1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hính sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh)

81 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như mục đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, thì m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Vế XUÂN MÃO

CĂN Cứ, CƠ Sở KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Vế XUÂN MÃO

CĂN Cứ, CƠ Sở KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TẤT VIỄN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Võ Xuân Mão

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ VÀ CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 4

1.1 Khởi tố vụ án hình sự - giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự 4

1.1.1 Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự 4

1.1.2 Những yêu cầu đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 7

1.2 Khái niệm căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự 10

1.2.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự 10

1.2.2 Cơ sở khởi tố vụ án hình sự 13

1.3 Căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia 19

1.3.1 Trung Quốc 19

1.3.2 Liên bang Nga 20

1.3.3 In-đô-nê-xia 21

1.3.4 Một số quốc gia khác 22

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: CĂN CỨ, CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY 26

2.1 Các quy định pháp luật về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự từ 1945 đến trước 1988 26

Trang 5

2.2 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự

năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 31

2.2.1 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 31

2.2.2 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 36

2.3 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm năm 2015 40

Tiểu kết chương 2 47

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ CĂN CỨ, CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở HÀ TĨNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 48

3.1 Khái quát tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật trên địa bàn Hà Tĩnh trong các năm 2010-2016 48

3.2 Những vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các quy định về cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn của Hà Tĩnh và một số kiến nghị 60

3.2.1 Những vướng mắc về pháp luật 60

3.2.2 Những hạn chế trong việc áp dụng các quy định về căn cứ, và cơ sở khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn Hà Tĩnh 63

3.2.3 Một số kiến nghị 65

Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CCTP: Cải cách Tư pháp

KKT: Khu kinh tế TAND: Tòa án nhân dân TTHS : Tố tụng hình sự UBND: Ủy ban nhân dân VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã Hội Chủ Nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật tố tụng hình sự là phương tiện của nhà nước đương đại nhằm phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm Tuy nhiên, phụ thuộc vào kiểu tố tụng, mô hình tố tụng và truyền thống pháp luật mỗi nhà nước có cách thức thực hiện khác nhau Việc lựa chọn quy định cách thức nào để khởi động tố tụng hình sự đối với vụ án do đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia quy định Tuy nhiên, mục đích chung hướng đến là nhà nước phải chủ động nắm được nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, xử

lý tội phạm, kiểm soát được tội phạm, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi

hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình

sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm

để quyết định đưa vụ việc giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự, đây là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho các giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự trong vụ

án hình sự Giai đoạn này bắt đầu từ việc tiếp nhận và phát hiện các nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự có căn cứ đúng pháp luật làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, ngược lại khởi tố không có căn cứ pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng làm oan sai người vô tội hoặc

bỏ lọt tội phạm

Thời gian qua, đã có nhiều bài báo, công trình khoa học, đề tài luận văn, luận án đề cập dưới nhiều giác độ khác nhau nghiên cứu về: lý luận, thực tiễn pháp luật thực định về khởi tố vụ án hình sự Các công trình nghiên cứu

đã luận giải về tầm quan trọng, ý nghĩa và nội dung của chế định khởi tố vụ

án hình sự Qua các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy:

Trang 8

a) Có rất ít công trình nghiên cứu về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình

sự Mặt khác, thực tiễn hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn nhiều bất cập trong đó có nguyên nhân từ các quy định pháp luật tố tụng hình sự mà nội dung chưa rõ ràng, cần phải tiếp tục nghiên cứu

b) Chưa có công trình nào nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn một tỉnh, cụ thể như tỉnh Hà Tĩnh

Từ công việc thực tiễn của học viên và được sự gợi ý của Bộ môn Luật

hình sự, học viên đã chọn đề tài: “Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo

Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)” làm Luận văn tốt nghiệp cao học

2 Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu

2.1 Mục đích

Làm sáng tỏ về lý luận những căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Đồng thời, thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định về căn cứ, cơ sở khởi

tố vụ án hình sự, xác định những nguyên nhân của kết quả cũng như hạn chế từ đó kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện đúng đắn chế định này

2.2 Phạm vi: Luận văn thực hiện trên cơ sở thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh

trong áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về khởi tố vụ án hình sự

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật, đặc biệt là những chế định trong Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình

sự và thực tiễn khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

3.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch

Trang 9

sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác tư pháp thể hiện trong các nghị quyết: 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được luận văn sử dụng bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

4 Ý nghĩa của luận văn

Góp phần làm rõ hơn khái niệm căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự; việc áp dụng căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự vào thực tiễn ở tỉnh Hà Tĩnh Điểm mới của luận văn:

- Làm rõ hơn cơ sở lý luận về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn của một tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh

- Đánh giá việc thực hiện các quy định về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh;

- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện các quy định về căn cứ,

cơ sở khởi tố vụ án hình sự

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự Chương 2: Các quy định pháp luật về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình

sự trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay

Chương 3: Áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về căn cứ, cơ sở

khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh và một số kiến nghị

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ VÀ

CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khởi tố vụ án hình sự - giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự

Để nghiên cứu về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự trước hết cần tìm hiểu ý nghĩa, vai trò, đặc điểm và những yêu cầu đặt ra cho giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự với ý nghĩa là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự

1.1.1 Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự

Trong cuộc đấu tranh chống tội phạm, yêu cầu mà pháp luật hình sự đặt

ra là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật Thực hiện yêu cầu đó, các cơ quan tiến hành

tố tụng phải có một quá trình thu thập chứng cứ làm rõ tội phạm, sử dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra Khi sự việc có dấu hiệu của tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải làm sáng tỏ có hay không có sự việc phạm tội, ai là người phạm tội và có thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm hay không, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những vấn đề khác có liên quan của vụ án việc làm sáng

tỏ các tình tiết của vụ án trải qua một quá trình gồm nhiều giai đoạn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng Các giai đoạn đó bao gồm: khởi tố, điều tra, xét xử Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, bắt đầu bằng việc phát hiện những thông tin về tội phạm

và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự Việc khởi tố vụ án hình sự là thể hiện nguyên tắc trách nhiệm của nhà nước trong khởi tố và xử lý vụ án hình sự, là sự chính thức thừa nhận sự tồn tại của một vụ án, khẳng định trên thực tế có sự kiện phạm tội đã xảy ra Về mặt lý luận Luật tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là một khái niệm được

