1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại ở việt nam

92 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn Luật về vấn đề này, do đó việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán vẫn đang được thực hiện theo Quyết định số 1284/

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan Hương

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI KHOẢN THANH

TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

7

1.1 Những vấn đề lý luận về tài khoản thanh toán 7 1.1.1 Lược sử hình thành tài khoản thanh toán 7 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tài khoản thanh toán 11

1.1.2.2 Đặc điểm của tài khoản thanh toán 15 1.1.3 Vai trò của tài khoản thanh toán trong nền kinh tế 16

1.1.5 Bản chất pháp lý của tài khoản thanh toán 22

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tài khoản thanh toán 25 1.2.2 Nội dung của pháp luật về tài khoản thanh toán 25 1.2.3 Khái quát tình hình pháp luật về mở và sử dụng tài khoản

thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong

giai đoạn hiện nay

26

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MỞ VÀ SỬ DỤNG

TÀI KHOẢN THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG

29

2.1 Quy định về chủ thể quản lý, mở và sử dụng tài khoản

thanh toán

29

2.1.1 Chủ thể cung ứng tài khoản thanh toán 29

2.2 Quy định về hình thức, điều kiện và thủ tục mở tài khoản

2.3 Quy định về sử dụng tài khoản thanh toán 47

2.3.2 Phương thức sử dụng tài khoản thanh toán 53

2.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên 57 2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản 57

2.4.2.1 Quản lý tài khoản thanh toán của khách hàng 61

Trang 5

2.4.2.2 Phong tỏa tài khoản thanh toán 63

2.5 Quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động

mở và sử dụng tài khoản thanh toán

67

2.6 Quy định thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động quản lý và

sử dụng tài khoản thanh toán

68

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MỞ

VÀ SỬ DỤNG TÀI KHOẢN THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT

72

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về mở và sử dụng tài

khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở việt nam

3.2.3 Nhóm kiến nghị về đơn giản hóa thủ tục mở và sử dụng tài

khoản thanh toán

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hòa chung với xu hướng phát triển của thời đại, Việt Nam đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bởi đây là con đường tất yếu để các nước đang phát triển có thể thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực xây dựng các chính sách để hiện đại hóa lĩnh vực thanh toán nhằm thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia; nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, minh bạch hóa nền kinh tế, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Tại Việt Nam, theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay việc

sử dụng tiền mặt để thanh toán trong nền kinh tế là khá phổ biến, gây tốn kém trong việc in ấn, vận chuyển và sử dụng tiền; đồng thời hạn chế về hiệu quả

sử dụng vốn cũng như khó kiểm soát những giao dịch tiền mặt không hợp pháp, khó kiểm soát thuế của các tổ chức, cá nhân Thêm vào đó, hệ thống ngân hàng không tận dụng được nguồn vốn lớn tiềm tàng, nhàn rỗi trong dân, không giải quyết được bài toán hóc búa về huy động vốn, tăng đầu tư vốn vào nền kinh tế quốc dân

Để giải quyết bài toán này, Quyết định số 101/NH-QĐ ngày 30/7/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành thể lệ thanh toán qua Ngân hàng

và Thông tư số 110/1991/TT-NHNN ngày 20/8/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện thể lệ thanh toán qua Ngân hàng ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới đưa tài khoản thanh toán thành một phần trong cơ cấu thanh toán của nền kinh tế Tuy nhiên, với thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt của người dân, việc thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và việc sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán nói riêng vẫn còn xa lạ với đa số người dân

Trang 7

Để đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, năm 2007 Chính phủ

đã có chỉ thị yêu cầu trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương

từ ngân sách nhà nước Năm 2008, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng quy định rõ tại Khoản 1.3 Mục III Phần B: "Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên hai mươi triệu đồng theo giá đã

có thuế giá trị gia tăng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì

không được khấu trừ" [12] Đó là những bước đi quan trọng đưa hoạt động

mở và sử dụng tài khoản thanh toán từng bước trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của mọi tổ chức, cá nhân tại Việt Nam Cung ứng dịch vụ này cũng là một trong những nghiệp vụ quan trọng của các ngân hàng thương mại

Ngày 16/6/2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội khóa X2, kỳ họp thứ 7 thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2011 Luật đã có những thay đổi cơ bản về khái niệm "Tài khoản thanh toán" Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn Luật về vấn đề này,

do đó việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán vẫn đang được thực hiện theo Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành "Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước

và Tổ chức tín dụng" (sau đây gọi tắt là Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN)

và các quy định có liên quan tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, các hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về cung ứng dịch

vụ thanh toán Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quy định này còn chưa cụ thể, chưa đáp ứng và dự liệu được các giao dịch ngày càng phức tạp và ẩn chứa nhiều rủi ro trong hoạt động sử dụng tài khoản thanh toán; ngoài ra, còn

có một số nội dung chưa phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (như về khái niệm tài khoản thanh toán, kỳ hạn số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán) hoặc việc áp dụng trên thực tế còn gặp vướng mắc và không

Trang 8

thống nhất, gây lúng túng cho các bên tham gia giao dịch cũng như đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp Hơn nữa, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ - thông tin, các giao dịch điện tử, các giao dịch thông trên ATM, internet banking, mobile banking ngày càng phổ biến và được người sử dụng dịch vụ ưa chuộng vì những tiện ích ưu việt của nó Tuy nhiên các rủi ro tiền ẩn được được dự liệu và điều chỉnh trong các quy định pháp luật đã dẫn đến những lúng túng trong quá trình thực hiện

Từ những thực tế phát sinh trong hoạt động mở và thanh toán qua

ngân hàng trong thời gian qua, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Pháp luật về hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sau khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng, nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu về hoạt động

này dưới góc độ kinh tế như Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn về hợp đồng tài khoản tiền gửi thanh toán" của Vũ Thị Hợp (Trường

Đại học Luật Hà Nội, 2004); "Chế độ mở và sử dụng tài khoản thanh toán ở

các ngân hàng thương mại - một vài ý kiến đề xuất" của Trần Thảo Nguyên

(Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007);… Tuy nhiên, sau khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về pháp luật điều chỉnh hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam Do vậy,

việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam" vẫn mang tính cấp thiết

cần phải nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu những vấn đề pháp lý và thực tiễn về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động thanh toán qua Ngân hàng

3.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát nêu trên đó, mục tiêu cụ thể được xác định là:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của tài khoản thanh toán; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tài khoản thanh toán, nội dung của pháp luật về tài khoản thanh toán

- Phân tích thực trạng pháp luật về tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập, tồn tại

về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng tài khoản thanh toán

- Trên cơ sở những bất cập, học viên đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đề tài được nghiên cứu khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã có hiệu lực thi hành được một thời gian nhưng cho đến nay vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn về vấn đề nghiên cứu cũng như chưa có những sửa đổi, bổ sung tương ứng đối với các văn bản quy phạm hiện hành về hoạt động mở và

sử dụng tài khoản thanh toán

Theo Quyết định số 2367/QĐ-NHNN ngày 07/10/2010 của Ngân hàng Nhà nước về việc phê duyệt Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng (Sau đây

