1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quang yen town history, situation and orientation for sustainable development luận văn ths khu vực học 60 31 60

110 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một bề dày truyền thống và vai trò quan trọng trong lịch sử như vậy, nhưng trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng, do sự dịch chuyển trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị xã Quảng Yên ngày nay (trước là huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) đã từng có vai trò là trung tâm của một vùng lãnh thổ biên ải rộng lớn ở Đông Bắc Tổ quốc và là vùng đất có truyền thống văn hóa - lịch sử lâu đời Thời phong kiến, nơi đây đã tồn tại đô thị Quảng Yên - là một trong số ít những đô thị cổ của Quảng Ninh, những đô thị cổ khác là Vân Đồn, Móng Cái - Vạn Ninh Trong khi Vân Đồn, Móng Cái - Vạn Ninh đơn thuần là đô thị - bến cảng phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hóa thì Quảng Yên vừa là trung tâm thương mại, vừa là thủ phủ của một vùng Trong một thời gian dài, Quảng Yên từng là trung tâm chính trị của một vùng đất rộng lớn từ Móng Cái đến sông Bạch Đằng

Với một bề dày truyền thống và vai trò quan trọng trong lịch sử như vậy, nhưng trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng, do sự dịch chuyển trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh mà trong suốt một thời gian dài, Quảng Yên - Yên Hưng hầu như đã bị lu mờ trong bức tranh phát triển kinh tế

xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nói chung Nhưng trong những năm gần đây, huyện Yên Hưng với hạt nhân là thị trấn Quảng Yên đã có bước tăng trưởng khá tương xứng với tiềm năng và có sự hoà nhập về định hướng phát triển không gian đô thị, kinh tế, xã hội, văn hoá với Hạ Long và thành phố Hải Phòng Với những lợi thế về vị trí địa lý, quỹ đất, quỹ không gian, quỹ môi trường sinh thái, du lịch, các tuyến và công trình đầu mối của quốc gia đã và đang hình thành; quỹ nhân lực và tài nguyên giàu có… huyện Yên Hưng chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và bền vững, có thể liên kết không gian kinh tế với các thành phố Hạ Long, Hải Phòng để tạo thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng -Yên Hưng - Hạ Long của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Ngày 25/11/2011, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 100/NQ-CP về việc thành lập thị xã Quảng Yên trên cơ sở huyện Yên Hưng Đô thị Quảng Yên được xác định với chức năng là đô thị trung tâm miền Tây tỉnh Quảng Ninh và địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh của vùng Đông Bắc Tổ quốc

Trang 3

Tuy nhiên, hiện nay thị xã Quảng Yên mới chỉ đang ở bước khởi đầu của công cuộc đô thị hóa Việc nghiên cứu nguồn gốc, chức năng cũng như các tiềm năng, thực trạng phát triển của đô thị Quảng Yên là điều hết sức cần thiết để có thể góp phần định hướng cho phát triển bền vững thị xã hiện tại và trong tương lai

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trong các lĩnh vực lịch sử, đô thị, quy hoạch lãnh thổ, địa lí, kinh

tế,… chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đô thị Quảng Yên - lịch sử hình thành,

thực trạng và định hướng phát triển” cho luận văn của mình

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vùng đất Quảng Yên gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đã được

ghi lại trong nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là cuốn “Chiến thắng Bạch

Đằng 938 và 1288” (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, 1988)

Cuốn sách đã trình bày diễn biến hai chiến thắng trên sông Bạch Đằng trong lịch sử Việt Nam: chống quân Nam Hán năm 938 và chống quân Nguyên năm 1288 Nghiên cứu cũng đã làm sáng tỏ vai trò, vị trí trọng yếu của vùng đất cửa sông Bạch Đằng đối với đất nước

Thời Pháp thuộc, Quảng Yên đã được Pháp xây dựng thành một đô thị chức

năng, do đó cũng có các tài liệu nghiên cứu về vùng đất này, có thể kể đến “Notice

sur la province de Quang Yen” (Địa chí tỉnh Quảng Yên) trình bày về vị trí, giới

hạn, điều kiện tự nhiên – xã hội; tình hình chính trị, giáo dục, y tế, giao thông, kinh

tế của Quảng Yên; hoặc “La Métallurgie du Zinc au Tonkin : Uzine à Zinc de

Quang-Yen” viết về lịch sử ra đời, trang thiết bị, cơ sở nhà máy, các sản phẩm của

nhà máy nấu kẽm Quảng Yên (Bắc Kỳ) từ năm 1921

Một số công trình nghiên cứu về vùng đất Quảng Yên từ sau giải phóng cho tới hiện tại bao gồm:

- Văn hoá Yên Hưng - lịch sử hình thành và phát triển (Lê Đồng Sơn chủ

biên, NXB Chính trị Quốc gia 2008)

- Văn hoá Yên Hưng – di tích văn bia, câu đối, đại tự (Lê Đồng Sơn chủ biên,

NXB Chính trị Quốc gia 2008)

Trang 4

- Đô thị Quảng Yên – truyền thống và định hướng phát triển (Viện Việt Nam

học và Khoa học phát triển, NXB Thế giới 2011)

Các nghiên cứu của tác giả Lê Đồng Sơn – với vai trò là trưởng phòng Văn hóa huyện Yên Hưng – đã tập hợp và hệ thống các tư liệu về di tích văn hóa – lịch

sử, cũng như các phong tục tập quán độc đáo nhằm bảo tồn vốn văn hóa lâu đời của địa phương Bên cạnh đó, tác giả cũng đã dày công nghiên cứu về lịch sử hình thành các làng xã của huyện Yên Hưng và trấn lỵ Quảng Yên

Cuốn “Đô thị Quảng Yên – truyền thống và định hướng phát triển” gồm 27

bài nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau,

trong hội thảo khoa học “Đô thị Quảng Yên – truyền thống và định hướng phát

triển” do Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Viện

Việt Nam học và Khoa học phát triển đồng tổ chức Các bài viết đã phân tích khá sâu các vấn đề về lịch sử, văn hóa cũng như các điều kiện và nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển đô thị Tuy nhiên Hội thảo lại được tổ chức với mục đích kỉ niệm 210 năm thành lập trấn lỵ Quảng Yên và phục vụ cho việc công nhận thị trấn Quảng Yên là đô thị loại IV Các bài viết, vì lí do như vậy nên nội dung tập trung xoay quanh về thị trấn Quảng Yên (nay là phường Quảng Yên, thuộc thị xã Quảng Yên) chứ chưa phải là bức tranh tổng thể về huyện Yên Hưng – thị xã Quảng Yên ngày nay Bên cạnh đó, cho đến thời điểm diễn ra hội thảo, thị trấn Quảng Yên được quy hoạch mở rộng địa giới hành chính ra 4 xã xung quanh để nâng cấp thành thị xã (định hướng quy hoạch từ 2006), nhưng hiện nay thị xã Quảng Yên - với vị trí và vai trò nổi bật của mình - lại được thành lập trên cơ sở toàn bộ huyện Yên Hưng Điều này đòi hỏi phải có một hướng nhìn mới trong việc nghiên cứu đô thị Quảng Yên truyền thống – hiện tại và tương lai

Các tác phẩm, bài viết kể trên đã nghiên cứu từng khía cạnh về lịch sử, văn hóa, kinh tế Quảng Yên trong từng thời điểm lịch sử khác nhau, tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào thật cụ thể, đầy đủ và hệ thống để nêu bật được vai trò, vị trí cũng như vị thế phát triển của đô thị Quảng Yên từ truyền thống cho đến

Trang 5

hiện tại và trong tương lai Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi muốn nghiên cứu thật cụ thể và có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của thị xã Quảng Yên, cũng như các nguồn lực và thực trạng phát triển đô thị của nó, từ đó đề ra định hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững đô thị Quảng Yên

3 Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Tiếp thu và phát triển những thành tựu nghiên cứu trên, người viết thực hiện

đề tài nghiên cứu đô thị Quảng Yên nhằm tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc hình thành cũng như vai trò của Quảng Yên trong lịch sử; đánh giá vị trí, vai trò quan trọng của Quảng Yên trong phát triển kinh tế xã hội của vành đai kinh tế biển và tam giác kinh tế phía bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; đồng thời đề xuất định hướng

và các giải pháp để phát triển bền vững thị trấn Quảng Yên trong bối cảnh biến đổi toàn cầu

4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn

- Về đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu quá trình hình thành, nguồn lực và thực trạng phát triển của đô thị Quảng Yên hiện nay, từ đó tìm ra định hướng cũng như một số giải pháp cho phát triển đô thị Quảng Yên một cách bền vững

- Về phạm vi nghiên cứu: là địa giới hành chính thị xã Quảng Yên hiện nay với những mối quan hệ mật thiết lâu đời về tự nhiên, kinh tế, xã hội Bên cạnh đó là

đô thị Quảng Yên trong mối quan hệ với khu vực Đông Bắc Bắc Bộ

5 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu thứ nhất, là các công trình, tài liệu viết về Quảng Yên trong

thời kì phong kiến, gồm các bộ chính sử như: Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam thực

lục…; sách địa chí như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Yên), Đồng Khánh địa dư chí lược (tỉnh Quảng Yên) Căn cứ vào các công

trình này, chúng tôi có thể phác họa được lịch sử hình thành cũng như phát triển của Quảng Yên trong thời kì phong kiến

Trang 6

Nguồn tư liệu thứ hai, là các ghi chép của thực dân Pháp về Quảng Yên như

Notice sur la province de Quang Yen (Địa chí tỉnh Quảng Yên năm 1932) trình bày

về vị trí, giới hạn, điều kiện tự nhiên – xã hội; tình hình chính trị, giáo dục, y tế,

giao thông, kinh tế của Quảng Yên; La Métallurgie du Zinc au Tonkin viết về nhà

máy kẽm Quảng Yên (1921); cùng một số tài liệu khác nói về cảng ở Quảng Yên – Hải Phòng; các bản đồ Quảng Yên thời kì Pháp thuộc… Nguồn tư liệu này hiện đang lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Đây là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi tìm hiểu về đô thị Quảng Yên thời kì thuộc Pháp

