1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) cải cách thủ tục hành chính qua thực tiễn của thủ đô hà nội

133 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCĐ: Ban chỉ đạo BMHC: Bộ máy hành chính CCHC: Cải cách hành chính CCTTHC: Cải cách thủ tục hành chính CNH-HĐH : Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa CNTT: Công nghệ t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã được sự quan tâm hướng dẫn tận tình, chi tiết của GS.TS Phạm Hồng Thái Luận văn được hoàn thành theo đúng quy trình, quy định và hướng dẫn về nghiên cứu khoa học

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi viết Lời cam đoan, đề nghị Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện luận văn

Phạm Xuân Sơn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 11

1.1 QUAN NIỆM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 11

1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 11

1.1.2 Phân loại và đặc điểm các thủ tục hành chính 14

1.2 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 18

1.2.1 Ý nghĩa, vai trò của cải cách thủ tục hành chính 20

1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính 22

1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CẢI CÁCH TTHC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI CÁCH TTHC 23

1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 26

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 38

2.1 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THỂ CHẾ VÀ KẾ HOẠCH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 38

2.1.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch 38

2.1.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cải cách thủ tục hành chính 41

2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 42

Trang 4

2.2.1 Tuyên truyền, phổ biến về cải cách thủ tục hành chính 42

2.2.2 Bố trí các nguồn lực, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin phục vụ công tác cải cách TTHC 45

2.2.3 Tập hợp, thống kê, rà soát đơn giản hóa TTHC trước khi thực hiện Đề án 30 53

2.2.4 Cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính 59

2.2.5 Cơ chế một cửa liên thông trong thực hiện TTHC 62

2.2.6 Thực trạng quy định trách nhiệm của người thực hiện TTHC 64

2.3 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO ĐỀ ÁN 30 CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 70

2.3.1 Giai đoạn 1 Đề án 30: Thống kê thủ tục hành chính của Thành phố 70

2.3.2 Giai đoạn 2 Đề án 30: Thực hiện rà soát, kiến nghị đơn giản hoá thủ tục hành chính của Thành phố 71

2.3.3 Giai đoạn 3: Thực thi đơn giản hoá thủ tục hành chính của Thành phố 72

2.3.4 Giai đoạn kiểm soát thủ tục hành chính 72

2.4 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH TTHC ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC QUẢN LÝ CỤ THỂ 75

2.4.1 Một số vấn đề chung về quá trình hình thành TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ đô 75

2.4.2 Quá trình hình thành các TTHC lĩnh vực đất đai; nhà ở, xây dựng nhà ở; thuế 76

2.5 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ CỦA CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 84

2.5.1 Những kết quả chung 84

2.5.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 86

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 87

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 90

3.1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU TỚI CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 90

Trang 5

3.2 MỤC TIÊU 92

3.3 CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 93

3.3.1 Về tổ chức thực hiện 93

3.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 96

3.3.3 Tiếp tục hoàn thiện thể chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cải cách thủ tục hành chính 98

3.3.4 Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công sở đảm bảo và nâng cao điều kiện thực hiện cải cách thủ tục hành chính 99

3.3.5 Nâng cao chất lượng thông tin, cải thiện quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với các cơ quan hành chính 100

3.3.6 Kiểm soát thủ tục hành chính 102

3.4 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 104

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐ: Ban chỉ đạo BMHC: Bộ máy hành chính CCHC: Cải cách hành chính CCTTHC: Cải cách thủ tục hành chính CNH-HĐH : Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa CNTT: Công nghệ thông tin

CQHC: Cơ quan hành chính CQT: Cơ quan thuế HĐND: Hội đồng nhân dân HSHC: Hồ sơ hành chính NNT: Người nộp thuế PAPI: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp

tỉnh Việt Nam PARI: Bộ chỉ số theo dõi đánh giá CCHC QSD: Quyền sử dụng

QSDĐ: Quyền sử dụng đất QSHN: Quyền sở hữu nhà SIPAS: Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người

dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính

TP: Thành phố TTHC: Thủ tục hành chính UBND: Ủy ban nhân dân UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

WB : Ngân hàng Thế giới WTO: Tổ chức Thương mại thế giới XDCB : Xây dựng cơ bản

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đẩy mạnh cải cách nền hành chính ở Việt Nam, cải cách thủ tục hành chính luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; Thủ tướng Chính phủ

đã giao nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước là nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên hàng đầu Cải cách thủ tục hành chính cũng là 1 trong 2 khâu đột phá trong chiến lược phát triển của Thủ đô trong giai đoạn 2010-2015[30]

Cải cách thủ tục hành chính đang là vấn đề bức xúc, nóng bỏng, được nhiều tầng lớp nhân dân quan tâm, trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước trên thế giới đều tiến hành cải cách nền hành chính và nâng cao chất lượng dịch

vụ công, đều là mục tiêu ưu tiên trong phát triển của các quốc gia Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt

khác của đời sống xã hội[32]

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm

1986, tính đến nay đã gần 3 thập niên Trong khoảng thời gian này, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được

quan tâm giải quyết Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế -

xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra trước Việt Nam những

Trang 8

thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết Cái khó trong cải cách hành chính ở Việt Nam là

phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý

lập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và

mở rộng dân chủ Điều này là chưa từng có tiền lệ

Ở trong nước, sự kiện công bố bộ TTHC 4 cấp chính quyền thuộc đề án cải cách, đơn giản hoá tục hành chính (Đề án 30) là một trong 10 sự kiện nổi bật Việt Nam 2009, các ngành các cấp đã khẩn trương thực hiện việc đơn giản hoá thủ tục theo hướng dẫn của Tổ công tác chuyên trách Thủ tướng Chính phủ[34]

Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu, mục đích xã hội của nó Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam là: xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn

Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách nền hành chính nhà nước với 03 nội dung là: cải cách thể chế hành chính[14]; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với 04 nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công[18] Giai đoạn hiện nay với 06 nội dung: (1) Cải cách thể chế, (2) Cải cách thủ tục hành chính, (3) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, (5) Cải cách tài chính công, và (6) Hiện đại hoá hành chính[15]

Trong những năm qua cải cách hành chính ở Việt Nam đã làm được những

gì để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền đó là:

- Về thể chế hành chính đã sửa đổi Hiến pháp, ban hành các Luật mới và các văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Điều quan trọng là: các văn bản về

Trang 9

tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đi theo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước

- Về bộ máy hành chính đã giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tục hành chính được cải cách theo hướng "một cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiến hà, tham nhũng của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của công dân Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền

Công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước,

bộ máy hành chính

Tất cả những mục tiêu của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Thành phố: Hà Nội tụt hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong đó đặt ra cấp bách gắn kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính với phát triển dịch vụ công[9] Hiện tổng số thủ tục hành chính ở cả 3 cấp chính quyền của Thành phố là 2379 thủ tục hành chính[27]

Cơ quan kiểm soát TTHC có trách nhiệm rà soát, đình chỉ các thủ tục bất hợp pháp; sửa đổi, bổ sung các thủ tục còn thiếu hoặc bất hợp lý; Trước khi có

Trang 10

Tổ công tác 30 (Tổ công tác của Thủ tướng về cải cách thủ tục hành chính), những ví dụ về tình trạng các thủ tục hành chính rườm rà và thói cửa quyền, nhũng nhiễu, "bệnh hành dân" trong cơ quan công quyền thì nhiều vô kể, có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào[21] Một số nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành các thủ tục hành

chính Cho đến trước thời điểm triển khai Đề án 30 (2008), chưa có cơ quan, tổ chức nào thống kê xem ở Việt Nam, những cơ quan nào được ban hành thủ tục hành chính Các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn không có cơ chế để lựa chọn áp dụng thủ tục nào (việc cấp bìa đỏ, giấy hồng, giấy xanh vừa qua là một ví

dụ điển hình)

Sự tuỳ tiện trong việc ban hành thủ tục hành chính đã dẫn đến tình trạng không thể kiểm soát nổi Không ai có thể thống kê được hiện nay ở nước ta đang tồn tại những thủ tục hành chính nào