Trang 10

gọi tắt là Quyết định số 2367/QĐ-NHNN), trong quý IV/2011 Ngân hàng Nhà nước sẽ chủ trì soạn thảo thông tư của Ngân hàng Nhà nước quy định về mở, sử dụng tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại

để thay thế Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại văn bản thay thế vẫn chưa được ban hành

Vì vậy, với đề tài này, học viên tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành về tài khoản thanh toán, đồng thời phân tích thực hiện hoạt động thanh toán qua tài khoản tại ngân hàng thương mại nhằm tìm ra những điểm bất cập,

từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được giới hạn trong các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, bao gồm tài khoản tiền Việt Nam đồng, tài khoản ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân người cư trú và người không cư trú

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện từ khi Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ra đời đến nay (sau đây gọi tắt là Nghị định số 64/2001/NĐ-CP)

Trong đối tượng và phạm vi nghiên cứu, học viên tập trung nghiên cứu thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán và không đề cập sâu đến nghiệp vụ dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại như thanh toán thẻ, séc, thư tín dụng cũng như những nghiệp vụ kế toán ngân hàng đối với các dịch vụ thanh toán đó

6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, học viên tập trung nghiên cứu những nội dung dưới đây:

Trang 11

- Một số vấn đề lý luận và pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của tài khoản thanh toán; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tài khoản thanh toán, nội dung của pháp luật về tài khoản thanh toán

- Thực trạng pháp luật về tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập, tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tài khoản thanh toán

- Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

6.2 Địa điểm nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, học viên tập trung nghiên cứu thực trạng

áp dụng pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại có trụ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội - là nơi tập trung trụ sở của nhiều ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam như: Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội;…

6.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, so sánh, phân tích, đối chiếu… từ đó rút ra những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống pháp luật và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tài khoản thanh toán và pháp luật

về tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh

toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật về mở và sử dụng tài khoản

thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

1.1.1 Lược sử hình thành tài khoản thanh toán

Có thể nói, sự hình thành của tài khoản thanh toán gắn liền với lịch sử hình thành của phương thức thanh toán qua Ngân hàng:

Vào thời kỳ đầu của nền sản xuất hàng hóa, các quan hệ trao đổi là trao đổi trực tiếp, hàng đổi hàng, đòi hỏi các bên phải đáp ứng được cả nhu cầu giá trị sử dụng, về giá trị trao đổi, về thời gian và địa điểm Nhưng quan

hệ trao đổi trực tiếp càng ngày càng trở nên kìm hãm sản xuất, tạo ra những mâu thuẫn của nền sản xuất xã hội, từ đó dẫn đến một nhu cầu thiết yếu phải tìm kiếm và thay thế phương thức trao đổi cũ bằng một phương thức trao đổi mới tiến bộ hơn, đó là hình thái trao đổi hàng hóa - tiền tệ Bản chất của phương thức này là tìm ra một thứ hàng hóa làm trung gian thanh toán - loại hàng hóa đặc biệt mà con người có thể dùng nó để đổi lấy bất kỳ thứ hàng hóa nào

Hình thái tiền tệ đầu tiên là những hàng hóa phổ thông trong trao đổi

và tiêu dùng như lúa gạo, muối, vải… sau đó là những vật phẩm quý hiếm và khó kiếm hơn như vỏ sò, lông thú, kim loại… Tuy nhiên, giá trị của nó bị suy giảm nhiều do bị hao mòn theo thời gian hoặc do được sản xuất ngày càng nhiều hơn, mặt khác lại cần có chi phí bảo quản cao Vì vậy, tiền kim loại ra đời, trong đó có tiền vàng Tuy nhiên, dần dần vàng cũng trở nên khan hiếm

Do đó, tiền giấy đã dần dần thay thế tiền vàng và được coi là phương tiện thanh toán rất hữu hiệu do tính ưu việt của nó là chi phí sản xuất rẻ, có tính bền vững cao và không bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên Tuy nhiên, tiền

Trang 13

giấy vẫn có nhược điểm là dễ bị làm giả và việc phát hành nó đôi khi bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Chính phủ - nhà phát hành

Khi nền sản xuất càng phát triển thì những hạn chế của việc thanh toán bằng tiền mặt ngày càng bộc lộ Việc vận chuyển khối lượng tiền mặt lớn để thanh toán giữa các khu vực địa lý ở rất xa nhau, thậm chí là ở những quốc gia, những châu lục khác nhau trở nên khó khăn vì chi phí vận chuyển, bảo vệ cao nhưng độ an toàn lại thấp Đó là điều kiện cho một phương thức thanh toán mới ra đời - phương thức thanh toán không dùng tiền mặt mà trung gian thực hiện là các ngân hàng Với phương thức này, các bên có thể thanh toán cho nhau từ xa mà không dùng tiền mặt và không cần trực tiếp gặp nhau Điều kiện là các bên phải mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng

và thực hiện thanh toán qua Ngân hàng "Trên cơ sở tài khoản và tiền gửi trong tài khoản ở ngân hàng, việc thanh toán được thực hiện thông qua ngân hàng bằng cách ngân hàng sẽ ghi chuyển từ tài khoản của người chi cho người thụ hưởng" [46]

Với những mục đích sử dụng khác nhau, khách hàng có thể mở nhiều loại tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng để thực hiện các giao dịch phù hợp Tại Mỹ, tiền gửi được phân thành hai loại: tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch

* Tiền gửi giao dịch:

"Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng" [37]

* Tiền gửi phi giao dịch:

Tài khoản tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch

Trang 14

Trong khi chi phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiền gửi tiết kiệm nói chung thấp

Một số ngân hàng đưa ra tài khoản tiết kiệm thông báo (statement savings deposits) trong đó thông qua việc truy nhập trên máy vi tính, khách hàng sẽ nhận được các bản thống kê thể hiện số tiền gửi, lệnh rút tiền, lãi và số dư của tài khoản hàng tháng Tuy nhiên nhiều ngân hàng vẫn sử dụng tài khoản tiết kiệm lập sổ truyền thống Theo phương pháp này, khách hàng được cấp một cuốn sổ mỏng ghi nhận số dư của tài khoản, thu nhập lãi, tiền gửi, cũng như các quy định ràng buộc cả hai bên và người gửi tiền phải trình quyền sổ này cho người thu ngân khi gửi hay rút tiền

Từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh nghiệp được cung cấp tài khoản tiền gửi kỳ hạn trả lãi suất cố định với kỳ hạn xác định (thường kéo dài 30, 60, 90 hay 180 ngày)

Cơ cấu tiền gửi ở Mỹ năm 1996 là: Tiền gửi giao dịch 21,1% và Tiền gửi phi giao dịch 78,9% (trong đó Tiền gửi tiết kiệm chiếm 39,8%, Tiền gửi kỳ hạn chiếm 38,1%) [37]