Nguồn tư liệu thứ ba, là các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có liên quan đến các vấn đề phát triển đô thị, kinh tế, xã hội Bên cạnh đó là các văn bản, báo cáo của huyện Yên Hưng; các tài liệu thống kê của địa phương qua các năm

(Niên giám thống kê huyện Yên Hưng) Các tài liệu này rất quan trọng để chúng tôi

tìm hiểu được về thực trạng của địa phương và là cơ sở để đề ra định hướng trong tương lai

Nguồn tư liệu thứ tư là các tài liệu thu thập được trong quá trình điền dã tại địa phương, bao gồm cả tài liệu chữ viết, tài liệu truyền miệng và tài liệu vật chất

Về tài liệu chữ viết, hiện nay ở thị xã Quảng Yên còn lưu giữ được nhiều thư tịch cổ như sắc phong, hương ước cổ, kết hợp với những tài liệu như văn bia, câu đối, đại

tự, gia phả của các dòng họ… Các tư liệu này được lưu giữ và bảo tồn khá tốt Có một điều thuận lợi hơn nữa trong quá trình điền dã, đó là chúng tôi nhận được sự giúp đỡ của ông Lê Đồng Sơn – trưởng phòng Văn hóa thị xã Quảng Yên – là người

đã dày công sưu tập và nghiên cứu về các di tích văn bia, câu đối, đại tự ở địa phương Về tài liệu vật chất, thì chủ yếu dựa trên các hiện vật như các công trình kiến trúc đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, di tích cách mạng, nhà ở… Tất cả các công trình đó đều là căn cứ để chúng tôi tìm hiểu về thị xã Quảng Yên truyền thống cũng như hiện tại Về tài liệu truyền miệng, có các truyền thuyết dân gian, các làn điệu dân ca, các cách thức làm nghề thủ công truyền thống,… được sưu tập trong quá

Trang 7

trình điền dã tại địa phương Các tư liệu này được bổ sung làm cho nghiên cứu của chúng tôi được toàn diện hơn

Tất cả các tài liệu trên đã được so sánh, kiểm chứng bằng các phương pháp khoa học và kiểm chứng trên thực tế; đồng thời có sự tham vấn của các chuyên gia

cả ở trung ương và địa phương nên đều đáng tin cậy Mặt khác chúng tôi cũng khai thác tư liệu bằng phương pháp phỏng vấn sâu tại địa bàn nghiên cứu và khai thác các thông tin thứ cấp được đăng tải trên mạng Internet

6 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này, chúng tôi đã áp dụng hướng nghiên cứu chủ đạo là khu vực học Đô thị Quảng Yên được xem xét như một không gian xã hội - văn hóa, từ

đó ứng dụng những phương pháp của khu vực học để có những nhận thức mang tính tổng hợp và toàn diện về một đô thị trong suốt chiều dài phát triển

- Phương pháp điền dã: Các hoạt động chính trong khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh, quay phim tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với chính quyền địa phương, các cơ quan quản lí‎ tài nguyên, các cơ quan quản lí‎ chuyên ngành ở địa phương; tham gia các buổi hội thảo, tọa đàm

- Phương pháp thống kê: những tài liệu thống kê của tình hình địa phương liên quan đến nhiều lĩnh vực như kinh tế, môi trường, xã hội, là những tài liệu mang tính định lượng Trên cơ sở khai thác từ nhiều nguồn như Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên (trước đây là huyện Yên Hưng) và các Sở Du lịch, Công thương, Tài nguyên Môi trường…, các số liệu được đưa vào

xử lí, phân tích để từ đó rút ra những kết luận đánh giá có tính thực tiễn cao

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng quan tài liệu có được cho phép tiếp cận với những kết quả nghiên cứu trong quá khứ, cập nhật những vấn đề trong tỉnh Quảng Ninh và khu vực Việc phân loại, phân nhóm và phân tích các dữ liệu sẽ giúp cho việc phát hiện những vấn đề trọng tâm và những khía cạnh cần được tiếp cận của vấn đề Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được và những kết quả phân tích,

Trang 8

việc tổng hợp sẽ giúp định hình một tài liệu toàn diện và khái quát về chủ đề nghiên cứu

7 Những đóng góp chủ yếu của luận văn

- Làm rõ lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của đô thị Quảng Yên trong bối cảnh khu vực Đông Bắc, từ truyền thống cho đến hiện tại

- Phân tích thực trạng phát triển đô thị của Quảng Yên; thực hiện đánh giá theo các tiêu chí của đô thị

- Sử dụng các kết quả phân tích thực trạng làm cơ sở đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển bền vững đô thị Quảng Yên trong tương lai

8 Kết cấu nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Địa lí và lịch sử hình thành đô thị Quảng Yên

Chương 2: Thực trạng đô thị Quảng Yên

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển bền vững đô thị Quảng Yên

Trang 9

Chương 1 ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐÔ THỊ QUẢNG YÊN

1.1 Địa lí đô thị Quảng Yên

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở phía đông nam của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 314,2km2 Vị trí toạ độ từ 20045’06” đến 21002’09” độ vĩ Bắc và

106045’30”đến 10600’59” độ kinh Đông Phía Bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu Phía đông giáp thành phố Hạ Long Phía tây giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng

Thị xã Quảng Yên gồm 19 đơn vị hành chính xã, phường, trong đó khu vực nội thị bao gồm các phường Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hoà, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hoà, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải Khu vực ngoại thị gồm các xã Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hoà, Hoàng Tân, Cẩm La, Liên Hoà, Liên Vị, Tiền Phong

Địa hình chủ yếu của thị xã Quảng Yên là đồng bằng và bãi bồi ven biển có xen lẫn đỗi núi thấp của những dãy núi cánh cung Đông Triều chạy ra biển Toàn bộ Quảng Yên gần như nằm trọn về phía một nửa delta bồi tích của sông Bạch Đằng

mà nửa kia thuộc về Hải Phòng Nhìn chung, địa hình thị xã Quảng Yên được chia làm hai vùng có diện tích gần tương đương nhau là Hà Nam và Hà Bắc với sông Chanh làm ranh giới

Vùng Hà Bắc có địa hình chủ yếu là đồi núi bát úp, với các đồi núi thấp được

phân bố ở phía bắc huyện (tập trung ở các phường Minh Thành, Đông Mai, một phần của các phường Sông Khoai, Cộng Hòa, Tiền An, Tân An và Hoàng Tân) với diện tích khoảng 6.100ha Toàn bộ đồi núi ở đây đều được phát triển trên các đá cát, bột, sạn kết, đá phiến sét có tuổi Trias Hiện nay, đồi núi ở đây đang bị khai thác làm vật liệu xây dựng, đặc biệt là đá vôi ở Hoàng Tân

Trang 10

Tuy nhiên, vùng Hà Bắc cũng có những khoảnh đồng bằng nhỏ hẹp phân bố

ở các phường Đông Khoai, Minh Thành, Yên Giang, Tiền An Các khoảnh đồng bằng ở đây đều được cấu tạo bởi cát đến cát-bột được thành tạo vào Holoxen muộn [8] Hiện nay được sử dụng để trồng lúa Một nét đặc biệt ở vùng Hà Bắc là sự có mặt của một bộ phận đồng bằng cao 8-12 mét phân bố ở khu vực nghĩa trang phường Tiền An và lân cận.Đồng bằng này còn giữ được trạng thái khá bằng phẳng của nó và được cấu tạo bởi cát màu vàng Đối sánh với các thành tạo tương tự trên lãnh thổ Việt Nam, có thể xếp nó vào tuổi Pleistocen muộn, phần muộn (Q13-2) Hiện nay, bề mặt này được sử dụng làm đất ở và trồng bạch đàn

Vùng Hà Nam là vùng có địa hình đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù sa

của hệ thống sông Thái Bình mang ra Có thể chia địa hình vùng này thành 2 loại:

đồng bằng thấp trong đê và bãi bồi ngoài đê Đồng bằng thấp trong đê phân bố chủ

yếu trên đảo Hà Nam Địa hình đồng bằng trong đê chỉ có độ cao từ 0,5 đến 2,0 mét

so với mực nước biển Trên bề mặt của nó còn có những khu vực thấp hơn, do đó, thường bị ngập úng khi có mưa nhiều Hiện nay, địa hình ở đây được sử dụng làm đất ở, trồng lúa và các cây hoa màu, cũng như cho các mục đích khác Bãi bồi ven biển ở khu Hà Nam nói riêng và cả thị xã Quảng Yên nói chung có diện tích khoảng 12.300 ha (chiếm 37,1% diện tích tự nhiên của thị xã), được phân bố ở các khu vực ven biển và cửa sông, tập trung nhiều các khu đầm Nhà Mạc, đầm Soài, dọc phía bắc bờ kênh Cái Tráp, Yên Giang, phía tây-nam sông Hốt thuộc các phường Hoàng Tân, Tiền An Các bãi bồi ven biển được cấu tạo chủ yếu bởi bùn và bị chia cắt bởi các lạch triều Hiện nay, các bãi bồi này đang được sử dụng nuôi trồng hải sản và rừng ngập mặn Đây chính là thế mạnh để thị xã Quảng Yên phát triển kinh tế cả

trong thời gian vừa qua, cũng như trong những năm tới

Đất đồi núi có 6100 ha, chiếm 15,3% diện tích Quảng Yên, phân bố ở khu vực phía Bắc thị xã, tập trung ở các phường Minh Thành, Đông Mai và một phần ở các phường Sông Khoai, Cộng Hoà, Tân An, Tiền An, Hoàng Tân Đất bao gồm chủ yếu là đất feralit vàng đỏ trên đá mắcma axit và đất feralit nâu vàng, xám vàng trên các đá trầm tích sa thạch, phiến thạch, đá vôi Đất có tầng dày trung bình từ 60-