Trang 11

hiểu ở các góc độ khác nhau Trước hết, khởi tố vụ án hình sự là một chế định pháp lý, tập hợp những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về trình tự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự Thứ hai, khởi tố vụ án hình sự được coi là một hành

vi tố tụng mà từ đó hoạt động điều tra tội phạm bắt đầu được tiến hành Thứ

ba, khởi tố vụ án hình sự được coi là một giai đoạn tố tụng độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Cũng như các giai đoạn khác của tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự

có mục đích và nhiệm vụ riêng Nếu như mục đích chung của tố tụng hình sự

là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, thì mục đích cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định tội phạm và phát hiện người phạm tội, củng cố các dữ kiện, xác định các dấu hiệu của tội phạm bảo đảm phản ứng mau lẹ của Nhà nước trước hành vi phạm tội, góp phần ngăn ngừa và xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội Mục đích và nhiệm vụ này đều tuân thủ mục đích và nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng kịp thời và công minh mọi hành vi phạm tội, không

để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự sự thể hiện việc tiếp nhận, xử lý tin báo và tố giác về tội phạm, xác minh các tin báo, tố giác đó để kiểm tra tính hợp pháp của các lý

do và căn cứ để khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn này cũng có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng đối với vụ việc, phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, giữ gìn, bảo quản các dấu vết của vụ án Có thể nói, việc khởi tố vụ án hình sự tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ xác định người phạm tội và tội phạm ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo

Với mục đích và nhiệm vụ quan trọng như vậy, khởi tố vụ án hình sự

có nhiều ý nghĩa Trước hết, về mặt chính trị - xã hội, khởi tố thể hiện việc

phản ứng kịp thời của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đấu tranh

Trang 12

chống tội phạm trên phương diện pháp luật hình sự Khởi tố vụ án hình sự là một biện pháp rất quan trọng để xác định sự thật của vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi phạm tội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; ngăn chặn, phòng ngừa các hành

vi phạm tội Và điều quan trọng hơn là khẳng định trên thực tế „„nguyên tắc không tránh khỏi hình phạt‟‟ của người có hành vi phạm tội Việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội phạm “ẩn” Theo nhận xét của nhiều nhà khoa học pháp lý hình sự, tình trạng tội phạm “ẩn” vẫn còn là vấn đề nan giải với nhiều nguyên nhân khác nhau và ở các mức độ khác nhau Vì vậy, việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự là yếu tố quan trọng làm giảm tội phạm “ẩn” trong tình hình hiện nay

Bên cạnh đó khởi tố vụ án hình sự có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng đối với vụ việc, cũng cần thấy rõ là nếu không khởi tố vụ án khi đã

có dấu hiệu tội phạm, hoặc khởi tố vụ án không kịp thời thì dễ dẫn đến việc tội phạm bị bỏ lọt, bị che giấu, chứng cứ bị thất thoát, bị tiêu hủy làm cho việc điều tra xử lý khó khăn Ngược lại, giai đoạn khởi tố còn có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng đối với vụ án Khi có những căn cứ pháp luật quy định không được khởi tố, cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp hành để tránh oan, sai Việc khởi tố cũng như không khởi tố vụ án theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự sẽ tạo niềm tin cho xã hội vào sự công minh của pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm chi phí của xã hội, nhà nước và công dân

Thứ hai, ý nghĩa pháp lý của việc khởi tố vụ án hình sự được thể hiện ở chỗ khi các cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố hình sự là thời điểm bắt đầu áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó

ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, tính độc lập

Trang 13

của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền chỉ được phép tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin mà không được phép tiến hành bất cứ các biện pháp cưỡng chế tố tụng nào ngoại trừ một số trường hợp được pháp luật quy định do không thể trì hoãn như khám nghiệm hiện trường, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang Tuy quyết định khởi

tố vụ án hình sự chỉ là sơ bộ đánh giá hành vi phạm tội nhưng cũng đã chỉ ra rằng tội phạm bị khởi tố là tội gì Chỉ sau khi khởi tố vụ án hình sự thì các hoạt động điều tra, khởi tố và hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, khám xét, bắt bị can để tạm giam, đối chất, nhận dạng mới được tiến hành (trừ hành vi tố tụng cấp thiết như khám nghiệm hiện trường) Cũng từ giai đoạn này, các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng được xác lập

1.1.2 Những yêu cầu đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự phải xuất phát từ mục đích của pháp luật hình sự Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, nhân văn Để đạt mục tiêu này, nhà nước sử dụng các biện pháp tổng hợp để đạt mục tiêu đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi

Trang 14

tội phạm ở mức độ thấp nhất Vì vậy, việc khởi tố vụ án hình sự trước hết xuất phát từ phương diện đấu tranh chống tội phạm trong khung khổ pháp luật hình sự Từ đó, nhiệm vụ đặt ra cho tố tụng hình sự nói chung, giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự nói riêng là bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Khởi tố vụ án hình sự phải tuân theo các thủ tục của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam.Trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tố tụng hình sự là:

mô hình tố tụng thẩm vấn, mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng Với mỗi kiểu tố tụng đó hình thành mô hình tương ứng: kiểu tố tụng thẩm vấn hình thành nên mô hình kiểm soát tội phạm; kiểu tố tụng tranh tụng hình thành nên mô hình tố tụng tranh tụng Còn mô hình thứ ba là sự kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng hiện đang được một số quốc gia áp dụng, tuy mức độ kết hợp có khác nhau (Mêxicô, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc…) [33, tr.18-35]

Hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam hiện đang áp dụng mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn (xét hỏi), thể hiện qua những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, tố tụng hình sự Việt Nam xác định vai trò chứng minh tội

phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

Khác với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, tố tụng hình sự Việt Nam xác định vai trò chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, không coi đó là trách nhiệm của bị cáo Bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội Nhà nước trực tiếp là cơ quan

tư pháp có thẩm quyền chủ động phát động quá trình tố tụng và chấm dứt tố tụng theo các quy định pháp luật do mình ban hành Như vậy, việc giải quyết

Trang 15

vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Trong khi đó, mô hình tố tụng tranh tụng nhấn mạnh một quy trình tìm kiếm bằng chứng nặng tính hình thức thông qua tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, với vị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khả năng chứng minh của các bên trong quá trình tố tụng đối với vụ án

Thứ hai, tố tụng hình sự Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án

thành các giai đoạn tố tụng

Tố tụng hình sự Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn tố tụng (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) Ở từng giai đoạn khác nhau, có những thành phần chủ thể khác nhau nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là làm sáng tỏ sự thật khách quan, tìm đến chân lý của sự việc Trong mỗi giai đoạn tố tụng có sự phân định tương đối rành mạch về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng, quy định cụ thể và chặt chẽ thời hạn của từng hoạt động tố tụng và thời hạn áp dụng từng biện pháp cưỡng chế tố tụng Các giai đoạn tố tụng được tiến hành gắn liền và kế tiếp nhau, giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn tố tụng trước

