1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong luật tố tụng dân sự việt nam

112 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sau khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định trong các văn bản pháp luật và ngày càng đầy đủ hơn theo sự phát triển của pháp luật tố tụng dân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

…………

PHAN THỊ THU HIỀN

CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG LUẬT TỐ TỤNG DÂN

SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THỊ THU HIỀN

CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG LUẬT TỐ TỤNG DÂN

SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG ANH TUẤN

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN:

~~~~~~~~~****************~~~~~~~~~

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phan Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu 5

6 Những điểm mới của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8

1.2 Những điểm khác biệt tích cực về chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới 15

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 24

2.1 Những quy phạm pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 và so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 24

Trang 6

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự 69

2.3 Nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật và thực tiễn áp dụng về chuản bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 77

Chương 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015 82

3.1 Những kiến nghị về lập pháp 82

3.2 Những kiến nghị về hành pháp 90

3.3 Kiến nghị về quản lý hành chính 92

Tóm tắt chương 3 98

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và

tuyên bố trước Quốc dân và nhân dân thế giới ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người

đã nhắc lại những tư tưởng bảo vệ quyền công dân trong bản Tuyên ngôn Độc

lập của Mỹ năm 1776 Và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp

năm 1789 và nhấn mạnh: “Đó là những lời bất hủ” là “lẽ phải không ai chối cãi

được” Dựa trên những tư tưởng đó Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên

thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung

sướng và quyền tự do”

Tư tưởng đó của Người tiếp tục được thể hiện trong các văn bản pháp luật

do Nhà nước ta ban hành Theo Điều 14, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và

xã hội được công nhận, tôn trọng,bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và luật”.

Như vậy, có thể thấy rằng những quyền công dân đã được pháp luật nước

Việt Nam tôn trọng và bảo vệ Bên cạnh những quyền cơ bản của công dân như

quyền được sống, được học tập… thì còn có quyền được bảo vệ quyền dân sự

Và một trong các công cụ để Nhà nước bảo vệ quyền dân sự cho công dân đó là

Tòa án Thông qua hoạt động tố tụng dân sự giải quyết các vụ việc dân sự mà

các quyền dân sự của công dân bị xâm phạm được bảo vệ Để tạo cơ sở pháp lý

cho hoạt động tố tụng của Tòa án tại kỳ họp thứ năm ngày 15/6/2004 Quốc hội

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, đã thông qua Bộ luật Tố

tụng dân sự (BLTTDS) Sau 7 năm, Quốc hội khóa XII tiếp tục thông qua Luật

sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS (LSĐBS BLTTDS) vào ngày

Trang 8

29/3/2011 có hiệu lực vào ngày 1-1-2012 Kể từ đó, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam đã được hoàn thiện hơn, khắc phục được tình trạng thiếu thống nhất

giữa các quy định của các văn bản tố tụng trước đây Trong đó, các quy định về

chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (CBXXSTVADS) khá chi tiết và cụ thể

Thực hiện các quy định của BLTTDS về việc giải quyết các vụ án dân sự (VADS) của Tòa án nhân dân(TAND) cũng hiệu quả hơn

Tuy vậy, qua 5 năm thực hiện các quy định của LSĐBS BLTTDS 2011 cho thấy bên cạnh những ưu điểm thì các quy định của Bộ luật này vẫn còn nhiều bất cập Vì vậy ngày 25/11/2015 Quốc hội thông qua BLTTDS 2015 có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 (Một số quy định về Bộ luật dân sự không liên quan đến đề tài được quy định trong BLTTDS có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến CBXXSTVADS sẽ có hiệu lực ngày 1/7/2016 nên tác giả xin phép được so sánh một số quy định trước khi có hiệu lực.)