Hai là, các thủ tục hành chính thường xuất phát từ nhu cầu quản lý của cơ

quan công quyền chứ không tính đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Do đó, hầu hết các thủ tục hành chính đều tìm cách tạo thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền, đẩy khó khăn về phía người dân

Ba là, hầu hết các thủ tục hành chính đều không có quy định rõ ràng và dứt

khoát các loại giấy tờ, tài liệu cần phải có khi làm thủ tục hành chính Thậm chí, có nhiều thủ tục hành chính sau khi liệt kê một loạt các loại giấy tờ còn quy định thêm

"các giấy tờ, tài liệu khác " Lợi dụng kẽ hở này, người có thẩm quyền yêu cầu đương sự nộp thêm các loại giấy tờ khác, nhiều khi hết sức vô lý

Bốn là, thời gian hoàn tất thủ tục hành chính thường là quá dài và không có

thời điểm cuối cùng, không có cơ chế chịu trách nhiệm nếu để quá thời gian quy định Tình trạng người dân nộp giấy tờ, xin hàng tá các loại con dấu, chữ ký rồi mỏi cổ chờ đợi là phổ biến

Năm là, các biện pháp bảo đảm cho người dân có đủ điều kiện để khiếu nại,

tố cáo, khởi kiện không cụ thể, không rõ ràng Các quy định ràng buộc trách nhiệm thường rất chung chung, thậm chí rất nhiều thủ tục không quy định trách nhiệm của

Trang 11

cơ quan, người có thẩm quyền Khi quyền và lợi ích của họ bị xâm hại, họ không có căn cứ nên không thể làm gì được để buộc cơ quan công quyền chịu trách nhiệm

Sáu là, việc giáo dục đạo đức, ý thức của công chức liên quan đến thủ tục

hành chính chưa được quan tâm đúng mức Cùng với chế độ tiền lương còn bất cập hiện nay cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các thủ tục hành chính rườm rà và thói cửa quyền, nhũng nhiễu, "bệnh hành dân" đang rất phổ biến trong các cơ quan công quyền

Các nghiên cứu về thủ tục hành chính chủ yếu nặng về lý luận, chưa cụ thể nêu được các vấn đề sau:

- Chỉ cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định mới được phép ban hành thủ tục hành chính

- Thủ tục hành chính phải đặt quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức khác lên trên quyền lợi của cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục hành chính, lấy phục vụ nhân dân làm thước đo

- Các thủ tục hành chính phải liệt kê rõ ràng các loại giấy tờ, tài liệu mà đương sự cần phải có khi làm thủ tục Ngoài các loại giấy tờ đã liệt kê, cơ quan

có thẩm quyền không được yêu cầu đương sự nộp thêm bất kỳ loại giấy tờ tài liệu nào khác

- Thủ tục hành chính phải quy định rõ ràng và cố định thời gian tiến hành thủ tục hành chính (theo hướng càng rút ngắn càng tốt) Trường hợp vượt quá thời gian không có lý do chính đáng thì người có lỗi phải chịu trách nhiệm kỷ luật, xử phạt hành chính Nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường

- Khi người dân đến yêu cầu làm thủ tục hành chính, cơ quan hành chính phải tiếp nhận và trong mọi trường hợp bắt buộc phải trả lời bằng văn bản (phiếu tiếp dân) với các nội dung sau: Có thuộc thẩm quyền hay không, kể cả không thuộc thẩm quyền vẫn phải ghi rõ trong văn bản (phiếu tiếp dân); Nếu thuộc thẩm quyền phải ghi rõ đã đủ giấy tờ tài liệu theo yêu cầu hay chưa? Nếu thiếu thì thiếu loại gì?

Lệ phí và nơi nộp lệ phí; Ghi rõ thời gian thụ lý, thời gian trả hồ sơ; Phiếu tiếp dân

là tài liệu quan trọng, là căn cứ pháp lý để người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hay khởi kiện cơ quan (người) có thẩm quyền ra Toà án hành chính

Trang 12

Đã đến lúc không thể cứ tiếp tục tiêu tốn hàng đống tiền bạc của Nhà nước (mà thực chất là của nhân dân) cho việc cải cách hành chính để rồi kết quả là thủ tục hành chính vẫn "chậm như rùa" Các nhà đầu tư nản lòng, nhân dân mất lòng tin vào Đảng

và Nhà nước và điều quan trọng hơn là chúng ta để tuột mất cơ hội phát triển

Xuất phát từ những vấn đề trên, chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính qua

thực tiễn của Thủ đô Hà Nội” để nghiên cứu là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay đã có các nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính như Giáo trình Thủ tục hành chính của Học viện Hành chính quốc gia nhưng mới chỉ dừng lại ở mức lý luận, chưa chỉ ra cụ thể các yếu tố cấu thành thủ tục hành chính, cũng chưa nêu rõ nội hàm của cải cách thủ tục hành chính Đặc biệt là nghiên cứu cụ thể các thủ tục hành chính gắn với 3 cấp quyền ở Thành phố Hà Nội còn bị bỏ ngỏ chưa

có công trình nào nghiên cứu Các yếu tố tác động đến cải cách thủ tục hành chính cũng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Vấn đề cải cách thủ tục hành chính để chống cửa quyền, nhũng nhiễu cũng chưa được đề cập nhiều

1 Acuña-Alfaro, Jairo (2009), (chủ biên), Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ cộng đồng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Việt Nam, 445 trang

Cuốn sách "Cải cách cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp" đưa đến độc giả những bình luận chi tiết về sự phát triển nền hành chính ở Việt Nam trong hơn một thập kỷ đổi mới, cũng như đề xuất những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính Cuốn sách, gồm phần giới thiệu chung và sáu (06) chương, đưa ra những cách nhìn nhận sâu sắc về sáu lĩnh vực chính và mang tính đan xen nhau trong cải cách hành chính công ở Việt Nam, bao gồm: (i) cải cách thể chế quản lý hành chính, (ii) cơ cấu tổ chức của chính phủ và bộ máy nhà nước, (iii) phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực công vụ, (iv) quản lý tài chính công, (v) phát triển kinh tế và cải cách hành chính công, và (vi) chống tham nhũng, phát triển và cải cách hành chính Cuốn sách là sản phẩm chung của 18

Trang 13

chuyên gia nghiên cứu cao cấp và trung cấp của Việt Nam và quốc tế, những người

đã tham gia vào công trình nghiên cứu do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam chủ trì và Cố vấn chính sách về cải cách hành chính công và chống tham nhũng của UNDP làm trưởng nhóm và chủ biên, được tiến hành từ cuối năm 2008 và đầu năm 2009 Cuốn sách cũng có sự tham gia của hơn 100 người được phỏng vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công ở Việt Nam và đang phục vụ hoặc đã từng phục vụ trong các tổ chức chính trị, nhà nước, các tổ chức xã hội, các viện nghiên cứu ở Việt Nam Cuốn sách có thể thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, các trường đại học, các nhà nghiên cứu thực tiễn và các đối tác phát triển trực tiếp tham gia vào các nỗ lực cải cách hành chính công ở Việt Nam[1]

2 Nguyễn Văn Thâm (Chủ biên), Thủ tục hành chính; Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002

Cuốn sách nghiên cứu khá công phu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phân loại, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có

đi phân tích cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực Đây là cuốn sách cung cấp nhiều tài liệu, luận cứ rất tốt để là cơ sở nghiên cứu đối với Luận văn [26]

3 Đinh Văn Ân , Hoàng Thu Hòa , (đồng chủ biên ) Đổi mới cung ứng dịch

vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống kê 2006

Cuốn sách đã nêu đầy đủ về khái niệm dịch vụ công, đánh giá được sự cung cứng dịch vụ công (có cả phần về thủ tục hành chính), và các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa cung ứng các dịch vụ công ở Việt Nam Đặc biệt cuốn sách có nêu các giải pháp đơn giản hóa các TTHC thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công [2]

Bên cạnh những tài liệu trên, còn có các tài liệu quan trọng khác như:

- Báo cáo cải cách hành chính TP Hà Nội - Sở Nội vụ các năm 2001 cho đến nay [3];

