1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng các quy luật của phép duy vật biện chứng trong giảng dạy sinh học

24 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 505,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tất cả các ngành khoa học, thì Sinh học là ngành duy nhất nghiên cứu về thế giới sống, về những quy luật vân động, phát triển của sự sống cũng như mối quan hệ của nó với môi trường

Trang 1

TRỊNH XUÂN CƯƠNG

MSHV: 19C68001

VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG GIẢNG DẠY SINH HỌC

Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 2

VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG GIẢNG DẠY SINH HỌC

Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học

TRỊNH XUÂN CƯƠNG

MSHV: 19C68001

Học viên tự do

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 3

1.1 Lịch sử hình thành 3

1.1.1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng 3

1.1.2 Những hình thức cơ bản của phép biện chứng 3

1.2 Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật 4

1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 4

1.2.2 Nguyên lý về sự phát triển 6

1.3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 6

1.3.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 7

1.3.2 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại 8

1.3.3 Quy luật phủ định của phủ định 9

1.4 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật 10

1.4.1 Cái riêng và cái chung 10

1.4.2 Nguyên nhân và kết quả 11

1.4.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên 11

1.4.4 Nội dung và hình thức 11

1.4.5 Bản chất và hiện tượng 12

1.4.6 Khả năng và hiện thực 12

Chương 2 VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG GIẢNG DẠY SINH HỌC 13

2.1 Mối quan hệ giữa Triết học và Sinh học 13

2.2 Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong giảng dạy Sinh học 13

2.3 Vận dụng quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại trong giảng dạy Sinh học 15

2.4 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định trong giảng dạy Sinh học 16

Chương 3 KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính từ thời điểm loài người xuất hiện cách đây khoảng 4 triệu năm, xã hội loài người không ngừng phát triển Xã hội đã trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau từ thấp lên cao, từ chưa phát triền đến phát triển hơn; tương ứng với sự phát triển của các cuộc cách mạng công nghệ Thế kỉ XXI đánh dấu cho sự khởi đầu của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nhóm ngành khoa học - công nghệ Không khó để nhận ra rằng, bất cứ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển đều

có một sự đầu tư vào khoa học - công nghệ tương ứng Bởi lẽ nó là một trong những nhân tố chính thúc đẩy sản xuất phát triển, các thành tựu của khoa học - công nghệ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; giúp con người chinh phục thiên nhiên để cải thiện đời sống của chính mình Vì vậy, quan tâm đến phát triển khoa học - công nghệ, trong đó, trước hết là quan tâm đến việc đào tạo con người khoa học là vô cùng quan trọng và cần thiết

Trong tất cả các ngành khoa học, thì Sinh học là ngành duy nhất nghiên cứu về thế giới sống, về những quy luật vân động, phát triển của sự sống cũng như mối quan hệ của

nó với môi trường Các thành tựu của Sinh học có tác động trực tiếp tới con người nên cần được nghiên cứu một cách cẩn thận với thế giới quan đúng đắn và phương pháp tư duy hợp lý Để có thể làm được điều đó thì việc tìm hiểu về Triết học là vô cùng quan trọng Bởi Triết học là hệ thống tri thức lý luận phổ quát nhất của con người về thế giới,

về vị thế và khả năng của con người trong thế giới ấy Triết học có vai trò định hướng

về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho các hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Trong đó, phép biện chứng duy vật là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Triết học hiện đại, là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới, định hướng phát triển khoa học Nội dung của phép biện chứng duy vật được khái quát thành hai nguyên lý là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Hai nguyên

lý này được cụ thể hóa thành các quy luật cơ bản và quy luật không cơ bản (các cặp phạm trù) Việc nghiên cứu các quy luật này của Triết học sẽ giúp các nhà Sinh học có thể xây dựng được một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho bản thân, góp phần khái quát đúng đắn các thành tựu khoa học của họ làm tăng giá trị các thành đến mức tối ưu mà nó có thể đạt được, đồng thời tránh được cá cuộc khủng hoảng

tư tưởng không cần thiết trong khoa học và trong đời sống

Bên cạnh đó, các thành tựu của Sinh học cũng có tác động lên Triết học với vai trò là tư liệu để Triết học có thể điều chỉnh và rút ra các kết luận chung nhất về thế giới quan và phương pháp luận Lịch sử hình thành và phát triển Triết học đã chứng minh rằng Triết học duy vật biện chứng ra đời không chỉ dựa trên những cơ sở kinh tế - xã hội

và cơ sở lý luận mà còn dựa trên ba phát minh khoa học lớn, có tính thời đại Trong đó,

có hai phát minh thuộc về Sinh học đó là: học thuyết tiến hóa của Darwin, thuyết tế bào của Schwann và Schleiden cùng với định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Robert Mayer, Joule và Helmholtz Giống như Ăngghen đã từng nhấn mạnh: “Mỗi lần