Thứ ba, tố tụng hình sự Việt Nam xác định việc tìm kiếm sự thật vụ án

bằng phương pháp điều tra, thẩm vấn Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, bắt đầu là việc khởi tố vụ án hình sự Trong giai đoạn điều tra, điều tra viên thực hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ Khi hồ sơ vụ án được chuyển sang cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục kiểm tra hồ sơ vụ án để ra quyết định truy tố hoặc không truy tố người phạm tội Tại phiên toà, phương pháp điều tra, thẩm vấn là phương pháp chủ yếu được áp dụng Tuy nhiên, theo tinh thần cải cách tư pháp, tranh tụng đã trở thành một nguyên tắc hiến định Việc

Trang 16

tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội tại phiên tòa; việc ra bản án phải căn

cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa góp phần bảo đảm thủ tục tố tụng dân chủ, quyền con người, quyền công dân được thực hiện tốt hơn

Tố tụng hình sự Việt Nam xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là một trong những nhiệm vụ hàng đầu Tố tụng hình sự của bất kỳ hệ thống quốc gia dân chủ nào cũng đều phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi nhưng lại vừa phải làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những người có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ Tư pháp là lĩnh vực gắn trực tiếp với số phận con người, quyền về nhân thân và quyền tài sản của họ là lĩnh vực dễ xảy ra những vi phạm quyền con người, quyền công dân Vì vậy việc khởi tố hay không khởi

tố vụ án hình sự cần phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật, trước hết là pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm công lý của chế độ, quyền con người, quyền công dân Những hành vi xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp là vi phạm Hiến pháp, pháp luật cần được xử lý nghiêm khắc Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã có nhiều quy định mới mang tính nguyên tắc về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp

1.2 Khái niệm căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự

1.2.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Khi một sự kiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra được thông tin đến các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ làm phát sinh mối quan hệ giữa nhà nước và các chủ thể có liên quan đến việc giải quyết sự kiện có dấu hiệu tội phạm Với góc độ

là giai đoạn của tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự bắt đầu từ khi cơ quan

có thẩm quyền giải quyết tin báo tội phạm tiếp nhận thông tin về sự việc có dấu hiệu tội phạm theo thủ tục luật định để xem xét giải quyết, kết thúc khi cơ

Trang 17

quan này quyết định theo một trong hai phương án là quyết định khởi tố vụ án hình sự (khi xác định có dấu hiệu tội phạm) hoặc quyết định không khởi tố vụ

án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm) Căn cứ để khởi tố vụ

án hình sự là “dấu hiệu tội phạm” cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không, cần dựa vào lý luận pháp luật hình sự, trong đó xác định tội phạm là hiện tượng xã hội với bốn

dấu hiệu: (1) tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; (2) tính có lỗi; (3) tính

trái pháp luật hình sự; (4) tính chịu hình phạt [4, tr.105-107] Như vậy, về mặt pháp lý, căn cứ khởi tố vụ án hình sự đã được xác định là “dấu hiệu của tội phạm”, nghĩa là chỉ được khởi tố khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm, khi có đủ các đặc điểm của tội phạm thì mới có cơ sở xác định “có dấu hiệu tội phạm” và khi đó mới (có thể) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính phản ánh bản chất xã hội và thuộc tính khách quan của tội phạm, thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự Nó là thuộc tính cơ bản và quan trọng nhất, quyết định những thuộc tính khác của tội phạm, là căn cứ để phân loại tội phạm Bộ luật hình sự coi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình

sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô

ý, xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác

Tính có lỗi: Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, thể hiện dưới dạng cố ý và vô ý Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan chỉ thông qua hành vi gây thiệt hại cho xã hội

mà không căn cứ vào lỗi của người thực hiện hành vi đó

Trang 18

Tính trái pháp luật hình sự là đặc điểm pháp lý hình thức của tội phạm thể hiện qua việc quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, dựa theo nguyên tắc của Luật La mã: không

có luật quy định thì không quy tội Những hành vi được coi là trái pháp luật cũng đồng thời là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Luật hình sự, nghĩa là bị luật hình sự cấm, bị nhà làm luật coi là tội phạm, có lỗi trong khi thực hiện hành vi thì mới bị coi là tội phạm Tính trái pháp luật là căn cứ để đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh việc xử lý tùy tiện

Tính chịu hình phạt cũng là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không có tội phạm cũng không có hình phạt Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã hội

và tính trái pháp luật hình sự là cơ sở để cụ thể hóa tính phải chịu hình phạt

Tuy nhiên, trong giới luật có những ý kiến khác nhau về căn cứ khởi tố

vụ án hình sự Một số tác giả cho rằng: căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là khi

có được những thông tin thực tế khách quan về hành vi phạm tội [32, tr.76] Ý kiến thứ hai cho rằng: căn cứ khởi tố vụ án hình sự là có sự việc xảy ra và sự việc đó có dấu hiệu tội phạm [42, tr.154] Ý kiến thứ ba cho rằng: có dấu hiệu tội phạm là căn cứ cần và đủ để khởi tố vụ án hình sự [34, tr.200] Còn theo tác giả Lưu Thanh Hùng, các ý kiến trên đây đều xuất phát từ cặp phạm trù nội dung - hình thức để phân tích, lý giải căn cứ khởi tố, nhưng do đặt trong mối quan hệ khác nhau và phương diện tiếp cận khác nhau nên dẫn đến sự giải thích khác nhau Trên cơ sở lý luận chứng cứ và đặt căn cứ khởi tố trong mối quan hệ với nguồn tài liệu chứa đựng phản ánh nó thì căn cứ khởi tố được giải thích là chứng cứ chứng minh (xác định) có dấu hiệu tội phạm Đặt trong mối quan hệ giữa Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự thì căn cứ khởi

tố được giải thích là dấu hiệu của tội phạm [22] Dấu hiệu tội phạm chính là

Trang 19

những tài liệu ban đầu về sự kiện phạm tội nói chung, chưa phải tài liệu về người phạm tội cụ thể nào

Như vậy, dấu hiệu của tội phạm được coi là căn cứ để khởi tố là những thuộc tính của tội phạm: tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính có lỗi; tính trái pháp luật hình sự; tính chịu hình phạt Đó là những biểu hiện, những

“khía cạnh” của tội phạm được chứng minh, xác định bằng chứng cứ cụ thể Khi khởi tố vụ án hình sự, mới chỉ dừng lại ở việc xác định các dấu hiệu (biểu hiện) của tội phạm, chưa phải là xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi khởi tố vụ án hình sự không chỉ dựa vào các dấu hiệu tội phạm Ngoài việc xác định các dấu hiệu của tội phạm còn phải tính đến các chế định khác có liên quan như thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự hay đặc điểm của một số tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự

1.2.2 Cơ sở khởi tố vụ án hình sự

Cơ sở khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ quan

có thẩm quyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm Khi nhận được sự tố giác hay tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải kiểm tra nhằm xác định có dấu hiệu tội phạm hay không và có những căn cứ được khởi

tố vụ án hình sự hay không, để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Những thông tin đó bao gồm:

