1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở việt nam hiện nay

106 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 825,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tố cáo của cán bộ, công chức 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại 3.2.3 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn quy trình, thủ tục và thẩm quyền giải

Trang 1

KHOA LUẬT- ĐẠI HỌC QUỐC GIA

HÀ NỘI

PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM ,ĐẶC ĐIỂM ,TÍNH CHẤT

Học viên : NÔNG THỊ MINH ĐƯỜNG

Hà nội : 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬTGIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

1.1.2 Quan niệm về pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật 10

1.1.2.2 Quan niệm pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật 14

1.2 Đặc điểm, tính chất của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết

định kỷ luật

21

1.2.1 Đặc điểm của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật 21

1.2.1.3 Đặc điểm về thời hiệu, thời hạn, trình tự, thủ tục khiếu nại quyết

định kỷ luật

25

1.2.2 Tính chất của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật 27

1.3 Nội dung của pháp luật về khiếu nại quyết định kỷ luật 28 1.3.1 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công

chức

28

1.3.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật 30

1.4 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định

kỷ luật hiện nay

34

1.4.2 Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức 36 1.4.3 Đảm bảo tính khả thi của quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật 36

Trang 3

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH

KỶ LUẬT Ở VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật giải quyết

khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam

38

2.2 Những ƣu điểm và hạn chế của pháp luật giải quyết khiếu nại

quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

56

2.2.1 Những ưu điểm của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ

luật ở Việt Nam hiện nay

56

2.2.2 Những hạn chế của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ

lụât ở Việt Nam hiện nay

60

2.3 Yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật giải quyết

khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

79

3.1 Các yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu

nại quyết định kỷ luật

79

3.1.1 Pháp điển hoá pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán bộ,

công chức

79

3.1.2 Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn

quy trình, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán

bộ, công chức

80

3.1.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, 81

Trang 4

tố cáo của cán bộ, công chức

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại

3.2.3 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn quy trình,

thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật đối với các nhóm đối tượng cụ thể (viên chức trong các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công và cán bộ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp nhà nước)

94

3.2.4 Đổi mới và tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải

quyết khiếu nại quyết định kỷ luật với các cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội

94

3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại

quyết định kỷ luật

96

3.2.6 Đổi mới hơn nữa chế độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức làm

công tác giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

96

3.2.7 Tăng thêm biên chế cho các cơ quan làm công tác giải quyết khiếu

nại quyết định kỷ luật

97

3.2.8 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình khiếu nại và giải

quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức

98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm bởi toàn bộ quá trình giải quyết và kết quả của quá trình đó có liên quan trực tiếp không chỉ đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xử lý kỷ luật mà đến cả cơ quan, tổ chức quản lý người bị xử lý kỷ luật; đến việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương hành chính, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội

Đánh giá chung về thực trạng giải quyết khiếu nại tố cáo hiện nay, Nghị quyết của Quốc hội số 30/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước đã nhấn mạnh: “tình hình khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn diễn biến phức tạp với nhiều

vụ việc diễn ra gay gắt, kéo dài, đông người đi khiếu nại, khiếu nại vượt cấp;

có những vụ việc có tổ chức hoặc do nhiều người cùng liên kết, gây sức ép đòi các cơ quan trung ương giải quyết; có trường hợp khiếu nại, tố cáo sai, cá biệt có trường hợp người khiếu kiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây rối trật

tự công cộng, hành hung người thi hành công vụ”

Đứng trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh thì thực trạng nói trên đang là một lực cản lớn, rất cần được nghiên cứu, làm rõ những nguyên nhân đích thực để từ

đó xây dựng và triển khai những giải pháp khắc phục thực sự có hiệu quả Nghiên cứu cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật theo hướng khẩn trương xây dựng thể chế và cơ chế hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là việc làm rất cần thiết, nhằm chấn chỉnh, xiết chặt trật tự kỷ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý quản lý nhà nước, góp phần mở rộng và phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại quyết định kỷ luật Đó là lý do

Trang 6

để chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là vấn

đề có tính chuyên biệt cao, vì vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Một số công trình nghiên cứu đáng kể liên quan đến vấn đề này là:

- Công vụ, công chức nhà nước – PGS.TS Phạm Hồng Thái, Nhà xuất

bản Tư pháp 2004

- Tăng cường pháp chế trong hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo ở

nước ta hiện nay – Luận án TS luật học của Trần Văn Sơn, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006

- Một số vấn đề về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở nước ta

hiện nay – TS Đỗ Xuân Đông, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 8, 2005

- Cần sớm khắc phục những hạn chế về giải quyết khiếu nại, tố cáo –

Mai Trần Dũng, website Quốc hội Việt Nam ngày 22/8/2006

- Một số bài học từ thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

ở thành phố Hồ Chí Minh – Tống Thế Gia, báo Nhân Dân ngày 26/6/2006

- Những vướng mắc cần được điều chỉnh trong pháp luật khiếu nại, tố

cáo – Nguyễn Công Tình, Tạp chí Thanh tra số 7/2006

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên là cơ sở khoa học quan trọng để tác giả luận văn kế thừa và phát triển trong đề tài nghiên cứu của mình

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam là lĩnh vực pháp luật rất rộng lớn, bao gồm cả pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và cả công nhân (kỷ luật lao

Trang 7

động) Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ tập trung giới hạn trong việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ quan điểm pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam, đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật, đưa ra những kiến nghị khoa học và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

4.2 Nhiệm vụ của luận văn

Từ mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyết định kỷ luật và pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

- Phân tích những ưu điểm và hạn chế của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin

về nhà nước và pháp luật, những quan điểm mang tính lý luận về nhà nước và pháp luật trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 8

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, đặc biệt là phương pháp trừu tượng khoa học