Trang 6

có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử - tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó” [4, tr 409]

Tuy nhiên, không phải nhà Sinh học nào cũng nhận thức đúng về vai trò của Triết học đối với lĩnh vực của mình, một phần vì các kiến thức của Triết học là kiến thức chung nhất của tất cả các ngành khoa học nên nó thường khó và trừu tượng, phần khác

vì một số người cho rằng việc không tìm hiểu về Triết học không có ảnh hưởng gì đến việc nghiên cứu ngành khoa học cụ thể của họ Và lịch sử đã chứng kiến nhiều trường hợp cản trở sự phát triển của Sinh học mà nguyên nhân là do sự hạn chế trong tư tưởng Triết học như việc đàn áp di truyền học do Trofim Denisovich Lưxenko (Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Liên Xô) phát động gây nên hậu quả là kéo lùi toàn bộ nền Sinh học của đất nước này; hay sự áp dụng một cách máy móc thuyết tiến hóa Darwin vào xã hội loài người; tư tưởng giáo điều, định kiến về ưu sinh học (Eugenics) Đề cập đến điều này, Ăngghen cũng đã nói “ dù các nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi nữa thì

họ vẫn bị triết học chi phối Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt, hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên

sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó” [4, tr 693]

Chính vì vậy, việc nhận thức được mối liên hệ giữa Sinh học và Triết học, đặc biệt là mối liên hệ giữa phép biện chứng duy vật với Sinh học là vấn đề quan trọng và cần thiết Bằng cách lồng ghép các quy luật của Triết học trong giảng dạy Sinh học, người học có thể tiếp thu thành tựu của Triết học một cách tự nhiên nhất và vận dụng tốt các thành tựu đó trong lĩnh vực của mình Nhưng do thời gian, năng lực và sự hiểu biết

có hạn nên trong đề tài này, tôi chỉ tìm hiểu về việc “Vận dụng các quy luật cơ bản của

phép biện chứng duy vật trong giảng dạy Sinh học”

Trang 7

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1.1 Lịch sử hình thành

1.1.1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng [4, tr 60]

Khái niệm biện chứng

Thuật ngữ “biện chứng”, theo nghĩa của Triết học Hy Lạp cổ đại là từ dùng để chỉ nghệ thuật tranh luận, đàm thoại nhằm bảo vệ lập luận của mình và phát hiện ra mâu thuẫn trong cách lập luận của đối phương Thông thuoong72, biện chứng dùng để chỉ nghệ thuật hùng biện

Theo nghĩa của Triết học Trung Quốc cổ đại, “biện chứng” là “dịch”, có nghĩa là

sự vận động, biến hóa của vạn vật

Theo nghĩa hiện đại, biện chứng là phạm trù dùng để chỉ mối liện hệ, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Khái niệm phép biện chứng

Phép biện chứng là một học thuyết nghiên cứu về các mối liện hệ, về sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Cụ thể hơn, phép biện chứng là hệ thống các nguyên

lý, quy luật, phạm trù nhằm phản ánh các thuộc tính biện chứng của thế giới khách quan vào trong bộ não con người

1.1.2 Những hình thức cơ bản của phép biện chứng [4, tr 62 - 64]

Trong lịch sử Triết học, phép biện chứng trải qua ba hình thức cơ bản, đó là: phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng chất phác

Phép biện chứng này mang tính tự phát, ngây thơ vì nó xuất phát chủ yếu từ sự quan sát trực tiếp thế giới của các nhà Triết học cổ đại để phỏng đoán nên các quy luật vận động, phát triển của thế giới, chưa có cở sở khoa học Đó chỉ là những tư tưởng biện chứng mang tính suy luận, phỏng đoán; mới chỉ dừng lại ở sự mô tả tính biện chứng của thế giới nên chưa trở thành hệ thống lý luận