- Thứ nhất, thông tin từ việc tố giác tội phạm Tố giác tội phạm là

quyền và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Mọi người

có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm của một người nào đó hay pháp nhân nào đó với cơ quan có thẩm

Trang 20

quyền Khái niệm tố giác được giải thích là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết [2] Như vậy, đặc trưng của tố giác về tội phạm là cung cấp thông tin của cá nhân có danh tính rõ ràng về hành vi có dấu hiệu tội phạm để các cơ quan có thẩm quyền thụ lý, xác minh, xử lý theo pháp luật Tố giác bao gồm hai nội dung: “tố cáo” và

“phát giác” về tội phạm Tính chất của tố cáo là cá nhân có quyền tố cáo hành vi của bất kỳ chủ thể nào cho rằng có dấu hiệu phạm tội mà bản thân mình biết được, khẳng định được với các cơ quan có thẩm quyền Còn phát giác là việc cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm của bất kỳ chủ thể nào mà mình tiếp cận được thông tin không phải ở mức độ biết được, khẳng định được trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền để phát hiện, xác minh, xử lý theo pháp luật Luật cho phép công dân có thể tố cáo về mọi tội phạm, với bất cứ cơ quan nào mà họ thấy tiện lợi Như vậy, việc tố giác không chỉ giới hạn ở việc công dân đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hay Tòa án để tố cáo Tố giác của công dân có thể trực tiếp bằng miệng, bằng văn bản, qua điện thoại hoặc thư điện tử Việc người bị hại làm đơn trình báo về sự việc phạm tội gây thiệt hại cho họ cũng là một hình thức của tố giác tội phạm Việc tố giác qua điện thoại có thể coi là trường hợp tố giác bằng miệng Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận điện thoại phải kiểm tra, ghi nhận số điện thoại, nội dung tố cáo và người tố cáo

- Thứ hai, nguồn tin từ tin báo của tổ chức, cá nhân:Tin báo về tội

phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng Đặc trưng của tin báo là ở tính chất thông tin

sơ bộ, ban đầu để xác định sự việc là có thật, có căn cứ sự việc; còn hành vi

đó là tội phạm hay chưa thì cần phải được cơ quan có thẩm quyền xác minh,

Trang 21

kết luận Chủ thể cung cấp tin báo là cơ quan, tổ chức được thành lập hợp pháp, đang tồn tại thực hoặc là cá nhân có danh tính rõ ràng và chịu trách nhiệm về nội dung tin báo hoặc có thể là những thông tin mà tổ chức, cá nhân này nhận được, sau đó báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản Việc khởi tố vụ án hình sự dựa trên cơ sở tin báo của tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện sau khi cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã kiểm ra, xác minh và đã xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật

- Thứ ba, tin báo tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng.Các

phương tiện thông tin đại chúng có vai trò rất quan trọng trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm Bộ luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia đều quy định tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm Vì vậy, khi có tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó, nếu có dấu hiệu của tội phạm thì khởi tố vụ án hình sự để điều tra phát hiện người phạm tội Đặc trưng của tin báo loại này cũng giống ở tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó là tính chất thông tin sơ bộ, ban đầu để xác định sự việc là có thật, có căn cứ sự việc; còn hành vi đó là tội phạm hay chưa thì cần phải được cơ quan có thẩm quyền xác minh, kết luận Chủ thể cung cấp tin là cơ quan, thông tin đại chúng được thành lập hợp pháp Thông tin này chỉ ở dạng cung cấp dưới dạng thông tin đến công chúng trong đó có cơ quan pháp luật qua hình thức thông tấn (phát hành bằng nguồn hợp pháp như báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử) mà không trực tiếp gửi đến cơ quan pháp luật Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 850

cơ quan báo chí và nhiều phương tiện truyền thông khác đang phát huy tác dụng mạnh mẽ, đi đầu trong phản ánh cuộc đấu tranh chống tội phạm trên nhiều chuyên trang, chuyên mục Nhiều thông tin do báo chí phản ánh là cơ

Trang 22

sở tin cậy để các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khởi tố vụ án Trong một

số trường hợp cơ quan thông tin đại chúng đề nghị cơ quan có thẩm quyền có

ý kiến trả lời bạn đọc thì cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu phải có văn bản trả lời cơ quan thông tin đại chúng đã đưa tin

- Thứ tư, các cơ quan tư pháp (điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và các

cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm trong hoạt động nghiệp vụ hoặc hoạt động quản lý nhà nước của mình (cơ quan hải quan, kiểm lâm…) Đây là những trường hợp các cơ quan nêu trên thông qua các hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đã phát hiện dấu hiệu của tội phạm và trên cơ sở đó để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

- Thứ năm, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước.Kiến nghị khởi tố là

việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và g ửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét , xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm Kiến nghị nói trên thể hiện quan điểm của cơ quan nhà nước qua công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện ra vi phạm pháp luật ở mức độ tội phạm cần phải xử lý Kết quả xác minh đã sơ bộ có đủ tài liệu minh chứng để góp phần làm sáng tỏ sự thật, nhất là các tài liệu liên quan đến vụ án kinh tế, tham nhũng Cơ quan nhà nước bày tỏ quan điểm chính thức về hoạt động đánh giá thông tin vi phạm, thể hiện nghĩa vụ của nhà nước mà cơ quan đó đại diện đấu tranh với vi phạm pháp luật Kiến nghị khởi tố là quan điểm của cơ quan nhà nước, do vậy, nó phải được thể hiện bằng văn bản kiến nghị do người có thẩm quyền ký Thông thường đó là kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước thông qua hoạt động nghiệp vụ khi phát hiện những hành

vi vi phạm pháp luật, có dấu hiệu tội phạm nên đã chuyển hồ sơ cho cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát để tiến hành xem xét, khởi tố vụ án theo thẩm quyền

Trang 23

- Thứ sáu, người phạm tội tự thú, đầu thú Tự thú là việc người phạm

tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình

trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện Đầu thú là việc người

phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình Pháp luật quy định tự thú

là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Quy định này thể hiện tính nhân văn và thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với những người đã lầm lỗi nhưng biết nhận ra, ăn năn hối cải và quyết tâm sửa chữa để trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội Đồng thời với quy định này cũng mang ý nghĩa phòng ngừa tích cực, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho

cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện tội phạm và ngăn chặn kịp thời những hành vi có thể sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm, mặt khác nó còn tác động đến tư tưởng của những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội cũng phải

tự kiềm chế hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình Người phạm tội có thể tự thú trước cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác Các cơ quan, tổ chức tiếp nhận tự thú phải lập biên bản ghi rõ họ, tên, tuổi nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú, trong đó ghi cụ thể về hành vi phạm tội, những người có thể biết được việc phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội (nếu có) và những tình tiết khác cho phép khẳng định lời khai của người tự thú là đúng Cán bộ tiếp nhận cùng người tự thú ký tên vào biên bản Trong trường hợp cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú không phải là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thì cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