6 Điểm mới khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật ở Việt Nam Thông qua việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

ở Việt Nam hiện nay, luận văn cố gắng làm rõ phương hướng xây dựng một

cơ chế giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật phù hợp với thực tiễn Việt Nam

và yêu cầu hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT

KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT

1.1 Nhận thức chung về pháp luật và pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

1.1.1 Quan niệm và đặc điểm của pháp luật

* Quan niệm về pháp luật

Pháp luật là một từ Hán - Việt Chữ "Pháp" trong tiếng Hán có các nghĩa: 1 pháp luật; luật 2 phương pháp; phương thức 3 tiêu chuẩn; mẫu mực 4 phỏng theo; noi theo 5 Phật pháp (đạo lý Phật giáo) 6 pháp; pháp thuật [43, tr.139] Theo nghĩa rộng, "pháp" là thể chế quốc gia, chế độ chính trị xã hội của đất nước; theo nghĩa hẹp, "pháp" là những điều luật (quy phạm pháp luật), luật lệ, những quy định mang tính nguyên tắc, khuôn mẫu, chuẩn mực Quan niệm có tính phổ biến coi pháp luật là "Tổng hợp các quy tắc xử

sự có tính bắt buộc do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế" [44, tr 1071] Lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật quan niệm: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội Khi nghiên cứu về pháp luật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đấu tranh với các quan điểm duy tâm, khẳng định bản chất của pháp luật không có gì khác hơn là ý chí của giai cấp thống trị nhà nước được thể hiện trong pháp luật Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác

và F.Ăngghen đã vạch trần bản chất của pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản được nâng lên thành luật pháp

Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban

hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác, được quy định bởi

Trang 10

cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm mục đích xây dựng một xã hội dân chủ, phồn vinh

* Đặc điểm của pháp luật

Pháp luật cũng như tập quán, tín điều tôn giáo, đạo đức đều có chung chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, song có những đặc điểm riêng, gồm:

Thứ nhất, pháp luật chỉ do nhà nước ban hành, thể hiện và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Chính vì do nhà nước ban hành nên pháp luật có tính cưỡng chế, tính bắt buộc chung, không phụ thuộc vào ý chí, lợi ích của bất kỳ cá nhân nào Mọi người vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý Sinh thời V.I.Lênin đã viết: Vấn đề không phải là xử lý nặng hay nhẹ mà đã vi phạm thì đều phải bị xử lý

Thứ hai, pháp luật không chỉ có chức năng tổ chức, điều chỉnh hành vi của con người mà còn điều chỉnh mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, không chỉ thiết lập trật tự hoạt động của con người, mà còn thiết lập trật tự thống trị, trong đó các giai cấp đối kháng nhau không đi tới tiêu diệt nhau, do đó tiêu diệt luôn cả xã hội

Thứ ba, mặc dù được nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện song pháp luật có tính độc lập tương đối trong quan hệ với nhà nước Nhà nước nào tôn trọng tính khách quan này sẽ phát huy được vai trò và giá trị xã hội to lớn của pháp luật, và do đó giữ nghiêm được kỷ cương trật tự, đưa xã hội phát triển

Thứ tư, tính hình thức xác định, nhờ đó pháp luật thể hiện được chính xác ý chí của giai cấp cầm quyền; việc nhận thức và thực hiện cũng được nhất quán, chính xác

Ngoài ra, với mỗi hệ thống pháp luật khác nhau, như hệ thống luật Anh

- Mỹ, hệ thống châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật XHCN lại có những đặc điểm riêng Tất cả những đặc điểm đó đều là những dấu hiệu phân biệt với các quy phạm xã hội khác

Trang 11

Tính ưu trội của pháp luật trong các chức năng tổ chức, điều chỉnh, định hướng, cũng như chức năng thông tin, giáo dục tính tổ chức, kỷ luật cũng là những dấu hiệu mà không có một quy phạm xã hội nào khác hội tụ được đầy đủ

1.1.2 Quan niệm về pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

1.1.2.1 Khái niệm quyết định kỷ luật

Theo quy định tại khoản 12 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) thì:

Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

Quyết định kỷ luật về thực chất là một dạng của quyết định hành chính nhưng nó khác với các loại quyết định hành chính còn lại ở chỗ nó thể hiện mối quan hệ trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với cán bộ, công chức thuộc quyền; và như vậy, mặc dù cũng được điều chỉnh trong Luật Khiếu nại, tố cáo như các loại quyết định hành chính khác nhưng việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật được áp dụng theo trình tự và thủ tục riêng Trên thực tế, trong hoạt động điều hành nội bộ của cơ quan, tổ chức, ngoài quyết định kỷ luật ra cán bộ, công chức còn chịu tác động của nhiều quyết định hành chính khác như: quyết định điều động, thuyên chuyển công tác, đề bạt nhưng Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định những quyết định này có thể bị khiếu nại theo thủ tục chung để bảo đảm cho hoạt động công vụ được thực hiện nhanh nhạy, có hiệu quả, bảo đảm sự ổn định, liên tục và nề nếp của nền hành chính nhà nước, sự hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức

Trang 12

Riêng quyết định kỷ luật là một hình thức xử lý đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong hoạt động công vụ, đụng chạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì pháp luật cho phép họ có quyền khiếu nại để đảm bảo tính đúng đắn, nghiêm minh của quyết định kỷ luật

Luật Khiếu nại, tố cáo chỉ điều chỉnh việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật áp dụng cho cán bộ, công chức theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức Theo quy định tại Điều 1, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức 2003 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế nhà nước, bao gồm:

“a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung

là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân

mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

Trang 13

g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”

Tuy vậy, về đối tượng chịu sự điều chỉnh của các hình thức kỷ luật quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức thì theo điều 39, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 và Điều 1 Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức bao gồm những cán bộ, công chức quy định tại điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1, điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức Đó là:

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân

mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã

Trang 14

Còn nhóm đối tượng quy định tại điểm a, g, khoản 1, điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 là: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị -

xã hội xã, phường, thị trấn thì tại điểm 2, Điều 39 Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định việc bãi nhiệm, kỷ luật được thực hiện theo quy định của pháp

luật và điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội “theo quy định

của pháp luật” ở đây có thể sẽ hiểu dưới nhiều góc độ, hoặc đồng thời chịu

sự tác động của các hình thức kỷ luật quy định tại Pháp lệnh cán bộ công chức

và điều lệ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội mà người bị xử lý kỷ luật là thành viên, hoặc chỉ chịu các biện pháp, trách nhiệm kỷ luật theo quy định tại điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đó Theo Nghị định 35/2005/NĐ-CP về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thì nhóm đối tượng này không được đưa vào phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Nghị định Đối tượng điều chỉnh của Nghị định 35/2005/NĐ-CP về việc xử lý, kỷ luật cán bộ, công chức chỉ bao gồm những cán bộ, công chức quy định tại điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1, điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi 2003 và những cán bộ, công chức được điều động sang làm việc tại các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; cán bộ, công chức đang nghỉ chế độ chờ làm thủ tục hưu trí; cán bộ, công chức sau khi điều động công tác về cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mới phát hiện vi phạm kỷ luật

Pháp luật cán bộ, công chức và pháp luật khiếu nại, tố cáo đều quy định: cũng là cán bộ, công chức nhưng nếu họ là thành viên của một tổ chức chính trị, (như đoàn viên công đoàn, đảng viên) khi vi phạm kỷ luật của tổ chức đó và bị áp dụng hình thức kỷ luật theo Điều lệ tổ chức đó, nếu khiếu nại thì không được giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo

Trang 15

Tuy nhiên trên thực tế cũng có những trường hợp khiếu nại quyết định

kỷ luật tuy không rơi vào trường hợp nêu trên nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, thụ lý để giải quyết Theo quy định tại khoản 7, phần I Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm 2006 của Bộ Nội

vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước thì những khiếu nại quyết định kỷ luật sau đây không được thụ lý để giải quyết:

Quyết định kỷ luật không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công chức khiếu nại;

Công chức khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp;

Người đại diện không hợp pháp;

Thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết mà không có lý do chính đáng;

Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết lần hai và không phát hiện thêm những tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại đó;

Khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc đã được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án;

Khiếu nại đến cơ quan không có thẩm quyền giải quyết

1.1.2.2 Quan niệm về pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

Khiếu nại, tố cáo là một phạm trù lịch sử tồn tại khách quan khi xã hội còn giai cấp và nhà nước Trong xã hội bóc lột, thì chính quyền nhà nước thuộc về giai cấp bóc lột, do đó việc khiếu nại, tố cáo của nhân dân là sự đấu tranh mang tính đối kháng của nhân dân chống lại giai cấp bóc lột, chống lại nhà nước của giai cấp bóc lột Vì vậy, việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của các nhà nước bóc lột thực chất là nhằm xoa dịu bớt nỗi bất bình, phản kháng của nhân dân lao động đối với giai cấp thống trị

Trang 16

Nhà nước của ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, chính vì vậy, việc khiếu nại của nhân dân nói chung, khiếu nại của cán bộ, công chức đối với quyết định kỷ luật nói riêng không có ý nghĩa như là sự đấu tranh mang tính đối kháng, đấu tranh giai cấp mà nó là cuộc “đấu tranh” nhằm giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, những quyết định đưa ra chưa thoả đáng trong quá trình ra quyết định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức nhằm bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ, công chức, việc giải quyết những khiếu nại đối với quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong chế độ ta, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn tồn tại Bởi vì, nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn còn những mâu thuẫn nội tại, nhưng đây không phải là những mâu thuẫn đối kháng phát sinh trong quá trình vận động phát triển của xã hội Những mâu thuẫn nội tại đó sẽ dần được khắc phục cùng với sự phát triển của đất nước Việc khiếu nại quyết định kỷ luật và giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là việc cán bộ, công chức kiến nghị, yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định kỷ luật đối với mình khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trên cơ sở những quy định của pháp luật giải quyết khiếu nại nói chung, pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định

kỷ luật nói riêng để thực hiện việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức Đồng thời đó cũng chính là phương thức để cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ của mình đóng góp, tham gia vào quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch và vững mạnh

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân lao động trở thành người chủ thực sự của đất nước nhà nước ngày càng quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện cho nhân dân nói chung, cán bộ, công chức nói riêng tham gia ngày càng sâu rộng vào các quan hệ xã hội Về mặt pháp lý,

Trang 17

sự quan tâm đó đã được nhà nước bảo đảm bằng cách quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản cho công dân trong đó có cán bộ, công chức, chính các quyền

và nghĩa vụ được quy định trong Hiến pháp đã xác định địa vị pháp lý của họ trong xã hội Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân Cùng với các quy định về quyền, nghĩa vụ đó trong Hiến pháp thì các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định cụ thể các quyền của cán bộ, công chức trong đó có quyền khiếu nại (như các quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản quy phạm pháp luật khác)

Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:

Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp của mình Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Là công dân cho nên, cán bộ, công chức cũng có quyền khiếu nại, tố cáo như đã quy định trong luật khiếu nại, tố cáo, nhưng bên cạnh đó cán bộ, công chức còn có một quyền quy định riêng có của mình là khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân họ

Trên cơ sở của những phân tích trên, khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức được hiểu là việc cán bộ, công chức theo thủ tục do Lụât Khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, cùng với các chủ thể khác thì cán bộ, công chức là một chủ thể đặc thù của khiếu nại quyết định kỷ luật theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