Tương tự, với hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành, các loại tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi vốn chuyên dùng và tiền ký quỹ (Báo cáo tài chính riêng lẻ Quý 2/2012 của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam) Phân theo loại tài khoản tiền gửi gồm có:

* Tài khoản thanh toán: Là tài khoản phản ánh số tiền mà khách hàng

gửi vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng Khoản tiền này khách hàng có thể gửi vào hoặc rút ra bất cứ lúc nào, do đó nó còn được gọi là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn hay tài

Trang 15

khoản tiền gửi giao dịch Mục đích chính của tài khoản này là để thanh toán qua ngân hàng, mục đích hưởng lãi chỉ là thứ yếu Thông qua tài khoản này, ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thu - chi hộ, rút tiền, chuyển tiền mặt, séc chuyển tiền, séc bảo chi, séc chuyển khoản… cho chủ tài khoản Tài khoản thanh toán được áp dụng đối với mọi hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Ưu điểm của loại tài khoản này so với tài khoản khác là khách hàng

có thể vay tạm thời ngân hàng nếu được chấp thuận (thấu chi) Như vậy, tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ phản ánh cả hai quá trình huy động vốn và

sử dụng vốn

* Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn: Là tài khoản phản ánh số tiền gửi của

khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) gửi theo một kỳ hạn nhất định tại ngân hàng Đối tượng chính mở tài khoản này là các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế nhưng họ đã đưa ra được kế hoạch thu chi tài chính Ngoài ra, những khách hàng cá nhân thuộc nhóm có nguồn vốn lớn, Mục đích gửi tiền vào ngân hàng là nhằm kiếm lợi tức Đối với các ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn ổn định ngân hàng có thể sử dụng trong kinh doanh

* Tài khoản tiền gửi tiết kiệm: Là tài khoản phản ánh số tiền gửi của

khách hàng cá nhân vào ngân hàng để tiết kiệm hưởng lãi Tài khoản tiền gửi tiết kiệm bao gồm hai loại:

- Tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn: với hình thức này, người gửi có thể gửi nhiều lần và có thể rút ra bất cứ khi nào theo nhu cầu sử dụng mà không phải báo trước nhưng khác với Tài khoản thanh toán là khách hàng không được hưởng các dịch vụ thanh toán nhưng được trả lãi suất cao hơn

- Tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ hưởng lãi suất cao trong một khoảng thời gian nhất định Đối tượng mở tài khoản này là các gia đình, cá nhân tài khoản này tương đối ổn định và ít rủi ro nhất, được ngân hàng thương mại sử dụng chủ yếu để kinh doanh, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng

Trang 16

* Tài khoản ký quỹ: đảm bảo thanh toán L/C phát hành tại ngân hàng

thương mại, đảm bảo thanh toán cho chứng thư bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành, đảm bảo thanh toán séc và một số trường hợp khác, khách hàng phải mở tài khoản ký quỹ không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn, theo đó, số tiền trên tài khoản ký quỹ sẽ bị phong tỏa và được hưởng lãi theo thỏa thuận Tài khoản ký quỹ có thể do cá nhân hoặc doanh nghiệp đứng tên và bị phong tỏa cho tới khi bên có nghĩa vụ đảm bảo bởi tài khoản kỹ quỹ hoàn thành được nghĩa vụ Trường hợp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, số dư trên tài khoản

ký quỹ sẽ được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ được đảm bảo

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tài khoản thanh toán

1.1.2.1 Khái niệm

Để có thể thực hiện thanh toán qua ngân hàng, trước tiên khách hàng phải mở tài khoản thanh toán Theo Giáo trình Luật ngân hàng của Trường Đại học Luật Hà Nội:

Tài khoản là công cụ để ghi chép, phản ánh vốn tiền tệ của chủ tài khoản Tài khoản được sử dụng trong thanh toán gọi là tài khoản thanh toán Tài khoản thanh toán là tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước [46]

Hiện nay, đang tồn tại nhiều khái niệm về tài khoản thanh toán trong các văn bản pháp luật Có thể chia ra thành hai dạng khái niệm: Khái niệm tại các văn bản ban hành trước Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Khái niệm tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

- Khoản 8 Điều 3 Nghị định 64/2001/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định: "Tài khoản thanh toán là tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các

Trang 17

tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước" [2]

- Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức tín dụng quy định: "Tài khoản tiền gửi là tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các Ngân hàng với mục đích gửi, giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán" [20]

- Khoản 22 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:

"Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng" [43]

Như vậy, để có thể hiểu toàn diện tài khoản thanh toán là gì, cần phải hiểu dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp là những dịch vụ gì? Khoản 15 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi,

ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng [43]

Như vậy, tài khoản thanh toán được hiểu là tài khoản tiền gửi không

kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng mà thông qua đó, khách hàng sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng như: phát hành phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác

Theo Điều 12 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP thì các phương tiện thanh toán bao gồm: Tiền mặt, séc, lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của pháp luật

Trang 18

Như vậy, nếu hiểu theo cách như trên thì tài khoản mà thông qua đó Ngân hàng phát hành tiền mặt cho khách hàng cũng được coi là tài khoản thanh toán Theo đó tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cũng được coi

là tài khoản thanh toán

Tuy nhiên, Khoản 6 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy

định hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại là:

- Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ

và chi hộ; dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác được gọi

là tài khoản thanh toán Đặc trưng của tài khoản thanh toán theo khái niệm tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là:

(i) Là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn: các loại tài khoản mà số dư có

kỳ hạn đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(ii) Khách hàng mở tại ngân hàng: các tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước, Quỹ Hỗ trợ phát triển, … đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(iii) Để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng: các tài khoản mở với mục đích khác (như gửi, giữ tiền …) đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

Có thể nói, với khái niệm tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tài khoản thanh toán có sự thay đổi cơ bản về hình thức số dư trên tài khoản

Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP nêu trên thì

Trang 19

Số dư trên tài khoản thanh toán không bắt buộc phải là số dư không kỳ hạn

mà có thể là số dư không kỳ hạn hoặc số dư có kỳ hạn Tuy nhiên, trên thực tế hầu như rất khó thực hiện hình thức số dư có kỳ hạn trên tài khoản thanh toán

do khách hàng mở tài khoản thanh toán nhằm mục đích chính là để thanh toán qua ngân hàng Bởi vậy, các ngân hàng thương mại đều áp dụng số dư tiền gửi không kỳ hạn đối với tài khoản thanh toán (trừ một số giao dịch đặc thù như: ngân hàng thương mại thỏa thuận bằng văn bản với khách hàng về việc khách hàng cam kết duy trì một số dư tiền gửi nhất định trên tài khoản trong một thời hạn nhất định)