Trang 11

80cm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ tới trung bình, độ PH từ 4 đến 4,5%, hiện chủ yếu là đất rừng, đất trồng cây ăn quả

Đất đồng bằng có gần 14.800ha, chiếm 44,6% diện tích đất đai; gồm chủ yếu

là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê, phân bố ở hầu hết các phường trong thị xã nhưng tập trung ở khu vực Hà Nam Đất có thành phần cơ giới trung bình đến nặng, độ PH dưới 4,5%, hàm lượng mùn trung bình Một số điểm nội đồng đất trũng bị ngập nước mùa mưa nên gley mạnh, đất chua hàm lượng mùn thấp Hiện đất được sử dụng chủ yếu để trồng cây lương thực thực phẩm, trồng lúa cho hai vụ

Thị xã Quảng Yên có bờ biển chạy dài hơn 30km với nhiều cửa sông, bãi triều, vịnh là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản cho giá trị kinh tế cao Ngư dân Quảng Yên có thể vươn ra các ngư trường lớn như Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Cát Bà Đất bãi bồi ở cửa sông, ven biển gồm các loại đất mặn và đất cát có gần 12.300ha, chiếm 37,1% diện tích, phân bố ở khu vực ven biển và cửa sông Phần lớn đất hiện được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, phần còn lại là đất rừng ngập mặn có sú vẹt và đất hoang hoá

Thị xã Quảng Yên có đặc trưng khí hậu của vùng ven biển miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm 23-340C, biên độ nhiệt theo mùa trung bình 6-70C, biên độ nhiệt ngày khá lớn, trung bình 9-110C Số giờ nắng dồi dào, trung bình 1700-1800 giờ/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 12, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 2 và tháng 3 Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500-1600mm, cao nhất có thể lên đến 2600mm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 88% tổng lượng mưa

cả năm, số ngày mưa trung bình hàng năm 160-170 ngày Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khá cao: 81%, cao nhất vào tháng 3 và tháng 4, lên tới 86%, xuống thấp nhất 70% vào tháng 10, tháng 11 Khí hậu ở Quảng Yên phân làm hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, trung bình là 28-290C, cao nhất có thể lên tới 380C, gió nam và đông nam thổi mạnh, tốc độ trung bình 2-4m/s, gây mưa nhiều, độ ẩm lớn Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió

Trang 12

mùa đông bắc thổi nhiều đợt và mạnh, mỗi đợt 4 đến 6 ngày, tốc độ gió lên tới cấp

5, cấp 6, ngoài khơi cấp 7, cấp 8 làm thời tiết lạnh, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, tháng 12 có thể xuống tới 30C Bão là một hiện tượng thời tiết đặc biệt trong vùng Bão thường bắt đầu xuất hiện vào tháng 6 (có khi vào tháng 5) và kết thúc vào tháng 10 (có khi tháng 11)

Sông ngòi ở Quảng Yên khá dày, hầu hết chảy theo hướng tây bắc – đông nam rồi đổ ra biển qua các cửa sông Lớn nhất là sông Bạch Đằng do sông Giá và sông Đá Bạc hợp thành, dòng chính dài khoảng 8km, đổ ra biển ở cửa Nam Triệu Sông Chanh là một chi lưu của sông Bạch Đằng, đổ ra biển ở cửa lạch thị xã Ngoài

ra còn một số sông nhỏ khác như: sông Khoai, sông Hốt, sông Bến Giang, sông Bình Hương và sông Yên Lập, các sông này đều ngắn, diện tích lưu vực nhỏ Chế

độ thủy văn của các sông này chịu tác động mạnh theo mùa và phụ thuộc rất nhiều vào chế độ thủy văn của hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình Hàng năm, hệ thống sông này mang ra vùng biển Hải Phòng - Quảng Yên khoảng 10-11 tỷ m3 nước và khoảng 4,0 triệu tấn phù sa Tuy nhiên, do nằm gần biển, nên nước sông hầu hết là mặn - lợ thuận lợi cho nuôi trồng hải sản và bất lợi cho sản xuất nông nghiệp Nguồn nước ngầm khá phong phú, mạch nước ngầm thường nằm ở độ sâu 5-6m, khu vực Hà Nam và ven biển nước bị ngấm mặn, ít sử dụng được, khu vực Hà Bắc nước ngọt đủ để khai thác và sử dụng cho sinh hoạt Hồ Yên Lập có dung tích thường xuyên 127,5 triệu m3 cung cấp nước qua 28,4km kênh chính dẫn nước tới hầu hết các phường trong thị xã, chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư

Tài nguyên khoáng sản ở Quảng Yên chỉ có một số mỏ nhỏ gồm: đá vôi phân

bố chủ yếu trên đảo phường Hoàng Tân, trữ lượng trên 1 triệu m3 Đất sét có ở phường Sông Khoai, Minh Thành, Đông Mai, Tiền An, Cộng Hoà, trữ lượng tổng cộng khoảng trên 1 triệu m3 Cát sỏi xây dựng phân bố chủ yếu rải rác ven sông trong thị xã, trữ lượng vài triệu m3 Than đá có một vỉa nhỏ nằm trong khu vực Đá Chồng phường Minh Thành, trữ lượng khoảng 20 - 30 vạn tấn

Tài nguyên rừng ở Quảng Yên chiếm diện tích không lớn, phân bố tập trung

ở khu vực đồi núi cao phía bắc giáp Hoành Bồ Diện tích rừng hiện có 6300ha,

Trang 13

chiếm 18,7% diện tích toàn thị xã, trong đó rừng tự nhiên có 2800ha phần lớn là rừng thứ sinh; rừng trồng có 3500ha, trong đó rừng sản xuất có 2700ha và rừng phòng hộ ven biển 800ha

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số của th ị xã Quảng Yên tính đến ngày 31/12/2010 là 139.596 người (dân số thường trú là 133.810 người) Mật độ dân số trung bình là 437 người/km2 và phân bố không đều Tại các phường như Quảng Yên, Cộng Hoà, Hiệp Hoà, Tiền An, Cẩm La, Phong Hải dân cư tập trung đông, với mật độ trên 700–1.000 người/km2 Ngược lại, ở các xã phường như Minh Thành, Đông Mai, Tân An, Hà An, Liên Hoà, Liên Vị mật độ dân số là 500 người/km2, đặc biệt như xã Hoàng Tân, Tiền Phong mật độ dân số đạt 100 người/km2 Cơ cấu dân số thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân

số nội thị, tỷ lệ dân số ngoại thị giảm Tỷ lệ tăng dân số năm 2010 là 0,93%

Toàn thị xã có trên 15.000ha đất nông nghiệp, bình quân 0,27ha/lao động nông nghiệp Hiện nay trên địa bàn đã hình thành nhiều khu vực trồng lúa có năng suất cao, vùng rau màu tập trung có giá trị lớn phục vụ cho chế biến và xuất khẩu Đây được coi là vùng nông nghiệp sinh thái đảm bảo môi trường Việc chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu dưới hình thức hộ gia đình, mô hình trang trại còn rất ít, do vậy năng suất chưa cao Song song với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi không được tập trung và xử l‎í đúng kĩ thuật

Với những ưu thế về biển, diện tích bãi triều rộng trên 12.000 ha, đang khai thác gần 8 nghìn ha nhưng chủ yếu ở dạng quảng canh nên tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản công nghiệp còn rất lớn Nuôi trồng và chế biến thuỷ sản có tiềm năng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, đặc biệt trong điều kiện tăng diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh nhằm nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích

Quảng Yên còn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp với vị trí thuận lợi gần các cảng biển quốc tế và liền

Trang 14

kề thành phố Hạ Long, nguồn nhân lực tương đối dồi dào và quỹ đất xây dựng còn lớn

Quảng Yên có các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú,

đa dạng, trong đó có những di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh có giá trị độc đáo, tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Quảng Yên có nhiều cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn như Thác Mơ, hồ Yên Lập, hai cây lim Giếng Rừng, rừng thông tưởng niệm Bác Hồ, đảo Hoàng Tân với núi đá vôi và một số hang động cổ, hàng trăm ha rừng thông nhựa trồng trên núi đất,

có bãi biển trải dài từ phía Đông sang phía Tây đảo Một số tài nguyên du lịch nhân văn có thể kể đến như bãi cọc Bạch Đằng, đình Phong Cốc, miếu Tiên Công, đình Trung Bản, đã được xếp hạng quốc gia Đô thị Quảng Yên có lịch sử hình thành

và phát triển lâu đời và nơi đây còn giữ lại những nét xưa của một đô thị cổ trung đại, hòa cùng với những nét kiến trúc hiện đại như các di tích thành cổ Quảng Yên, bến Ngự bên bờ sông Chanh, các công sở, dinh thự của người Pháp (dinh Tuần phủ,

Bố chánh, Án sát Quảng Yên, dinh Tỉnh trưởng, các nhà cổ…) Bên cạnh đó thị xã Quảng Yên còn có nhiều lễ hội truyền thống, phong tục tập quán trong lao động, sinh hoạt hội hè của dân cư vùng châu thổ Sông Hồng đi khai phá đất mới như lễ hội Bạch Đằng, lễ hội Tiên Công, lễ hội xuống đồng (lễ Hạ Điền) Đây là nguồn tài nguyên to lớn, không những có ý nghĩa du lịch mà còn có ý nghĩa giáo dục, quảng bá truyền thống văn hoá lịch sử của địa phương và dân tộc

Nhìn chung, các tài nguyên du lịch của huyện Yên Hưng phân bố ở các vị trí thuận lợi, dễ tiếp cận và khai thác cho phát triển du lịch Các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có số lượng lớn với mức độ tập trung cao Thị xã có điều kiện thuận lợi để tạo ra một số sản phẩm du lịch như tham quan nghỉ dưỡng biển, tham quan nghỉ dưỡng núi, vui chơi giải trí, pic nic cuối tuần và đặc biệt là du lịch văn hóa

