Tùy theo từng lĩnh vực mà có các khái niệm khác nhau về "Đất đai” như sau: Đối với nhà địa lý nó là cảnh quan, một sản phẩm của quá trình địa chất địa mạo; Đối với nhà kinh tế nó là nguồ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI MẠNH CƯỜNG
TộI VI PHạM CáC QUY ĐịNH Về Sử DụNG ĐấT ĐAI
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI MẠNH CƯỜNG
TộI VI PHạM CáC QUY ĐịNH Về Sử DụNG ĐấT ĐAI
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Mạnh Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Một số khái niệm có liên quan 7
1.1.1 Khái niệm đất đai và sử dụng đất đai 7
1.1.2 Khái niệm Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai 11
1.2 Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về sử dụng đất đai 16
1.2.1 Nội dung các văn bản luật quy định về sử dụng đất đai 16
1.2.2 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định về sử dụng đất đai 18
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai 20
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985 20
1.3.2 Giai đoạn từ 1985 đến 2015 23
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2017 29
2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai 29
2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai 30
Trang 52.1.2 Hình phạt đối với tội phạm 43
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ 2013 đến 2017 44
2.2.1 Đặc điểm tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44
2.2.2 Kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế xử lý đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng 51
2.2.3 Những tồn tại, hạn chế xử lý đối với Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng 61
2.2.4 Những nguyên của các hạn chế, tồn tại 64
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 67
3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật 67
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự 67
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật đất đai 73
3.2 Các giải pháp khác về tổ chức và thực hiện 75
3.2.1 Nâng cao năng lực trình độ của những người có thẩm quyền tố tụng trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử 75
3.2.2 Tăng cường phổ biến và tuyên truyền pháp luật về đất đai 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự HĐND: Hội đồng nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số vụ án và số bị can/bị cáo bị xử lý về tội vi
phạm các quy định về sử dụng đất đai 52
Bảng 2.2 Kết quả xử phạt đối với bị cáo trong xét xử tội vi phạm
các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đặt ra những yêu cầu
to lớn đối với công tác quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó, quản lý về đất đai là một nội dung quan trọng liên quan tới các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đất đai; ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến đất đai cho phù hợp với tình hình đổi mới của đất nước Sự ra đời của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản có liên quan góp phần không nhỏ trong việc quản lý "lĩnh vực nóng" và được coi là nhạy cảm này Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế nhất định trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, như: công tác quản lý đất đai ở nhiều địa phương còn bị buông lỏng; ý thức và hiểu biết pháp luật đất đai của nhiều tổ chức, cá nhân còn hạn chế; tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước vì động cơ tư lợi cá nhân đã có hành vi làm trái, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn… dẫn đến gây ra nhiều hậu quả xấu
về kinh tế - xã hội Khi "tấc đất" ngày càng khẳng định giá trị là "tấc vàng", những sai phạm về đất đai cũng ngày càng nhiều hơn Liên tục xảy ra những
vụ án liên quan đến sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai thời gian qua, cho thấy loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng và phức tạp Sự phức tạp không chỉ thể hiện ở số người vi phạm, mức độ thiệt hại mà còn là
sự cấu kết của một số cán bộ có chức, có quyền, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt Nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận cả nước, đủ yếu
tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đòi hỏi cần có sự vào
Trang 9cuộc sát sao, mạnh mẽ của các cấp, các ngành, trong đó, không thể không kể đến vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải nghiêm khắc xử lý
Bộ luật hình sự năm 2015, tiếp nối những thành tựu lập pháp của Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất tại Điều 296 Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự cho thấy trong phạm vi cả nước số vụ
án được xét xử đối với các tội danh này rất ít, có nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình xét xử đối với loại tội này Việc áp dụng pháp luật về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai còn nhiều hạn chế, tồn tại do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Do đó, đề hoàn thiện chính sách hình sự đối với các tội phạm về đất đai, nhằm cụ thể đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đất đai thì cần thiết phải nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, đặc biệt là cần có những kiến nghị, đề xuất cụ thể để hoàn thiện
pháp luật về tội danh này Vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: Tội vi
phạm các quy định về sử dụng đất đai theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ
sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng) làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội phạm xâm phạm trật tự nói chung, tội phạm vi phạm các quy định
về sử dụng đất đai nói riêng luôn mang tính thời sự, cấp thiết xuất phát từ hoạt động quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước Vì vậy, những công trình nghiên cứu về chính sách hình sự, về tội phạm xâm phạm trật tự nhiều,
có thể ở góc độ luật hình sự hoặc góc độ tội phạm học Cụ thể, các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp
Trang 10những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu
Có thể kể đến: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của TSKH.PGS Lê Văn Cảm chủ biên (2007); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2000); Tìm hiểu Luật hình sự Việt Nam của PGS.TS Kiều Đình Thụ (1998); Bình luận Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 của Nguyễn Ngọc Anh, Đỗ Khắc Hưởng (2010); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm) của ThS Đinh Văn Quế (2006); Pháp luật hình
sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nguyễn Mai Bộ (2004) và nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, nhất là khi thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, vấn đề nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực cần được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai nói riêng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật
Nhìn chung, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đều dựa trên các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể để đưa ra những thiết chế pháp luật riêng cho mình nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai Chọn đề tài này tác giả mong muốn góp tiếng nói nhất định trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này nói riêng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai, nêu được thực trạng tình hình vi phạm cũng như công tác đấu tranh xử lý tội phạm này Qua đó, chỉ ra được những vấn đề đang tồn tại, bất cập trong xử lý tội phạm; đề xuất những giải pháp mang tính đồng bộ, có hệ thống về công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng cho phù hợp với sự phát triển của thành phố trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao tính khả thi trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo luật hình sự Việt Nam như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, hình phạt đối với tội danh này…
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng tội danh này trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong những năm vừa qua để qua đó đánh giá được những ưu điểm và hạn chế, tồn tại trong quá trình giải quyết vấn đề này
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội vi phạm
Trang 125.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai; các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của các cơ quan có liên quan đến Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp luận biện chứng lịch
sử, kết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu và xử lý thông tin, phương pháp thống kê, phương pháp logic, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp phân tích - dẫn giải các quy định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong sử dụng đất đai
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp
độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thực trạng đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm quy định về sử dụng đất
Trang 13đai (trên cơ sở nghiên cứu thực trạng đấu tranh xử lý trên địa bàn thành phố Hải Phòng) Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về Tội vi phạm các quy định
về sử dụng đất đai;
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai cả nước nói chung, trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng Phân tích, làm rõ những tồn tại và hạn chế trong xét xử Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng và những nguyên nhân của nó;
- Xác định sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực sử dụng đất đai và nâng cao hiệu quả áp dụng Đồng thời đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự cũng như nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống, phòng ngừa Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai nói chung, trên địa bàn Hải Phòng nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Một số vấn đề chung về Tội vi phạm các quy định về sử
dụng đất đai theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Quy định về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo
Bộ luật hình sự 2015 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH
VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm đất đai và sử dụng đất đai
Đất đai là một trong những bộ phận cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia Nói đến chủ quyền quốc gia, không thể không nhắc đến lãnh thổ, mà nền tảng pháp lý của nó chính là đất đai
Ở nước ta, việc quản lý đất đai đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm ngay từ những ngày đầu giành độc lập, thống nhất đất nước Tại phần mở đầu của Luật Đất đai năm 1993 đã ghi: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta
đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay [39]
Trong đời sống xã hội, đất đai được nghiên cứu dưới nhiều góc độ Tùy theo từng lĩnh vực mà có các khái niệm khác nhau về "Đất đai” như sau: Đối với nhà địa lý nó là cảnh quan, một sản phẩm của quá trình địa chất địa mạo; Đối với nhà kinh tế nó là nguồn tài nguyên cần được khai thác hoặc cần được bảo vệ để đạt được những phát triển kinh tế tối ưu; Đối với những luật gia đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất; Đối với hầu hết mọi người hiểu theo một cách đơn giản nó là khoảng không gian cho các hoạt động con người được thể hiện ở nhiều dạng sử dụng đất khác nhau
Trang 15Ngày nay đất đai bao gồm các vật thể được gắn liền trực tiếp với bề mặt đất, kể cả những vùng bị nước bao phủ Nó bao gồm vô số các tính chất
tự nhiên trừu tượng, từ các quyền lợi đối với sự phát triển hay xây dựng trên đất, đối với nước ngầm và khoáng sản và các quyền lợi liên quan đến việc sử dụng và khai thác chúng
Ngoài ra ta có thể hiểu khái niệm đất đai theo các nghĩa: đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá và có rất nhiều khái niệm về đất: là tư liệu sản xuất chính không thể thay thế được của một số ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, là một bộ phận khổng thể tách rời lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia, là nơi trên đó con người xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc, là nơi diễn ra các hoạt động văn hoá, là nơi phân bổ các vùng kinh tế, các khu dân cư, là thành quả cách mạng của cả dân tộc, là
cơ sở để phát triển hệ sinh thái, tạo nên môi trường duy trì sự sống của con người và sinh vật
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong các lĩnh vực sử dụng đất đai Nó giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nó gắn chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế
xã hội Đất đai là địa điểm, là nền tảng, là cơ sở cho mọi hoạt động phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai sẽ là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ở tính chất: kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất), kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dụng bản đồ, khoan định, sử liệu số liệu ) và pháp chế (xác nhận tính
Trang 16pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo pháp luật) Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình khác Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi, măng, gốm sứ Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư
cố định, là thước đo sự giàu có của một quốc gia Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng
Theo luật Đất đai 2013 của Việt Nam quy định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội an ninh và quốc gia” [48] Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCH thì nhu cầu sử dụng đất (nhất là đất đô thị) của người dân, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội nhằm phục vụ cho việc phát triển đất nước là rất lớn Cho nên, có nhiều vấn đề đã nảy sinh trong quá trình
sử dụng đất đai, như việc sử dụng đất không theo quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; sử dụng lãng phí, sử dụng không đúng mục đích hoặc vi phạm các quy định về giao đất, thu hồi, cho thuê, chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng, lấn chiếm đất… đang diễn ra hết sức phức tạp Có nơi, có lúc còn để xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến hàng loạt các vi phạm nghiêm trọng trong việc sử dụng đất Thực trạng này đặt
ra cho Nhà nước phải quan tâm hơn trong công tác quản lý việc sử dụng đất đai, tăng cường việc phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cố tình
vi phạm và lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm
Trang 17Theo Luật đất đai 2013 định nghĩa thì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân và do Nhà nước làm chủ sở hữu Nhà nước theo đó trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất Luật cũng công nhận quyền sử dụng đất đối với những người sử dụng đất ổn định và quy định về quyền cũng như nghĩa vụ chung của người sử dụng đất
Song song đó, luật cũng đưa ra khái niệm về giá quyền sử dụng đất là
số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Còn giá trị quyền sử dụng đất là giá trị tính bằng tiền của quyền sử dụng đất trên một đơn vị diện tích xác định trong một thời gian sử dụng nhất định
Người sử dụng đất được sở hữu phần giá trị quyền sử dụng đất, được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các phần diện tích được giao tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước
Quyền sử dụng đất căn cứ theo chủ thể (là tổ chức, hộ gia đình hay
cá nhân): Quyền sử dụng đất lúc này được căn cứ theo ý muốn chủ quan của chủ thể và việc sử dụng đất vào mục đích nào là tùy theo chủ thể quyết định Những quyết định này cần phải nằm trong giới hạn được cấp có thẩm quyền cho phép
Quyền sử dụng đất căn cứ vào khách thể (là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp hay chưa sử dụng): Nghĩa là loại đất này được quy định sử dụng vào mục đích nào thì người sử dụng đất phải làm đúng theo mục đích đó Nếu
có sự thay đổi về mục đích sử dụng thì phải báo cho cơ quan có thẩm quyền
và phải được cho phép thì mới thực hiện
Quyền sử dụng đất căn cứ vào thời gian:Thời gian sử dụng đất có thể là tạm thời hoặc lâu dài, tùy theo quyết định của cấp có thẩm quyền Từ đó quyền sử dụng đất của chủ thể cũng được quyết định là tạm thời hay lâu dài
Quyền sử dụng đất căn cứ theo pháp lý: Có nghĩa là cần căn cứ theo
Trang 18quyết định của cấp có thẩm quyền khi giao đất, cho thuê mà xác định mục đích sử dụng và để biết là quyền sử dụng ban đầu của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trực tiếp trong quyết định hay quyền sử dụng đất thứ hai của người được cho thuê lại, thừa kế
1.1.2 Khái niệm Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Tội phạm là hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, hiện tượng này mang thuộc tính xã hội - pháp lý, tính lịch sử - xã hội Tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền và các lợi ích hợp pháp khác của con người Khái niệm tội phạm được định nghĩa rất rõ ràng tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [50]
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, cho rằng: "Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là việc người có hành vi lấn chiếm hoặc chuyển quyền sử dụng đất trái với quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng" [8, tr.379] Định nghĩa này có ưu điểm là đã chỉ rõ được khách thể trực tiếp mà tội phạm xâm phạm đến, nhưng điểm hạn chế là mới chỉ mô tả được một số hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm và chưa nêu được các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm này Vì vậy, theo chúng tôi, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội phạm này
Trang 19cần hiểu là hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS cố ý thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Trong việc nghiên cứu khái niệm về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo luật hình sự, trước hết chúng ta cần phải nghiên cứu về khái niệm chung các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Bởi lẽ, tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được cơ cấu trong Chương Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Trật tự quản lý kinh tế là các quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân, nói cách khác, là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính trên tất cả các lĩnh vực bao gồm tất cả các thành phần kinh tế Nền kinh tế đó phải là "nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" được Nhà nước thực hiện bằng "chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"
Việc xác định một cách đầy đủ và chính xác nội hàm khái niệm "trật tự quản lý kinh tế" có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định giới hạn các hành
vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ trật tự quản lý kinh tế và đấu tranh phòng, chống các tội phạm trong lĩnh vực đó
Trên cơ sở khái niệm "trật tự quản lý kinh tế", chúng ta có thể đưa ra cách hiểu về "trật tự quản lý đất đai", đó là sự quản lý của Nhà nước về mọi mặt đối với đất đai bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính, nhằm xác lập một trật tự
Trang 20kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, bền vững, có tổ chức, đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác các lợi ích từ đất, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, hướng tới bảo vệ chế độ "đất đai… thuộc sở hữu toàn dân", do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu và “thống nhất quản lý"
Là quan hệ xã hội cụ thể nằm trong nhóm quan hệ về "trật tự quản lý kinh tế" được điều chỉnh và bảo vệ bởi những quy phạm pháp luật nhất định của Nhà nước, "trật tự quản lý đất đai" được coi là điều kiện, cơ sở để Nhà nước quản lý vững chắc, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Đây là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia, bởi nó đóng vai trò làm tiền đề để hình thành một nền kinh tế quan trọng - nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm, tạo môi trường sống cho dân cư, đồng thời còn đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đô thị và nông thôn theo đúng quy hoạch và pháp luật Cho nên, bằng cách này hay cách khác, dưới bất kỳ hình thức nào, việc đảm bảo sự ổn định, kỷ cương, tăng cường pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai không những là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đến lượt mình, Nhà nước đòi hỏi tất cả các cơ quan, tổ chức, công dân phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật và các quy tắc XHCN Cho nên, dưới góc độ pháp luật, tất cả các hành vi xâm phạm "trật tự quản lý đất đai" đều gây nên những thiệt hại nhất định cho Nhà nước, tổ chức, công dân và gây mất ổn định trật tự
xã hội, do đó cần thiết phải bị xử lý Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau, từ kỷ luật, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự
Có thể nói, ngay từ khi giành được chính quyền, bên cạnh việc bảo vệ
Trang 21thành quả cách mạng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng
và bảo vệ nền kinh tế của đất nước nói chung, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng không chỉ trên phương diện ban hành hàng loạt các văn bản có liên quan, mà còn có những biện pháp thiết thực để
cụ thể hóa và đưa các văn bản đó vào thực tiễn cuộc sống Từ Hiến pháp năm
1959 quy định: "đất hoang… là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu của toàn dân", Hiến pháp 1980: "Đất đai… là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân" và "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm"; đến Hiến pháp 2013 thì Nhà nước ta khẳng định nhất quán quan điểm: "đất đai… là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân", "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả… Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”
Để bảo vệ "trật tự quản lý đất đai" với tư cách là khách thể quan trọng của Luật hình sự, ngay từ lần pháp điển hóa BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985, đã được quy định tại Điều 180 (thuộc Chương XIII- Các tội phạm về kinh tế) Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật và nhận thức dưới góc độ khoa học pháp lý cho thấy: việc xây dựng tên gọi của điều luật (Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai) và
mô tả các khách thể được ghi trong điều luật còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn đến việc áp dụng pháp luật gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, chính sách hình sự và đường lối xử lý đối với người phạm tội tương đối nhẹ, không có sự phân biệt tội phạm và hậu quả pháp lý giữa chủ thể đặc biệt (người có chức
vụ, quyền hạn) với chủ thể thường, do đó không đủ sức răn đe, phòng ngừa chung, thậm chí còn tạo kẽ hở cho một số cán bộ tha hóa, biến chất về đạo
Trang 22đức nghề nghiệp trong các cơ quan tố tụng hình sự lợi dụng để bao che, làm trái Nhằm khắc phục những bất cập đó, trong lần pháp điển hóa BLHS năm
1999 và năm 2015, nhà làm luật đã sửa lại tên, tách phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội tại Điều 180 BLHS 1985 thành hai nhóm được quy định tại hai điều luật riêng biệt với tên gọi khác nhau: tội Vi phạm các quy định về quản
lý đất đai (Điều 174 của BLHS năm 1999 và nay là Điều 228 BLHS năm 2015) và tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 173 BLHS năm
1999 và nay là Điều 228 BLHS năm 2015)
Từ các khái niệm nêu trên, có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của tội phạm vi phạm các quy định về quản lý đất đai và tội phạm vi phạm các quy định về sử dụng đất đai như sau:
Một là, cả hai tội cùng nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế được quy định tại Chương XVIII - BLHS, do đó đều xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, quản lý về đất đai nói riêng
Hai là, Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là hành vi lấn
chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, "gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm"
Ba là, Tội phạm vi phạm các quy định về sử dụng đất đai thì được
thực hiện bởi chủ thể thường Song, có một điểm chung ở cả hai tội này là đều được thực hiện với hình thức lỗi cố ý; người phạm tội biết được hành vi
vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý đất đai là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả có thể xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra nhưng vẫn thực hiện
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai quy định tại Điều 228 Bộ luật hình sự 2015 được xây dựng và kế thừa trên cơ sở Điều 172 của Bộ luật
Trang 23hình sự 1999 Từ khái niệm tội phạm nói chung được quy định tại Điều 8 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì khái niệm "Tội vi phạm
các quy định về sử dụng đất đai" có thể được hiểu là: hành vi nguy hiểm cho
xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện việc lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất,
sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