Trước thực tế đó, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã có sự thay đổi phù hợp về khái niệm tài khoản thanh toán Theo đó, số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán phải là không kỳ hạn và để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nói chung

và hướng dẫn về tài khoản thanh toán nói riêng Do đó, hiện tại các ngân hàng đều thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản thanh toán dựa trên các quy định của Nghị định số 64/2001/NĐ-CP và Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN Theo đó, tài khoản tiền gửi thanh toán (theo định nghĩa của Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN) vẫn có thể thực hiện dưới hình thức số dư có kỳ hạn Hơn nữa, tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng được coi là một tài khoản thanh toán Trong khi đó, Khoản 6 Điều 6 Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm quy định: "Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đứng tên một cá nhân hoặc một số cá nhân và được sử dụng để thực hiện một số giao dịch thanh toán" [21]

Mặt khác, theo Điều 11 Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN thì tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao

Trang 20

dịch thanh toán mà chỉ được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại

tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó

Như vậy, tài khoản tiền gửi tiết kiệm chỉ được sử dụng để thực hiện

02 giao dịch thanh toán đặc thù nêu trên Ngoài hai giao dịch thanh toán đặc thù đó, mục đích chính của tài khoản tiền gửi tiết kiệm là gửi, giữ tiền và hưởng lãi Do đó, tài khoản tiền gửi tiết kiệm không có đầy đủ các đặc trưng (i) và (iii) theo khái niệm tài khoản thanh toán của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu ở trên

Ngoài tài khoản tiền gửi tiết kiệm, chỉ được áp dụng cho khách hàng

cá nhân, Ngân hàng có thể ký‎ kết các hợp đồng tiền gửi với cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp cũng với mục đích để gửi, giữ tiền và hưởng lãi Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước chưa có văn bản quy phạm hướng dẫn cũng như điều chỉnh hợp đồng tiền gửi giữa khách hàng và Ngân hàng

Do đó, nghiệp vụ huy động vốn theo hình thức hợp đồng tiền gửi đang được ngân hàng thương mại thực hiện dưới sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự Để quản lý các hợp đồng tiền gửi, Ngân hàng mở các tài khoản tương ứng Tuy nhiên, cũng tương tự như tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản mở theo hợp đồng tiền gửi không có đầy đủ các đặc trưng (i) và (iii) theo khái niệm tài khoản thanh toán của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu ở trên

1.1.2.2 Đặc điểm của tài khoản thanh toán

Có thể nói, hai loại tài khoản phổ biến nhất trong các nghiệp vụ ngân hàng, đồng thời cũng là hai loại tài khoản được khách hàng sử dụng nhiều nhất

là tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm Bởi vậy, việc nghiên cứu những đặc điểm của tài khoản thanh toán trong sự so sánh với tài khoản tiền gửi tiết kiệm sẽ giúp làm sáng rõ hơn những đặc trưng của loại tài khoản này

Trang 21

Tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm đều mang những đặc điểm chung của tài khoản Theo đó, tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm đều là công cụ để ghi chép, phản ánh vốn tiền tệ của chủ tài khoản Tuy nhiên, hai loại tài khoản này có những điểm khác nhau dưới đây:

- Về mục đích sử dụng:

Có thể nói, đặc điểm đặc trưng nổi bật của tài khoản thanh toán là mục đích sử dụng của loại tài khoản này Thay vì mục đích gửi, giữ tiền như tài khoản tiết kiệm, chủ sở hữu tài khoản thanh toán sử dụng tài khoản này để thực hiện các giao dịch thanh toán Các giao dịch thanh toán rất đa dạng như giao dịch thanh toán trong nước, giao dịch thanh toán quốc tế, giao dịch thu

hộ, chi hộ… và các giao dịch khác theo yêu cầu của chủ sở hữu tài khoản thanh toán phù hợp với quy định pháp luật

- Về kỳ hạn của số dư tiền gửi:

Thông thường, các giao dịch thanh toán của chủ sở hữu diễn ra thường xuyên và liên tục, vì vậy thay vì mang tính chất tĩnh và ổn định như tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản thanh toán thường mang tính chất động và thường xuyên thay đổi Do đó, tài khoản thanh toán bắt buộc phải là số dư không kỳ hạn trong khi tài khoản tiền gửi tiết kiệm có thể có số dư có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn

Ngoài ra, thay vì chỉ được phép mở cho cá nhân như tài khoản tiền gửi tiết kiệm thì tài khoản thanh toán được mở cho cả cá nhân và tổ chức, bao gồm cả Kho bạc nhà nước và các Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Hơn nữa, nếu như đối tượng được mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ chỉ

là cá nhân người cư trú, thì tài khoản thanh toán được mở cho cả người cư trú

và người không cư trú nếu đáp ứng các điều kiện quy định

1.1.3 Vai trò của tài khoản thanh toán trong nền kinh tế

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tiền tệ đã ra đời và ngày càng phát triển và hiện đại hơn Tiền trong lưu thông bao gồm hai bộ phận là

Trang 22

tiền mặt và tiền chuyển khoản (tiền ghi sổ) bởi vậy, hoạt động thanh toán cũng được thực hiện theo hai phương thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt

Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình thanh toán tiền hàng hoá trực tiếp trong đó có một lượng tiền mặt tương ứng với giá trị vật tư hàng hoá được trao đổi, vận động ngược chiều với sự vận động của vật tư hàng hoá đó Cách thức tiền tệ này chỉ phù hợp với nền kinh tế khi sản xuất hàng hoá còn ở trình độ thấp, sản phẩm hàng hoá dịch vụ không nhiều và hoạt động mua bán chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển, với khối lượng hàng hoá được trao đổi lớn phạm vi mua bán rộng thì cách thức thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ các nhược điểm như: chi phí

in ấn, vận chuyển bảo quản và kiểm đếm lớn, tốc độ thanh toán chậm, khả năng đảm bảo an toàn không cao, hơn nữa với một khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông quá lớn dễ gây nên tình trạng lạm phát Thực tế khách quan đó đòi hỏi phải có một cách thức thanh toán mới, tiên tiến hơn chính vì vậy thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời và nhanh chóng chiếm ưu thế trong nền kinh tế

"Thanh toán không dùng tiền mặt là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị thông qua ngân hàng" [15]

Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán bằng tài khoản thanh toán nói riêng có vị trí vô cùng quan trọng Việc thanh toán qua tài khoản đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và là một phần không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế, điều đó đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của thanh toán qua tài khoản cũng như vai trò của tài khoản thanh toán trong nền kinh tế Vai trò này được thể hiện trên các khía cạnh sau đây

Trang 23

1.1.3.1 Đối với khách hàng

Đối với tiền gửi thanh toán, ngoài tiền lãi khách hàng còn được cung cấp các dịch vụ thanh toán để đảm bảo an toàn, nhanh chóng, tiện lợi trong thanh toán như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ATM …