- Các báo cáo của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ [6];

- Bao cáo tổng hợp: Mô hình chức hoạt động của Nhà nước pháp quyền

Trang 14

XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước – Đề tài KX-04-02 [4];

- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam – Đại học Luật Hà Nội [8];

- Nguyễn Cửu Việt -Giáo trình Luật hành chính Việt Nam – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2010 [31];

- Kỷ yếu Hội thảo“Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới góc nhìn

của các nhà khoa học” – Học Viện hành chính quốc gia 2010 [12];

Các công trình nghiên cứu nói trên tuy không trực tiếp nghiên cứu về cải cách TTHC của Thủ đô Hà Nội nhưng cũng gợi mở những vấn đề có ý nghĩa, bổ ích cho chúng tôi tiếp thu trong quá trình nghiên cứu làm Luận văn Tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC như thế nào để thực hiện tốt mục tiêu xã hội, phù hợp với điều kiện hiện có và đúng quy luật vận động của xã hội là vấn đề cần có sự đầu tư nghiên cứu sâu sắc hơn nữa cả về lý luận và thực tiễn

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Khái quát chung một số vấn đề về cải cách thủ tục hành chính

- Phân tích, đánh giá thực trạng cải cách TTHC qua thực tiễn Thủ đô Hà Nội

- Kiến nghị những giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách TTHC của Thủ đô

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề chung nhất về TTHC và cải cách TTHC

- Nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật làm cơ sở thực hiện cải cách TTHC của Thủ đô Hà Nội

- Phân tích đánh giá thực trạng, những nhân tố ảnh hưởng tới cải cách TTHC của Thủ đô Hà Nội

- Đề xuất quan điểm, mục tiêu và các giải pháp nhằm thực hiện cải cách TTHC của Thủ đô Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là hoạt động cải cách thủ tục hành chính của Thủ đô Hà Nội, tập trung chủ yếu vào cấp Thành phố, trong đó có nghiên cứu cụ thể về cải cách TTHC ở 03 lĩnh vực xây dựng, đất đai và thuế

Trang 15

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hành chính; bộ thủ tục hành chính nghiên cứu thuộc thẩm quyền quản lý của UBND Thành phố Hà Nội chủ yếu cấp Thành phố Từ đó có sự đánh giá về thực trạng và một số giải pháp tiếp tục cải cách hành chính hiện nay và những năm tiếp theo

Về thời gian Luận văn tập trung đánh giá cải cách TTHC Thành phố Hà Nội giai đoạn 2001 đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã quán triệt sâu sắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường Luận văn có sử dụng các phương pháp cụ thể nghiên cứu tài liệu kết hợp với phân tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử cụ thể…

- Ngoài ra, tác giả sẽ áp dụng một số phương pháp bổ sung khác như hội thảo chuyên gia, tổng hợp và phân tích

7 Điểm mới và ý nghĩa của luận văn

7.1 Điểm mới của luận văn

- Nhìn nhận cải cách thủ tục hành chính của Thủ đô Hà Nội một cách tổng quan và khách quan trong mối liên hệ với các công tác chỉ đạo xây dựng và phát triển Thủ đô

- Nêu lên vai trò, tác dụng của cải cách thủ tục hành chính cả về mặt nhận thức và chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức

- Đề xuất một số giải pháp áp dụng trong công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm soát thủ tục hành chính

7.2 Ý nghĩa lý luận

Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý luận về thủ tục hành chính

ở nước ta làm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khoa học

Trang 16

7.3 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn: Đánh giá một cách tổng quát về công tác cải cách thủ tục

hành chính của Thủ đô Hà Nội, những đòi hỏi khách quan của công tác cải cách hành chính

Nâng cao sự nhận thức về vai trò to lớn của công tác cải cách thủ tục hành

chính đối với các cán bộ công chức Thủ đô

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, 02 Phụ lục và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính

Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính của Thủ đô Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính

của Thủ đô Hà Nội

Trang 17

Chương 1 THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1.1 QUAN NIỆM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là "cách thức tiến hành một

công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước" [33] Như

vậy, hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục

nhất định Mỗi hoạt động quản lý theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban

hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính…) thực chất là chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhất định mà mỗi hoạt động cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đích khác nhau Kết quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ thuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nội dung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động quản lý Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật và thực hiện thủ tục trên thực tế Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà nước Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lý Nói cách khác, các hoạt động quản lý khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp là

ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TTHC như: TTHC là trình tự mà các

cơ quan quản lý nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý

vi phạm hành chính; hay TTHC là trình tự giải quyết bất kỳ nhiệm vụ cá biệt, cụ thể

Trang 18

nào trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; hay TTHC là trình tự và thời gian

và không gian cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan quản

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát, thủ tục hành chính là cách thức

tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán

bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước

Tuy nhiên để hiểu TTHC một cách cá biệt, cụ thể, ta có thể xem cách định nghĩa TTHC theo Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát Thủ tục hành chính:

- "Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức

- “Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức

- “Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức

- "Yêu cầu, điều kiện" là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụ thể [13]

Trang 19

Thực chất “thủ tục hành chính” ở đây được hiểu là các quy định hay các quy phạm về thủ tục hành chính và là những yêu cầu đòi hỏi, các điều kiện cần và đủ để thực hiện thủ tục hành chính giải quyết một vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước Thủ tục hành chính ở đây được nêu một cách cá biệt, cụ thể, và là một cách mô tả thủ tục một cách đơn giản, dễ hiểu để áp dụng trong thực tiễn, tuy nhiên các thủ tục hành chính định nghĩa ở đây chỉ giới hạn các đầu việc, nội dung

có liên quan đến người dân, tổ chức mà không tính đến các thủ tục nội bộ cơ quan

nhà nước, như Điều 1 của Nghị định này đã nêu: “Nghị định này không điều chỉnh:

a) Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức;

b) Thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước.”

Cũng theo Điều 8 của Nghị định này việc quy định một thủ tục hành chính

cụ thể chỉ hoàn thành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:

a) Tên thủ tục hành chính;

b) Trình tự thực hiện;

c) Cách thức thực hiện;

d) Hồ sơ;

đ) Thời hạn giải quyết;

e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;

g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính;

h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính;

i) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính [13]

Trang 20

Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa: Thủ tục hành chính là trình tự,

cách thức thực hiện các hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó, nhưng chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước

1.1.2 Phân loại và đặc điểm các thủ tục hành chính

1.1.2.1 Phân loại thủ tục hành chính

Theo tác giả GS.TS Nguyễn Văn Thâm thủ tục hành chính có thể phân loại theo đối tượng quản lý hành chính, theo công việc cụ thể, theo chức năng cung ứng dịch vụ, và phân loại theo quan hệ công tác[26]

a) Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước

Theo cách phân loại này, các thủ tục hành chính được xác định cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý hiện hành Thí dụ: Thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục hải quan

b) Phân loại theo công việc cụ thể của cơ quan Nhà nước

Theo cách phân loại này, thủ tục hành chính có thể phân ra: Thủ tục thông qua và ban hành văn bản trong các cơ quan; thủ tục xét duyệt và quyết định về thi đua khen thưởng; thủ tục tuyển dụng cán bộ công chức, thủ tục chuyển ngạch Mỗi loại hình thủ tục hành chính trên lại có thể phân chia thành các loại thủ tục liên quan đến những hoạt động cụ thể hơn Chẳng hạn thủ tục ban hành văn bản có thể phân thành: Các Thủ tục ban hành văn bản pháp luật, quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm, quyết định cá biệt

c) Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ công trong quản lý Nhà nước

Cách phân loại này giúp các nhà quản lý khi giải quyết công việc chung có liên quan đến tổ chức hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơ quan

d) Phân loại dựa trên quan hệ công tác

Theo cách phân loại này, có thể chia thủ tục hành chính thành 3 nhóm: thủ tục nội bộ, thủ tục liên hệ và thủ tục văn thư

Trang 21

+ Thủ tục hành chính nội bộ: Là các thủ tục liên quan đến quan hệ trong quá trình thực hiện công việc nội bộ của các cơ quan, công sở trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung

+ Thủ tục liên hệ: Là thủ tục thực hiện thẩm quyền tiến hành giải quyết các công việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của tổ chức, công dân đối với Nhà nước

Thủ tục liên hệ thực hiện thẩm quyền thường được thể hiện dưới một số dạng như: thủ tục cho phép; thủ tục ngăn cấm hay cưỡng chế; thủ tục trưng thu, trưng dụng

+ Thủ tục văn thư: Là toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp các loại giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới dạng văn bản để phục vụ cho việc giải quyết một công việc nhất định Loại thủ tục này có liên quan chặt chẽ với hoạt động văn thư và thường xuyên xảy ra trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

Trong khuôn khổ Luận văn này, hướng tiếp cận phân loại TTHC để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp chủ yếu phân theo lĩnh vực quản lý nhà nước, cách phân loại này (chia TTHC theo các bộ TTHC của các sở, ban, ngành) rõ được chủ thể có trách nhiệm thực hiện cải cách TTHC, trách nhiệm thống kê, rà soát, kiểm soát TTHC…

Ngoài các cách phân loại trên từ thực tiễn cải cách TTHC của Thành phố Hà Nội, chúng tôi đề xuất 03 cách phân loại TTHC nữa:

Một là, phân loại TTHC theo các bộ phận tạo thành TTHC, ví dụ căn cứ vào

thời gian thực hiện TTHC có thể phân loại TTHC thành TTHC thực hiện ngay trong ngày, thực hiện ngay khi tiếp nhận hoặc TTHC phải chờ đợi thời gian giải quyết

Hai là, phân loại TTHC theo 04 cấp độ thực hiện TTHC trên cổng giao tiếp

điện tử của các cơ quan hành chính Thực tế ở Thành phố Hà Nội có nhiều TTHC

đã được thực hiện ở cấp độ 3, sự phân chia TTHC như thế này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình hình thành chính quyền điện tử và cũng tạo thuận lợi cho người dân khi sử dụng máy vi tính hay điện thoại di động trong thực hiện TTHC

Ba là, phân loại theo mức độ phức tạp của TTHC, có thể phân thành thủ tục

hành chính liên thông dọc và thủ tục hành chính liên thông ngang Liên thông dọc là

Trang 22

liên thông qua nhiều cấp hành chính Liên thông ngang là liên thông trong 1 cấp hành chính ví dụ như một số thủ tục có liên quan đến trách nhiệm giải quyết của nhiều Phòng trong một UBND cấp quận

1.1.2.2 Đặc điểm thủ tục hành chính

Mặc dù có nhiều thủ tục hành chính khác nhau nhưng do tính thống nhất của quản lý hành chính nhà nước nên các thủ tục hành chính có một số đặc điểm chung sau đây:

Thứ nhất, thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện các hoạt động quản lý

nhà nước hay thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành chính nhà nước

Các hoạt động quản lý diễn ra trong lĩnh vực nào được thực hiện theo thủ tục pháp luật quy định trong lĩnh vực đó Hoạt động quản lý trong lĩnh vực hành pháp (quản lý hành chính nhà nước) được thực hiện theo thủ tục hành chính Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,

cá nhân được nhà nước trao quyền, trong đó quan trọng nhất phải kể đến các cơ quan hành chính, các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan này Vì cơ quan hành chính có chức năng quản lý hành chính nhà nước nên các chủ thể trong hệ thống cơ quan đó không chỉ thực hiện phần lớn các thủ tục hành chính mà còn thực hiện những thủ tục liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính quan trọng nhất Ngoài cơ quan hành chính, các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các thủ tục hành chính khi thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước như khi các cơ quan đó xây dựng, củng cố chế độ công tác nội bộ; các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính khi tiến hành các hoạt động quản lý hành chính được Nhà nước trao quyền trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định

Thứ hai, thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định

Quy phạm pháp luật hành chính bao gồm quy phạm nội dung và quy phạm thủ tục Quy phạm nội dung trực tiếp quy định những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hành chính nhà nước; quy phạm thủ tục quy định cách thức thực hiện quy phạm nội dung (bao gồm quy phạm nội dung luật

Trang 23

hành chính và một số quy phạm nội dung của các ngành luật khác như hôn nhân gia đình, đất đai, dân sự….) Sở dĩ thủ tục hành chính phải được quy phạm pháp luật hành chính quy định, vì:

- Các quan hệ thủ tục hành chính là đối tượng điều chỉnh của luật hành chính;

- Thủ tục hành chính do nhiều chủ thể tiến hành, muốn tạo ra được sự thống nhất trong hoạt động quản lý tất yếu phải được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thi hành

- Thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể quản lý nên cần tránh sự lạm quyền, lộng quyền hay không thực hiện hết thẩm quyền

- Nhiều thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức nếu không được pháp luật quy định đầy

đủ và chặt chẽ thì sẽ khó khăn trong việc ngăn ngừa xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thứ ba, thủ tục hành chính có tính mềm dẻo, linh hoạt

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước vốn phong phú, đa dạng Nội dung

và cách thức tiến hành từng hoạt động cụ thể chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như thẩm quyền, năng lực của chủ thể quản lý, đặc điểm của đối tượng, quản lý, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra hoạt động quản lý… Mỗi yếu tố đó lại chịu sự tác động đan xen phức tạp của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội khiến cho hoạt động quản lý hành chính trở nên hết sức sống động Thủ tục hành chính với tính chất là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý đương nhiên phải linh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lý cho từng hoạt động quản lý cụ thể Do vậy, không thể có một thủ tục hành chính duy nhất cho toàn bộ hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà có rất nhiều thủ tục hành chính Thậm chí để giải quyết một loại công việc nhất định cũng có thể cần các thủ tục hành chính khác nhau Ví

dụ, pháp luật quy định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là thủ tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản Việc định ra hai thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính vừa đơn giản, thuận tiện cho người xử phạt và người bị xử phạt trong trường hợp có thể,

Trang 24

vừa đảm bảo tính chặt chẽ, có cơ sở cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Mặt khác, so với thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp, nhu cầu bãi bỏ thủ tục hành chính

cũ, đưa ra thủ tục mới, thay đổi các thủ tục đã có đặt ra khá thường xuyên đảm bảo thích ứng với sự biến đổi linh hoạt của hoạt động quản lý Khi xây dựng thủ tục hành chính nếu nhận thức đúng đắn về đặc điểm này sẽ tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo cho hoạt động quản lý, kìm hãm quá trình phát triển xã hội Sự cường điệu tính linh hoạt của thủ tục một cách không cần thiết hoặc thay đổi thủ tục một cách tùy tiện làm cho hoạt động quản lý thiếu ổn định

Đối với các thủ tục hành chính của Thành phố Hà Nội trong quá trình thực hiện còn có thêm các đặc điểm:

- Số lượng thực hiện các giao dịch tương đối lớn so với các nhóm TTHC cùng loại ở các địa phương khác;

- Số lượng thủ tục này hiện nay còn nhiều, phức tạp;

- Cách thức thực hiện các TTHC có lúc có nơi còn tuỳ tiện

1.2 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách một bước nền hành chính nhà nước với 03 nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với 04 nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Giai đoạn hiện nay với 06 nội dung: (1) Cải cách thể chế, (2) Cải cách thủ tục hành chính, (3) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, (5) Cải cách tài chính công, và (6) Hiện đại hoá hành chính

Công cuộc cải cách hành chính được tiến hành từ nhiều năm qua đã được tiến hành tương đối đồng bộ, trong đó thủ tục hành chính được chọn làm khâu đột phá Sở dĩ Đảng và Nhà nước coi trọng cải cách thủ tục hành chính như vậy là do

Trang 25

thủ tục hành chính liên quan trực tiếp tới việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lý cá nhân, tổ chức Đây được coi là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài và thường xuyên Cho đến nay, nhu cầu cải cách thủ tục hành chính vẫn đặt ra một cách cấp thiết vì thủ tục hành chính còn nhiều bất cập như mang đậm dấu ấn của thời bao cấp, nặng về cơ chế "xin - cho"; rườm rà, phức tạp, nhiều cấp trung gian, coi trọng

sự thuận lợi cho hoạt động của Nhà nước, ít chú ý đến lợi ích và sự thuận tiện cho dân; phân tán, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu công khai