Từ việc tìm hiểu pháp luật hiện hành LSĐBS BLTTDS 2011 về CBXXSTVADS, tác giả xin phép được so sánh với những quy định liên quan trong BLTTDS 2015 sẽ có hiệu lực trong thời gian sắp tới Việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn các quy định của BLTTDS đồng thời nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính khả thi là rất cần thiết Nhằm giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các quy định của giai đoạn CBXXSTVADS và đánh giá những quy định mới trong BLTTDS 2015 về vấn

đề này Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ

thẩm vụ án dân sự trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài đề tài luận

văn thạc sĩ luật học của mình

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

CBXXSTVADS có vai trò quan trọng trong chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử Từ sau khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định trong các văn bản pháp luật và ngày càng đầy đủ hơn theo

sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và cho đến hiện nay chế định này được quy định có hệ thống hơn, đầy đủ hơn trong LSĐBS BLTTDS 2011 và sắp tới đây là BLTTDS 2015 Phân tích và nghiên cứu vấn đề trên đây đã có nhiều công trình khoa học, nhiều luận văn, tài liệu, tạp chí, bài báo và các hội thảo

khoa học đã đề cập đến Ví dụ:

- Nguyễn Triều Dương (2005), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tạp

chí Luật học, số 5/2005, Hà Nội: Bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thủ tục đình chỉ VADS, một trong số các quyết định ở quá trình CBXXSTVADS Như vậy bài viết có phạm vi nghiên cứu khá hẹp, chưa bao quát hết những quy định về CBXXSTVADS;

- Ths Lê Thị Bích Lan (2005): “Vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS”, Tạp

chí Luật học, Đặc san về BLTTDS: Tương tự như tác giả Nguyễn Triều Dương,

tác giả Lê Thị Bích Lan cũng nghiên cứu một hoạt động trong số nhiều hoạt động của CBXXSTVADS là khởi kiện và thụ lý vụ án Thời điểm bài viết được công bố BLTTDS 2004 mới có hiệu lực So với thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều thay đổi trong các quy định về CBXXSTVADS

- Bùi Thị Thu Hiền (2013) “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”, luận

văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Đây là một trong những công trình có giá trị tham khảo cao vì đề cập đúng vấn đề tác giả đang nghiên cứu Bài

Trang 10

viết đã bao quát được mọi hoạt động diễn ra trong quá trình CBXXSTVADS Tuy nhiên, bài viết chưa phân tích được cụ thể những hạn chế trong từng quy định của LSĐBS BLTTDS 2011 Và do thời điểm ra đời, nên bài viết cũng chưa thể có sự so sánh với BLTTDS 2015 để tìm ra được nhiều hạn chế, nhiều kiến nghị hơn

Về vấn đề lý luận và các yếu tố khoa học thì các công trình đều đã trình bày được Tuy nhiên, các đề tài vẫn thiếu sự thống nhất với nhau kết quả về mặt

lý luận giữa những công trình này, hoặc chưa thống nhất đề xuất ra một hướng thực hiện trên thực tiễn Bên cạnh đó các đề tài chưa bao quát được những nội dung nổi bật của các quy định về CBXXSTVADS

Để đóng góp thêm một chút lý luận và đề xuất hiện thực hoá lý luận vào thực tiễn, trong phạm vi nghiên cứu hạn hẹp tìm hiểu, phân tích, đánh giá tác giả xin đề xuất kiến nghị hoàn thiện một số quy định về CBXXSTVADS, thực thi các quy định Mong rằng với nội dung của đề tài này sẽ đóng góp được một chút công sức vào quá trình giải quyết vấn để cấp bách hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về

CBXXSTVADS, đánh giá đúng thực trạng quy định của pháp luật về CBXXSTVADS Đồng thời nhận diện bất cập trong các quy định này và thực

tiễn thực hiện tại Tòa án, từ đấy đề xuất những kiến nghị để khắc phục

3.2 Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận của CBXXSTVADS, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự việt Nam hiện hành về CBXXSTVADS

Trang 11

Các quy định đó đã hợp lý hay chưa? Thiếu gì, sai sót như thế nào? Cần quy định như thế nào cho hợp lý hơn? Và khảo sát thực tiễn thực hiện chúng tại Tòa

để xem xem với những quy định như vậy thì việc áp dụng có gặp phải khó khăn hay thuận lợi gì? Hay Tòa án đã áp dụng đúng chế định?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là những vấn đề lý luận về CBXXSTVADS, các quy định của

pháp luật tố tụng dân sự về CBXXSTVADS và thực tiễn thực hiện của Tòa án

CBXXSTVADS là một đề tài có nhiều nghiên cứu, do giới hạn của luận văn thạc

sỹ, đề tài nghiên cứu phạm vi về một số vấn đề lý luận CBXXSTVADS như khái

niệm, đặc điểm, ý nghĩa của CBXXSTVADS Các quy định của BLTTDS về CBXXSTVADS và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án giải quyết các năm

gần đây trên phạm vi toàn quốc

Pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam hiện hành đang hiện hữu các quy định về: Hoà giải và chuẩn bị xét xử sơ thẩm; Chuẩn bị xét xử phúc thẩm Như vậy, chế định Hoà giải và chuẩn bị xét xử đương nhiên được hiểu là chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bởi lẽ việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã được tách bạch, và hoà giải là một trong những thủ tục thường phải làm trong quá trình chuẩn bị xét xử