Việc thanh toán qua tài khoản còn mang lại lợi ích kinh tế lớn cho khách hàng, nhờ tiết kiệm được các chi phí vận chuyển, chi phí kiểm đếm…

từ đó, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh Không những vậy, thanh toán qua tài khoản còn tiện lợi, chính xác, an toàn và bảo mật cho khách hàng khi sử dụng Đặc biệt với dịch vụ thanh toán điện tử, chỉ bằng một lệnh của chủ tài khoản, giao dịch có thể được thực hiện ngay lập tức, không kể thời gian

Hơn nữa, sự đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán, nhất là các loại thẻ ngân hàng, đã và đang được các ngân hàng thương mại cung cấp, tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn sao cho có lợi nhất: tính tiện ích và chi phí giao dịch thấp

1.1.3.2 Đối với ngân hàng

Để có thể thanh toán qua tài khoản, khách hàng cần nộp tiền vào tài khoản Đây chính là một nguồn vốn dồi dào cho ngân hàng thương mại vì không phải khách hàng nào nộp tiền vào cũng chuyển tiền đi ngay Hơn nữa,

do số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán là số dư tiền gửi không kỳ hạn, có lãi suất thấp nhất so với các tài khoản tiền gửi khác nên đây là nguồn vốn giá

rẻ nhất trong các nguồn vốn huy động được của ngân hàng thương mại

Ngoài ra hoạt động thanh toán qua tài khoản cũng là hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thương mại thông qua các khoản thu phí dịch vụ Đây là nguồn thu ổn định so với các hoạt động dịch vụ khác thường có mức rủi ro gắn liền như cấp tín dụng, kinh doanh ngoại hối Tăng trưởng và phát triển hoạt động dịch vụ này, tạo điều kiện cho các ngân

Trang 24

hàng tăng thu nhập, thay đổi cơ cấu thu nhập trong tổng thu nhập, nâng cao khả năng tài chính và tạo sự phát triển bền vững

Thanh toán qua tài khoản còn là tăng khả năng thu hút khách hàng và đồng thời, thông qua hoạt động thanh toán, ngân hàng nắm được thông tin về tình hình tài chính khách hàng, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tìm kiếm khách hàng, thẩm định và xét duyệt cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đối với khách hàng

1.1.3.3 Đối với nền kinh tế

Là một trong các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của tài khoản thanh toán làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Từ đó, giúp giảm các chi phí liên quan như: chi phí vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt, đồng thời giảm áp lực tiền mặt, nạn tiền giả trong lưu thông từ

đó góp phần ổn định tiền tệ Hơn nữa, các giao dịch thanh toán qua tài khoản đều được thực hiện bởi ngân hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, giảm thiểu những tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế ngầm

Việc thanh toán thông qua thẻ, thanh toán bằng dịch vụ ngân hàng điện tử rất nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật đã giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá

Từ đó, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển

1.1.4 Phân loại tài khoản thanh toán

Việc phân loại tài khoản thanh toán có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Điều đó thể hiện ở chỗ, dựa trên kết quả phân loại mà các nhà làm luật có thể xây dựng những quy định điều chỉnh các loại tài khoản thanh toán phù hợp với hoạt động thực tiễn nghiệp vụ của các Tổ chức tín dụng Mặt khác cũng dựa trên kết quả phân loại mà mỗi Tổ chức tín dụng có

Trang 25

thể xây dựng, hoạch định cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp, mang tính khả thi và hiệu quả; đồng thời giúp cho các Tổ chức tín dụng có cơ sở lý luận

để xây dựng thành các quy tắc kỹ thuật nghiệp vụ tương ứng với từng loại hình tài khoản nhằm triển khai các hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong thực tế

Dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau, tài khoản thanh toán được phân thành nhiều loại khác nhau như dưới đây:

* Phân loại dựa trên loại hình chủ sở hữu

Theo tiêu chí phân loại này, tài khoản thanh toán được chia thành hai loại: tài khoản thanh toán của cá nhân và tài khoản thanh toán của tổ chức

Tài khoản thanh toán của cá nhân là tài khoản do cá nhân đứng tên mở tài khoản với hồ sơ và thủ tục mở được quy định phù hợp tài khoản thanh toán của tổ chức do các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp nhà nước, tổ chức kinh tế và tổ chức khác mở và sử dụng để phục vụ hoạt động của tổ chức đó

* Phân loại dựa trên số lượng chủ sở hữu

Theo tiêu chí phân loại này, tài khoản thanh toán được chia thành hai loại: tài khoản thanh toán của một chủ sở hữu (một cá nhân hoặc một tổ chức)

và tài khoản thanh toán của nhiều đồng chủ sở hữu (nhiều cá nhân hoặc tổ chức cùng sở hữu một tài khoản)

Tài khoản thanh toán của một chủ sở hữu được áp dụng phổ biến và

dễ dàng quản lý, sử dụng Trong khi đó, tài khoản thanh toán của nhiều đồng chủ sở hữu chỉ được áp dụng theo thỏa thuận giữa các đồng chủ sở hữu trong trường hợp: nhiều bên cùng hợp tác về vốn để thực hiện những dự án cụ thể,

vợ chồng cùng lập tài khoản chung… Việc mở và quản lý tài khoản do nhiều đồng chủ sở hữu phức tạp hơn vì phải phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên

về phương thức sử dụng tài khoản

Trang 26

* Phân loại dựa trên đồng tiền gửi

Theo tiêu chí phân loại này, tài khoản thanh toán được chia thành hai loại: tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam và tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ

Tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam chiếm đại đa số tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng thương mại do có thể sử dụng để thanh toán cho hầu hết các giao dịch diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam Trong khi đó, tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ chỉ được sử dụng để thu, chi theo những mục đích nhất định quy định tại các văn bản pháp luật về ngoại hối

* Phân loại theo mục đích sử dụng

Theo tiêu chí phân loại này, tài khoản thanh toán có thể chia thành nhiều loại khác nhau: tài khoản chuyên thu, tài khoản chuyên chi, tài khoản tập trung vốn, tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ, tài khoản vốn đầu

tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam…

Tài khoản chuyên thu, chuyên chi thường được các doanh nghiệp sử dụng để quản lý việc hoạt động chi tiêu từ tài khoản Đối với tài khoản chuyên thu, ngân hàng thương mại chỉ cho phép giao dịch ghi "Có" vào tài khoản mà không cho phép các giao dịch ghi "Nợ" tài khoản Đối với tài khoản chuyên chi, ngân hàng thương mại chỉ cho phép giao dịch ghi "Nợ" tài khoản

mà không cho phép giao dịch ghi "Có" (trừ giao dịch của chủ tài khoản nộp tiền vào tài khoản)

Tài khoản tập trung vốn thường được các doanh nghiệp có nhiều công

ty con hoặc có nhiều chi nhánh áp dụng Theo đó, vào một thời điểm nhất định trong tháng hoặc trong tuần, toàn bộ số dư vượt hạn mức quy định trên tài khoản của các công ty con hoặc của các chi nhánh được đăng ký sẽ tự động được chuyển về tài khoản tập trung Phương thức này giúp doanh nghiệp chuyển được toàn bộ doanh thu về một tài khoản cố định