Ngoài ra, do lợi thế về mặt vị trí tương quan với thành phố Hải Phòng và thành phố Hạ Long cũng như vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, các tài nguyên du lịch của Quảng Yên hoàn toàn có thể được khai thác như những điểm

Trang 15

dừng hấp dẫn trong các tour du lịch của cả tỉnh Quảng Ninh cũng như các tour liên tỉnh: Hải Phòng - Quảng Ninh

Quảng Yên có hệ thống giao thông đa dạng với các loại hình: đường bộ, đường sắt và đường thủy Trên địa bàn huyện có hai quốc lộ đi qua là Quốc lô ̣ 18A, Quốc lô ̣ 10; hệ thống giao thông đường bộ trong thị xã đang dần được nâng cấp, chỉnh trang ngày một thuận lợi Thị xã có một tuyến đường sắt Kép - Hạ Long đi qua địa bàn, liên thông với mạng lưới đường sắt quốc gia, chủ yếu là chở hàng nông sản phục vụ nhu cầu của nhân dân trong tỉnh Giao thông đường thủy của thị xã đặc biệt thuận lợi vì có 3 mă ̣t tiếp giáp với sông và biển : phía Đông giáp Vịnh Hạ Long

và Sông Bình Hương; phía Nam giáp sông Chanh, sông Cái Tráp và cửa Nam Triệu; phía Tây giáp sông Bạch Đằng, sông Uông Đây được coi là nguồn lực thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho toàn thị xã

1.2 Lịch sử hình thành đô thị Quảng Yên

1.2.1 Thời kì trước năm 1802

Tại di chỉ khảo cổ Hoàng Tân, nói rộng hơn là ở khu di chỉ Tràng Kênh - Hoàng Tân thuộc huyện Yên Hưng - Quảng Yên xưa, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều hiện vật chứng tỏ khu vực này là nơi chế tác và trao đổi công cụ lao động bằng đá, gốm, đồng của người nguyên thủy thời đại kim khí cách ngày nay 2.500 -

3500 năm

Các nhà khảo cổ còn tìm thấy ở khu vực Tràng Kênh - Hoàng Tân một số lượng lớn các hiện vật bằng đồng rất đặt trưng của văn hóa Đông Sơn vùng cửa biển thời đại các vua Hùng như thạp đồng, lưỡi cày đồng, kiếm đồng, dao đồng, lưỡi câu Chứng tỏ đây là nơi tụ cư đông đúc của cư dân Bộ Ninh Hải nước Văn Lang xưa kia

Các xã phường của Quảng Yên như Sông Khoai, Cộng Hòa, Uông Bí, Mạo Khê hiện còn hàng trăm ngôi mộ cổ thời Đông Hán trong lòng đất, nên đã có y‎ kiến cho rằng, có thể mảnh đất Quảng Yên từng là một trong những khu vực hành chính của Quận Giao Chỉ thời Đông Hán

Trang 16

Vùng đất Quảng Yên còn là nơi ghi dấu chiến thắng vĩ đại trong lịch sử, mở

ra một kỉ nguyên mới cho nền độc lập của nước nhà, đó là trận Bạch Đằng năm 938

- một trận đánh giữa quân dân Việt Nam do Ngô Quyền lãnh đạo với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Ngô Quyền đã huy động quân dân đẵn gỗ, đẽo cọc vát nhọn, bịt sắt cắm đầy sông Bạch Đằng ở những chỗ hiểm yếu gần cửa biển tạo thành một trận địa ngầm, hai bên bờ có quân mai phục Đó là một thế trận hết sức chủ động và lợi hại, thể hiện một quyết tâm đánh thắng quân giặc của chủ tướng Ngô Quyền và quân dân ta Trước chiến đấu dũng mãnh của quân dân Việt Nam, quá nửa quân Nam Hán bị chết đuối, hoàng tử Nam Hán là Hoằng Thao cũng bị Ngô Quyền giết chết Đây là một trận đánh quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu cho việc chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, nối lại quốc thống cho dân tộc Hai tiếng Bạch Đằng đã đi vào lịch sử Trong tâm thức nghìn nǎm của người Việt Nam, Bạch Đằng đã trở thành điểm hội tụ của sức sống dân tộc, đúng như lời ngợi

ca của Phạm Sư Mạnh:

Vũ trụ kỳ quan Dương Cốc nhật,

Giang san vương khí Bạch Đằng thâu

Tạm dịch:

(Kỳ quan của Vũ trụ là Mặt trời lên tại Dương Cốc,

Khí thiêng của núi sông tụ lại ở Bạch Đằng)

Theo Đại Việt sử kí toàn thư bản khắc năm Chính Hòa 18 (1697): đời Đinh,

Lê, Quảng Yên thuộc trấn Triều Dương; đời Lí‎ Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 14 (1023) đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An Vào thời vua Lý Anh Tông, sử chép, năm 1147 vua dựng hành dinh ở trại Yên Hưng để thực thi sứ mệnh thiêng liêng trấn giữ vùng cửa ngõ sông nước quan trọng nhất và mở rộng ra toàn bộ các vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt Hai năm sau, tháng 2 năm 1149 vua cho lập trang Vân Đồn để buôn bán, trao đổi hàng hóa với các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm

La [4,tr.336] Ở bến Giang, đượng Hạc Hoàng Tân cách Quảng Yên chừng 8 km về phía đông, các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều di tích của các bến hàng hoá quan trọng trong hệ thống thương cảng Vân Đồn vào các thời Trần - Lê

Trang 17

Thời Trần, Quảng Yên là ấp thang mộc của An Sinh Vương Trần Liễu [4, tr.14], là nơi đất hiểm nổi tiếng với chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng năm 1288, trên

4 vạn quân và 600 chiến thuyền của đế quốc Nguyên - Mông xâm lược đã bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ Chiến thắng vĩ đại này đã đánh dấu một mốc son quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đập tan tham vọng xâm lược Đại Việt của quân Nguyên Mông và góp phần chặn vó ngựa xâm lược của chúng trên thế giới

Sau đó, nơi đây đã được vua Trần đổi thành lộ An Bang Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đã từng ngự thăm và làm thơ về phủ trị An Bang

Nhà Lê, đầu đời Thuận Thiên (1428), Quảng Yên được gọi là Yên Bang (An Bang) thuộc Đông Đạo Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) không phải một, mà

nhiều lần qua lại trị sở An Bang và nhận thấy nơi đây “đất giầu, dân thịnh, chính là

nhờ uy đức của nhà vua” Năm 1466, ông đổi lộ An Bang làm thừa tuyên An Bang

Từ năm Gia Thái đời vua Lê Thế Tông (1573-1577) vì kiêng húy tên vua Lê Anh Tông nên mới đổi An Bang thành Yên Quảng Thị xã Quảng Yên ngày nay thuộc Yên Quảng, trấn Yên Quảng có một phủ (Hải Đông), sáu huyện (Chi Phong, Yên Hưng, Hoành Bồ, Thủy Đường, Kim Thành, An Dương) và ba châu (Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn) Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã ghi nhận vùng Yên Quảng “khách thương đến buôn bán, lớp này đến lớp khác”[21,tr.226]

Nhà Tây Sơn (1788-1802) đã đem phủ Kinh Môn trấn Hải Dương lệ vào Yên Quảng, dời trấn lỵ đến xã Vu Thanh, huyện Kim Thanh, phủ Kinh Môn

1.2.2 Thời kì nhà Nguyễn (1802-1883)

Năm 1802, đồng thời với sự ra đời của vương triều Nguyễn, vua Gia Long trả Kinh Môn lệ vào trấn cũ Hải Dương; vẫn lấy một phủ Hải Đông làm trấn Yên Quảng; dời trấn lỵ từ xã Vu Thanh, huyện Kim Thanh, phủ Kinh Môn đến gò Quỳnh Lâu, huyện Yên Hưng làm trấn lỵ Yên Quảng, mở ra một dấu mốc mới trong lịch sử hình thành đô thị Quảng Yên Ban đầu, đô thị Quảng Yên được hình thành trên phần đất hai xã Quỳnh Lâu và Yên Giang, dần dần mở rộng ra các khu vực lân cận Năm 1822 vua Minh Mệnh đổi tên trấn Yên Quảng thành trấn Quảng

Trang 18

Yên và vẫn giữ trấn lỵ Quảng Yên tại đây Như thế lịch sử đã từng chứng kiến quá trình thay đổi địa danh từ An Bang thành An Quảng, rồi Yên Quảng và Quảng Yên, nhưng trên thực tế ý nghĩa của địa danh và vị trí, chức năng của nó trải các vương triều Lý, Trần, Lê, Lê Trung hưng và Nguyễn hầu như vẫn không có sự thay đổi đáng kể [37,tr.52]

Để củng cố bộ máy cai trị, năm Minh Mạng thứ 7 (1826) nhà Nguyễn đã cho xây dựng tại trấn Quảng Yên một toà thành Thành được đắp trên một quả đồi thấp, ngay trung tâm trấn, ban đầu được xây bằng đất, đến năm Tự Đức thứ 19 (1866) thì

được xây kiên cố bằng gạch Theo sách Đại Nam nhất thống chí nhà Nguyễn (thế

kỷ 19) thì thành Quảng Yên có chu vi 696m, cao 2,8m, mở ba cửa là cửa tiền, cửa tả

và cửa hữu Hiện nay, thành Quảng Yên vẫn còn dấu vết là một số đoạn tường thành xây bằng gạch, đá trải qua thời gian đã bị rêu phong Đây là dấu vết thành cổ còn rõ nhất, trong số các di tích thành cổ đã được biết đến ở Quảng Ninh như thành Xích Thổ (Hoành Bồ), thành Ngọc Vừng (Vân Đồn)