sơ thẩm Với cách tiếp cận này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Với đề tài nghiên cứu đã chọn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt động CBXXSTVADS của cơ quan, người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử

5 Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các lý luận cơ bản về CBXXSTVADS;

Trang 12

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật đối với những hoạt động cụ thể CBXXSTVADS trong pháp luật Việt Nam hiện hành;

- Thực trạng áp dụng pháp luật về CBXXSTVADS hiện nay và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tăng cường dân chủ, đảm bảo công bằng xã hội

Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp số liệu, so sánh, diễn giải, suy diễn logic, thu thập thông tin…để làm sáng tỏ những vấn đề mà khóa luận cần giải quyết

5.3 Địa điểm nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục CBXXSTVADS trên lãnh thổ Việt Nam bằng những số liệu cụ thể của TAND tối cao và các vụ án thực tế trên các tỉnh thành

6 Những điểm mới của luận văn

Trước đây đã có một số đề tài về vấn đề này, tuy nhiên do mục đích, giới hạn, phạm vi nghiên cứu nên các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức

độ riêng lẻ, tập trung vào một số khía cạnh liên quan đến CBXXSTVADS hoặc

có bàn về toàn bộ nội dung CBXXSTVADS nhưng chưa đầy đủ Điểm mới của

đề tài tác giả như sau:

Trang 13

Một là: Đề tài lần này sẽ đi sâu và bao quát hơn các quy định về

CBXXSTVADS Bên cạnh đó góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về CBXXSTVADS;

Hai là: Bằng các số liệu thu thập từ Tòa án, các vụ án thực tế chứng minh,

đề tài đã phân tích và làm rõ thực trạng áp dụng quy định CBXXSTVADS;

Ba là: Đề tài cập nhật kịp thời thông tin, so sánh các quy định của

CBXXSTVADS trong quy định Luật sửa đổi bổ sung một số điều LSĐBS BLTTDS 2011 với BLTTDS 2015 (có hiệu lực 1//7/2016);

Bốn là: Luận văn nêu bật được các ưu điểm và hạn chế trong quá trình áp

dụng chế định Trên cơ sở đó, luận văn xin đề xuất những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm hoàn thiện hơn quy định của BLTTDS về CBXXSTVADS và khắc phục được những hạn chế cũng như nâng cao hơn nữa hoạt động của TAND giai đoạn 2016 – 2020

7 Kết cấu luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự

Chương 2: Thực trạng quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Trang 14

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong quan hệ pháp luật dân sự luôn xảy ra những tranh chấp Tùy theo tính chất và mức độ mà khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, có nhiều trường hợp các chủ thể không thể tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp Trong trường hợp này theo quy định của pháp luật, họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Trong khoa học pháp lý:

Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là

vụ việc dân sự Trong đó, đối với những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự; đối với những việc không có tranh

chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là việc dân sự [39, tr9]

Từ khi thụ lý VADS, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết VADS Để giải quyết VADS tại phiên tòa

sơ thẩm Tòa án phải nhanh chóng và đúng đắn trong hoạt động CBXXSTVADS

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chuẩn bị” nghĩa là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì” [42, tr52] CBXXSTVADS là một giai đoạn trong sơ thẩm

VADS CBXXSTVADS là việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xét xử sơ thẩm các VADS mà Tòa án đã thụ lý

Trang 15

Từ điển Luật học giải thích rằng, “xét xử” là “hoạt động do Toà án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Toà án, sau khi nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và

xử lí vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan” Còn

“sơ thẩm”, Từ điển Luật học định nghĩa “sơ” là mới; “thẩm” là xét Sơ thẩm:“lần đầu tiên đưa ra xét xử vụ án tại một toà án có thẩm quyền” [41, tr33]

Sơ thẩm VADS là việc giải quyết VADS lần đầu của Tòa án Ở cấp sơ thẩm có thể trải qua các giai đoạn khác nhau, đầu tiên là giai đoạn khởi kiện và thụ lý VADS Trong giai đoạn này, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thể theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, thực hiện việc khởi kiện VADS để bảo vệ các quyền, lợi ích bị xâm phạm Tòa án sẽ chỉ thụ lý nếu các chủ thể khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện về nội dung, hình thức khởi kiện mà pháp luật đã quy định và nộp tiền tạm ứng án phí Tiếp theo khởi kiện là thụ lý VADS Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện chính là sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận Trong giai đoạn CBXXSTVADS Tòa án phải làm sáng tỏ yêu cầu của các đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thông qua các chứng cứ, do các đương sự cung cấp hoặc thông qua các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa

án để có thể đảm bảo cho việc giải quyết vụ án có căn cứ và chính xác Sau đó, Tòa án còn có trách nhiệm hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải Bên cạnh đó, Tòa án còn có thể ra các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định