Những hạn chế của thủ tục hành chính đã gây nhiều trở ngại cho hoạt động quản lý: Hạn chế việc thực hiện các quyền của cá nhân, tổ chức, tạo ra nền hành chính quan liêu, trì trệ, tình trạng thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm giữa các

cơ quan, các cấp, các cán bộ, công chức còn khá phổ biến Nhiều thủ tục không hợp

lí bị lợi dụng để tham nhũng, sách nhiễu nhân dân Đặc biệt thủ tục hành chính đang

là trở ngại lớn cho các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, giảm khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Thể chế hóa đường lối cải cách của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có những văn bản quy định trực tiếp về nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính như Nghị quyết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước của thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân

và tổ chức, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2001 – 2010; Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ngày 8 tháng 11 năm 2011 ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020

Để cải cách thủ tục hành chính được thực hiện thuận lợi cũng như kết quả cải cách hành chính được bền vững thì đồng thời phải cải cách thể chế hành chính nói chung; cải cách bộ máy hành chính tinh, gọn, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; xây dựng quy chế công chức, công vụ đảm bảo đội ngũ công chức trên thực tế có năng lực, lương tâm và trách nhiệm

Mặc dù có những tiến bộ, kết quả, nhưng nhìn chung hệ thống hành chính Việt Nam vẫn còn tụt hậu so với yêu cầu phát triển của đất nước, so với yêu cầu và

Trang 26

sự kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp Tổ chức bộ máy vẫn cồng kềnh, năng lực

và trình độ của công chức, viên chức còn thấp, đặc biệt nghiêm trọng là một bộ phận công chức, viên chức có những biểu hiện tiêu cực như nhũng nhiễu, gây phiền

hà, tham nhũng v.v Đã có sự suy giảm về niềm tin của xã hội về một bộ máy hành chính chuyên nghiệp, đặt trọng tâm hoạt động vào phục vụ dân, tổ chức

1.2.1 Ý nghĩa, vai trò của cải cách thủ tục hành chính

Với tư cách là một bộ phận của pháp luật hành chính, thủ tục hành chính có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội

Thứ nhất, thủ tục hành chính đảm bảo cho các quyết định hành chính được

thi hành Thủ tục càng có ý nghĩa cơ bản thì ý nghĩa này càng lớn bởi thủ tục cơ bản thường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quá trình thi hành quyết định hành chính, đến hiệu quả của việc thực hiện chúng

Thứ hai, thủ tục hành chính đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được

thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra

Thứ ba, thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý

sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước

Thứ tư, với tư cách là một bộ phận của thể chế hành chính, thủ tục hành

chính có ý nghĩa như một công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính, không thể tách rời khỏi hoạt động của các tổ chức hành chính

Thứ năm, thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện

trình độ văn hoá giao tiếp, văn hoá điều hành, mức độ văn minh của nền hành chính Do đó, cải cách thủ tục hành chính không chỉ liên quan đến pháp luật, pháp chế mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước về chính trị, văn hoá, giáo dục và mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế

Tóm lại, thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọng giữa Nhà nước với nhân dân, làm bền chặt các mối quan hệ của quá trình quản lý, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Trang 27

Cải cách thủ tục hành chính đóng vai trò quan trọng trong cải cách hành chính vì các lý do sau:

Thứ nhất, thủ tục hành chính có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố tổ

chức và nhân sự Muốn tổ chức hợp lý, phải có công chức có đủ khả năng và đúng tiêu chuẩn cũng như thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng Ngược lại, thủ tục rườm rà dẫn đến tổ chức sẽ phình to, thêm nhiều nấc dẫn đến hiện tượng quan liêu; công chức có thêm nhiều cơ hội dựa vào quyền uy của Nhà nước để hạch sách, gây khó khăn cho nhân dân, làm giảm uy tín của chính quyền Bộ máy quản lý nhà nước dù có giỏi đi nữa cũng không đương đầu nổi với những khuyết điểm căn bản của thủ tục

Cải cách hành chính phải làm đồng bộ cả 6 nội dung, song nên tập trung vào giải quyết một số việc trong thời gian trước mắt Cải cách thủ tục hành chính được coi là khâu đột phá của cải cách hành chính, đó cũng là cách để khắc phục 5 yếu kém căn bản hiện nay:

- Bệnh quan liêu, xa dân, xa cấp dưới và xa cơ sở;

- Tình trạng phân tán, thiếu trật tự, kỷ cương trong hệ thống hành chính và trong xã hội;

- Nạn tham nhũng và lãng phí của công;

- Bộ máy hành chính cồng kềnh, nặng nề, vận hành kém hiệu quả;

- Đội ngũ cán bộ, công chức thiếu kiến thức, năng lực, một bộ phận kém phẩm chất thậm chí hư hỏng

Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính nhằm làm cho bộ máy quản lý nhà

nước thực hiện tốt 3 loại vấn đề:

+ Quan hệ căn bản giữa nhân dân và chính quyền trong hoạt động hành chính Cải cách thủ tục hành chính để tránh gây những khó khăn không cần thiết, phí phạm tiền bạc, thời giờ, để phù hợp với khả năng và trách nhiệm của cơ quan hành chính, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân

+ Quyền lợi tương hỗ giữa người dân và chính quyền trong việc phát triển kinh tế Thủ tục hành chính gọn nhẹ sẽ cởi trói cho nhân dân, giải phóng người dân

Trang 28

chính cũng có điều kiện phát triển hơn Phải làm sao phục vụ dân tốt hơn vì nhân dân chính là tai mắt, là người nuôi dưỡng chính quyền

+ Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính quyền Cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm bớt các phương thức liên hệ trong quan hệ công tác, quy định rõ mối quan hệ giữa các cơ quan, giữa trung ương và địa phương

1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính

Trong quá trình xây dựng các TTHC mới, điều chỉnh các TTHC cần tuân thủ một số yêu cầu sau:

Một là, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống TTHC: bộ máy các cơ quan

hành chính nhà nước được pháp luật quy định thống nhất từ trung ương đến địa phương để thực hiện chức năng hành pháp thì khi xây dựng các TTHC là cơ sở thực hiện các chức năng này, thì cũng phải đảm bảo tính thống nhất thành một hệ thống TTHC từ Trung ương đến địa phương

Hai là, bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống TTHC: một trong những nguyên

nhân của sự tùy tiện giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước là điều kiện làm cho các tệ quan lieu, cửa quyền… phát triển, làm cho TTHC rườm rà, chậm đi vào thực tế đời sống là do việc xây dựng và thực hiện TTHC thiếu tính chặt chẽ Do đó, quy trình xây dựng và thực hiện TTHC đảm bảo đúng tính chặt chẽ, nghiêm khắc đúng theo pháp luật

Ba là, bảo đảm tính hợp lý của TTHC: tính hợp lý của TTHC biểu hiện ở

nhiều khía cạnh về môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội

Bốn là: TTHC phải đảm bảo tính rõ ràng và công khai: TTHC phải được xây

dựng rõ ràng theo trình tự từng bước từ quy trình xây dựng đến quy trình thực hiện TTHC Cụ thể như phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố cấu thành thủ tục hành chính như: tên gọi, thành phần hồ sơ, chủ thể thực hiện, thời gian, địa điểm thực hiện, yêu cầu điều kiện, cách thức thực hiện, phí…

Và toàn bộ quy trình, quy định thực hiện TTHC cần phải công khai cho mọi người dân được biết Công khai bằng nhiều hình thức như trên các phương tiện

Trang 29

thông tin đại chúng, niêm yết công khai tại cơ quan hành chính nhà nước, trên Cổng thông tin điện tử…

Năm là: TTHC phải dễ hiểu, dễ tiếp cận, đơn giản trong thực hiện…

Sáu là: TTHC khi ban hành phải đảm bảo tính khả thi, phải áp dụng hiệu quả

trong thực tiễn giải quyết nhu cầu của công dân và kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết công việc