Trang 27

Tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ được Người cư trú là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh mở tài Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối

để thực hiện một số hoạt động thu, chi liên quan đến đầu tư trực tiếp

Tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam được người không cư trú là nhà đầu tư nước ngoài mở tại Tổ chức tín dụng được phép để thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam "Vốn đầu tư bằng ngoại tệ phải bán lấy đồng Việt Nam để đầu tư gián tiếp tại Việt Nam Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam" [9, Điều 14]

1.1.5 Bản chất pháp lý của tài khoản thanh toán

Về bản chất pháp lý của tài khoản thanh toán, quan hệ được xác lập giữa bên mở và sử dụng tài khoản thanh toán (chủ tài khoản) với ngân hàng thương mại quản lý tài khoản là quan hệ pháp luật Trong quan hệ này, ngân hàng thương mại cung ứng tài khoản thanh toán và thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho chủ tài khoản Như vậy, ngân hàng thương mại và Chủ tài khoản là hai bên trong hợp đồng cung cấp dịch vụ Trong đó, ngân hàng thương mại là bên cung ứng dịch vụ thực hiện mở tài khoản thanh toán và thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho Chủ tài khoản, còn Chủ tài khoản là bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ là ngân hàng thương mại

Cũng như bất kỳ hợp đồng nào khác, hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng thương mại và Chủ tài khoản nêu trên là sự thoả thuận giữa các bên Tuy nhiên, thông thường, các ngân hàng thương mại đều đưa ra những điều khoản, điều kiện chung của dịch vụ mà các khách hàng khi muốn sử dụng dịch vụ đều phải tuân thủ Theo đó, khách hàng khi gửi đề nghị mở tài khoản thanh toán (đề nghị giao kết hợp đồng) phải sử dụng mẫu của ngân hàng thương mại trong đó ghi rõ khách hàng cam kết tuân thủ các điều khoản, điều kiện chung

Trang 28

và các quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán của ngân hàng thương mại Khi đề nghị mở tài khoản của khách hàng được ngân hàng thương mại chấp thuận, hợp đồng dịch vụ được xác lập với nội dung là các điều khoản, điều kiện chung do ngân hàng thương mại quy định Vì vậy, hợp đồng dịch vụ này được coi là hợp đồng dân sự theo mẫu, nghĩa là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu, nếu một bên chấp nhận tham gia thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên kia đã đưa ra

Trong một số trường hợp ngoại lệ, các khách hàng đặc biệt (thường là những khách hàng có số dư tiền gửi lớn hoặc các khách hàng được ngân hàng thương mại đánh giá là các khách hàng có tiềm năng lớn) có quyền thương thảo với ngân hàng thương mại các điều khoản theo hướng có lợi hơn so với các điều khoản, điều kiện chung Khi đó, ngân hàng thương mại và khách hàng lập Hợp đồng cung cấp dịch vụ riêng để ghi nhận những điều khoản đã thỏa thuận

Hợp đồng dịch vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán (sau đây gọi tắt

là hợp đồng dịch vụ tài khoản) là Hợp đồng song vụ, có nghĩa là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau

Khi hợp đồng dịch vụ tài khoản phát sinh hiệu lực pháp lý sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác) Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này phản ánh những hành vi pháp lý mà thông qua việc ký kết hợp đồng các bên được phép hoặc phải thực hiện Trong Hợp đồng dịch vụ tài khoản, do mỗi bên tham gia có tư cách, địa vị pháp lý khác nhau nên quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật cũng có sự khác biệt, cụ thể sẽ được phân tích thêm tại Chương 2

Ngoài ra, mặc dù Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 không trực tiếp

quy định cơ sở để phân định, nhưng theo các quy định của khoản 1 Điều 25; khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì căn cứ vào chủ thể ký

Trang 29

kết và mục đích của các chủ thể khi giao kết hợp đồng, Hợp đồng dịch vụ tài

khoản có thể tồn tại dưới hai hình thức:

- Hợp đồng dịch vụ tài khoản là hợp đồng kinh doanh thương mại: là những Hợp đồng dịch vụ tài khoản được giao kết giữa ngân hàng thương mại

và khách hàng với tư cách là chủ thể kinh doanh như: doanh nghiệp, hộ kinh doanh… và việc giao kết Hợp đồng dịch vụ tài khoản nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận

- Hợp đồng dịch vụ tài khoản là hợp đồng dân sự: là những Hợp đồng dịch vụ tài khoản được giao kết giữa ngân hàng thương mại với khách hàng

mà không phải là chủ thể kinh doanh hoặc là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết Hợp đồng dịch vụ tài khoản không nhằm mục đích kinh doanh như: tiêu dùng, học tập…

Theo quy định trên thì điều kiện có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận giữa các chủ thể tham gia là điều kiện bắt buộc để xác định Hợp đồng dịch vụ tài khoản là hợp đồng kinh doanh thương mại hay hợp đồng dân

sự Do ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ tài khoản thanh toán luôn có đăng ký kinh doanh và luôn vì mục đích lợi nhuận nên nếu chỉ khách hàng không có đăng ký kinh doanh đồng thời cũng không có mục đích lợi nhuận thì Hợp đồng dịch vụ tài khoản được ký kết là dân sự

Việc phân định bản chất pháp lý của hợp đồng dịch vụ tài khoản nói trên chỉ có ý nghĩa để xác định cơ sở pháp lý thích hợp cho việc giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và xác định thẩm quyền cũng như thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng dịch vụ tài khoản

1.2 PHÁP LUẬT VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tài khoản thanh toán

Việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động thanh toán qua ngân hàng, trong đó có hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân

Trang 30

hàng thương mại là một yêu cầu tất yếu khách quan đối với cơ quan quản lý nhà nước Dựa vào các quy định hiện hành, có thể hiểu một cách khái quát:

Pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại; giữa ngân hàng thương mại và các

cá nhân, tổ chức trong quá trình mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại

Như vậy, từ khái niệm trên ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán là:

Thứ nhất: pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân

hàng thương mại là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định

Thứ hai: đối tượng điều chỉnh của pháp luật về mở và sử dụng tài

khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại là các quan hệ xã hội phát sinh giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại; giữa ngân hàng thương mại và các cá nhân, tổ chức trong quá trình mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại

1.2.2 Nội dung của pháp luật về tài khoản thanh toán

Tài khoản thanh toán là điều kiện đầu tiên để các chủ thể có thể thực hiện hoạt động thanh toán qua tài khoản Đây là cách thức thanh toán không

có sự xuất hiện của tiền mặt Khi nhận được yêu cầu hợp lệ, Ngân hàng sẽ trích chuyển tiền từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác Sau khi

Trang 31

mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, khách hàng có thể nộp tiền vào tài khoản, nhận tiền chuyển đến tài khoản, chuyển tiền tới các tài khoản khác, thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng các phương tiện thanh toán phát hành trên tài khoản hoặc rút tiền mặt từ số dư trên tài khoản