Chẳng hạn, trong Triết học phương Đông cổ đại, Phật giáo quan niệm rằng thế giới luôn vận động, phát triển tuân theo luật nhân - quả; hay quan niệm Ngũ hành tương sinh, Ngũ hành tương khắc trong thuyết Âm Dương - Ngũ Hành cũng là kết quả rút ra từ sự quan sát trực quan các hiện tượng trong đời sống hằng ngày

Trong Triết học phương tây cổ đại thì tiêu biểu có Triết học của Heraclit Ông cho rằng mọi cái cứ trôi đi, chảy đi và không bao giờ dừng lại, ông cũng đã phát biểu một luận điểm nổi tiếng là “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”

Phép biện chứng duy tâm

Phép biện chứng duy tâm cũng là học thuyết về các môi liên hệ, về sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng nhưng được đề ra bởi các nhà triết học duy tâm; trong

đó, người khởi xướng là Canto nhưng được phát triển đến đỉnh cao bởi Heghen

Canto cho rằng, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau giữa lực hút và lực đẩy là động lực của sự vận động, phát triển Quan niệm này đã có cơ sơ khoa học chứ không đơn thuần là phỏng đoán như ở thời cổ đại

Trang 8

Còn đối với Heghen, ông coi biện chứng của thế giới khách quan là sự phát triển của ý niệm tuyệt đối: ý niệm là cái có trước, sản sinh ra thế giới; còn các sự vật, hiện tượng đều chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Như vậy, hạn chế trong học thuyết của Heghen là ông còn đứng trên quan điểm duy tâm Tuy nhiên, cống hiến to lớn của ông thể hiện ở chỗ ông là người đầu tiên nhận thức được toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần trong một quá trình vận động, phát triển không ngừng và thể hiện được quá trình ấy thông qua những nguyên lý, quy luật, phàm trù thành một hệ thống lý luận chặt chẽ

Phép biện chứng duy vật

Là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng, được xây dựng bởi C Mác

và Ph Angghen trên cơ sở kế thừa trực tiếp những nội dung hợp lý trong phép biện chứng của Heghen kết hợp với nền tảng của thế giới quan duy vật biện chứng

Thế giới quan duy vật biện chứng (hay còn gọi là thế giới quan khoa học) là hệ thống những quan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và con người; gắn liền với khoa học, phản ánh thế giới và định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người trên cơ sở tổng kết những thành tựu của nghiên cứu, thực nghiệm và dự báo khoa học Cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, thế giới quan khoa học không ngừng được bổ sung, hoàn thiện và phát triển

Với sự ra đời của phép biện chứng duy vật, phép biện chứng đã phát triển từ tự phát lên tự giác, là bước nhảy vọt về chất trong quá trình phát triển của tư duy triết học, khắc phục những hạn chế của phép biện chứng cổ đại, đẩy lùi phép siêu hình thời cận đại, cải tạo phép biện chứng duy tâm và trở thành phương pháp luận phổ biến định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người

Nội dung của phép biện chứng duy vật được khái quát thành hai nguyên lý là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Hai nguyên lý này được

cụ thể hóa thành các quy luật cơ bản (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định ) và quy luật không cơ bản (các cặp phạm trù: cái riêng - cái chung; nguyên nhân - kết quả; tất nhiên - ngẫu nhiên; nội dung - hình thức; bản chất - hiện tượng; khả năng - hiện thực)

1.2 Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật [1, tr 113-121], [4, tr 66-71]

1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Nội dung quy luật: Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập, tách

rời khỏi các sự vật, hiện tượng khác mà chúng luôn nằm trong những mối liên hệ với nhau

Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, tồn tại phổ biến trong thế giới

Các mối liên hệ có nhiều tính chất, trong đó cơ bản nhất là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Tính khách quan

Trang 9

Mối liên hệ là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, không do sự áp đặt từ bên ngoài; không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, dù muốn hay không thì bản thân các sự vật, hiện tượng hay các mặt, bộ phân của sự vật, hiện tượng luôn luôn chứa đựng các mối liên hệ