Bẩy là: Các quy trình TTHC phải đảm bảo tính ổn định, sự ổn định của các

quy trình TTHC thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật

Ngoài những yêu cầu nêu trên thực tế cải cách các TTHC cá biệt, cụ thể phải đảm bảo các quy định về kiểm soát TTHC theo Nghị định 63/NĐ-CP

Như vậy cải cách thủ tục hành chính luôn là một nhân tố trọng yếu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính nhằm hướng tới tạo điều kiện hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu đòi hỏi của cá nhân, tổ chức một cách đơn giản, nhanh chóng nhất, cải cách thủ tục hành chính hướng tới phục vụ con người, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, cải cách thủ tục hành chính không vì mục đích tự thân của nó

1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CẢI CÁCH

TTHC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI CÁCH TTHC

Việc thực hiện cải cách TTHC là một quá trình trải qua nhiều công đoạn khác nhau, phụ thuộc nhiều yếu tố diễn ra trong không gian và thời gian khác nhau Theo các giáo trình cơ bản, hiệu quả của việc thực hiện phụ thuộc vào: năng lực chủ thể, nội dung quan hệ và khách thể của quan hệ; bao gồm phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của công dân, trình độ chuyên môn, ý thức phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức thực hiện thủ tục hành chính, và một phần rất quan trong là các quy định của nhà nước yêu cầu việc thực hiện thủ tục phải tuân thủ các yếu tố nào, với mức độ và yêu cầu như thế[23]

Về cơ bản các yếu tố sau đóng vai trò quan trọng tác động đến hoạt động cải cách TTHC:

Trang 30

- Chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ công chức

Đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quyết định thành bại công cuộc cải cách thủ tục hành chính Thực tế trong giải quyết thủ tục hành chính, công chức có trách nhiệm hướng dẫn cá nhân, tổ chức hoàn thiện hồ sơ hành chính nếu cán bộ công chức trình độ yếu kém, hoặc thái độ không đúng mực sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến kết quả thực hiện TTHC Trong các cuộc khảo sát mức độ hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Thành phố Hà Nội, chất lượng cán

bộ công chức là một chỉ số quan trọng góp phần trong chỉ số hài lòng chung

- Hệ thống cơ chế chính sách, văn bản pháp luật về TTHC và các quy định về hoạt động một cửa, một cửa liên thông hay quy trình thực hiện thủ tục: để thực hiện một TTHC cụ thể, không chỉ các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp thuộc TTHC

ấy điều chỉnh mà còn rất nhiều các quy định khác có ảnh hưởng, đặc biệt là các quy định về chế độ hoạt động, thực hiện cơ chế một cửa, liên thông Một ví dụ như quy định nhận hồ sơ ngày thứ 7, chỉ một quy định nhỏ này cũng giúp cho người dân dễ

có nhiều cơ hội tiếp cận và thực hiện TTHC hơn nhất là những người bận rộn trong những ngày thường trong tuần

- Hệ thống cơ sở vật chất bao gồm từ trụ sở làm việc, máy móc thiết bị, mạng Internet, máy vi tính, máy chủ và các chương trình quản lý hồ sơ công việc, việc áp dụng hệ thống ISO trong quản lý chất lượng công việc, quy chế văn hoá công sở

- Bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực các lĩnh vực quản lý nhà nước TP Hà Nội có vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến hoạt động thực hiện TTHC Bộ thủ tục này đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận có biểu mẫu đầy đủ kèm theo hướng dẫn thì việc thực hiện thủ tục sẽ rất dễ dàng

Về đánh giá mức độ hiệu quả của công tác cải cách TTHC, có thể đánh giá thông qua:

- Đánh giá dựa trên trên cơ sở các chỉ số, chỉ tiêu chuyên môn

Các chỉ tiêu chuyên môn như Đề án 30 đã quy định phải đơn giản hóa được 30% TTHC, đây là chỉ tiêu yêu cầu các đơn vị phải hoàn thành trong giai đoạn rà soát, đơn giản hóa TTHC

Trang 31

Liên quan đến đánh giá hiệu quả của công tác CCHC và cải cách TTHC, có thể tham khảo cách đánh giá của một số tổ chức quốc tế như:

- Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh Việt Nam (PAPI) đây

là kết quả của dự án hợp tác giữa UNDP và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chỉ số này chủ yếu đánh giá cảm nhận của người dân theo 06 nội dung lớn, 22 nội dung thành phần và 92 chỉ số thành phần

- Chỉ số quản trị quốc gia của WB bao gồm 06 nhóm chỉ số: quyền phát ngôn (của người dân) và chịu trách nhiệm (của chính quyền) – voice and accountability,

ổn định chính trị (political stability) và pháp quyền (rule of law), chỉ số hiệu quả chính quyền (government efectiveness), chất lượng điều hành (regulatory quality)

và kiểm soát tham nhũng (control of corruption)[24]

Bộ chỉ số theo dõi đánh giá CCHC (PARI):

Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, với sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ cải cách hành chính của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Bộ Nội vụ đã tiến hành xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính nhà nước để áp dụng chung trong cả nước

Việc xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính với mục đích phải trở thành công cụ đánh giá một cách khách quan, chính xác, toàn diện và định lượng kết quả thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước ở các bộ, ngành

và địa phương trong cả nước theo từng năm hoặc từng giai đoạn được xác định[5]

Theo Quyết định, Đề án được phê duyệt với mục tiêu chung là xác định Chỉ

số cải cách hành chính (CCHC) để theo dõi, đánh giá một cách thực chất, khách quan, công bằng kết quả triển khai CCHC hàng năm của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

Mục tiêu cụ thể của đề án nhằm xác định được các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp bộ, cấp tỉnh theo đặc điểm, tính chất quản

lý nhà nước của các bộ, các tỉnh; Xác định được thang điểm, phương pháp đánh giá cho các tiêu chí, tiêu chí thành phần, từ đó xác định được Chỉ số CCHC của

Trang 32

từng bộ, từng tỉnh Đồng thời, xây dựng được bộ câu hỏi điều tra xã hội học theo từng nhóm đối tượng điều tra, khảo sát và hàng năm công bố Chỉ số CCHC của các bộ, các tỉnh

Chỉ số CCHC cấp tỉnh được xác định trên 8 lĩnh vực, 34 tiêu chí và 104 tiêu chí thành phần, cụ thể là: Công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính gồm 6 tiêu chí và 19 tiêu chí thành phần; Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh gồm 3 tiêu chí và 12 tiêu chí thành phần; Cải cách thủ tục hành chính gồm 2 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước gồm 5 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức gồm 6 tiêu chí và 20 tiêu chí thành phần; Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập gồm 5 tiêu chí và 13 tiêu chí thành phần; Hiện đại hóa hành chính gồm 3 tiêu chí và 13 tiêu chí thành phần; Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông gồm 4 tiêu chí và 13 tiêu chí thành phần

- Đánh giá trên cơ sở mức độ hài lòng của người dân

Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục

vụ của cơ quan hành chính (SIPAS) mới đây cũng được Bộ Nội vụ hướng dẫn triển

khai Với mục đích đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính

công của các cơ quan hành chính nhà nước Thành phố, thông qua đó, các cơ quan hành chính nhà nước Thành phố Hà Nội nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức[20] Mức độ hài lòng 80% là chỉ số mục tiêu Thành phố Hà Nội đặt ra phấn đấu thực hiện cho đến nay 2015 đối với các thủ tục hành chính của Thành phố

1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ CẢI CÁCH

HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

a) Kinh nghiệm quốc tế

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một

Trang 33

động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tính đến nay đã gần 3 thập kỷ Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, càng ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Tuy nhiên, bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay đang đặt

ra cho Việt Nam những thách thức và cơ hội mới, đòi hỏi những cố gắng cao độ Đây cũng là điều hợp lý vì ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, hoặc tồn tại từ lâu, hoặc mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và

có hiệu quả Và muốn giải quyết các vấn đề trên thì bên cạnh việc tự tìm tòi thì học hỏi kinh nghiệm cải cách hành chính ở các nước cũng là một phương pháp hết sức cần thiết, đặc biệt là các nước Châu Á, qua đó thúc đẩy và có kết quả hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước

Cải cách hành chính Hàn Quốc: Từ một quốc gia nông nghiệp, kém phát

triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chỉ sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một “con hổ châu Á” và là một trong mười nền kinh tế phát triển nhất thế giới Mặc dù đã phát triển vượt bậc, nhưng trong hàng thập kỷ, một số bất cập mang tính hệ thống đã không được giải quyết triệt để nên các bất cập đã trở thành các tác nhân gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ vào năm 1997 Khủng hoảng năm 1997 đã buộc Hàn Quốc đối diện với một nhận thức thực tế là: các phương thức cũ trong điều hành bộ máy nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạn mới và cần có những thay đổi cơ bản để vực lại nền kinh tế của đất nước Hàn Quốc đã khẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng Chương trình cải cách khu vực công, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, tập trung trên bốn lĩnh vực chính: hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong

đó xem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm

Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ và đưa vào thử nghiệm nhiều ý

Trang 34

tưởng cải cách mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chất lượng hoạt động của từng cá nhân (hoàn toàn trái với cơ chế trả lương dựa theo cấp bậc kiểu truyền thống), tiến hành giảm biên chế, từng bước thực hiện việc thuê khoán dịch vụ công, mở rộng phạm vi hoạt động của khu vực tư…

Cải cách được tiến hành tại tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, với trọng tâm là tái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy, áp dụng nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc chất lượng thực thi công việc, đã xây dựng một hệ thống tiêu chí và đánh giá cải cách, theo đó các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, theo định kỳ, phải nộp báo cáo cải cách hàng quý cho Ủy ban đặc trách Kết quả việc thực hiện nhiệm vụ cải cách của từng cơ quan sẽ là cơ sở để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quan này vào năm sau Đồng thời, việc phản hồi thông tin và chế độ thưởng phạt minh bạch đã khuyến khích việc thực hiện sự cam kết đối với cải cách…

Kết quả thu được từ quá trình cải cách rất khả quan Về thể chế, đã sửa đổi các quy định của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường trên nguyên tắc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước và giảm chi phí cho người dân Các lĩnh vực được cải cách về thể chế là quản lý hành chính, nhân sự, quản lý tài chính; quản lý doanh nghiệp công và quản lý lao động Cải cách tổ chức bộ máy hành chính, chú trọng phân cấp là vấn đề mấu chốt nhất Về cải cách công vụ và công chức, đã đưa yếu tố cạnh tranh vào chế độ tuyển dụng theo nguyên tắc minh bạch và công khai Ban hành cơ chế đánh giá công chức đi đôi với điều chỉnh chế độ tiền lương Đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế giới, thiết lập xong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ công thông qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di động, công khai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng…

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong CCHC, nhưng Hàn Quốc vẫn tiếp tục tiến trình cải cách để hoàn thiện hơn nền hành chính hiện nay

Cải cách hành chính Singapore: Có diện tích nhỏ, dân số ít, tài nguyên

thiên nhiên không có gì, nhưng quốc đảo này là một hình mẫu phát triển kinh tế đầy năng động trong nhiều năm qua và cũng được coi là “một con hổ” của châu Á Sự

Trang 35

thần kỳ trong quản lý và phát triển kinh tế của nước này xuất phát từ việc CCHC được quan tâm thực hiện từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX và có chính sách thu hút nhân tài rõ ràng, đúng đắn Vào những năm 80, giới lãnh đạo Singapore đề ra phong trào “hướng tới sự thay đổi” mà trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý để thích ứng với sự thay đổi Đến năm 1991 khởi động chương trình cải cách mang tên “Nền công vụ thế kỷ 21” nhằm xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực với lực lượng công chức liêm chính, tận tuỵ, có năng suất lao động và chất lượng dịch vụ cao Một số biện pháp đồng bộ đã được áp dụng, đó là:

- Áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong BMHC, coi đó vừa là công cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức

- Đưa tinh thần “doanh nghiệp” vào hoạt động của BMHC mà cốt lõi là lấy hiệu quả làm thước đo

- Thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tìm hiểu, đánh giá và đề xuất phương án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp

- Đề ra Chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của BMHC với mục tiêu là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm

- Thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không còn phù hợp

- Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả

Từ năm 1983 đến nay, Singapore đã tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công nghệ thông tin, tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức để áp dụng công nghệ mới, hiện đã cung cấp dịch vụ công thông qua Internet và dự kiến tiến tới giải quyết công việc của dân qua điện thoại di động trong mọi thời điểm Theo đánh giá của giới chuyên môn, hiện nay Singapore đứng ở nhóm những nước dẫn đầu về tốc độ phát triển chính phủ điện tử và đang bước sang giai đoạn “phát triển công dân điện tử”

Nhà nước đã có chính sách cụ thể trong việc trả lương xứng đáng cho cán bộ, công chức, qua đó hạn chế tối đa nạn tham nhũng, minh bạch hóa chính phủ, tạo đà cho cán bộ công chức dành hết tâm sức cho công việc được giao.Có chính sách thu

Trang 36

hút và sử dụng nhân tài ngoại quốc rất bài bản, từ hàng chục năm nay, Singapore đã xác định rằng, người tài là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế với bước đột phá là việc sử dụng nhân tài ngoại quốc trong bộ máy nhà nước Một Bộ trưởng của Singapore đã tuyên bố, Singapore tích cực tham gia vào “cuộc chiến toàn cầu để giành giật nhân tài”, còn cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu từng khẳng định: “Nhân tài nước ngoài là chìa khoá bước tới tương lai”, chính

vì thế, “các công ty cần các nhân tài hàng đầu để cạnh tranh trên toàn cầu”

Cải cách hành chính Nhật Bản: Là nước không giàu về tài nguyên với dân

số khá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong Thế chiến thứ II, nhưng với các chính sách phù hợp, Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) và phát triển cao độ (1955-1990) khiến cho thế giới hết sức kinh ngạc Từ thập kỷ 90 thế kỷ XX đến nay, tuy tốc độ phát triển đã chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một trong các nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới

Cuối năm 1996, Hội đồng CCHC và cải cách cơ cấu được thành lập, tháng 6/1998 đã ban hành một đạo luật cơ bản về cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương

và lập ra Ban Chỉ đạo cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương và được đánh giá là một cuộc cải cách lớn nhất kể từ thời Minh Trị đến nay CCHC đã được khẩn trương thực hiện vì sau thời gian dài thành công rực rỡ về phát triển kinh tế, đại bộ phận người dân Nhật Bản có tâm lý chung là tự mãn, ngại thay đổi, một bộ phận còn có tính ỷ lại như: cấp dưới chờ đợi cấp trên, thiếu chủ động, không dám tự quyết, nhân dân cũng có tâm lý ỷ lại vào nhà nước Mục tiêu cải cách của Nhật Bản

là xây dựng một chính phủ có bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả cao nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ tướng và nội các Phương pháp thực hiện là tổ chức lại và giảm số lượng các Bộ, xây dựng hệ thống các CQHC độc lập, quy định rõ phạm vi thẩm quyền và nâng cao hiệu quả việc phối hợp công tác giữa các cơ quan; thiết lập một hệ thống tiêu chí nhằm đánh giá các chính sách, tách bộ phận hoạch định chính sách khỏi các cơ quan có chức năng tổ chức, đẩy mạnh tư nhân hóa, thuê khoán bên ngoài một loạt dịch vụ…

Kết quả thu được rất đáng khích lệ, bộ máy Chính phủ ở trung ương được

Trang 37

thu gọn đáng kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng;

số lượng các tổ chức bên trong của các cơ quan hành chính giảm đáng kể, từ 128 đơn vị cấp vụ, cục và tương đương thuộc các cơ quan hành chính trước đây, nay đã giảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc các cơ quan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn vị Số lượng công chức làm việc tại các

cơ quan hành chính giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăng cường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ Trước cải cách, đa phần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chính sách quan trọng có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và đề xuất…