Trang 16

công nhận sự thỏa thuận và quyết định đưa vụ án ra xét xử Giai đoạn cuối cùng của sơ thẩm VADS là phiên tòa sơ thẩm VADS Trên cơ sở quyết định đưa vụ án

ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa để ra phán quyết về vụ án

Theo Điều 1 LSĐBS BLTTDS 2011 thì “VADS” là tranh chấp Dân sự, Hôn nhân và Gia đình, Kinh doanh, Thương mại, Lao động Dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất để phân biệt việc dân sự với VADS là yếu tố có tranh chấp hay không

Cụ thể, việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng

có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó (cơ sở pháp lý là các Điều 26, 28, 30, 32 và 311 LSĐBS BLTTDS 2011) Ví dụ:

yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu tuyên bố một người mất tích Còn VADS là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của LSĐBS BLTTDS thì

cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (cơ sở pháp lý là các Điều 25, 27, 29 và 31 LSĐBS BLTTDS 2011) Ví dụ: các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự…

Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “CBXXSTVADS” Nếu hiểu chuẩn bị xét xử sơ thẩm với tính chất là một quá trình, thì CBXXSTVADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Toà án bao gồm tất cả các hoạt động từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự, tiến hành hoà giải, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VADS

hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử [15, tr5] Còn nếu hiểu CBXXSTVADS với

tính chất là một hoạt động tố tụng theo khái niệm như đã nêu ở trên thì

Trang 17

CBXXSTVADS gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng

và tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa

vị tố tụng của họ để phục vụ trực tiếp cho thủ tục xét xử sơ thẩm

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về CBXXSTVADS

như sau: “CBXXSTVADS là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, từ khi thụ lý vụ án đến quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét

xử sơ thẩm.”

Thực tiễn xét xử các VADS cho thấy để xét xử được VADS, cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS Theo quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử của Tòa án thì các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: Phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập

hồ sơ VADS và quyết định đưa vụ án ra xét xử

Mỗi giai đoạn, hoạt động đều có những ý nghĩa riêng, vậy hoạt động CBXXSTVADS có những đặc điểm, ý nghĩa như thế nào so với các hoạt động khác?

1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Thứ nhất, được bắt đầu từ khi toà án thụ lý VADS và kết thúc khi toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân s ự CBXXST VADS sẽ được tính từ thời

điểm Toà án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra

Thứ hai, là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do toà án tiến hành nhằm chuẩn bi ̣ những điều kiê ̣n cần thiết c ho viê ̣c xét xử sơ thẩm VADS Trước khi phiên tòa diễn ra, đòi hỏi phải có giai đoạn chuẩn bị điều kiện

kỹ lưỡng Những điều kiện cần thiết ở đây gồm: phân công thẩm phán, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử……

Trang 18

Thứ ba, hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của toà án trong giai đoạn này: Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự , toà án giữ vị trí đặc biệt

quan tro ̣ng Với tư cách là cơ quan xét xử của nhà nước , toà án phải chủ động trong viê ̣c hoà giải để giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau Tuy nhiên, không phải bất kỳ VADS nào toà án cũng phải tiến hành hoà giải , các vụ án thuô ̣c trường hợp những VADS không được hoà giải và những VADS không tiến hành hoà giải được thì toà án không tiến hành hoà giải

Thứ tư, có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác: trong quá

trình chuẩn bị xét xử toà án sẽ nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết Viê ̣c chuẩn bị xét xử c ó liên quan mật thiết đến phiên toà sơ thẩm và hoạt

đô ̣ng tố tu ̣ng của toà án sau này Nếu viê ̣c chuẩn bị xét xử mà tốt thì phiên toà sơ thẩm diễn ra mới được thuâ ̣n lợi , hạn chế tình trạng hoãn phiên toà do các yếu tố chủ quan cũng như ha ̣n chế tình tra ̣ng xét la ̣i bản án quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án Bên ca ̣nh đó, chuẩn bị xét xử mô ̣t cách đầ y đủ cũng giúp cho toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo , kháng nghị nhanh chóng, thuâ ̣n lợi

1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Có thể nói, CBXXSTVADS là hoạt động rất quan trọng Tuy không đưa

ra những phán quyết như việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nhưng nó tạo cơ sở, tiền đề, đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của Toà án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật CBXXSTVADS có những ý nghĩa sau:

- CBXXSTVADS giúp Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp,

từ đó giải quyết được đầy đủ và đúng các yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Trang 19