Các nguồn thông tin trên đây mới chỉ là những cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, thẩm tra để từ đó xác định có hay không có căn cứ để khởi tố vụ án Nói cách khác, những nguồn thông tin đó chưa phải

là căn cứ khởi tố mà chỉ là nguồn, là cơ sở hàm chứa những thông tin cho phép đi đến kết luận có dấu hiệu tội phạm hay không để khởi tố vụ án hình sự

Trang 24

Có một ngoại lệ trong khởi tố vụ án hình sự, đó là trường hợp khởi tố

vụ án theo yêu cầu của người bị hại Đây là vấn đề được trao đổi tranh luận nhiều trong khoa học pháp lý Như đã phân tích ở trên, với mô hình tố tụng xét hỏi, khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, Nhà nước quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án Đây là những trường hợp

mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm đến thể chất, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người bị hại Những trường hợp này nếu khởi tố vụ án, lợi ích về mặt xã hội thu được có thể không lớn mà còn có khả năng làm tổn thương thêm về mặt tinh thần, uy tín cho người bị hại Vì vậy, các nhà làm luật đã xác lập một khả năng, điều kiện để người bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không xử lý Với quy định đó, nhà làm luật tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với người bị hại

Như vậy, có thể coi trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của

người bị hại là một căn cứ tố tụng để khởi tố vụ án hình sự Vì nếu không có

yêu cầu của người bị hại thì chưa thể bắt đầu hoạt động tố tụng là khởi tố vụ

án, đồng thời nếu đã bắt đầu tố tụng với vụ án thì việc người bị hại rút đơn yêu cầu sẽ làm mất đi một căn cứ để khởi tố vụ án cho nên vụ án phải được đình chỉ Có thể đồng ý với ý kiến về quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại trong tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Đức Thái, khi ông cho rằng bản chất pháp lý của quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của

Trang 25

người bị hại chính là “quyền buộc tội của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” có tính chất tư tố, là điều kiện làm phát sinh quyền công tố của Nhà nước nhưng nằm trong giới hạn của quyền công tố, nhưng không phải quyền tư tố vì người bị hại không trực tiếp thực hiện việc khởi tố vụ án hình

sự và truy tố ra tòa mà chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, sau đó vụ

án được giải quyết theo thủ tục thông thường [29, tr.62]

1.3 Căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia

Các quốc gia được lựa chọn nghiên cứu về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ

án trong Luận văn là những quốc gia có hệ thống tư pháp đại diện cho các mô hình tố tụng hình sự khác nhau Việc tìm hiểu các mô hình này nhằm thấy rõ

sự tương đồng và khác biệt của chế định khởi tố vụ án hình sự nói chung, của các quy định về căn cứ và cơ sở để khởi tố vụ án hình sự nói riêng Trên cơ sở

đó rút ra những vấn đề có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình tiếp tục hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sư

1.3.1 Trung Quốc

Theo pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc, khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên khi bắt đầu tiến hành hoạt động điều tra hình sự Hoạt động điều tra chính thức chỉ có thể được tiến hành sau khi vụ án đã được khởi tố Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan công an hoặc Viện kiểm sát, trong phạm vi thẩm quyền điều tra tương ứng của mình khởi tố vụ án khi phát hiện các tình tiết tội phạm hoặc người bị tình nghi phạm tội Như vậy

căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi có các tình tiết tội phạm hoặc người bị

tình nghi phạm tội

Cơ sở để khởi tố vụ án là tin báo và tố giác của bất cứ đơn vị hay cá nhân nào Những đơn vị và cá nhân này sau khi phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc nghi can, có quyền và nghĩa vụ báo cáo vụ án hoặc cung cấp thông tin

Trang 26

cho cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân Khi các quyền tài sản hoặc cá nhân bị xâm phạm, người bị hại có quyền báo cáo cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân về các dấu hiệu tội phạm hoặc khiếu nại nghi can Nếu người phạm tội đến tự thú tại cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân thì đó cũng là một cơ

sở để khởi tố vụ án

Báo cáo, khiếu nại và thông tin có thể nộp bằng văn bản hoặc lời nói Cán bộ nhận báo cáo miệng, khiếu nại hoặc thông tin phải ghi lại thành văn bản, sau khi đã đọc cho người báo cáo, khiếu nại hoặc thông tin và không còn sai sót, ký tên hoặc đóng dấu Cơ quan công an phải xác minh liệu đó có hành

vi phạm tội xảy ra hay chưa và nếu có thì thu thập và đánh giá tính đáng tin cậy của chứng cứ cho thấy tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm, hành vi phạm tội của bất kỳ người bị tình nghi nào Nếu thấy có dấu hiệu tội phạm sẽ làm “Báo cáo khởi tố vụ án hình sự” Nếu thấy không đủ căn cứ khởi

tố, sẽ làm bản “Báo cáo về việc khung khởi tố vụ án hình sự” [21, tr.74-75]

Chỉ sau khi vụ án được khởi tố thì cơ quan công an mới được phép chính thức bắt đầu điều tra vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của người làm chứng và hỏi cung người bị tình nghi

Pháp luật tố tụng hình sự Trung quốc cũng quy định về chế định tư tố (chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại) Theo đó, người bị hại phải

có quyền trực tiếp đưa vụ án ra trước toà Nếu người bị hại chết hoặc mất khả năng hành động, người đại diện pháp lý và họ hàng thân thích phải có quyền đưa vụ án ra trước toà Toà án nhân dân phải chấp nhận theo luật

1.3.2 Liên bang Nga

Căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga cũng tương tự như Việt Nam Tuy nhiên, Điều 140 Bộ luật tố

tụng hình sự Liên bang Nga không sử dụng khái niệm “cơ sở”, mà sử dụng

Trang 27

khái niệm “lý” do khởi tố vụ án hình sự Còn khái niệm “căn cứ” khởi tố được

sử dụng tương tự như Việt Nam

Lý do để khởi tố vụ án hình sự là:

1) Tố giác về tội phạm

Tố giác về tội phạm có thể bằng lời hoặc dưới dạng văn bản Tố giác dưới dạng văn bản do ngời cung cấp tin báo, tố giác ký Tố giác về tội phạm bằng lời được ghi vào biên bản, có chữ ký của người tố giác và người tiếp nhận tố giác Luật quy định tố giác nặc danh về tội phạm không thể là lý do

để khởi tố vụ án hình sự

2) Người phạm tội tự thú

Tự thú là thông báo một cách tự nguyện của người đã thực hiện tội phạm.Tự thú có thể thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời Tự thú bằng lời được tiếp nhận và được ghi vào biên bản