Tóm lại việc học hỏi kinh nghiệm cải cách các nước là một điều hết sức cần thiết trong cuộc sống hiện nay, chúng ta nên kế thừa những điểm mới, tiến

bộ và biến đổi sao cho phù hợp với nền hành chính Việt Nam Và trong tương lai không xa, bộ máy hành chính Việt Nam sẽ hoàn chỉnh hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính,

là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính Tất cả những mục tiêu đó của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân

dân, do nhân dân, vì nhân dân

Những bài học rút ra:

Bài học 1: Cần có sự quyết tâm chính trị cao từ phía lãnh đạo chính trị cũng

như lãnh đạo hành chính trong việc triển khai cải cách thủ tục hành chính

Bài học 2: Việc cải cách thủ tục hành chính chỉ được triển khai sâu rộng khi

có các quy định liên quan trong Luật và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới Luật;

có các cơ quan chuyên môn ở các cấp thực hiện chỉ đạo, giám sát việc thực hiện

Bài học 3: Cần mở rộng các thiết chế xã hội khác nhau (người dân, các tổ

chức xã hội, các tổ chức chuyên môn độc lập) tham gia thực hiện và đánh giá, giám

Trang 38

Bài học 4: Việc cải cách thủ tục hành chính ở mỗi nước, cũng như mỗi thành

phố không được cứng nhắc mà cần linh hoạt, phù hợp với điều kiện về chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử cụ thể

b) Kinh nghiệm trong nước

Kinh nghiệm TP Hồ Chí Minh

Sau nhiều năm thực hiện CCHC, TP Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản trong các lĩnh vực là “điểm nóng” của hoạt động kinh tế - xã hội như quản lý nhà đất, xây dựng, thu hút đầu tư, từng bước xoá bỏ cơ chế “bao cấp”, “xin - cho”, làm thay đổi nếp nghĩ và thói quen trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, đưa hoạt động của các cơ quan chính quyền ngày càng gần dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn, góp phần làm thay đổi tư duy CCHC

Nếu chỉ tính riêng từ năm 2001 cho đến cuối năm 2007, Thành phố đã ban hành 1.390 văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước

và tạo môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế - xã hội Nhiều thủ tục hành chính được chuẩn hóa, mẫu hóa, quy trình giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và công dân rút ngắn được thời gian, giảm phiền hà cho công dân và doanh nghiệp Cơ chế "một cửa" được thực hiện phổ biến, cơ chế "một cửa liên thông" đã hình thành và từng bước mở rộng, tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hành chính Kết quả thực hiện thí điểm về khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính; việc ứng dụng công nghệ thông tin; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO; cơ chế "một cửa" và mô hình "một cửa điện tử" đã được Chính phủ đánh giá là thành công và cho mở rộng thực hiện ở một số lĩnh vực trong phạm

vi cả nước

Kết quả công tác CCHC đã góp phần trực tiếp làm cho kinh tế TP Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm qua Thu hút có hiệu quả đầu tư trong và ngoài nước, tạo môi trường thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả Đó cũng chính là những giải pháp nhằm phát huy nội lực và sức sáng tạo, năng động của nhân dân thành phố Để tiếp tục phát huy lợi thế này, UBND thành phố đã quyết định phân công ủy quyền nhiệm vụ

Trang 39

cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư giải quyết một số thủ tục thuộc chức năng quản lý nhà nước đối với các công ty nhà nước và các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Nhờ các giải pháp trên đây đã tiếp tục thu hút mạnh thêm nhiều dự án đầu tư mới vào thành phố Từ đó tạo cơ sở giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo

và từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, góp phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân

cư, bộ mặt đô thị ngày càng được đổi mới

Thực tiễn cho thấy, CCHC tại TP Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại cần được sớm khắc phục Đã nảy sinh những vướng mắc từ cơ chế, chính sách như chưa phân cấp, phân định rành mạch trong mối quan hệ về giải quyết thủ tục hành chính và trên từng lĩnh vực giữa các ngành, các cấp; việc rà soát, bãi bỏ nhiều văn bản pháp quy, văn bản hành chính sai sót dù rất cố gắng, nhưng chưa có quy trình ra văn bản thật đúng chuẩn mực và hiện vẫn còn những quy định bất cập khác; thời gian xử lý thủ tục hành chính đã tiến bộ nhưng vẫn bị quá hạn, nhiều hồ sơ còn tồn đọng do sự phối, kết hợp giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước chưa chặt chẽ Mặt khác, xét cho cùng, muốn CCHC có hiệu quả, phải có một đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ và vấn đề kèm theo là phải có cơ chế quản trị nhân sự khoa học, chế độ chính sách tuyển dụng, lương thưởng hợp lý, khuyến khích được người giỏi, động viên được mọi nguồn nhân lực

Về những vấn đề trên đây, qua khảo sát, điều tra trực tiếp thực tiễn cũng như nghiên cứu, tổng hợp lại từ các nguồn thông tin khác nhau, chúng tôi đã nhận thấy quá trình CCHC trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua đã gặp một

số khó khăn, hạn chế, cả khách quan và chủ quan sau đây:

Về khách quan, đó là nhiều văn bản quy phạm pháp luật của cấp Trung ương chậm ban hành hướng dẫn, hoặc ban hành thiếu đồng bộ, chồng chéo, trong khi nhiều luật mới hoặc bổ sung, điều chỉnh, đã được ban hành và có hiệu lực, từ đó làm cho quá trình triển khai thực hiện bị lúng túng hoặc khó khăn Mặt khác, với đặc thù của TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn, trung tâm kinh tế; văn hóa khoa học công nghệ và rất năng động với các hoạt động hết sức tập trung, nhưng vẫn còn

Trang 40

nhiều quy định quản lý, nguyên tắc tổ chức không tương thích ràng buộc Các chế

độ chính sách, nhất là tiền lương chưa thật sự tạo động lực thúc đẩy cán bộ, công chức gắn bó với công việc trong thực thi công vụ nói chung và thực hiện chương trình CCHC nói riêng Cấp Trung ương chưa có phối hợp đồng bộ trong công tác CCHC, nhất là về thủ tục hành chính giữa các bộ-ngành chưa có sự thống nhất, phối hợp xuyên suốt trong quá trình thực hiện lĩnh vực chuyên môn

Về chủ quan, công tác chỉ đạo thực hiện chương trình CCHC ở một số cơ quan đơn vị chưa được quan tâm chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, thường xuyên Lãnh đạo một số sở-ngành, quận-huyện quan tâm chưa thật đúng mức và chỉ đạo quyết liệt đối với công tác CCHC, từ đó thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thực hiện theo phân công, thậm chí có đơn vị gần như khoán trắng cho các bộ phận phòng ban trực thuộc Cũng phải thắng thắn nhận thấy Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo CCHC của các sở-ngành, quận-huyện chưa đầu tư đúng mức về thời gian, công sức, trí tuệ cho công tác CCHC theo trách nhiệm được phân công Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu một vài cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CCHC nên tiến độ thực hiện còn hạn chế Kỷ luật, kỷ cương hành chính trong một bộ phận cán bộ công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị còn lỏng lẻo, yếu kém; một số lĩnh vực công việc thực hiện còn thiếu đồng bộ, kết quả còn hạn chế hoặc vẫn còn tình trạng gây phiền hà cho tổ chức, công dân Cộng với trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các

cơ quan nhà nước còn hạn chế và chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của thành phố, một đô thị lớn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong khi đó nhận thức và chỉ đạo của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, đơn vị trong việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế càng làm cho việc triển khai CCHC gặp nhiều khó khăn hơn Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng tuy có nâng lên nhưng vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu quan tâm bồi dưỡng kỹ năng và xử lý tình huống trong quản lý hành chính Tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức đôi lúc chưa làm hài lòng tổ chức và công dân; một số cơ quan đơn vị chưa kiên quyết xử lý kịp thời và nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ Tiến độ

rà soát thủ tục hành chính còn chậm, kết quả giải quyết hồ sơ theo nhu cầu của tổ

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w