Tính khách quan của mối liên hệ xuất phát từ tính thống nhất của thế giới vật chất Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù muôn hình muôn vẻ thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất Ngay cả ý thức của con người cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất là não bộ; và nội dung của ý thức cũng chỉ

là sự phản ánh hiện thực khách quan trong bộ não con người

Tính đa dạng, phong phú

Các sự vật, hiện tượng khác nhau ở các không gian khác nhau, thời điểm khác nhau sẽ có các mối liên hệ khác nhau Trong thế giới có nhiểu kiểu mối liên hệ, mỗi mối liên hệ lại có đặc điểm, vị trí, vai trò riêng đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ bên trong - bên ngoài, mối liên hệ cơ bản - không cơ bản, mối liên hệ bản chất - hiện tượng

Ý nghĩa phương pháp luận: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận

thức và thực tiễn cần phải tuân theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm toàn diện

Khi nhận thức một sự vật, hiện tượng nào đó, ta phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ mà nó có Trong tất cả các mối liên hệ đó, phải rút ra được những mối liên

hệ cơ bản, chủ yếu, tức là xem xét một cách có trọng tâm, trọng điểm, từ đó nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng

Sau khi nắm bắt được bản chất của sự vật, hiện tượng thì cần phải đối chiếu với các mối liên hệ còn lại đề tránh mắc phải sai lầm trong nhận thức Bên cạnh đó, phải chống tư tưởng phiến diện, một chiều (chỉ thấy một hoặc một số mối liên hệ mà không thấy những mối liên hệ khác) cũng như tư tưởng cào bằng, dàn trải (coi mọi mối liên hệ đều như nhau)

Quan điểm lịch sử - cụ thể

Khi xem xét một sự vật, hiện tượng cần đặt nó trong từng hoàn cảnh lịch sử - cụ thể nhất định; trong đúng không gian, thời gian; trong đúng mối liên hệ, quan hệ của sự vật, hiện tượng đó Đồng thời phải chống tư tưởng hời hợt, đại khái (nhận thức và giải

Trang 10

quyết cùng một sự vật, hiện tượng ở các không gian, thời gian khác nhau theo cách như nhau mà không tìm hiểu thêm)

1.2.2 Nguyên lý về sự phát triển

Nội dung quy luật: Mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vận động trong

khuynh hướng chung là phát triển

Vận động là khái niệm chỉ sự biến đổi nhưng chưa xác định chiều hướng Phát triển

là khái niệm chỉ sự vận động theo chiều hướng từ thấp lên cao, từ chưa đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Sự phát triển có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Tính khách quan

Phát triển là thuộc tính vốn có, tất yếu của bản thân sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người; dù muốn hay không thì bản thân sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động trong quá trình phát triển

Ý nghĩa phương pháp luận: nguyên lý về sự phát triển đòi hỏi trong nhận thức và

thực tiển cần phải tuân theo quan điểm phát triển

Quan điểm phát triển

Khi nhận thức một sự vật, hiện tượng cần nhận thức nó ở trạng thái động trong khuynh hướng chung của sự phát triển Cần nghiên cứu đề tìm ra nguồn gốc, cách thức

và khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng đó; tạo điều kiện cho cái mới tiến bộ hơn ra đời Mặt khác, cần phải chống lại quan điểm chủ quan, nóng vội (tạo ra cái mới khi chưa đủ điều kiện) cũng như quan điểm bảo thủ, trì trệ (khăng khăng cái cũ, không chịu tạo ra cái mới mặc dù điều kiện đã chín muồi)

1.3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật [1, tr 122 - 126]

Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu, phổ biến trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Nếu căn cứ vào mức độ, phạm vi tác động thì có quy luật đặc thù, quy luật chung, quy luật phổ biến Căn cứ vào lĩnh vực tác động người ta chia thành quy luật tự nhiên, quy luật xã hội, quy luật tư duy

Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng duy vật nghiên cứu ba quy luật phổ biến trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và trong tư duy là: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật chuyển hóa từ

Trang 11

những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định

1.3.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có vai trò quan trọng nhất trong các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, là hạt nhận của phép biện chứng, vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Trong quy luật này, mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các

sự vật, hiện tượng Như vậy, thực chất mâu thuẫn cũng là mối liên hệ nhưng không phải bất kỳ mối liên hệ nào mà chỉ là mối liên hệ giữa các mặt đối lập Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt, thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau, là tiền