1.2 Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về sử dụng đất đai
1.2.1 Nội dung các văn bản luật quy định về sử dụng đất đai
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống, xã hội Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề đất đai, tăng cường quản
lý nhà nước về đất đai Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930 đã chỉ rõ: “ Thâu tóm hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm công chia cho dân cày” Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã ban hành nhiều sắc lệnh, đạo luật để quản lý đất đai Khi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp chưa hoàn thành, ngày 4/12/1953 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành luật cải cách ruộng đất nhằm xoá bỏ sự bóc lột của đế quốc phong kiến do chiếm hữu đất đai mang lại Cũng từ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định, các chủ trương, đường lối, chính sách trong quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Một trong các biện pháp hữu hiện được Nhà nước chú trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai đó là hệ thống pháp luật quy định về sử dụng đất đai đó là:
Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai (Có hiệu lực từ 01/07/2014)
Trang 24Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất (Có hiệu lực từ 01/07/2014) Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất (Có hiệu lực từ 01/07/2014)
Nghị định 46/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Có hiệu lực từ 01/07/2014)
Sau đó, các cơ quan cấp bộ có liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài Chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình ban hành các văn bản cụ thể hoá các quy định trong Luật Đất đai 2013, trong các Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai 2013 để hướng dẫn các địa phương, các ngành khác thực hiện bằng các thông tư, thông tư liên tịch, bao gồm:
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về GCNQSDĐ, QSHNƠ, và tài sản khác gắn liền với đất
- Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Hồ sơ địa chính
- Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Bản đồ địa chính
- Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 Quy định về Thống
kê, kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Như vậy, theo tinh thần của Luật Đất đai 2013, nội dung "Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó" đã được xác định là cơ sở để thực hiện các nội dung khác và được xếp lên vị trí thứ nhất trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai Hơn bao giờ hết, người làm công tác quản lý nhà nước về đất đai phải ý thức
rõ được tầm quan trọng của nó Để làm tốt nội dung này đòi hỏi người cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài việc theo chức năng, thẩm quyền của mình ban hành các văn bản để cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện
Trang 25văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất của các cấp trên còn phải chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai đến người dân Chỉ khi nào người dân - người chủ sử dụng đất nắm chắc được pháp luật đất đai, tức là khi sử dụng đất họ biết được họ có những quyền gì và
họ phải thực hiện những nghĩa vụ gì? Theo quy định của pháp luật đất đai họ được làm gì và họ không được làm gì? Khi đó, mới có thể tránh được các vi phạm pháp luật về đất đai do người sử dụng đất không hiểu luật mắc phải
1.2.2 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định về sử dụng đất đai
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 29/11/2013 thay thế cho Luật Đất đai năm 2003 Luật Đất đai năm
2013 có những đổi mới căn bản so với Luật Đất đai năm 2003, với 9 nội dung đổi mới chủ yếu là: Quy định cụ thể hơn quyền, trách nhiệm của Nhà nước; quy định cụ thể hơn quyền của người sử dụng đất; hoàn thiện hơn chính sách đất đai với khu vực nông nghiệp; bảo vệ ruộng đất, đổi mới mạnh mẽ công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phát huy vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quan trọng để quản lý đất đai; Tăng cường vận hành các quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp trong quản lý, sử dụng đất đai; hoàn thiện cơ chế, phát huy nguồn lực đất đai thông qua việc chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất; Tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng đất đai thông qua việc xây dựng và vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai; thiết lập cơ chế bình đẳng trong tiếp cận đất đai, trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, nhất là sự bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài về quyền của người sử dụng đất; đảm bảo quyền của nhóm người “yếu thế” trong xã hội như phụ nữ, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 26Do đó, Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành quy định khác so với Luật Đất đai năm 2003 về vi phạm pháp luật đất đai và
xử lý các vi phạm pháp luật đất đai Luật Đất đai năm 2013 quy định về xử lý
vi phạm pháp luật đất đai như sau:
- Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 206): Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật;
Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người
bị thiệt hại
- Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai trong khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai (Điều 207): Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm sau đây:
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai;
Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất;
Vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai
Trang 27- Trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai (Điều 208):
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm
Cụ thể hóa quy định của Luật Đất đai năm 2013, ngày 15/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai Tại Chương 9 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai Ngày 10/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về Tội
vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985
Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai ở nước ta, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh, đạo luật để quản lý đất đai, hạn chế sự bóc lột của thực dân, đế quốc đối với nhân dân Để thực hiện tốt chính sách đất đai, bên cạnh chính sách khuyến khích lợi ích kinh tế và các biện pháp tuyên truyền giáo dục pháp luật, các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai cũng được Nhà nước sử dụng, góp phần làm cho mọi người nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của
Trang 28pháp luật, tiêu biểu là Sắc lệnh số 149SL ngày 12/4/1953 quy định đất đai và rừng núi hoang của tư nhân, đoàn thể, tôn giáo chưa khai khẩn, ruộng đất trồng trọt nếu bỏ hoang không có lý do chính đáng qua 2 năm sẽ sung vào quốc gia công thổ; Sắc lệnh số 97SL ngày 19/12/1953 quy định trưng thu ruộng đất không phải của địa chủ bỏ hoang bất kỳ lý do gì, trưng thu ruộng đất không phải của địa chủ mà bỏ hoang quá 2 năm không có lý do chính đáng Chỉ thị số 231TTg ngày 24/9/1974 quy định đối với ruộng đất đã giao cho đơn vị quản lý sử dụng còn bỏ hoang hóa phải có kế hoạch, biện pháp đưa hết vào sản xuất Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 28/01/1975 của Bộ Nông nghiệp và Bộ Xây dựng, thẩm quyền xử lý các vi phạm của các cơ quan, xí nghiệp, xã viên, cán bộ, tư nhân, nông trường, trạm trại sử dụng đất đai đã được hướng dẫn rất cụ thể
Đến ngày 01/7/1980, Quyết định số 201/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, tại mục VIII có quy định: Các tổ chức và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ đất, bồi bổ chất đất, mở rộng diện tích đất nông nghiệp (tăng vụ, khai hoang, phục hóa) hoặc sử dụng đất có hiệu quả cao thì được khen thưởng theo chế độ Nhà nước Người sử dụng ruộng đất vi phạm, tùy theo mức độ vi phạm, bị xử phạt như sau: Cảnh cáo hoặc phạt tiền
từ 10 đồng đến 200 đồng Ủy ban nhân dân huyện có quyền cảnh cáo và xử phạt từ 10 đồng đến 50 đồng, Ủy ban nhân dân tỉnh có quyền cảnh cáo và xử phạt từ 50 đồng đến 200 đồng; buộc phải sửa chữa những hậu quả và bồi thường những thiệt hại do việc vi phạm gây ra Cơ quan quyết định xử phạt có quyền quyết định việc này; bị thu hồi ruộng đất Thẩm quyền thu hồi ruộng đất thuộc các cơ quan có thẩm quyền nói tại điểm 3 phần V của Quyết định này Nếu người sử dụng đất là cơ quan, tổ chức, thì ngoài việc cơ quan, tổ chức bị xử phạt, người chịu trách nhiệm chủ yếu trước cơ quan, tổ chức về
Trang 29những vi phạm đó có thể bị thi hành kỷ luật về hành chính hoặc có thể phải chịu một phần số tiền mà cơ quan, tổ chức phải chịu phạt Thủ tướng và cán
bộ, nhân viên các cơ quan có trách nhiệm quản lý ruộng đất nếu vi phạm các nguyên tắc, chế độ đã quy định về việc giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất thì tùy theo mức độ vi phạm và tác hại gây ra có thể bị thi hành kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo đến hạ tầng công tác, cách chức hoặc buộc thôi việc Người nào lấn chiếm ruộng đất của người khác đã bị xử phạt hành chính mà
cố tình tái phạm hoặc người nào cố ý phá hoại các công trình bảo vệ, cải tạo đất, gây tổn hại nghiêm trọng đến đất đai, lợi dụng chức vụ để giao đất trái phép, nhằm mưu lợi ích riêng, cố ý ngăn cản việc thanh tra, điều tra để xử lý các vụ vi phạm hoặc cố ý bao che người vi phạm, thì bị truy tố trước Tòa án
và bị xử phạt theo luật hình sự hiện hành
Có thể nhận thấy rằng, tại quyết định này đã quy định các chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến đất đai như: phạt cảnh cáo, phạt tiền tùy mức độ vi phạm, đồng thời buộc phải sửa chữa những hậu quả
và bồi thường thiệt hại do vi phạm gây ra và có thể thu hồi ruộng đất Quyết định cũng phân định thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân các cấp Ngoài
ra, pháp luật còn quy định việc truy tố trước Tòa án nếu người nào lấn chiếm đất của người khác đã bị xử phạt hành chính mà cố tình tái phạm hoặc cố ý phá hoại các công trình bảo vệ, cải tạo đất gây tổn hại nghiêm trọng đến đất đai lợi dụng chức vụ để giao đất trái phép, nhằm mưu lợi ích riêng, cố ý ngăn cản việc thanh tra, điều tra để xử lý các vụ vi phạm
Như vậy, trong giai đoạn này, ở nước ta những quan hệ pháp luật hình
sự - hành chính còn chưa có nhiều sự tách biệt, các quy phạm pháp luật đất đai trong giai đoạn này chủ yếu nhằm đưa ra các chính sách để quản lý đất đai, khuyến khích sản xuất trong nhân dân Các quy phạm pháp luật về hình
sự để cụ thể hóa hành vi phạm tội nhằm định tội danh, xác định tên gọi của
Trang 30hành vi phạm tội liên quan đến đất đai nói chung và tội phạm liên quan đến sử dụng đất đai nói riêng vẫn chưa hình thành một cách cụ thể, rõ nét
1.3.2 Giai đoạn từ 1985 đến 2015
Trong giai đoạn này, dựa trên những cơ sở lý luận, thực tiễn nhất định, Nhà nước ta từ chỗ cho phép tồn tại ba hình thức sở hữu như tại Điều 11 Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp 1980, tại Điều 19 Nhà nước đã xác lập chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định lại quan điểm này của Hiến pháp 1980 Điều 1 Luật đất đai 1993 thể chế hóa các tư tưởng trên của Hiến pháp, đồng thời tổ chức thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai cho phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường Trong suốt quá trình thực hiện, Luật đất đai đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện mới, nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên vô giá này
Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật cũng đã được đặt ra tại Điều 85, Điều
86, Điều 87 Luật đất đai Để cụ thể hóa việc xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ ngày 10/01/1997 đã ban hành Nghị định số 04/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất Tiếp theo đó, ngày 07/3/1997 Tổng cục Địa chính ban hành Thông tư số 278 nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04/CP năm 1997
Cùng với sự thay đổi các quy định của Hiến pháp và pháp luật đất đai nói chung, quy định của Bộ luật hình sự đối với tội phạm liên quan đến đất đai nói chung và tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai nói cũng có những chuyển biến tích cực Tại Bộ luật hình sự 1985, chỉ có một điều luật (Điều 180) quy định về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai: Người nào mua bán, lấn chiếm đất hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã
bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến
Trang 31một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Trong quy định nói trên tại Bộ luật hình sự 1985, mới chỉ dừng lại ở việc cụ thể hóa hành vi phạm tội liên quan đến đất đai đối với hành vi mua bán, lấn chiếm đất hoặc có hành vi khác vi phạm các quy của Nhà nước về quản lý và bảo vệ đất đai, chưa cụ thể hóa hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, do vậy có thể nói rằng: trong Bộ luật hình sự 1985 chưa cụ thể hóa về định tội danh (gọi tên tội) và quyết định hình phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, mới chỉ dừng lại ở việc định tội danh
và quyết định hình phạt đối với các hành vi vi phạm các quy định về quản lý
và bảo vệ đất đai Chỉ có một hành vi cụ thể được nhắc đến với vai trò là hành
vi vi phạm quy định về sử dụng đất đai đó là hành vi lấn chiếm đất
Khắc phục những khiếm khuyết của Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình
sự năm 1999 có hai điều luật riêng (Điều 173, 174) quy định về tội phạm trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất Hai điều luật trên đã quy định cụ thể, tách biệt rõ ràng hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174) và hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 173) Với việc tách biệt hành vi phạm tội tại Điều 173, Bộ luật hình sự 1999 đã định tội danh cụ thể cho những hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, đồng thời đưa ra được hình phạt cụ thể đối với loại tội này Có thể nói rằng, Bộ luật hình sự 1999 chính là lần đầu tiên việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được đặt ra Ở trong điều luật này, nhà làm luật đã cụ thể hóa các hành vi vi phạm liên quan đến các quy định về sử dụng đất đai bao gồm các hành vi: "lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý
và sử dụng đất đai", đồng thời đưa ra khung hình phạt đối với loại tội này, từ
đó làm cơ sở cho việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi
Trang 32Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai trong Điều 173, Tội phạm này theo BLHS năm 1999 có cấu thành tội phạm như sau:
Thứ nhất, về khách thể của tội phạm
Xuất phát từ quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật hình sự năm
1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất Trong đó khách thể của tội phạm xác định theo quan hệ về đất đai được Hiến pháp quy định: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và các nhân sử dụng ổn định lâu dài Tổ chức và các nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
Như vậy khách thể của tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai bao gồm các quan hệ xã hội về trật tự quản lý nhà nước về đất đai, hay nói cách khác, đó là quyền quản lý thống nhất đất đai của Nhà nước Tội phạm xâm hại đến các quan hệ này thông qua việc vi phạm các quy định của Nhà nước về sử dụng đất đai, qua đó gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cũng như xâm hại chính sách quản lý đất đai của Nhà nước đã được Hiến định
Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999 được thể hiện thông qua 3 dạng hành vi sau:
- Hành vi lấn chiếm đất Hành vi lấn chiếm là hành vi của người sử
Trang 33dụng mọi thủ đoạn lấn chiếm đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước nhằm xác lập bất hợp pháp quyền sử dụng đất hoặc sử dụng trái phép đất đai như:
tự ý chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thứ đất để mở rộng diện tích đất;
sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc chủ sử dụng đất cho phép sử dụng hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn tạm giao, mượn đất mà không trả lại đất…
- Hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái với các quy định của nhà nước
về quản lý và sử dụng đất đai Hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai bao gồm các hành vi: Chuyền đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện, với các thủ đoạn như: chuyển quyền sử dụng đất cho người khác khi mình không có quyền đó, chuyển quyền sử dụng đất nằm trong quy hoạch hoặc đã có sự đền bù của Nhà nước…
- Hành vi sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và
sử dụng đất đai Hành vi sử dụng đất trái với quy định của Nhà nước về quản
lý và sử dụng đất đai là các hành vi như: sử dụng đất không đúng mục đích, hủy hoại đất, không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, không trả lại đất đúng thời hạn theo quy định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai… biểu hiện dưới các dạng hành vi cụ thể như: xây dựng nhà, công trình trên đất canh tác hoặc đất chuyên dùng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; đưa các chất độc hại vào đất
Trang 34làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định…
Nếu người nào thực hiện một trong những hành vi: lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự Về mặt khách quan, không phải một người cứ có một trong những hành vi nêu trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà bên cạnh việc thực hiện hành vi phải kèm theo điều kiện cần và đủ mới có thể bị coi là người phạm tội Dấu hiệu "gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm chính là dấu hiệu đặc trưng và bắt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản của tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là loại tội phạm vừa có thể được thực hiện bằng hành động, vừa có thể được thực hiện bằng không hành động, nhưng hành động là chủ yếu
Thứ ba, về chủ thể tội phạm
Chủ thể của tội phạm vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là chủ thể thường, tức là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, vì các trường hợp vi phạm trong tội này là tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 1) và tội phạm nghiêm trọng (khoản 2) Do vậy, chỉ những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 35Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm
Ở tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, tội phạm chỉ được thực hiện bởi lỗi cố ý (với hai hình thức lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp) Với hình thức lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng vẫn cố tình thực hiện Còn trong hình thức lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội cũng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Bản thân người phạm tội, ngay từ khi nảy sinh ý định phạm tội, đã nhận thức được những thiệt hại về kinh tế của Nhà nước, tổ chức và công dân có thể hoặc tất yếu sẽ xảy ra Họ cũng nhận thức được hành vi của mình là đang trực tiếp xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên, người phạm tội vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm vì động cơ và nhằm đạt được mục đích của mình
Trang 36Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI
VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2017
2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Trải qua hơn 15 năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 thì Bộ luật này
đã cho thấy những điểm hạn chế, bất cập nhất định, không còn phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới cũng như yêu cầu hội nhập của đất nước
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây được gọi là BLHS năm 2015) và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật; ngày 18/12/2015, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 33/2015/L-CTN công bố Bộ luật
và Nghị quyết này
Việc xây dựng BLHS lần này nhằm xây dựng một BLHS phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước sau khi có Hiến pháp năm 2013; có tính minh bạch, tính khả thi và tính dự báo cao hơn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của BLHS, phát huy hơn nữa vai trò của Bộ luật với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, đấu tranh chống tham những có hiệu quả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế của đất nước
Trang 37Trong Bộ luật hình sự năm 2015 có những nội dung sau về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được quy định tại BLHS
2015, với nội dung:
1 Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc
sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc
đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì
bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù
từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng [50, Điều 228]
2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Chúng ta cùng lần lượt đi tìm hiểu và phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai qua bốn yếu tố của CTTP: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm Cụ thể như sau:
Về khách thể của tội phạm
Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân
Trang 38sử dụng ổn định lâu dài Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
Như vậy, khách thể của tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai bao gồm các quan hệ xã hội về trật tự quản lý nhà nước về đất đai, hay nói cách khác, đó là quyền quản lý thống nhất đất đai của Nhà nước Tội phạm xâm hại đến các quan hệ này thông qua việc vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, qua đó gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cũng như xâm hại chính sách quản lý đất đai của Nhà nước đã được Hiến định Về đối tượng tác động của tội phạm, giống như tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai, đối tượng tác động của tội phạm Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai cũng chính là đất đai
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo Điều 228 BLHS năm 2015 được thể hiện thông qua ba dạng hành vi sau:
Trang 39Hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước
về quản lý và sử dụng đất đai bao gồm các hành vi: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện, với các thủ đoạn như: chuyển quyền sử dụng đất cho người khác khi mình không có quyền đó, chuyển quyền sử dụng đất nằm trong quy hoạch hoặc đã có sự đền
bù của Nhà nước…
Hành vi sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và
sử dụng đất đai là các hành vi như: sử dụng đất không đúng mục đích, hủy hoại đất, không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất, không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai… biểu hiện dưới các dạng hành vi cụ thể như: xây dựng nhà, công trình trên đất canh tác hoặc đất chuyên dùng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; đưa các chất độc hại vào đất làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích
đã được xác định
Nếu người nào thực hiện một trong những hành vi: lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị truy cứu TNHS Về mặt khách quan, không phải một người cứ có một trong những hành vi nêu trên đều bị truy cứu TNHS, mà bên cạnh việc thực hiện hành vi
Trang 40phải kèm theo điều kiện cần và đủ mới có thể bị coi là người phạm tội Dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" chính là dấu hiệu đặc trưng và bắt buộc của CTTP cơ bản của tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Cũng giống như tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai, hành vi khách quan của tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là loại tội phạm vừa có thể được thực hiện bằng hành động, vừa có thể được thực hiện bằng không hành động, nhưng hành động là chủ yếu
- Ở dạng hành động: người phạm tội thực hiện không đúng hoặc vi phạm những điều cấm của Nhà nước quy định về sử dụng đất đai, bao gồm các hành vi: sử dụng đất không đúng mục đích; lấn, chiếm đất; hủy hoại đất; gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác; chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai; tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện; tự tiện di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang
an toàn của công trình, mốc địa giới hành chính, làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất
- Ở dạng không hành động: người phạm tội không thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình mặc dù có đủ điều kiện và theo quy định thì phải thực hiện Các hành vi đó biểu hiện dưới dạng như: không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử dụng đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết hạn
sử dụng đất mà đang sử dụng đất, không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chậm đưa đất vào sử