Trong cuộc cải cách hành chính các tỉnh ở phía bắc, tháng 10 năm Tân Mão (1831), vua Minh Mệnh cho từ Quảng Trị trở ra chia hạt, đặt quan Trong đó, trấn Quảng Yên được đổi thành tỉnh Quảng Yên Tỉnh Quảng Yên thống trị 1 phủ là Hải Đông, 3 huyện là Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hưng; 3 châu là Vạn Ninh, Vân Đồn, Tiên Yên Đến tháng 8, năm Ất Mùi (1835), triều Nguyễn cho đặt lưu quan các châu, các huyện thuộc tỉnh Quảng Yên Ba huyện Yên Hưng, Hoa Phong, Hoành

Bồ và hai châu Tiên Yên và Vạn Ninh, nguyên trước đều đặt thổ tri huyện và thổ tri châu; châu Vân Đồn thì đặt thổ lại mục Đến tháng 12 năm Ất Mùi (1835), vua chuẩn cho bộ Lại định lại để thi hành: huyện lỵ Yên Hưng đặt ở xã Quỳnh Lâu; huyện lỵ Hoa Phong đặt ở xã Yên Khoái; huyện lỵ Hoành Bồ đặt ở xã Trí Xuyên; châu lỵ Tiên Yên đặt ở xã Hải Lãng; châu lỵ Vạn Ninh đặt ở xã Vạn Xuân Đến tháng 5, Bính Thân (1836), triều Nguyễn đặt thêm phủ Sơn Định thuộc Quảng Yên Rút huyện Hoành Bồ và châu Tiên Yên đặt làm phủ Sơn Định, kiêm lý Hoành Bồ, thống hạt Tiên Yên Còn 4 huyện, châu: Hoa Phong, Yên Hưng, Vạn Ninh, Vân

Trang 19

Đồn vẫn là phủ Hải Ninh, kiêm lý Hoa Phong và Vân Đồn, thống hạt Yên Hưng và Vạn Ninh

Đến tháng 3 năm Mậu Tuất (1838), nhà vua định các thủ phủ, thủ huyện ở các địa phương, những phủ huyện nào gắn liền với tỉnh thành thì gọi là thủ phủ, thủ huyện Ở tỉnh Quảng Yên có phủ Hải Ninh, huyện Yên Hưng là thủ phủ, thủ huyện

Như vậy, sau khi Gia Long sáng nghiệp triều Nguyễn, trong suốt thế kỷ 19,

từ trấn Yên Quảng, trấn Quảng Yên đến tỉnh Quảng Yên nói chung và huyện Yên Hưng nói riêng, bộ máy tổ chức hành chính của triều Nguyễn đã được thiết lập, chia định địa phận, đặt quan chia chức, tổ chức hoạt động về hành chính, kinh tế và cả duy trì việc giáo dục, văn hóa ở các phủ, huyện, tổng, xã Mặc dù đến cuối thế kỷ bị ách đô hộ của ngoại bang, nhưng cùng với các tỉnh trong cả nước bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Yên nói chung và huyện Yên Hưng nói riêng đã từng bước được hoàn thiện, nhất là sau cải cách hành chính của Minh Mệnh (1831), hoạt động đều đặn và đưa Quảng Yên và huyện Yên Hưng phát triển trong xu thế chung của đất nước thế kỷ 19.Như vậy, kể từ 1822 đến 1883, trước khi thực dân Pháp xâm lược, thị xã Quảng Yên được lựa chọn để đặt thủ phủ cho toàn bộ miền Yên Quảng rộng lớn Đồng nghĩa với việc xác lập trung tâm chính trị, những cơ sở văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục cũng được xây dựng đã nhanh chóng đưa Quảng Yên trở thành trung tâm của khu vực Đông Bắc rộng lớn

Trang 20

Từ tháng 3/1883, sau khi chiếm được thành tỉnh Quảng Yên, thực dân Pháp

đã cho xây dựng trại lính, đồn bốt, dinh tỉnh trưởng, sở mật thám, nhà tù, kho bạc, nhà đoan, chợ Rừng và các khu phố: phố Yên Hưng (phố Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, Hoàng Hoa Thám ngày nay), phố Tiền Môn (phố Ngô Quyền, Phạm Ngũ Lão ngày nay), phố Khê Chanh (phố Trần Khánh Dư ngày nay), quy mô vượt

ra ngoài thành tỉnh Quảng Yên, thành thị xã tỉnh lỵ Quảng Yên – nơi tập trung bộ máy cai trị cả vùng Đông – Bắc của thực dân Pháp Quảng Yên trở thành thị xã tỉnh

lỵ của tỉnh Quảng Yên

Ngày 20-7-1945, quân cách mạng ở chiến khu Đông Triều và huyện Yên Hưng đánh chiếm thị xã Quảng Yên, giải phóng hoàn toàn tỉnh lỵ Quảng Yên và huyện Yên Hưng Quảng Yên là tỉnh lỵ đầu tiên trong cả nước giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám Ngày 24-8-1945, chính quyền cách mạng được thành lập ở Quảng Yên, vẫn lấy thị xã Quảng Yên làm tỉnh lỵ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ và nhân dân Quảng Yên đã nhanh chóng bắt tay vào xây dựng quê hương, khôi phục và phát triển kinh tế Do Quảng Yên chiếm giữ vị trí quan trọng ở khu đông bắc, nằm gần hai trục đường bộ chính, án ngữ vùng cửa ngõ đường thủy từ vùng biển đông bắc vào trung tâm đất nước, nên khi Pháp quay trở lại miền Bắc đã ngay lập tức tiến quân lên đánh chiếm vùng đất này Ngày 28 tháng 2 năm 1947, thị xã Quảng Yên bị Pháp chiếm và ngay sau đó chúng đánh chiếm khu vực Hà Nam và toàn bộ Yên Hưng [1,tr.67]

Về cơ bản, 1945-1955 là thời gian kinh tế Quảng Yên trở thành một bộ phận của nền kinh tế vùng tạm chiếm của thực dân Pháp Quảng Yên là vùng huyết mạch

ở vùng Đông Bắc, Pháp đã biến khu vực này thành cửa ngõ của các hoạt động kinh

tế giữa Hòn Gai và Hải Phòng Các cửa biển Nam Triệu, Lạch Huyện trở nên nhộn nhịp bởi các đoàn tàu thuyền từ vùng Đông Bắc tiến xuống khu vực tạm chiếm của Pháp ở đồng bằng sông Hồng Con đường 18 qua Quảng Yên là con đường huyết mạch kinh tế nối Hòn Gai với Hà Nội Để mở rộng và phát triển hoạt động thương nghiệp, năm 1949, thực dân Pháp quyết định cho mở rộng thêm chợ Rừng Từ đó các hoạt động thương mại, dịch vụ trong khu vực có bước phát triển, nhưng về cơ

Trang 21

bản các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp của địa phương vẫn hoạt động trong khuôn khổ của nền kinh tế thuộc địa

Giai đoạn này, Quảng Yên là một phần của hệ thống kinh tế vùng tạm chiếm Các hoạt động kinh tế ở đây phát triển trong phạm vi chiếm đóng của Pháp và dưới nền chính trị xâm lược Mô hình hoạt động kinh tế được Pháp xây dựng như mô hình trước 1945 ở Việt Nam Tuy vậy, nhân dân Quảng Yên vẫn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, ra sức đấu tranh góp phần vào những chiến thắng của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử Do nằm trong khu vực tập kết của quân đội Pháp ở miền Bắc trước khi rút vào miền Nam, theo hiệp định Genevơ, phải đến ngày 25 tháng 5năm 1955, tên Pháp cuối cùng mới rút khỏi Quảng Yên

1.2.4 Thời kì từ 1955 đến 2011

Ngay sau khi Pháp rút khỏi Quảng Yên, tháng 2 năm 1955, khu Hồng Quảng bao gồm Quảng Yên và khu Hồng Gai được lập [2,tr.12] Quảng Yên vẫn tiếp tục giữ vai trò là thị xã trung tâm của tỉnh Quảng Yên trong khu Hồng Quảng thuộc hệ thống hành chính địa phương của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Quốc hội khoá II kỳ họp thứ VII ngày 30-10-1963 phê chuẩn việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh Tỉnh lỵ là thị xã Hòn Gai Ngày 2-7-1964, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 106 đổi thị xã Quảng Yên thành thị trấn Quảng Yên và sát nhập vào huyện Yên Hưng Thị trấn Quảng Yên trở thành huyện lỵ của huyện Yên Hưng từ đó đến nay

Yên Hưng là một trong 14 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh, là huyện ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh Huyện có 19 đơn vị hành chính trực thuộc (1 thị trấn và 18 xã); tổng diện tích tự nhiên 31.420,2ha Ngày 28-4-1997, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có Quyết định số 1041 về việc duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng và sử dụng đất đai Trung tâm thị trấn Quảng Yên huyện Yên Hưng giai đoạn 1955-2010 Quyết định ghi rõ: “Đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện Là trung tâm công nghiệp nhẹ, cơ sở dịch vụ thương

Trang 22

mại và là nơi có di tích lịch sử, danh thắng của cả vùng và cả nước Là cửa ngõ phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh, có vị trí quốc phòng quan trọng” Ngày 12/6/2006, Chính phủ có Nghị định số 58 điều chỉnh địa giới hành chính thị trấn Quảng Yên Phạm vi điều chỉnh đô thị Quảng Yên được mở rộng, đông – tây từ ngã ba chợ Rộc đến bến Rừng, bắc – nam từ trường quân chính đến sông Chanh, tổng diện tích tự nhiên 627,8ha, số dân 14.290 người

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh, huyện Yên Hưng đã phát huy thế mạnh của một đô thị mới, có bước phát triển nhanh trên tất cả các lĩnh vực Qua quá trình phấn đấu, thị trấn Quảng Yên (đô thị trung tâm của huyện Yên Hưng) đã được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại IV – đô thị hạt nhân của huyện Yên Hưng tại Quyết định số 108/QĐ-BXD ngày 25/01/2011