3) Tin báo từ những nguồn khác về tội phạm đã được thực hiện và chuẩn bị thực hiện

Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là có đủ những thông tin về các dấu hiệu của tội phạm

Trên cơ sở kết quả xem xét thông tin về tội phạm, cơ quan điều tra ban đầu, điều tra viên, dự thẩm viên hoặc kiểm sát viên ra một trong những quyết định sau:

- Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo thủ tục quy định tại Điều 146

Bộ luật này;

- Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

- Quyết định chuyển thông tin theo thẩm quyền điều tra đối với những

vụ án tố tụng thì chuyển cho Toà án theo quy định

1.3.3 In-đô-nê-xia

In-đô-nê-xia là quốc gia Hồi giáo, một thành viên của ASEN, có mô

Trang 28

hình tố tụng hình sự tương đối khác biệt do bị ảnh hưởng của pháp luật Hà Lan nhưng có sự kết hợp hài hòa giữa hệ thống pháp luật thành văn và hệ thống thông luật Về khởi tố vụ án hình sự có Luật số 2 năm 2002 về lực lượng cảnh sát và Luật số 16 năm 2004 về việc khởi tố Cảnh sát In-đô-nê-xia chịu trách nhiệm điều tra phần lớn các tội phạm theo quy định tại Bộ luật hình

sự In-đô-nê-xia (KUHP) Cảnh sát thường bắt đầu điều tra bằng cách xác định xem tội phạm đó đã thực hiện thực tế hay chưa Lực lượng cảnh sát có quyền nhận các báo cáo hoặc khiếu nại về tội phạm xảy ra Tiến hành các hoạt động đầu tiên ở hiện trường gây án

Trong các vụ án hình sự, công tố viên có nhiệm vụ và quyền hạn như khởi tố vụ án; điều tra các tội phạm theo quy định của pháp luật; phối hợp với điều tra viên cảnh sát hoàn tất hồ sơ vụ án, bao gồm cả điều tra bổ sung theo chỉ đạo, trước khi chuyển cho tòa án [10]

và nghĩa vụ “khởi động” vụ án hình sự khi có sự việc phạm tội xảy ra Hầu hết các cuộc điều tra đều từ các nguồn tin báo và tố giác tội phạm của nhân dân

Trang 29

Đối với các quốc gia theo hệ thống tố tụng tranh tụng, việc khởi tố

vụ án hình sự diễn ra có nhiều điểm khác với các quốc gia theo mô hình tố tụng xét hỏi

Ở Hoa Kỳ, việc điều tra tội phạm bắt đầu từ khi cảnh sát có cơ sở để tin rằng có tội phạm xảy ra Các nguồn thông tin về tội phạm mà cảnh sát cần xác minh, đó là: tố giác của người bị hại, từ tuần tra hàng ngày của cảnh sát, từ biểu hiện nghi vấn của một người nào đó mà cảnh sát biết được hoặc cảnh sát phát hiện ra tội phạm; hoặc có cơ sở để tin rằng tội phạm đang chuẩn bị thực hiện hoặc chắc chắn sẽ thực hiện Công tố viên thực hiện việc khởi tố khi có 2 căn cứ: 1) có cơ sở chắc chắn, hoặc sẽ có cơ sở

chắc chắn để truy cứu trách nhiệm hình sự; 2) bảo đảm tính công bằng

trong truy cứu trách nhiệm hình sự với sự cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi tội phạm và nhân thân người phạm tội Việc không khởi tố có thể xảy ra dựa trên nguyên tắc công bằng, khi thiệt hại gây ra chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự

Qua nghiên cứu về cơ sở và căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của pháp luật một số quốc gia, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1- Về khái niệm, trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam dùng khái niệm cơ sở và căn cứ khởi tố Trong khi các quốc gia khác sử dụng khái niệm

dễ hiểu hơn là lý do (cớ) và căn cứ khởi tố vụ án hình sự Vì vậy cần nghiên cứu thêm thuật ngữ “cơ sở” để nếu có thể tìm được thuật ngữ thuần Việt hơn

để mọi người có thể hiểu một cách thống nhất

2- Cần quy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự về chế định tư tố Theo Điều 155, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 - Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại (là trường hợp đặc biệt trong chế định khởi tố vụ án hình sự) và và khoản 3, Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 thì trường hợp hòa giải và miễn trách nhiệm hình sự cho người có hành vi phạm tội thực

Trang 30

chất là thể hiện nội dung của chế định tư tố mà luật tố tụng hình sự các nước đều quy định

3- Có thể quy định cho một số chủ thể khác quyền khởi tố vụ án hình

sự (như Cơ quan thuế) khi có cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng với mục đích và nhiệm vụ riêng, trên cơ sở tuân thủ mục đích chung của tố tụng hình sự Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự theo mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là có dấu hiệu tội phạm được Bộ luật hình sự quy định Điều đó một mặt bảo đảm tính pháp chế của hoạt động khởi tố Các dấu hiệu tội phạm được xác định qua những nguồn thông tin chính thức được Bộ luật tố tụng hình sự quy định, bảo đảm không có hành vi phạm tội nào không bị phát hiện và xử lý; mặt khác, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp

Trang 32

Chương 2 CĂN CỨ, CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY

2.1 Các quy định pháp luật về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự

từ 1945 đến trước 1988

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bộ máy tư pháp và ngạch quan chức tư pháp thực dân - phong kiến bị xóa bỏ, nền tư pháp của một quốc gia độc lập, một nhà nước dân chủ nhân dân ra đời Để có cơ sở pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử, Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 với nội dung là cho đến khi ban hành được những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật

lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam

và chính thể cộng hòa Trong số luật lệ được tạm thời giữ lại, có nhiều quy định về thủ tục tố tụng hình sự(thủ tục tố tụng hình sự ấn định trong Nghị định ngày 16/3/1910 của nguyên Toàn quyền Đông Dương và những Nghị định sửa đổi Nghị định đó; thủ tục ấn định trong hai bộ Hình sự tố tụng thủ tục và dân sự, thương sự tố tụng thủ tục Trung bộ, do Dụ ngày 12/6/1942 của Hoàng đế An Nam và Nghị định của nguyên Toàn quyền Đông Dương ngày 27/8/1943 ban bố) Theo đó, để khởi tố vụ án hình sự “phải có người tố cáo sự phạm pháp đến cảnh sát tư pháp hoặc cơ quan hành chính địa phương hoặc cảnh sát tư pháp phát hiện lập biên bản về phạm pháp Các thẩm phán buộc tội (biện lý) nhận đơn tố giác của tư nhân hoặc biên bản về sự phạm pháp của Ban tư pháp cảnh sát lập Sau khi nghiên cứu vụ việc, biện lý có thể truy tố bị can ra tòa án (vụ việc đơn giản, rõ ràng) hoặc chuyển Phòng dự thẩm để điều tra Nếu thấy không có dấu hiệu tội phạm, biện lý đình chỉ vụ án mà không