đề tồn tại của nhau

Tính chất của mâu thuẫn

Tính khách quan

Sự hình thành mâu thuẫn không phải bắt nguồn từ trong tư duy, ý thức chủ quan

mà do tính tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng tạo nên mâu thuẫn Đó là quá trình liên hệ, thống nhất, chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau để hình thành nên mâu thuẫn biện chứng Bản thân sụ vận động của thế giới vật chất, của sự sống chính là mâu thuẫn

Tính phổ biến

Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực, tự nhiên, xã hội, tư duy; tồn tại trong các sự vật, hiện tượng, quá trình; tồn tạo trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng từ khi sinh ra đến khi kết thúc

Tính đa dạng, phong phú

Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ khác nhau, trong những điều kiện lịch sử - cụ thể khác nhau, vì vậy chúng có nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, với vai trò, vị rí khác nhau

Quá trình vận động của mâu thuẫn biểu hiện trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa của các mặt đối lập Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập diễn ra phức tạp, phong phú, đa dạng, tùy thuộc hoàn cảnh, điều kiện cụ thể Sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính quy định lẫn nhau của hai mặt đối lập, trong đó, sự tồn tại của mặt đối lập này là điều kiện cho sự tồn tại của mặt đối lập kia

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là khuynh hướng bài trừ, phủ định nhau và phát triển theo xu hướng ngược nhau giữa các mặt đối lập

Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt, mâu thuẫn sẽ phát triển đến đỉnh điểm, chúng

sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới ra đời và sự chuyển hóa của hai mặt đối lập lại tiếp tục diễn ra

Trang 12

Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập có thể diễn ra theo hai cách: một là các mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau; hai là cả hai đều trở thành những chất mới

Mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập gắn liền với nhau: nếu không có thống nhất sẽ không có đấu tranh, thống nhất là tiền đề của đấu tranh; đấu tranh là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Sự thống nhất phản ánh trạng thái ổn định, đứng im tương đối; còn sự đấu tranh phản ánh trạng thái vận động tuyệt đối của sự vật, hiện tượng Nhờ có thống nhất, sự vật, hiện tượng mới tồn tại; nhờ có đấu tranh, sự vật, hiện tượng mới phát triển

Ý nghĩa phương pháp luận

Mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến, nên cần khẳng định sự tồn tại mâu thuẫn

là tất yếu trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú nên cần phân biệt vị trí các loại mâu thuẫn khác nhau như mâu thuẫn bên trong - bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản - không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu - thứ yếu để có phương pháp giải quyết mâu thuẫn phù hợp

Không được điều hòa mâu thuẫn mà phải giải quyết mâu thuẫn vì điều hòa mâu thuẫn là kìm hãm sự phát triển, còn giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực cho sự phát triển

1.3.2 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại

Quy luật này có vị trí vạch ra cách thức của sự phát triển của sự vật, hiện tượng, tức là quá trình phát triển từ lượng đến chất và sự tác động từ chất đến lượng, tồn tại khách quan, phổ biến, đa dạng, phong phú trong mọi lĩnh vực

Khái niệm chất, lượng

Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định của sự vật, hiện tượng, là sự thống

nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng đó, phân biệt với sự vật, hiện tượng khác Để xác định chất của sự vật, hiện tượng thì cần phải xác định các thuộc tính của nó Thuộc tính bao gồm hai loại: thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản nhưng chỉ có các thuộc tính cơ bản mới tạo nên chất của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, việc phân biệt thuộc tính cơ bản hay thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối

vì tùy vào từng mối liên hệ nhất định Trong mối liên hệ này, nó là thuộc tính cơ bản nhưng trong mối liên hệ khác nó lại là thuộc tính không cơ bản và ngược lại

Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan của sự vật, hiện tượng

về quy mô, trình độ phát triển, biểu thị bằng con số các yếu tố, các thuộc tính cấu thành

nó Mỗi sự vật, hiện tượng có vô vàn chất nên nó cũng có vô vàn lượng Mỗi loại lượng lại có phương thức xác định khác nhau, có những loại được xác định bằng con số chính xác nhưng cũng có những loại phải bằng sự trừu tượng hóa, khái quát hóa mới xác định được nó

Ngày đăng: 05/12/2020, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w