1.2.5 Thời kì hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với trình độ, năng lực của Đảng bộ và các cấp chính quyền huyện Yên Hưng, ngày 25/11/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP về việc thành lập thị xã Quảng Yên dựa trên cơ sở toàn huyện Yên Hưng Việc thành lập thị xã Quảng Yên phù hợp với chiến lược phát triển mạng lưới đô thị của cả nước trong giai đoạn hiện nay và định hướng chung Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; phù hợp điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quy hoạch phát triển hệ thống đô thị tỉnh Quảng Ninh

Thị xã Quảng Yên hiện nay có diện tích tự nhiên là 31.420,2 ha, dân số

139.596 nhân khẩu và có 19 đơn vị hành chính xã, phường Địa giới hành chính thị

xã: Phía Bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ; Phía Nam giáp huyện Cát Hải và cửa Nam Triệu, thành phố Hải Phòng; Phía Đông giáp thành phố Hạ

Long và Vịnh Hạ Long; Phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

Trang 23

Các tuyến địa giới hành chính vẫn giữ nguyên và tuân thủ theo bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính được lập theo Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)

Việc thành lập thị xã Quảng Ninh đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói chung và huyện Yên Hưng nói riêng; nhằm tạo ra cực tăng trưởng kinh tế cho khu vực phía Tây của tỉnh, giúp phát triển cân đối giữa các khu vực trong tỉnh, đẩy nhanh hơn tốc

độ đô thị hóa của tỉnh, tập trung phát triển công nghiệp, du lịch, y tế và đào tạo, góp phần đưa tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015; đồng thời, phát huy vị trí đầu mối giao thông quan trọng, xứng đáng tầm vóc một đô thị trung tâm miền Tây tỉnh Quảng Ninh và địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh của vùng Đông Bắc Tổ quốc

Có thể khẳng định rằng, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, Quảng Yên vẫn luôn giữ được vai trò quan trọng về kinh tế, vị thế trọng yếu về chính trị - xã hội không chỉ với tỉnh Quảng Yên, khu Hồng Quảng trước đây, tỉnh Quảng Ninh hiện nay mà còn có vai trò, vị trí quan trọng trong quá trình phát triển khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

1.3 Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đã khái quát được các đặc điểm về địa lí tự nhiên cũng như kinh tế xã hội, lịch sử hình thành và phát triển của thị xã Quảng Yên Trên

cơ sở nghiên cứu chương 1, chúng tôi đã rút ra được những kết luận sau đây:

1 Các điều kiện, nguồn lực về tự nhiên và kinh tế, xã hội thuận lợi đã và sẽ đem lại cho Quảng Yên một lợi thế phát triển mạnh mẽ trong tương lai Trước hết,

vị trí nằm trong tuyến hành lang kinh tế ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh đã tạo cho thị xã Quảng Yên những thuận lợi trong công việc khai thác thế mạnh, tiềm năng sẵn có Vị trí địa lí thuận lợi cũng góp phần mở ra cơ hội hợp tác liên kết không gian kinh tế và đô thị để cùng phát triển với thành phố Hạ Long và Hải Phòng; cơ hội phát triển các khu cụm công nghiệp, đô thị mới, du lịch và dịch vụ;

Trang 24

cơ hội phát triển cảng biển tạo đầu mối giao lưu và mở cửa cho dải hành lang ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Quảng Yên có

ba mặt giáp biển nên thuận lợi cho việc phát triển khu công nghiệp cảng biển, khu

du lịch và nuôi trồng thủy sản

Địa hình Quảng Yên tương đối đa dạng và phức tạp, nhiều sông rạch xen lẫn đồi núi, nhiều khu vực cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn sẽ tạo cho Quảng Yên có một hình thái đô thị phong phú với đặc trưng riêng Quảng Yên lại sở hữu tài nguyên du lịch phong phú với vốn văn hóa đặc sắc gồm hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng, phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề… sẽ là động lực to lớn để phát triển ngành du lịch trong tương lai không xa

Bên cạnh đó, chủ trương hội nhập và liên kết trong phát triển của tỉnh Quảng Ninh sẽ tạo điều kiện cho thị xã có điều kiện trong phát triển kinh tế đối ngoại đủ sức cạnh tranh, phát huy được tiềm năng trong phát triển du lịch và các dịch vụ cảng biển Thêm vào đó, sự hình thành một số hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long, hành lang kinh tế Móng Cái – Hạ Long – Hải Phòng sẽ tác động mạnh mẽ đến kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên Một số dự án đang triển khai trên địa bàn Quảng Yên như khu đô thị du lịch sinh thái văn hóa Hạ Long, khu công nghiệp tổng hợp, khu kinh tế cảng biển – thương mại du lịch, khu kho chứa xăng dầu sẽ tạo ra cục diện phát triển mới, đồng thời tạo cơ hội cho thị

xã phát triển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2 Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hóa, Quảng Yên cũng gặp một số khó khăn và thách thức Thứ nhất, địa hình thấp trũng và bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông lạch của Quảng Yên sẽ gây trở ngại cho xây dựng kết cấu hạ tầng Thứ hai, Quảng Yên thường xuyên phải chịu ảnh hưởng của bão lốc, nếu mưa bão lớn trùng với thời gian triều cường thì tình hình càng trở nên nguy hiểm, có thể gây úng ngập

và phá hủy hệ thống đê biển, các công trình thủy lợi, công trình dân dụng và các công trình khác Thứ ba, quy mô kinh tế thị xã còn nhỏ bé, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, hệ thống hạ tầng kĩ thuật còn thiếu thốn Thứ tư, trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc xây dựng các khu công nghiệp, khu

Trang 25

đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng… sẽ sử dụng đất nông nghiệp làm cho người dân mất đất dẫn đến thừa lao động, thiếu việc làm Việc chuyển đổi ngành nghề đào tạo nhân lực không kịp thời sẽ làm cho lực lượng lao động phi nông nghiệp thiếu về số lượng, yếu về chất lượng

3 Với vị trí là quan ải vùng đông bắc tổ quốc, Quảng Yên sớm được hình thành và phát triển trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Đô thị Quảng Yên vừa là quan ải che chắn, bảo vệ cho Kinh đô Thăng Long ở phía sau, vừa là nơi các vương triều đóng đô ở Thăng Long đặt làm cơ sở triển khai các chiến lược vươn

ra đại dương, trấn giữ các vùng biển đảo

Trong một thời gian rất dài, Quảng Yên luôn là trung tâm chính trị quân sự, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Bắc rộng lớn (từ Móng Cái tới Đông Triều, Thủy Nguyên) Tuy nhiên trong quá trình lịch sử, Quảng Yên cũng như không ít những

đô thị khác đã trải qua quá nhiều thăng, trầm, khi là trấn lỵ, tỉnh lỵ, là thị xã sầm uất, nhưng cũng có lúc bị lu mờ trong bối cảnh kinh tế - chính trị chung của tỉnh và vùng Nhưng đến nay, việc tái lập và nâng cấp thị xã Quảng Yên trên cơ sở huyện Yên Hưng đã đánh dấu một mốc son quan trọng, mở ra một trang mới cho lịch sử địa phương, nối tiếp truyền thống phát triển vẻ vang trong quá khứ Cũng từ đây, Quảng Yên sẽ có những bước phát triển mới xứng tầm với vị thế tương lai trong chiến lược phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của đất nước

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ QUẢNG YÊN 2.1 Xác định tiêu chí đánh giá đô thị

2.1.1 Đô thị

Mặc dù đô thị là một vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu nhưng hiện nay khái niệm đô thị vẫn chưa thật sự thống nhất Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm đô thị qua một số cách tiếp cận như sau:

- Theo sách “Quản lí đô thị” (Phạm Trọng Mạnh, 2005) , đô thị là những

điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4000 người (đối với miền núi là 2000 người) với tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% Đô thị bao gồm: thành phố, thị xã, thị trấn Trong đó có loại thành phố trực thuộc trung ương; thành phố thuộc tỉnh, thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị trấn thuộc huyện

- Theo sách “Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị” (Trường Đại học Kiến

trúc Hà Nội – NXB Xây dựng, 2009), đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh trong huyện Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ dưỡng… Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vị hành chính nội thị bao gồm quận và phường, còn các đơn

vị hành chính ngoại ô bao gồm huyện và xã

- Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh

Trang 27

tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn

Qua một số định nghĩa trên, có thể xác định một số nét chính về đô thị như sau:

- Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao và chủ yếu là lao động phi nông nghiệp

- Đô thị là các trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa… có vai trò

to lớn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ

Trang 28

c Thị xã phải là đô thị loại III hoặc loại IV;

d Thị trấn phải là đô thị loại IV hoặc loại V

Có nhiều quan điểm cho rằng đô thị hóa càng nhanh càng tốt, càng thúc đẩy được sự phát triển của xã hội Nhưng chúng ta đều biết rằng đô thị hóa là một tiến trình rất phức tạp, bao gồm những đổi thay cơ bản trong lực lượng sản xuất, trong

sự phân bố dân cư, dân số, trong kết cầu nghề nghiệp, trong lối sống, trong văn hóa

Về khía cạnh sinh thái nhân văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội đô thị Về khía cạnh văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị Về khía cạnh kinh tế thì

đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội có quan hệ biện chứng với nhau Phát triển kinh tế là điều kiện cần để đô thị hóa, trong đó phát triển công nghiệp được coi

là tiền đề của đô thị hóa Trong thời đại hiện nay, đô thị hóa có tác động mạnh mẽ

và trực tiếp đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Đô thị hóa làm tăng hiệu quả

sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đô thị và nền kinh tế quốc dân Quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản (đặc biệt là sự phát triển công nghiệp và dịch vụ) Cơ chế chính sách cho phát triển đô thị, năng lực quản lí đô thị là những yếu tố rất quan trọng

Trang 29

2.1.3 Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá đô thị Quảng Yên

Tất cả các đô thị cần được đánh giá bằng cách cho điểm và theo một thang điểm và cơ cấu thống nhất để có thể nhận định tổng quát và so sánh giữa các đô thị bằng mặt lượng Quan điểm của Chính phủ về đánh giá các yếu tố hình thành đô thị