Trang 18

Việc thực hiện quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức cũng bắt nguồn từ hoạt động quản lý của nhà nước Chủ thể khiếu nại thực hiện quyền này trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể khiếu nại cho rằng, cơ quan hoặc cán bộ, công chức nhà nước trong hoạt động của mình đã vi phạm chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước hoặc không thực hiên đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại được pháp luật quy định Việc vi phạm đó cũng có thể do lỗi khách quan hoặc chủ quan mà chủ thể khiếu nại cho là có vi phạm bằng những căn cứ này hoặc căn cứ khác Việc vi phạm đó có thể biểu hiện ở những dạng sau đây:

- Vi phạm các quyền của chủ thể khiếu nại được pháp luật quy định, các quyền đó được đảm bảo bằng pháp luật của nhà nước Việc áp dụng pháp luật đi ngược lại hoặc làm biến dạng những quy định của pháp luật trong quá trình xem xét, ra quyết định xử lý kỷ luật

- Việc giải thích, hướng dẫn pháp luật để áp dụng vào quá trình xem xét, ra quyết định kỷ luật không đúng những quy định của pháp luật

Việc khiếu nại quyết định kỷ luật luôn mang trong mình một lượng thông tin về sự vi phạm đến các quyền, lợi ích của cán bộ, công chức được pháp luật quy định hoặc bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Hay nói khác đi, nội dung khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức

có quyền khiếu nại phải chứa đựng yếu tố là quyết định kỷ luật đó đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình; phải đưa ra được những căn cứ

để chứng minh cho việc khiếu nại của mình

Khi thực hiện việc khiếu nại quyết định kỷ luật, ngoài bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cán bộ, công chức còn thực hiện việc giám sát trực tiếp đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Bởi chính có sự khiếu nại đó mà cơ quan, tổ chức,

Trang 19

người có thẩm quyền kiểm tra được tính hợp pháp luật, tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn của các quyết định hành chính của mình

Việc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại quyết định kỷ luật có thể được hiểu như một hình thức tự vệ của họ đối với các quyền, lợi ích bị xâm phạm Đặc điểm của vịêc khiếu nại quyết định kỷ luật là luôn chứa đựng những chứng cứ của việc vi phạm mà cán bộ, công chức đưa ra làm căn cứ để bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật

Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là một trong những hình thức để đảm bảo quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức được thực hiện, và điều đó thực chất cũng là để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân bởi lẽ cán bộ, công chức cũng là công dân của nhà nước Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ: người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở trong việc thực hiện quyền khiếu nại, cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp lụât Hoặc quy định: cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó

Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là việc các

cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước để xác định xem

có các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xem xét, ra quyết định kỷ luật dẫn đến khiếu nại hay không Nếu thực chất là có thì phải sửa chữa, nếu

có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại do những hành vi trái pháp luật đó gây ra, nhằm bảo vệ có hiệu quả những lợi ích của cán bộ, công chức

Việc khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức cũng là sự phản ánh những thắc mắc, sự chưa nhất trí, những mâu thuẫn trong việc thực thi

Trang 20

các chế độ, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Việc giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại - đó chính là việc tiến hành những hoạt động cần thiết theo quy định của pháp luật khi giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật nhằm dẫn đến sự nhất trí trong mối quan hệ giữa nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước

Giải quyết khiếu nại nói chung, khiếu nại quyết định kỷ luật nói riêng

là một hoạt động thuộc chức năng của cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật Bởi vì, cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận trong

bộ máy nhà nước nói chung Cơ quan hành chính nhà nước chỉ thực hiện những hoạt động trên cơ sở các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật Việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền giải quyết cũng phải dựa vào những quy định của pháp luật và để thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật

Giải quyết khiếu nại là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Bởi vì, trong việc giải quyết khiếu nại, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải sử dụng quyền lực nhà nước để ra các quyết định xử lý Và trong trường hợp cần thiết phải sử dụng quyền lực nhà nước để

áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành các quyết định đã có hiệu lực đó

Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cũng là một dạng giải quyết khiếu nại hành chính và là một hoạt động thuộc chức năng của cơ quan hành chính nhà nước Bởi vì, trong hoạt động quản lý không thể tránh khỏi những sai lầm, khiếm khuyết, thậm chí có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Như vậy, muốn cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước có hiệu lực, hiệu quả đúng đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước thì nhất thiết phải đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có hoạt động tổ chức giải quyết các khiếu nại để sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó, nhằm dần loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có cả cán bộ, công chức nhà nước

Trang 21

Giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền là một trong những chức năng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, có tác dụng ngăn chặn sự tuỳ tiện, lạm dụng pháp luật vì những mục đích riêng của những cán bộ, công chức có thẩm quyền

Giải quyết các khiếu nại trong hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước còn là một biện pháp bảo đảm cho quyền khiếu nại của công dân, của cán bộ, công chức đối với quyết định xử lý kỷ luật được thực hiện trên thực tế Những quy định của pháp luật về quyền khiếu nại sẽ trở thành vô nghĩa nếu như những quy định đó không được bảo đảm thực hiện trên thực tế Mọi hoạt động của nhà nước đều nhằm mục đích cuối cùng là để phục vụ nhân dân, những quy định của pháp luật về quyền khiếu nại chỉ được thực hiện tốt, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân khi cơ quan có trách nhiệm, người có thẩm quyền, có trách nhiệm đề cao và thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại Việc giải quyết khiếu nại luôn có sự đòi hỏi của thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan; giải quyết khiếu nại phải vô

tư, thận trọng, đặt lợi ích của nhà nước, của nhân dân lên trên hết

Điều 74, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét

và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác

Trang 22

Như vậy, việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của nhà nước Quyền khiếu nại của chủ thể có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật được bảo đảm về chính trị, kinh tế, tư tưởng và pháp lý, trong đó những bảo đảm về pháp lý là một trong những bảo đảm rất quan trọng Những bảo đảm này một mặt đảm bảo và củng cố những điều kiện cần thiết để thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại, đồng thời nó còn ngăn ngừa, phòng chống những vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền khiếu nại đã được pháp luật quy định, góp phần vào việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân và vì dân