Việc điều chỉnh pháp luật các quan hệ phát sinh từ tài khoản thanh toán nêu trên làm phát sinh các quan hệ pháp luật về tài khoản thanh toán, khiến cho các quan hệ này trở thành các giao dịch pháp lý Thể hiện ở việc, các bên trong quan hệ này phải chịu sự ràng buộc của pháp luật và phải tuân thủ những quy định của pháp luật như điều kiện về chủ thể, về hồ sơ, thủ tục

mở tài khoản, hồ sơ thủ tục thực hiện giao dịch thanh toán qua tài khoản và các quyền và các nghĩa vụ pháp lý đã do pháp luật quy định

Chủ thể của quan hệ pháp luật về tài khoản thanh toán gồm chủ thể mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh toán và chủ thể quản lý tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán Chủ thể mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh toán là tất cả các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ mở tài khoản hoặc có nhu cầu mở tài khoản Chủ thể quản lý tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán là các Ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau "Các quyền và nghĩa vụ của chủ thể này hay giai đoạn này là tiền đề hay sự tiếp tục của các quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác hay giai đoạn khác, trong một chuỗi các quan hệ phát sinh cùng nhằm tới một mục đích là thực hiện việc thanh toán không dùng tiền mặt" [16]

1.2.3 Khái quát tình hình pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Đến cuối năm 2010, đã có 49 tổ chức phát hành thẻ với trên

230 thương hiệu thẻ, số lượng thẻ phát hành trên phạm vi cả nước đạt hơn 30,7 triệu thẻ, hơn 11.000 ATM và gần 52.000 POS/EDC

Trang 32

được lắp đặt (tăng tương ứng 1,4 lần; 1,2 lần và 1,5 lần so với cuối năm 2009); cho phép 01 ngân hàng thương mại được triển khai dịch

vụ Mobile Banking, 01 ngân hàng thương mại và 08 tổ chức không phải ngân hàng được thực hiện thí điểm dịch vụ trung gian thanh toán Ví điện tử Việc triển khai Chỉ thị 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách nhà nước đã đạt được những kết quả khả quan sau 3 năm triển khai thực hiện Đến cuối năm 2010, số đơn vị hưởng lương từ Ngân sách nhà nước đã thực hiện trả lương qua tài khoản ngân hàng là 43.953 đơn vị (đạt trên 54% số đơn vị hưởng lương từ Ngân sách nhà nước trên toàn quốc), tăng 11.822 đơn vị so với cuối năm 2009 [29]

Như vậy, có thể thấy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong

đó thanh toán qua tài khoản thanh toán là trọng tâm đang phát triển nhanh chóng với các phương thức ngày càng hiện đại hơn, nhanh chóng hơn, thuận tiện hơn cho người sử dụng

Để theo kịp với thực tiễn ngày càng đa dạng và phức tạp, các quy định pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện

Bắt đầu từ Quyết định số 101/NH-QĐ ngày 30/7/1991 Ban hành thể lệ thanh toán qua Ngân hàng Thông tư số 110/1991/TT-NHNN ngày 20/8/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn thực hiện thể lệ thanh toán qua ngân hàng, đến nay đã có hàng chục văn bản hiện đang áp dụng có liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán Trong đó, đáng lưu ý là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, văn bản mới nhất và hiệu lực cao nhất

có quy định về tài khoản thanh toán Đặc biệt, với các quy định mới trong Luật này, các văn bản dưới luật hiện đang áp dụng cần phải có những thay đổi

cơ bản để phù hợp về nội dung và hiệu lực

Trang 33

Theo Quyết định số 2367/QĐ-NHNN thì trong quý IV/2011, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình ban hành các văn bản thay thế các quy định hiện hành

về tài khoản thanh toán Tuy nhiên cho tới nay các quy định này vẫn chưa được ban hành Do đó, các hoạt động liên quan đến tài khoản thanh toán vẫn đang được thực hiện theo các quy định pháp luật cũ với những điều khoản không còn phù hợp với quy định mới tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm lại, Chương 1 đã giải quyết những khái niệm và những vấn đề lý luận chung nhất về tài khoản thanh toán, pháp luật về tài khoản thanh toán và các khía cạnh pháp lý có liên quan Qua phân tích các đặc điểm nêu trên có thể thấy rằng quan hệ mở và sử dụng tài khoản thanh toán giữa ngân hàng thương mại và khách hàng là một quan hệ hợp đồng dân sự nhưng có những đặc trưng nhất định do có liên quan đến việc sử dụng, định đoạt tiền tệ của khách hàng Vì vậy, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán đòi hỏi phải chặt chẽ để phòng tránh những rủi ro có liên quan Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các quy định về mở, sử dụng, phong tỏa và đóng tài khoản thanh toán được Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể trên cơ sở các Bộ luật, Luật

do Quốc hội ban hành Điều này thể hiện tính chuyên môn, chuyên ngành trong hoạt động nghiệp vụ tài khoản thanh toán

Trang 34

2.1.1 Chủ thể cung ứng tài khoản thanh toán

Theo Điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN quy định đối tượng được mở tài khoản tiền gửi thanh toán như sau:

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở tài khoản tiền gửi cho: Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng trên địa bàn, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại nước ngoài, các tổ chức tiền tệ, Ngân hàng quốc tế và các đối tượng khác theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Ngân hàng được mở tài khoản tiền gửi cho: Cá nhân là công dân Việt nam có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật nước mà người đó là công dân, tổ chức Việt nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước mà tổ chức đó được thành lập

Riêng ngân hàng thương mại nhà nước được mở tài khoản tiền gửi cho Kho bạc Nhà nước đặt trụ sở ở những địa bàn là huyện, thị xã không phải

là tỉnh lỵ nhưng phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản

Như vậy, có thể thấy, chủ thể cung ứng tài khoản thanh toán là có thể

là Ngân hàng Nhà nước Việt nam hoặc tổ chức tín dụng là ngân hàng, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã Các

Trang 35

chủ thể khác không được phép cung ứng tài khoản thanh toán, kể cả một số

Tổ chức tín dụng như: Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước, chỉ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc ngân hàng thương mại Nhà nước (nếu được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản) mới được cung ứng tài khoản thanh toán cho Kho bạc Nhà nước

2.1.2 Chủ thể mở tài khoản thanh toán

Cũng theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN nêu trên, chủ thể mở và sử dụng tài khoản thanh toán là khách hàng, bao gồm

cả người cư trú và người không cư trú đều có thể mở tài khoản tiền gửi thanh toán bằng Việt Nam đồng hoặc bằng ngoại tệ Tuy nhiên, các tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ chỉ được sử dụng để thu, chi theo những mục đích nhất định được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về ngoại hối

Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật: mọi thủ tục mở và sử dụng tài khoản tiền gửi phải thực hiện thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật Đây là đặc thù của nghiệp vụ tài khoản thanh toán so với các quy định của Bộ luật Dân sự Theo quy định tại Điều 20 và

Điều 23 của Bộ luật này thì:

- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 36

- Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, đối với các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán thì mọi thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán đều phải thực hiện thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật

Có thể thấy, đối tượng được mở tài khoản thanh toán được liệt kê tại Điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN chỉ là cá nhân và tổ chức Tuy nhiên, quy định nay đang gây nhiều lúng túng cho các ngân hàng đối với việc

mở tài khoản thanh toán cho những chủ thể mang tính đặc thù của pháp luật Việt Nam là hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác:

(i) Hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh là chủ thể thường gặp trong thực tiễn đã gây lúng túng cho các Ngân hàng đề nghị mở tài khoản thanh toán Đặc biệt khi đại đa số các Ngân hàng ở Việt Nam đang sử dụng phần mềm core banking T24 Phần mềm này cho phép đăng ký mở tài khoản thanh toán (current account) cho hai dạng chủ thể: "tổ chức" và "cá nhân" theo đúng quy định tại Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN

Về mặt pháp lý, theo Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì hộ kinh doanh có thể do một cá nhân

là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, được đăng ký kinh doanh nhưng không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh

Mặt khác, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể thế nào một "tổ chức" Tuy nhiên, khoản 4 Điều 170 Luật Doanh nghiệp năm 2005 có đề cập tới "Hộ

Trang 37

kinh doanh" Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp cũng có quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh Hộ kinh doanh cũng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế như các loại hình doanh nghiệp khác

Do đó, có cơ sở để xác định Hộ kinh doanh là một "tổ chức Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam" và được mở tài khoản theo hình thức "tổ chức"; đại diện của hộ kinh doanh là chủ tài khoản

Tuy nhiên, hiện tại đa số các ngân hàng thương mại thực hiện mở tài khoản cho hộ gia đình dưới hình thức tài khoản của cá nhân đại diện hộ gia đình với lý do chưa có một văn bản nào xác định hộ gia đình là một "tổ chức"

(ii) Hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này Tuy nhiên, với các quy định chung chung này, việc xác định các thành viên của hộ gia đình chưa có

đủ căn cứ pháp lý Vì vậy, hiện nay, khi hộ gia đình tham gia các giao dịch với ngân hàng, các Phòng Công chứng chủ yếu xác định thành viên của hộ gia đình dựa trên sổ hộ khẩu

Mặt khác, các giao dịch dân sự do chủ hộ gia đình, là người đại diện của hộ gia đình xác lập mà không vì lợi ích chung của hộ sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ cho hộ gia đình Với các giao dịch thanh toán qua tài khoản thanh toán, Ngân hàng khó có thể xác định được giao dịch nào là vì lợi ích chung của hộ gia đình và giao dịch nào không vì lợi ích chung

Với các lý do đó, các ngân hàng thường yêu cầu hộ gia đình đăng ký‎ tài khoản thanh toán dưới dạng tài khoản cá nhân chủ hộ Điều này vô hình

Trang 38

chung dẫn đến tình trạng không thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể trong các giao dịch thanh toán qua tài khoản

(iii) Tổ hợp tác

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Dân sự 2005, tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra Các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của

Với các quy định nêu trên, thật khó xác định tổ hợp tác là "tổ chức" hay "cá nhân" để có thể mở một dạng tài khoản thanh toán tương ứng Hơn nữa, Tổ hợp tác không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế, không có con dấu như các loại hình doanh nghiệp

Có thể thấy, các thành viên của tổ hợp tác dễ dàng được xác định dựa trên "hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn" [39, Điều 111] Đồng thời cũng dễ dàng xác định được "Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra" [39, Điều 113] Tuy nhiên, các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập không vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên

sẽ không phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả tổ hợp tác Đặc biệt, đối với tư

Trang 39

liệu sản xuất của tổ hợp tác thì việc định đoạt phải được toàn thể tổ viên đồng

‎ý Như vậy, tài khoản thanh toán được mở cho tổ hợp tác (nếu có) sẽ chỉ được thực hiện giao dịch khi được sự đồng ý của toàn thể tổ viên, vì tiền của tổ hợp tác chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất

Với các lý‎ do nêu trên, một số ngân hàng yêu cầu tổ hợp tác mở tài khoản dưới dạng đồng chủ tài khoản do nhiều cá nhân cùng đứng tên mở tài khoản Khi thực hiện giao dịch trên tài khoản, tất cả các đồng chủ tài khoản đều phải ký‎ trên chứng từ giao dịch trừ trường hợp một người được tất cả những người còn lại ủy quyền thực hiện giao dịch

Có thể thấy, trong bối cảnh các văn bản pháp luật chưa có quy định

cụ thể về tài khoản thanh toán được mở đối với các loại hình chủ thể này, mỗi ngân hàng thương mại lại có những lập luận khác nhau và áp dụng những hình thức tài khoản khác nhau, dẫn tới tình trạng không thống nhất trong hệ thống ngân hàng và gây lúng túng cho cả khách hàng và Ngân hàng

Vì vậy, trong các văn bản sửa đổi Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN sắp tới, rất hi vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp này

2.2 QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC, ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC MỞ TÀI KHOẢN THANH TOÁN

2.2.1 Hình thức mở tài khoản thanh toán

Khách hàng có thể mở tài khoản thanh toán dưới các hình thức quy định tại Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN:

- Đối với các tổ chức: là tài khoản mà chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mở tài khoản

- Đối với các đồng chủ tài khoản: là tài khoản có ít nhất hai người trở lên cùng đứng tên mở tài khoản Đồng chủ tài khoản có thể là cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp của tổ chức

Trang 40

- Đối với cá nhân: là tài khoản mà chủ tài khoản là một cá nhân độc lập đứng tên mở tài khoản

* Tài khoản của tổ chức:

Điều 1 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN cho phép: Mỗi khách hàng có quyền mở một hay nhiều tài khoản tiền gửi ở một hay nhiều nơi, có thể là nơi cư trú, nơi đặt trụ sở chính hay nơi khác tùy theo nhu cầu sử dụng trừ trường hợp có quy định khác

Đối với các doanh nghiệp, để thuận tiện cho việc kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên mở nhiều tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau Chủ các tài khoản đó có thể là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc là đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN thì người đại diện theo pháp luật sẽ đương nhiên là chủ tài khoản thanh toán

mở tại Ngân hàng mà không cần bất kỳ văn bản nào của các cơ quan khác trong công ty (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị đối với Công ty cổ phần; Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; ) Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2005, thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gồm:

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tùy theo quy định tại Điều lệ công ty (Điều 46)

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên: là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tùy theo quy định tại Điều lệ công ty (Khoản 5 Điều 67)

- Đối với công ty cổ phần: là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tùy theo quy định tại Điều lệ công ty (Điều 95)

Ngày đăng: 04/12/2020, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w