đã được thể hiện trong Nghị định 72/2001/NĐ-CP về phân loại và phân cấp quản lí

đô thị và Thông tư số 02 hướng dẫn về phân loại đô thị và phân cấp đô thị Phần phụ lục của Thông tư số 02 đã đưa ra các bảng đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của đô thị theo khung điểm chi tiết cho từng loại đô thị

Tuy nhiên, mục đích của Thông tư 02 không phải là để đánh giá mức độ đô thị hóa nên hệ thống tiêu chí không đủ để đánh giá mức độ đô thị hóa đồng thời còn nhiều điểm chưa rõ và chưa hợp lí Thứ nhất là thang điểm chưa tính đến trình độ quản lí đô thị Thứ hai là quá nhấn mạnh đến yếu tố vị trí, phạm vi ảnh hưởng Thứ

ba là chưa chú trọng đến phát triển kinh tế Thứ tư là, khi đánh giá ta chưa biết đô thị là loại nào nhưng các chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng đã quy định tiêu chuẩn cho từng

đô thị

Thông tư 02 được xây dựng bởi tập thể các chuyên gia có nhiều am hiểu về

đô thị và đô thị hoá Kế thừa việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố đô thị để xác định tầm quan trọng của các tiêu chí khi đánh giá mức độ đô thị hoá là hoàn toàn có thể Tuy nhiên, mức độ đô thị hoá của một đô thị và loại đô thị là hai nội dung khác nhau nhưng có một phần đồng nhất nhau Vì vậy có thể có những đô thị cùng loại nhưng mức độ đô thị hoá khác nhau và ngược lại Thêm vào đó, áp dụng

hệ thống đánh giá của Thông tư 02 vào trường hợp thị xã Quảng Yên là không phù hợp Bởi lẽ, các đô thị được đánh giá ở đó theo tiêu chuẩn phân loại đô thị: đặc biệt,

I, II, III, IV, V Tuy nhiên, trường hợp thị xã Quảng Yên lại là đô thị mới được thành lập (từ tháng 11/2011) dựa trên cơ sở toàn bộ địa giới hành chính huyện Yên Hưng Trước đó, huyện Yên Hưng cơ bản là một vùng nông thôn, có đô thị hạt nhân

là thị trấn Quảng Yên - đô thị loại IV (ngày nay thị trấn Quảng Yên là một phường của thị xã Quảng Yên) Vì việc mở rộng địa giới như vậy nên áp dụng cách đánh giá theo tiêu chuẩn phân loại đô thị của Thông tư 02 sẽ không hợp lí

Trang 30

Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã áp dụng một hệ thống tiêu chí đánh giá khác Đó

là phương pháp đánh giá đa tiêu chí theo đề xuất trong luận án tiến sĩ của TS

Nguyễn Hữu Đoàn [16] Luận án “Vận dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí

đánh giá mức độ đô thị hoá nhằm góp phần xây dựng các quan điểm phát triển đô thị ở Việt Nam đến năm 2020, lấy Hà Nội làm ví dụ” của tiến sĩ Nguyễn Hữu Đoàn

được bảo vệ ngày 31/5/2009 tại Hội đồng chấm luận án nhà nước, họp tại trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, đã được Hội đồng đánh giá với kết quả xuất sắc Luận án đã xây dựng một hệ thống tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá mức độ đô thị hóa góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá hiện trạng và hoạch định chính sách đô thị hóa ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách liên quan đến quản lý đô thị trong cả nước nói chung và cho các thành phố Tiêu chuẩn đánh giá gồm 4 nhóm với 16 tiêu chí và 32 chỉ tiêu được xác định cụ thể như sau:

Nhóm 1: Mức độ phát triển kinh tế, xã hội với số điểm tối đa là 55 điểm

- Tiêu chí 1: Dân số đô thị; với số điểm tối đa là 15 điểm

Chỉ tiêu 1: Quy mô dân số (triệu người); với số điểm tối đa là 6 điểm

Trang 31

Chỉ tiêu 5: Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, tối đa 10 điểm

- Tiêu chí 3: Phát triển kinh tế đô thị, tối đa 15 điểm

Chỉ tiêu 7: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (của 5 năm gần nhất); tối đa 5 điểm

- Tiêu chí 4: Vị trí và phạm vi ảnh hưởng của đô thị; tối đa 10 điểm

Chỉ tiêu 10: Ảnh hưởng của đô thị đến sự phát triển của vùng và quốc gia; tối

Trang 32

Chỉ tiêu 11: Mở rộng quy mô hành chính/ nội thành (trong 5 năm), tối đa 2,5 điểm

Tỉ lệ % <6 6-7 7-8 8-9 9-10 > 10

Nhóm 2: Đánh giá mức độ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội; tối đa 15 điểm

-Tiêu chí 5: Nhà ở đô thị, tối đa 3,75 điểm

Chỉ tiêu 12: Diện tích nhà ở bình quân đầu người (m2/người); tối đa 2 điểm Diện tích <4 4-6 6-8 8-10 10-12 >12

Chỉ tiêu 13: Tỉ lệ nhà ở kiên cố trong tổng quỹ nhà (%); tối đa 1,75 điểm

Tỉ lệ <10 10-20 20-30 30-40 40-60 60 trở lên

- Tiêu chí 6: Y tế đô thị; tối đa 3,75 điểm

Chỉ tiêu 14: Số cơ sở y tế tính bình quân/10.000 dân

Số cơ sở <0,5 0,5-1 1-1,5 1,5-2 2-2,5 >2,5

- Tiêu chí 7: Giáo dục ở đô thị, tối đa 3,75 điểm

Chỉ tiêu 15: Số cơ sở giáo dục/100.000 dân

Số cơ sở <25 25-30 30-35 35-40 40-45 >45

- Tiêu chí 8: Dịch vụ văn hóa, giải trí dành cho cộng đồng, tối đa 3,75 điểm

Chỉ tiêu 16: Số điểm giải trí và dịch vụ dành cho cộng đồng/100.000 dân

Trang 33

Chỉ tiêu 17: Tỉ lệ đất giao thông đô thị; tối đa 1,25 điểm

- Tiêu chí 10: Cấp nước đô thị; tối đa 2,5 điểm

Chỉ tiêu 19: Tỉ lệ hộ dân được cấp nước sạch; tối đa 1,25 điểm

- Tiêu chí 11: Thoát nước đô thị; Tối đa 2,5 điểm

Chỉ tiêu 21: Mật độ đường ống thoát nước chính (km/km2); Tối đa 1,25 điểm Mật độ <3 3-3,5 3,5-4 4-4,5 4,5-5 >5

Chỉ tiêu 22: Tỉ lệ nước thải đã được thu gom xử lí

Tỉ lệ % <40 40-50 50-60 60-70 70-80 >80

- Tiêu chí 12: Cung cấp điện và chiếu sáng đô thị; Tối đa 2,5 điểm

Chỉ tiêu 23: Cấp điện sinh hoạt bình quân người/năm (Kw-h/người/năm); Tối

đa 1,25 điểm

Cấp điện <600 600-700 700-800 800-900 900-1000 >1000

Trang 34

Chỉ tiêu 24: Tỉ lệ đường phố chính thức được chiếu sáng; Tối đa 1,25 điểm

Tỉ lệ % <50 50-60 60-70 70-80 80-90 >90

- Tiêu chí 13: Bưu điện thông tin liên lạc; Tối đa 2,5 điểm

Chỉ tiêu 25: Số điện thoại cố định/100 dân; Tối đa 2,5 điểm

Tỉ lệ % <20 20-25 25-30 30-35 35-40 >40

- Tiêu chí 14: Vệ sinh môi trường đô thị; Tối đa 2,5 điểm

Chỉ tiêu 26: Tỉ lệ rác thải được thu gom và xử lí; Tối đa 1,25 điểm

Nhóm 4: Đánh giá trình độ quản lí đô thị; tối đa 15 điểm

Tiêu chí 15 Trình độ quy hoạch và quản lí quy hoạch

Chỉ tiêu 28: Quy hoạch đầy đủ và đồng bộ; Tối đa 1,25 điểm

Mức độ Chưa có quy hoạch Chưa đồng bộ Đầy đủ và đồng bộ

Trang 35

Chỉ tiêu 31: Tỉ lệ cán bộ quản lí đô thị có trình độ đại học trở lên

Về cơ sở dữ liệu để đánh giá thực trạng đô thị Quảng Yên, chúng tôi chủ yếu dựa vào nguồn niên giám thống kê huyện Yên Hưng qua các năm Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi gặp phải một số khó khăn, đó là đến thời điểm khảo sát hiện tại (tháng 1/2012), do những nguyên nhân khách quan và chủ quan của địa phương (do mới thành lập, thay đổi về cấp và địa giới hành chính, thay đổi nhân sự quản lí…) nên thị xã Quảng Yên chưa ban hành được quyển niên giám thống kê mới nhất (năm 2011) Do vậy, cơ sở dữ liệu mới nhất mà chúng tôi có hiện nay là

quyển Niên giám thống kê huyện Yên Hưng năm 2010 Điều này đã tạo nên không ít

khó khăn cho đề tài, bởi, muốn đánh giá thực trạng thị xã Quảng Yên thời điểm mới thành lập thì phải dựa trên các số liệu của thời điểm đó (cuối năm 2011) Nhưng sau khi nghiên cứu thực địa, chúng tôi đã nhận thấy: trong 1 năm qua, với tình hình thực

tế ở địa phương thì có những số liệu thay đổi không đáng kể, nhưng cũng có một số hạng mục đã có sự biến chuyển rõ rệt Để giải quyết được những khó khăn do việc thiếu hụt nguồn dữ liệu gây nên, chúng tôi đã lựa chọn phương án kết hợp cả hai nguồn tư liệu: chính thức và không chính thức Một là đối với những chỉ số mang tính ổn định ví dụ như giáo dục, y tế,… chúng tôi sẽ dựa vào Niên giám thống kê năm 2010 đã ban hành - tài liệu mang tính pháp lí cao đã được công nhận Hai là, đối với những chỉ số có nhiều biến chuyển (theo đánh giá của chúng tôi dựa trên kết quả điền dã như kinh tế, cơ sở hạ tầng, môi trường…) thì chúng tôi khai thác từ