Tóm lại, pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là hệ thống

các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện, nhằm mục đích xác minh, kết luận và ban hành quyết định giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khiếu nại quyết định kỷ luật đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh, khách quan của pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại quyết định kỷ luật

1.2 Đặc điểm, tính chất của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

1.2.1 Đặc điểm của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

Trang 23

hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước thì khiếu nại quyết định kỷ luật, chủ thể khiếu nại là cán bộ, công chức chịu sự quản lý mang tính nội

bộ của cơ quan tổ chức có thẩm quyền Mỗi chủ thể này có địa vị pháp lý khác nhau Do đó, pháp luật khiếu nại, tố cáo hiện hành đã quy định hai loại khiếu nại này thành hai thành phần riêng với những nội dung, thủ tục khác nhau Như vậy, chủ thể của khiếu nại quyết định kỷ luật chỉ là cán bộ, công chức

Khoản 1 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: “Cán bộ, công chức

có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn

cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Như vậy, theo quy định của Điều luật nêu trên thì cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Có thể nói, khiếu nại quyết định kỷ luật là quyền chỉ riêng có đối với cán bộ, công chức nhà nước, không hề có đối với những công dân không làm việc trong bộ máy nhà nước Hay nói cách khác, chỉ có cán bộ, công chức mới là chủ thể của quyền khiếu nại quyết định kỷ luật và vì vậy, khi nói đến quyết định kỷ luật người ta thường nói

là “quyết định kỷ luật cán bộ, công chức” Bởi vì đối tượng của loại khiếu nại này chính là các quyết định kỷ luật - một hình thức quyết định hành chính chỉ được áp dụng đói với cán bộ, công chức nhà nước

Khoản 1, phần I Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm 2006 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước quy định cụ thể hơn về chủ thể của quyền khiếu nại quyết định kỷ luật như sau:

Công chức nói tại Thông tư này gồm những người được tuyển dụng,

bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã được quy định

Trang 24

tại điểm c, điểm h khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm

1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003

1.2.1.2 Đặc điểm về đối tượng

Theo quy định tại điều 2 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1988 thì:

“Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”

Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức tuy thực chất là một quyết định hành chính nhưng thể hiện mối quan hệ trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan sử dụng đối với cán bộ, công chức thuộc quyền, cho nên mặc dù cũng được điều chỉnh trong Luật Khiếu nại, tố cáo nhưng

có trình tự và thủ tục riêng Trên thực tế, trong hoạt động điều hành nội bộ của cơ quan, tổ chức, ngoài quyết định kỷ luật cán bộ, công chức còn chịu tác động của nhiều quyết định hành chính khác như: quyết định điều động, thuyên chuyển công tác, đề bạt nhưng Luật không quy định những quyết định này có thể bị khiếu nại theo thủ tục chung để bảo đảm cho hoạt động công vụ nhanh nhạy, có hiệu quả, bảo đảm sự ổn định, liên tục và nề nếp của nền hành chính nhà nước, sự hoạt động bình thường của các cơ quan,

tổ chức Riêng quyết định kỷ luật là một hình thức xử lý đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong hoạt động công vụ, đụng chạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì pháp luật cho phép họ có quyền khiếu nại để đảm bảo tính đúng đắn, nghiêm minh của quyết định kỷ luật

Luật Khiếu nại, tố cáo chỉ điều chỉnh việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật áp dụng cho cán bộ, công chức theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức Cũng là cán bộ, công chức nhưng nếu họ là thành viên của một tổ chức (như đoàn viên công đoàn,

Trang 25

đảng viên) khi vi phạm kỷ luật của tổ chức đó và bị áp dụng một hình thức

kỷ luật theo Điều lệ tổ chức đó, nếu khiếu nại thì không được giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo

Bên cạnh đó, pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cũng quy định những trường hợp không áp dụng các hình thức kỷ luật quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức Tại điều 4, Nghị định 35/2005/NĐ-CP về

xử lý kỷ luật cán bộ, công chức quy định các trường hợp không áp dụng là:

- Việc vi phạm pháp luật trong trường hợp mất năng lực hành vi dân

sự theo kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

- Trường hợp phải thi hành quyết định của cấp trên theo quy định tại điều 8 của Pháp lệnh cán bộ, công chức Điều 8 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2000, 2003 quy định:

Cán bộ, công chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định

và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó Vi phạm kỷ luật trong tình thế bất khả kháng trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ và được cấp có thẩm quyền xác nhận

Trên thực tế, cũng có những trường hợp khiếu nại quyết định kỷ luật không được thụ lý giải quyết Theo quy định tại khoản 7, phần I Thông tư

số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm 2006 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước thì những khiếu nại quyết định kỷ luật sau đây không được thụ lý để giải quyết: quyết định kỷ luật không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công chức khiếu nại; công chức khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp; người đại diện không hợp pháp; thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết mà không có lý do chính đáng; việc khiếu nại đã có quyết

Trang 26

định giải quyết lần hai và không phát hiện thêm những tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại đó; khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc đã được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án; khiếu nại đến cơ quan không có thẩm quyền giải quyết

1.2.1.3 Đặc điểm về thời hiệu, thời hạn, trình tự, thủ tục khiếu nại quyết định kỷ luật

