuận lợi cho phù du phát triển Riêng điểm
hồ Bà Hào vào mùa khô và điểm suối Mã Đà 1 vào mùa mưa có độ đục tăng lênrất cao (lần lượt chiếm 109 và 87 mg/l) Nguyên nhân do trong nước có nhiều cặnvẩn lơ lửng (cám nuôi cá tại hồ Bà Hào và phù sa tại suối Mã Đà 1) Tuy nhiênhàm lượng các muối dinh dưỡng chứa Nitơ, phốt pho đều ở mức rất thấp
Hàm lượng oxy hoà tan không cao, dao động trong khoảng 2,87 – 8,0 mg/l
đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng oxy của thủy vực Riêng điểm suối Bà Hào có DO là7,22 mg/l và suối Mã Đà 3 là 8,0 mg/l
Nhiệt độ nước tại khu vực nghiên cứu dao động trong khoảng 25,1 đến37,20C Nhiệt độ tại các thủy vực trong khu vực nghiên cứu thay đổi theo mùa,theo thời tiết và thời gian trong ngày Nhiệt độ cao nhất mà chúng tôi đo được là36,70C tại hồ Bà Hào Nhiệt độ trung bình tại các thủy vực vào mùa khô cao hơnmùa mưa khoảng 30C
Nồng độ muối tại các điểm thu mẫu trong cùng đợt khảo sát tương đối ổn
định Nồng độ muối trung bình vào mùa khô cao hơn khoảng 10/00 so với mùamưa Theo chúng tôi, nguyên nhân có thể là do vào mùa mưa, lượng nước đổ vềcác thủy vực rất lớn đã pha loãng và làm giảm nồng độ muối tại đây xuống mứcthấp Ngoài ra, vào mùa khô, lượng nước tại các thủy vực xuống mức thấp, dòngchảy chậm dẫn đến các chất hữu cơ tồn lưu ở mức cao Quá trình phân hủy cácchất hữu cơ cũng góp phần làm gia tăng nồng độ muối tại các thủy vực
Nói chung, các thủy vực chính trong khu vực có chất lượng nước khá thíchhợp cho các loài tảo và Vi khuẩn lam phát triển Đây là cơ sở để dự đoán về sựphong phú của các loài tảo và Vi khuẩn lam
Trang 39chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hệ tảo và Vi khuẩn lam tại các thuỷ vực thuộckhu vực Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật
Chúng tôi đã tiến hành 7 đợt thu thập mẫu vật từ tháng 11 năm 2002 đếntháng 5 năm 2006 theo 12 tuyến nghiên cứu Thời gian và địa điểm thu mẫu đượcthể hiện ở bảng 3 và hình 2
Bảng 3 Các đợt thu mẫu
Đợt thu mẫu Năm
và có độ trong cần thiết để tảo phát triển Cuối tháng 4, thủy vực cạn trong mùakhô bắt đầu có nước từ những cơn mưa đầu mùa nên tảo bắt đầu xuất hiện
Trang 40Sơ đồ Các điểm và tuyến thu mẫu tại khu vực Mã Đà
Do địa bàn nghiên cứu rộng, địa hình đa dạng nên chúng tôi đã tiến hànhthu mẫu theo phương pháp phân tuyến nghiên cứu Các tuyến thu mẫu dựa vào
đường giao thông, đường khai thác gỗ và các khu sinh thái đặc trưng trong khuvực, thường là vùng có nhiều suối cắt ngang qua Đây cũng là những điểm có đủ
ánh sáng cần thiết cho tảo sinh trưởng Các tuyến lấy mẫu được bố trí như sau:
Tuyến 1: dọc theo sông Bé (trên địa phận lâm trường Hiếu Liêm), trêntuyến này, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu tại cuối nguồn 9 con suối đổ ra