Trang 33

Ngày 24/01/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13/SL, quy định về tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán Toà án vừa thực hiện quyền công tố, chỉ đạo điều tra, vừa thực hiện quyền xét xử và tổ chức thi hành án Các Toà án quân sự, Toà án binh và Toà án đặc biệt thực hiện chỉ đạo tất cả các khâu tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án

Việt Nam Công an vụ được tổ chức thành 3 cấp: Nha Công an Việt Nam (đứng đầu là Tổng Giám đốc), Công an kỳ (đứng đầu là Giám đốc) và Công an tỉnh (đứng đầu là Ty trưởng) Thời gian này, các vụ án hình sự được khởi động khi Sở Cảnh sát (Sở Liêm phóng) bắt người phạm pháp Trong 24 giờ các sở này phải lập biên bản đưa sang toàn án quân sự, hoặc đưa sang Ông biện lý Tòa án tư pháp Một trong những cơ sở để khởi tố vụ

án hình sự là cơ quan công an trực tiếp phát hiện và bắt giữ người phạm pháp [9] Bước tiếp theo kiện toàn cơ quan điều tra hình sự là Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 131/SL, ngày 20/7/1946 quy định về tổ chức Tư pháp công an thuộc Bộ Nội vụ Tư pháp công an có nhiệm vụ khởi tố, truy tầm tất

cả các sự phạm pháp (đại hình, tiểu hình, vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt người phạm pháp giao cho các tòa án xét xử Như vậy, tư pháp Công an

là tổ chức Cơ quan điều tra đầu tiên trong ngành Công an thực hiện những nhiệm vụ khởi tố, điều tra vụ án hình sự Việc chỉ đạo, kiểm soát tổ chức và hoạt động tư pháp Công an thuộc thẩm quyền của Chưởng lý, Biện lý ở ngành Tòa án Ngày 16/2/1953, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 141/SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ bộ Công an, trong cơ cấu của Thứ bộ Công an có Vụ Chấp pháp là cơ quan điều tra chuyên trách Ở Công an Liên khu có Phòng Chấp pháp, ở Ty Công an tỉnh có Ban Chấp pháp Ngày 27/8/1953, Bộ Công an được thành lập trên cơ sở Thứ bộ Công an, trở thành một bộ thuộc Chính phủ Đây là một bước chuyển đổi cơ bản về tổ chức và

Trang 34

hoạt động điều tra tố tụng hình sự ở nước ta Việc chuyên môn hóa điều tra

tố tụng (chấp pháp) dẫn đến hình thành hệ cơ quan điều tra công khai và điều tra bí mật độc lập với nhau [1]

Sắc lệnh giao cho một số chức danh Công an (trưởng ty, trưởng phòng, trưởng ban Chính trị, Tư pháp hoặc các Trưởng ban khác được Bộ Nội vụ chỉ định) với tư cách là uỷ viên Tư pháp Công an có toàn quyền khởi tố, điều tra các vụ phạm pháp khi có cáo giác của công dân Như vậy, pháp luật quy định

cụ thể hơn cơ sở để khởi tố vụ án hình sự là tố giác của công dân về hành vi phạm pháp Đồng hời cũng quy định cơ sở để khởi tố vụ án là việc các cơ quan Kiểm lâm, Hỏa xa (đường sắt), Thương chính (Hải quan, Thương mại) khi phát hiện sự việc phạm pháp thì được khởi tố, điều tra sơ bộ các vụ phạm pháp trong lĩnh vực của mình, sau đó phải chuyển cho cơ quan tư pháp để xem xét việc truy tố

Như vậy, căn cứ và cơ sở để khởi tố vụ án hình sự những năm đầu của chính quyền dân chủ nhân dân cũng như hoạt động điều tra vụ án hình

sự cơ bản theo cách thức tố tụng cũ, không có thay đổi nhiều so với thời kỳ thuộc Pháp Thủ tục này có nhiều nét giống tổ chức điều tra của Cộng hòa Pháp ngày nay [1]

Sau khi miền Bắc giải phóng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 256-Ttg ngày 01/7/1958 về thành lập Viện Công tố và hệ thống công tố tách khỏi Bộ Tư pháp, đặt Viện Công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn ngang một Bộ; Nghị định số 381-Ttg, ngày 20/10/1959 thành lập Tòa án nhân dân tối cao và hệ thống Tòa án nhân dân tách khỏi Bộ Tư pháp, đặt Tòa án nhân dân tối cao thuộc Hội đồng Chính phủ, cũng có trách nhiệm và quyền hạn ngang một Bộ Đây là bước chuẩn bị cho việc thay đổi cơ bản hệ thống tư pháp nước ta, khi Viện kiểm sát nhân dân được thành lập thay cho Viện công tố, Tòa án nhân dân

Trang 35

Theo Hiến pháp năm 1959, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao không còn thuộc Chính phủ mà trở thành các thiết chế độc lập thuộc Quốc hội Hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo đơn vị hành chính đến cấp huyện Do những thay đổi về tổ chức cơ quan tư pháp, hoạt động điều tra hình sự cũng từng bước thay đổi cho phù hợp Ngày 28/6/1963, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Công an ban hành Thông tư liên ngành số 427/TTLN phân công trách nhiệm cụ thể giữa Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an Theo đó, các ban trinh sát ở Ty Công an, Cục trinh sát ở Bộ Công an đều có quyền khởi tố vụ án, bắt khẩn cấp Trên thực tế, bên cạnh các vụ án phản cách mạng do cơ quan Chấp pháp các cấp thụ lý điều tra, các đơn vị trinh sát hình sự, bảo vệ kinh tế đều được quyền khởi tố khi phát hiện có tội phạm và tiến hành điều tra các vụ án khác cho đến khi kết thúc mới chuyển sang cơ quan Chấp pháp làm cáo trạng đề nghị truy tố hoặc để Chấp pháp tiếp tục điều tra nếu thiếu chứng cứ quan trọng Ngày 22/02/1973, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32/CP sửa đổi các quy định về tổ chức bộ máy Bộ Công an Căn cứ vào Nghị định này, Bộ Công an quyết định giao công tác hỏi cung, lập hồ sơ truy tố các loại tội phạm về trị an xã hội cho cục Cảnh sát hình sự Về các vụ án kinh tế, tới năm 1975 mới thực hiện sự phân công theo hướng: cơ quan chấp pháp chỉ thụ

lý, điều tra theo thủ tục pháp luật các vụ án phản cách mạng và tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tội phạm kinh tế loại phức tạp, nghiêm trọng; còn án đơn giản, ít nghiêm trọng do các đơn vị trinh sát hình sự, kinh tế thụ lý