Pháp luật khiếu nại, tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại quyết định

kỷ luật là 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định kỷ luật Như vậy so với thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính là 90 ngày thì thời hiệu quyết định kỷ luật ngắn hơn rất nhiều, bởi vì việc kỷ luật một cán bộ, công chức là một công việc mang tính chất nội bộ trong cơ quan, tổ chức Trong quá trình xem xét hình thức kỷ luật, thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc các thành viên Hội đồng kỷ luật đã có những bước gặp gỡ người bị kỷ luật, tìm hiểu, cân nhắc kỹ lưỡng các tình tiết Thông qua đó, người bị kỷ luật cũng đã biết được hướng xử lý của Hội đồng kỷ luật và của thủ trưởng cơ quan Như vậy, thông thường người bị kỷ luật đã được biết trước những nội dung của quyết định kỷ luật Do đó, Luật Khiếu nại, tố cáo chỉ quy định thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật Đây là khoảng thời gian đủ để cán bộ, công chức cân nhắc việc có khiếu nại quyết định kỷ luật đối với mình hay không Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại và người bị khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức về cơ bản cũng tương tự như đối với khiếu nại quyết định hành chính và hành vi hành chính

Về thời hạn giải quyết, các Điều 52, 54 của Luật Khiếu nại, tố cáo quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu và thời hạn giải quyết khiếu nại lần tiếp theo là không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45

Trang 27

ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết Như vậy, thời hạn giải quyết khiếu nại lần tiếp theo ở đây được quy định ngắn hơn so với việc giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính

Về trình tự giải quyết, Luật Khiếu nại, tố cáo quy định việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật được tiến hành theo hai cấp: cơ quan, tổ chức có quyết định kỷ luật bị khiếu nại giải quyết lần đầu; nếu còn có khiếu nại thì cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan tổ chức đó giải quyết lần thứ hai và cũng là lần thứ hai Tuy nhiên, việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật liên quan đến cơ chế quản lý cán bộ hiện hành, liên quan đến thiết chế chính trị và cơ cấu bộ máy nhà nước ta Đây là một vấn đề khá phức tạp, không thể quy định một cách cứng nhắc được Do đó, Điều

56 Luật Khiếu nại, tố cáo quy định:

Căn cứ vào quy định của Luật này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại của cán bộ, công chức đối với quyết định kỷ luật

Như vậy, liên quan đến việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức sau này sẽ có nhiều văn bản ở nhiều cấp độ khác nhau của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trên cơ sở những quy định mang tính nguyên tắc của Luật Khiếu nại,

Trang 28

giải quyết các vụ án hành chính Theo đó, cán bộ, công chức giữ chức vụ từ

Vụ trưởng hoặc tương đương trở xuống bị buộc thôi việc thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp cán bộ, công chức đó được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ và Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân)

1.2.2 Tính chất của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

Xuất phát từ đặc trưng chủ thể của khiếu nại quyết định kỷ luật là cán bộ, công chức quy định tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003 cho thấy đây là một dạng chủ thể đặc biệt Không giống như chủ thể của khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính nói chung có thể là công dân, cơ quan, tổ chức với nhiều thành phần khác nhau, trình độ học vấn, trình độ văn hoá khác nhau, chủ thể của khiếu nại quyết định kỷ luật là cán bộ, công chức - tầng lớp trí thức của xã hội ta, tầng lớp đóng vai trò vô cùng quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá trong xã hội ta, tầng lớp có nhận thức và trình độ cao về chính trị cũng như văn hoá Do những đặc thù đó kéo theo việc quy định về pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật thường mang tính khép kín Pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật mang tính khép kín là do đối tượng của khiếu nại quyết định kỷ luật chỉ là cán cán bộ, công chức khi bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật thuộc nội bộ cơ quan hoặc cơ quan cấp trên của ngành, lĩnh vực mà cán bộ, công chức chịu xử lý kỷ luật có khiếu nại Điều này thể hiện rõ ở điểm 2, Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13/01/2006 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước:

Trang 29

Khiếu nại đối với quyết định của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết; trong trường hợp còn khiếu nại tiếp thì thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết

1.3 Nội dung của pháp luật về khiếu nại quyết định kỷ luật

1.3.1 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

- Theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo thì thẩm

quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức như sau:

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành; giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại Quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành

- Mục III Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm 2006 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước quy định cụ thể hơn như sau:

Người đứng đầu tổ chức trực thuộc Sở, ban, ngành của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và người đứng đầu tổ chức trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành theo phân cấp

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thấm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành; giải quyết khiếu nại đối với

Trang 30

quyết định kỷ luật mà người đứng đầu tổ chức trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu những còn có khiếu nại

Giám đốc Sở và tương đương có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành; giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà người đứng đầu tổ chức trực thuộc Sở, Ban, ngành của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành; giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

- Điều 25 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền:

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành;

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại Quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành

- Phần III Thông tư số 01/2006/TT-BNV quy định cụ thể như sau:

Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành theo phân cấp

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành; Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của Bộ trưởng

Bộ Nội vụ, Điều 26 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP quy định:

Trang 31

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ban hành;

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ Nội vụ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại;

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại;

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà người giữ các chức

vụ lãnh đạo trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

Tham mưu, kiến nghị việc giải quyết các khiếu nại quyết định kỷ luật khác theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định giải quyết khiếu nại mà Bộ trưởng Bộ Nội vụ giải quyết đối với quyết định kỷ luật mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; Giải quyết khiếu nại đối với quyết định

kỷ luật mà người giữ các chức vụ lãnh đạo trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu là quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành

1.3.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật

* Về thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật quy định tại các Điều 28, 29, 30, 31 Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Lụât khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo quy định như sau:

Người đã ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi nhận được đơn khiếu nại đối với quyết định kỷ luật đó thì phải xem xét và ra quyết định giải quyết bằng văn bản theo thủ tục quy định tại Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005

Trang 32

Trong trường hợp cán bộ, công chức bị kỷ luật không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tiếp tục khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết tiếp phải xem xét và ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản theo quy định tại điều 53 của Luật khiếu nại, tố cáo

Công chức giữ chức vụ từ vụ trưởng hoặc tương đương trở xuống bị kỷ luật buộc thôi việc, sau khi khiếu nại mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu vẫn giữ nguyên hình thức kỷ luật đó thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toà án theo quy định của pháp luật

Bộ trưởng Bộ Nội vụ căn cứ quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo, Nghị định này

và các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước

* Đối với việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật lần đầu

Mục 1 Phần IV Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm

2006 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định

kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật lần đầu như sau:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật, nếu công chức không đồng ý và khiếu nại thì công chức hoặc người đại diện theo pháp luật phải gửi đơn khiếu nại kèm theo bản sao quyết định kỷ luật và các tài liệu liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền giải quyết Nội dung đơn khiếu nại phải nêu rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ tên, địa chỉ của công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật; nội dung, lý do khiếu nại

và yêu cầu của công chức khiếu nại; đơn khiếu nại phải có chữ ký của công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật; quyết định kỷ luật; các tài liệu khác có liên quan

Trang 33

Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật Trong trường hợp công chức bị kỷ luật không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiên vụ án hành chính tại Toà án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết lần hai hoặc Toà án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu

* Đối với việc giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật lần hai

Mục 2 Phần IV Thông tư số 01/2006/TT-BNV ngày 13 tháng 01 năm

2006 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại quyết định

kỷ luật công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật lần hai như sau:

Khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, trong thời hạn

10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định nếu công chức không đồng ý và tiếp tục khiếu nại thì công chức hoặc người đại diện theo pháp luật phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại trước đó và các tài liệu liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai Nội dung đơn khiếu nại lần hai gồm: họ tên, địa chỉ của công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật; nội dung, lý do khiếu nại và yêu cầu của công chức khiếu nại Đơn khiếu nại phải do công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật ký tên và không được sử dụng bản photocopy

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật và người giải quyết khiếu nại trước đó biết Cơ quan thanh tra hoặc bộ phận quản lý nhân sự cùng cấp có trách nhiệm giúp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai thực hiện những thủ tục nói trên

Người giải quyết khiếu nại lần hai có quyền yêu cầu công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật, người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ

Trang 34

quan, tố chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại Người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ vụ khiếu nại cho người giải quyết khiếu nại lần hai

Trường hợp việc tổ chức gặp gỡ, đối thoại trực tiếp là bắt buộc thì trình

tự, thủ tục gặp gỡ, đối thoại trực tiếp được thực hiện quy định đối với lần đầu

Trên cơ sở các thông tin, tài liệu, biên bản đối thoại trực tiếp (trong trường hợp bắt buộc tổ chức đối thoại), kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra hoặc bộ phận quản lý nhân sự cùng cấp về việc giải quyết khiếu nại và những bằng chứng hợp pháp khác về nội dung khiếu nại, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu lại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết Căn cứ quy định của pháp luật và trên

cơ sở các thông tin, tài liệu, biên bản đối thoại trực tiếp (trong trường hợp bắt buộc tổ chức đối thoại), kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra cùng cấp về việc giải quyết khiếu nại và những bằng chứng hợp pháp khác về nội dung khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi cho công chức có đơn khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền, lợi ích liên quan trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ban hành Người ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải công bố công khai quyết định đối với công chức khiếu nại hoặc người đại diện theo pháp luật và người giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Theo Điều 18 Nghị định

số 136/2006/NĐ-CP thì chậm nhất trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày ký quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải công khai quyết định đó Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lựa chọn một hoặc một số

Trang 35

hình thức dưới đây để thực hiện công khai: niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại; thông báo lên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa lên trang thông tin điện tử; tổ chức công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại; phát hành

bố công khai kết luận trên đến toàn thể cán bộ, công chức đồng thời phải có trách nhiệm bồi hoàn những quyền lợi chính đáng đối với công chức bị kỷ luật oan theo quy định của pháp luật; trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết luận việc xử lý kỷ luật công chức tiến hành không đúng quy định về nội dung, hình thức, quy trình xử lý thì người có thẩm quyền ký quyết định kỷ luật phải ra quyết định hủy

bỏ quyết định xử lý kỷ luật đồng thời chỉ đạo người đứng đầu cơ quan quản lý công chức tổ chức lại việc xem xét kỷ luật công chức theo đúng quy định

1.4 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật hiện nay

1.4.1 Đảm bảo tính đồng bộ, tính khả thi

Pháp luật khiếu nại, tố cáo nói chung, pháp luật về giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức nói riêng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật, góp phần hiện thực hoá việc sử dụng pháp luật

để bảo vệ những giá trị mà nhà nước pháp quyền mang lại cho xã hội, cho con

Trang 36

người Khi quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức được bảo đảm thì đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phát huy được dân chủ tối đa trong việc tham gia vào quản lý các công việc của nhà nước và xã hội Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất

cả quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, các quyền cơ bản của công dân” Pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cần được hoàn thiện trên cơ sở đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, quy định rõ việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật Các quy định của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật phải vừa mang tính khái quát, toàn diện nhưng cũng phải vừa có sự đồng bộ, tương thích với các văn bản pháp luật khác