Trang 36

nguồn các phòng, ban chức năng của Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên Các dữ liệu từ nguồn thứ hai này chưa được công bố chính thức, nhưng lại có độ tin cậy cao,

vì đây chính là những dữ liệu sẽ được Ủy ban thị xã tập hợp và công bố trong quyển niên giám 2011 sắp tới Sau khi kết hợp hai nguồn dữ liệu này, chúng tôi đã tiến

hành xử lí và dựa vào các kết quả đó để đánh giá được một cách tương đối chính

xác thực trạng của đô thị Quảng Yên – một thị xã đang ở mốc khởi đầu của quá

Cơ cấu dân số thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân số nội thị, tỷ lệ dân số ngoại thị giảm Nội thị gồm 11 phường: Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hoà, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hoà, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải Khu vực ngoại thị gồm các xã Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hoà, Hoàng Tân, Cẩm

La, Liên Hoà, Liên Vị, Tiền Phong Tuy nhiên, đến trước tháng 11/2011, trên địa bàn chỉ có thị trấn Quảng Yên (phường Quảng Yên ngày nay) là đô thị loại IV với dân số là 15.395 người, do vậy tỉ lệ dân số đô thị của thị xã Quảng Yên hiện nay không cao, chỉ đạt 11,02%

Số hộ nghèo năm 2010 thống kê được trên địa bàn là 1002 hộ, chiếm 2,7% tổng số hộ dân; trong đó tỉ lệ hộ nghèo cao nhất là ở xã Tiền Phong (9,3%) và thấp nhất là ở Phong Hải (1,3%)

Tỉ lệ thất nghiệp ở địa phương hầu như không đáng kể (chỉ khoảng 0,5%), do đời sống thị xã vốn trước đó đa phần là nông nghiệp, bên cạnh đó còn có nghề thủ

Trang 37

công truyền thống Dân số trong độ tuổi lao động, nếu không làm trong các cơ quan nhà nước thì hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phụ giúp gia đình, hoặc trong các khu công nghiệp tại địa phương, chỉ có một lượng rất nhỏ đang trong tình trạng chờ xin việc Tuy nhiên, trong thời gian tới, việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng đô thị và các khu công nghiệp sẽ có nguy cơ làm tăng tỉ lệ thất nghiệp ở địa phương

2.2.1.2 Lao động đô thị

Về cơ cấu lao động, hiện nay, tổng dân số trong độ tuổi lao động toàn thị xã

là 83.846 người, chiếm 59,2% dân số; lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân 79.653 người, trong đó lao động phi nông nghiệp 31.407 ngườ i (chiếm 39,4%)

Bảng 2.1 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế

2000 2005 2010 2011

Lao động trong độ tuổi (người) 70.522 75.100 77659 83.846 Lao động trong các ngành kinh tế 61.810 70.472 75307 79.653

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 53.512 54.200 54424 48.246

- Công nghiệp - TTCN và xây dựng 2.200 7.620 10253 16.258

- Dịch vụ và thương mại 6.098 8.652 10630 15.149

Cơ cấu lao động trong các ngành

100

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 86.6 76.9 72.2 60.6

- Công nghiệp - TTCN và xây dựng 3.6 10.8 13.6 20.4

ta có thể thấy: từ năm 2000 đến 2010, các chỉ số về số người trong tuổi lao động và

số lao động làm việc trong các ngành kinh tế có tăng và tăng đều qua các mốc năm

Trang 38

Tuy nhiên, từ 2010 đến 2011 có sự gia tăng đột biến Nguyên nhân có thể do có quy hoạch nâng cấp từ thị trấn lên thị xã của Quảng Yên, nhiều dự án được đầu tư vào Quảng Yên hơn, nên đã thu hút được một lượng lớn số người lao động từ nơi khác đến Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế có sự tăng giảm không đều của từng nhóm ngành qua các năm Lao động trong các ngành Nông – lâm – thủy sản giảm dần, và đặc biệt giảm mạnh vào giai đoạn 2010 đến 2011; tăng dần ở các nhóm ngành Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và Thương mại – dịch vụ, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm ngành Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng Có sự thay đổi này là do cơ cấu kinh tế của thị xã đang dần dần thay đổi theo

xu hướng giảm dần ở khu vực Nông – lâm – thủy sản và tăng dần ở hai khu vực kinh tế còn lại Điều này cũng phù hợp với xu thế phát triển của thị xã Quảng Yên nói riêng và mô hình đô thị nói chung trong quá trình đô thị hóa

Nông, lâm, ngư nt 529.421 546.835 560.000 Giá trị SX sản xuất

(giá chuyển đổi 1994)

(bình quân/người/năm)

Triệu đồng 11.7 13.7 15.6

2 Tăng trưởng GDP /năm % 16.8 14.1 14.6

Công nghiệp - xây dựng nt 34.0 23.1 22.4

Trang 39

Thương mại - dịch vụ nt 14.7 13.3 14.9

3 Tổng GDP (giá hiện hành) Triệu đồng 2.608.917 2.902.149 3.177.995

4 GDP /người (giá hiện hành) USD/ng/năm 1.129 1.184 1.254

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Hưng 2010; UBND thị xã Quảng Yên

Thời kỳ 2008 – 2011 nền kinh tế của Quảng Yên tăng trưởng kinh tế đạt mức tăng khá, năm sau tăng hơn năm trước Tình hình phát triển ở nhiều ngành kinh tế

có tiến bộ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỉ trọng các ngành phi nông nghiệp

Tình hình phát triển ở nhiều ngành kinh tế có tiến bộ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Cơ cấu kinh tế năm 2010 bao gồm:

+ Công nghiệp - Xây dựng: chiếm 48,7%

+ Thương mại - dịch vụ - du lịch: chiếm 24,2%

+ Nông lâm - Thủy sản : chiếm 27,1%

Như vậy, tỷ trọng các ngành dịch vụ còn thấp so với trung bình trung của cả nước, trong khi tỷ lệ nông nghiệp còn cao Bên cạnh đó tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng vượt cao hơn so với cả nước 3,7%

Về công nghiệp - xây dựng

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Quảng Yên có tốc độ phát triển tương đối đều Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu, sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động ổn định Nghề tiểu thủ công nghiệp như sản xuất cơ khí nhỏ, chế biến lâm sản, sửa chữa tàu gỗ, đồ mộc tiếp tục phát triển, tạo thêm việc làm

và thu nhập ổn định Tính đến cuối năm 2010 trên địa bàn có 1332 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; trong đó có 1 cơ sở của nước ngoài, 6 cơ sở của nhà nước đầu tư

Một số dự án công nghiệp có quy mô lớn đã được khởi công như Nhà máy sửa chữa tàu biển xã Tiền Phong, Cụm công nghiệp Đồng Bái, dự án nhà máy gạch

Trang 40

và bê tông thương phẩm Công ty cổ phần Xuân Lãm, dự án Nhà máy sản xuất gạch Công ty cổ phần Thạch Bàn Xanh ; đã triển khai thực hiện Quy hoạch cụm công nghiệp Hà An; đang tiến hành lập quy hoạch khu công nghiệp đa năng Đầm Nhà Mạc

Sản phẩm một số ngành chủ yếu thực hiê ̣n : sửa chữa, đóng mới tàu thuyền đạt 150 ngàn tấn trọng tải, thép các loại đạt 366 tấn, bia chai đạt 8 triệu lít, đá các loại đạt 58 ngàn m3, gạch nung đạt 98.5 triệu viên, sản lượng hải sản xuất khẩu đạt 3.812 tấn Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 22,4 %/năm Đến năm 2010, giá trị sản phẩm của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng đạt 1.020,5 tỷ đồng, chiếm 48,7 % cơ cấu kinh tế

Trong 570.400 triệu đồng đầu tư cho xây dựng cơ bản ở địa phương thì nguồn vốn đầu tư do trung ương quản lý chiếm 9,83%; địa phương chiếm 89,01%;

từ nước ngoài chiếm 1,15%

Nếu phân theo nguồn vốn, nguồn vốn từ nhà nước đạt 118.102 triệu đồng chiếm 20,7 %, vốn đầu tư của nhân dân: 28%, của các doanh nghiệp ngoài nhà nước: 46,03%, vốn đầu tư của xã, hợp tác xã là 4,05% Phân theo cấu thành nhận thấy đầu tư hạ tầng cho xây lắp chiếm 77,58%, thiết bị 20,3% và các xây dựng cơ bản khác 2,1% Nếu phân theo ngành kinh tế; tập trung vào các ngành: công nghiệp chế biến đạt 250.170 triệu đồng, chiếm 43,85%, xây dựng đạt 193.766 triệu đồng chiếm 33,97%, nông lâm nghiệp chiếm 10,37%, ngành giáo dục ban đầu vốn đâu tư xây dựng lớn, sau đó giảm dần vào các năm sau Vốn đầu tư vào nông nghiệp giảm mạnh so với các năm trước, chỉ đạt 400 triệu đồng (2007) trong khi năm 2004 đạt 12.785 triệu đồng; Vốn đầu tư cho vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc của năm 2007 cũng giảm so với 2004; Giáo dục đào tạo, văn hoá thể thao có vốn đầu tư tăng qua các năm Như vậy, vốn đầu tư tập trung vào các ngành công nghiệp hơn là các ngành nông nghiệp

Năm 2010, Quảng Yên có 115 công trình được ghi vốn đầu tư (Công trình

hoàn thành, Công trình chuyển tiếp và Công trình mới khởi công) với kinh phí là

Ngày đăng: 04/12/2020, 19:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w