để khởi tố và điều tra khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm Cơ chế điều tra nói trên tồn tại đến khi Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 250/HĐCP ngày 12/6/1981 quy định lại nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ Theo Nghị định này, các đơn vị trinh sát hình sự, kinh tế không làm công tác điều tra công khai theo pháp luật nữa mà chỉ tập trung vào công tác trinh sát

Trang 36

bí mật, phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Bên cạnh cơ quan điều tra còn có các cơ quan trinh sát tham gia vào việc điều tra vụ án hình sự Các cơ quan trinh sát có thể tiến hành điều tra vụ án một cách độc lập bằng các biện pháp trinh sát bí mật Các cơ quan điều tra chủ yếu chỉ tiến hành những biện pháp điều tra công khai theo quy định của pháp luật tố tụng nhằm

bổ sung và củng cố chứng cứ thu thập được từ hoạt động trinh sát, hợp pháp hóa kết quả điều tra trinh sát bằng biện pháp chuyển hóa tài liệu, dữ kiện về tội phạm (sau này sẽ là chứng cứ) để tiến hành khởi tố vụ án, bắt đầu cho hoạt động điều tra chính thức

Từ năm 1960, khi Viện kiểm sát nhân dân được thành lập, cơ sở để khởi

tố vụ án hình sự được mở rộng hơn Đó là kết luận của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung) Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, Viện kiểm sát đề nghị cơ quan điều tra khởi tố hoặc trực tiếp khởi tố các vụ án hình sự đối với các hành vi phạm pháp Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất nhưng chưa thống nhất về mặt Nhà nước, ngày 15/5/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 01/SL-76 quy định về tổ chức Tòa án nhân dân và tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trong đó, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Khi phát hiện có hành vi phạm pháp thông qua công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát

có quyền khởi tố vụ án hình sự Tiếp đó, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Quyết định số 29-QĐ-76 ngày 27/5/1976 thành lập Toà án nhân dân đặc biệt để xét xử các tên tư bản mại bản phạm tội lũng đoạn, đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường Và sau đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số 181-NQ/QHK 6 ngày 23/01/1978 giao cho Toà án nhân dân đặc biệt xét xử những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự xã hội

Trang 37

xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh như: Giết người, cướp của, tống tiền, bắt cóc, đốt nhà, tổ chức lưu manh trộm cắp, hiếp dâm (Toà án nhân dân đặc biệt giải thể năm 1986) Về căn cứ khởi tố vụ án hình sự, tuy chưa có quy định cụ thể như các Bộ luật tố tụng hình sự sau này nhưng trong các giáo trình tố tụng hình sự của Khoa Pháp lý trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Cán bộ kiểm sát (nay là Trường Đại học kiểm sát Hà Nội) đều giải thích căn cứ khởi tố vụ

án hình sự là khi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phát hiện có dấu hiệu của tội phạm Còn có sở để khởi tố vụ án hình sự gồm tin báo của cơ quan, tổ chức;

tố giác của nhân dân; phát hiện trực tiếp của cơ quan bảo vệ pháp luật về tội phạm; tin tức đăng trên báo chí Những cơ sở và căn cứ nêu trên được luật hóa khi tiến hành pháp điển hóa pháp luật tố tụng hình sự lần thứ nhất vào năm

1988 với sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự

2.2 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

2.2.1 Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong

đó có những quy định cụ thể về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự với những

cơ sở và căn cứ khởi tố được luật định Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 sau nhiều năm triển khai thực hiện và với ba lần được Quốc hội sửa đổi (ngày 30/6/1990; ngày 22/12/1992; ngày 9/6/2000, bổ sung) đã góp phần quan

Trang 38

trọng vào việc đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự được xác định trong Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988 là khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Nghĩa là xác định được (1) tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; (2) tính có lỗi; (3) tính trái pháp luật hình sự; (4) tính chịu hình phạt Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên

những cơ sở được quy định tại Điều 144 Trước hết, đó là sự tố giác của công

dân Theo quy định này, công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội Việc tố giác có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố

giác Thứ hai là tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, theo đó cơ quan

hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin

ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản Thứ

ba là tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Theo Điều 2 Luật báo

chí năm 1989, báo chí Việt Nam, gồm báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chương trình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài Các thông tin về tội phạm đưa trên báo viết, đài phát thanh, truyền hình và các phương tiện thông tin khác chính thức được Nhà nước cấp phép hoạt động đều có thể là cơ sở để khởi tố vụ án hình sự

Thứ tư, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ

quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm Đây là các cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực, trên từng địa bàn cụ thể, được Bộ luật tố tụng hình sự giao thực hiện một

Trang 39

số hoạt động điều tra Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989 quy định

Cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, đơn vị Bộ đội biên phòng, các đơn vị khác thuộc Công an nhân dân và Quân đội nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện hành vi phạm tội thì ra quyết định

khởi tố vụ án Thứ năm là trường hợp người phạm tội tự thú: Khi người phạm

tội đến tự thú, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú.Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/6/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú quy định rõ tự thú là trường hợp tội phạm đã thực hiện nhưng chưa bị ai phát giác tức là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm

Khi xác định có dấu hiệu tội phạm, tức là có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ án trong những theo thẩm quyền của mình Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra

Đặc biệt, Bộ luật tố tụng hình sự quy định trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại Trước khi nhà nước ban hành Bộ luật

tố tụng hình sự năm 1988, pháp luật TTHS không ghi nhận và điều chỉnh về

Trang 40

khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, xuất phát từ quan niệm cho rằng

xử lý tội phạm thuộc về nhà nước Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, trong đó với tính chất là người bảo về lợi ích của toàn xã hội, nhà nước có quyền khởi tố điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, buộc tội người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra [31] Những vụ án chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại 06 điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, đó là: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác (Điều 109); Tội hiếp dâm (Điều 112); Tội cưỡng dâm (Điều 113); Tội làm nhục người khác (Điều 116); Tội vu khống (Điều 117); Tội xâm phạm quyền tác giả, sáng chế, phát minh (Điều 126) Nói chung, các tội phạm yêu cầu khởi tố của người bị hại chỉ quy định ở khoản 01, là các tội xâm phạm đến cá nhân về danh dự, sức khỏe và quyền sở hữu trí tuệ; đây là các tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp, loại tội ít nghiêm trọng (trừ tội hiếp dâm là tội phạm nghiêm trọng)

Để bảo đảm việc khởi tố được chính xác, Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 còn quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, đó là các trường hợp:

- Không có sự việc phạm tội nghĩa là không có một hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào xảy ra trong thực tế Điều đó cũng có nghĩa là không

có sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật hình sự

- Hành vi không cấu thành tội phạm.Khác với trường hợp không có sự kiện phạm tội, trường hợp này có hành vi xảy ra nhưng hành vi đó lại không

có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu thuộc

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w