Việc hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán

bộ, công chức thời gian qua, về mặt nội dung đã cơ bản đảm bảo được tính đồng bộ và tương thích với hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước Pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật đã phản ánh được bản chất chính trị của Nhà nước dân chủ Khiếu nại quyết định kỷ luật cũng như khiếu nại nói chung đã thể hiện được như một phương thức tự vệ dự phòng, kiểm soát xã hội, kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức qua việc phản kháng với những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm trong việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức Việc cán bộ, công chức sử dụng quyền khiếu nại quyết định kỷ luật để khiếu nại đối với quyết định xử lý

kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng chính là thước

đo thái độ, niềm tin của cán bộ, công chức đối với sự công bằng mà pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật có thể mang lại cho họ Chính vì lẽ đó, pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, pháp luật giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật nói riêng hình thành và phát triển là hoàn toàn phù hợp với xu thế vận hành của nhà nước, của xã hội

Trang 37

Tuy nhiên, để nội dung của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật phù hợp và có tính khả thi hơn trong thực tiễn thì cần phải được xây dựng

và hoàn thiện hơn nữa để sao cho cán bộ, công chức có thể sử dụng quyền khiếu nại của mình thuận lợi nhất, hiệu quả nhất, đơn giản nhất và không bị

gò ép, hạn chế bởi bất kỳ lý do gì Việc thiết lập khoa học và đơn giản hoá các quy trình, thủ tục khi thực hiện quyền khiếu nại quyết định kỷ luật sẽ tạo cơ

sở niềm tin cho cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật dễ dàng thực hiện quyền khiếu nại của mình hơn

1.4.2 Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức

Một yếu tố nữa trong việc hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật là cần phải trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân bởi cán bộ, công chức bên cạnh việc là người tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước thì cũng là công dân của nhà nước với đầy đủ quyền công dân cần được tôn trọng và bảo vệ Quyền con người gắn bó chặt chẽ với tư tưởng Nhà nước pháp quyền, là yếu tố được xã hội hoá bằng con đường nhà nước ghi nhận Do đó các quy định của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật phải hướng vào việc bảo vệ và tôn trọng các quyền của cán bộ, công chức Điều đó phải được thể hiện trong các quy định về tiếp nhận và phản hồi thông tin trong giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật; phải bảo đảm tính khách quan, công khai, đối thoại trong suốt quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại

1.4.3 Đảm bảo tính khả thi của quyết định giải quyết khiếu nại

Cần phải thiết lập một cơ chế giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật độc lập, có hiệu quả, mang tính chuyên nghiệp, không lệ thuộc vào việc quản

lý giữa các cấp trong cùng hệ thống Hình thành cơ chế phối hợp trong thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại Việc thanh tra, kiểm tra

Trang 38

theo thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, các cơ quan cấp trên đối với cấp dưới, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các đoàn thể cùng với các phương tiện thông tin đại chúng là những điều kiện đảm bảo cho các quy định của pháp luật giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật được thực hiện có hiệu quả

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là nhân tố quan trọng cho sự nghiệp phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức nói riêng cũng là góp phần vào việc thực hiện đường lối, chính sách của nhà nước Việt Nam để phấn đấu cho mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người

Trang 39

tố cáo chủ yếu được thể hiện tản mát trong nhiều sắc lệnh do Chủ tịch nước ban hành Chẳng hạn tại Điều 1, Luật Cải cách ruộng đất ban hành năm

1953 với mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

“Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc” [6, tr 2]

Khi thực hiện các chính sách cải cách ruộng đất do Chính phủ đương

Trang 40

án nhân dân đặc biệt với điều lệ họat động do Chính phủ quy định Hoặc

tương tự như thế được quy định trong các Sắc lệnh như “Sắc lệnh cử cán

bộ lãnh đạo các cơ quan thuộc Bộ xã hội” ban hành ngày 27/3/1946, hay

“Sắc lệnh cử cán bộ lãnh đạo các cơ quan thuộc Bộ quốc phòng” “Sắc lệnh

chỉ định cán bộ vào ủy ban kháng chiến hành chính liên khu 3”, “Sắc lệnh chỉ định cán bộ vào ủy ban kháng chiến hành chính liên khu 4” đều quy

định các nội dung xử lý cán bộ, công chức vi phạm sắc lệnh vào luôn trong một điều khoản hoặc một phần nào đó của sắc lệnh Tại thời điểm này, các khái niệm cán bộ, công chức chưa hình thành và chưa được hiểu cụ thể Cũng vì vậy, trong giai đoạn này chưa có khái niệm về giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyết định kỷ luật cán bộ, công chức một cách hệ thống như hiện nay

2.1.2 Giai đoạn 1954-1975

Tương tự giai đoạn 1945 đến 1954, giai đoạn 1954 đến 1975 đất nước ta tạm thời chia cắt làm 2 miền Nam - Bắc Thời kỳ này, mọi hoạt động của nước nhà chủ yếu diễn ra tại miền Bắc để chi viện cho Miền Nam kháng chiến, các quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thời kỳ này cũng chưa được cụ thể hóa, còn mang đậm dấu ấn của pháp luật thời chiến

Tiêu biểu cho pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và giải quyết khiếu nại liên quan đến xử lý kỷ luật cán bộ, công chức trong giai đoạn này có Nghị định số 195-CP ngày 31/12/1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật lao động trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước Điều lệ này gồm 4 chương với 17 điều khoản quy định cụ thể kỷ luật lao động ở các xí nghiệp cơ quan nhà nước; mọi công nhân, viên chức nhà nước phải nghiêm chỉnh chấp hành, không được vi phạm Các thủ trưởng các xí nghiệp, cơ quan cần lấy điều lệ này làm cơ sở để giáo dục công nhân, viên chức thuộc quyền mình Từ Điều 1 đến Điều 3 của bản Điều lệ quy định về nguyên tắc và nội dung kỷ luật lao động; từ điều 4 đến điều 8

Ngày đăng: 04/12/2020, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w