Trên cơ sở yêu cầu của đương sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết VADS Khi đã xác định được các quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án, Toà án có thể xác định đúng các chứng cứ, tài liệu làm rõ các các quan hệ đó và yêu cầu đương sự cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại yêu cầu của đương sự khác…Nếu cần phải thu thập bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo yêu cầu của đương sự, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án

Trên cơ sở xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, Tòa án sẽ triệu tập được đầy đủ những người tham gia tố tụng đến tham gia tố tụng Nếu xác định thiếu đương sự trong vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời việc giải quyết vụ án sẽ thiếu toàn diện, thiếu chính xác

- CBXXSTVADS giúp Tòa án tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho phiên tòa sơ thẩm

Qua việc CBXXSTVADS ngoài việc lập được hồ sơ VADS, có đủ chứng

cứ, tài liệu để giải quyết VADS, Tòa án sẽ phân công hội đồng xét xử; triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho VKS cùng cấp, gửi giấy thông báo cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trong giai đoạn CBXXSTVADS, Tòa án sẽ tiến hành nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án Từ đó, Tòa án sẽ kiểm tra thật kỹ lưỡng tất cả các vấn đề liên quan tới vụ án để chuẩn bị tốt cho phiên tòa sơ thẩm, đồng thời dự liệu một

số khó khăn gặp phải trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án Ngoài ra, Tòa án còn phải chuẩn bị các điều kiện vật chất như chuẩn bị về hội trường xét xử, âm thanh… Những công việc này giúp cho phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng kế hoạch

Trang 20

- CBXXSTVADS tạo điều kiện cho đương sự cung cấp chứng cứ để

chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Chứng cứ giúp cho Tòa án làm rõ được các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án, đồng thời thông qua việc cung cấp chứng cứ, đương sự sẽ chứng minh với Tòa án yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp cũng như chứng minh việc phản đối yêu cầu của mình là đúng đắn Trong thời gian CBXXSTVADS các đương sự có điều kiện thu thập chứng cứ, cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Ngoài ra, đương sự là người lần đầu tham gia tố tụng và rất nhiều người

vẫn còn hạn chế về kiến thức pháp luật Vì vậy, CBXXSTVADS là cơ hội để các

đương sự có thể chuẩn bị cả về mặt tâm lý cũng như kiến thức pháp luật để sẵn

sàng cho phiên tòa sơ thẩm được tiến hành sau đó

Giai đoạn CBXXSTVADS là giai đoạn rất quan trọng, tuy không đưa ra những phán quyết như giai đoạn xét xử phúc, giám đốc thẩm hay tái thẩm nhưng

nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của toà án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật

1.1.4 Cơ sở khoa học của việc quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự

Giai đoạn CBXXSTVADS được tiến hành dựa trên ý nghĩa quan trọng của giai đoạn CBXXSTVADS Đồng thời, các công việc cần thực hiện khi tiến hành giai đoạn CBXXSTVADS như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; lập

hồ sơ vụ án dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử, còn được thực hiện dựa

trên những nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự Ví dụ: như

khi lập hồ sơ vụ án, cần đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; Tòa án chỉ có thể giải quyết một cách chính xác và công

Trang 21

bằng khi có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của VADS đã được làm sáng tỏ Ngoài ra, việc tiến hành giai đoạn CBXXSTVADS dựa trên cơ sở bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; đồng thời đảm bảo sự bình đảng giữa các bên đương sự

1.2 Những điểm khác biệt tích cực về chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới

1.2.1 Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp

- Về tiền xét xử:

Theo pháp luật tố tụng dân sự của Pháp thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm

có vai trò rất quan trọng nên có quy định khi kết thúc giai đoạn này, Thẩm phán

tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đương sự thảo luận yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án Các đương sự có quyền yêu cầu trao đổi chứng cứ và các vấn đề khác Phiên họp này giúp cho Thẩm phán xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án, giúp các bên chuẩn bị tốt hơn cho quá trình tranh luận tại tòa

Ở Việt Nam trước khi xét xử chỉ quy định vấn đề hòa giải, không có quy định về phiên họp sơ bộ trước khi phiên tòa diễn ra như ở Pháp

Trang 22

Trong BLTTDS Việt Nam thì chỉ có một hình thức là do Thẩm phán hòa giải

BLTTDS Việt Nam lại chỉ quy định việc hòa giải diễn ra trước khi diễn ra phiên tòa sơ thẩm Nếu trong phiên tòa mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 220 LSĐBS BLTTDS 2011)

+ Thủ tục hòa giải tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm: Điều 833 BLTTDS Pháp quy định: Tòa án sẽ thông báo và gửi giấy triệu tập đến các đương sự, trong giấy triệu tập phải ghi rõ các đương sự phải đích thân có mặt tại phiên hòa giải Nếu hòa giải thành thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và biên bản

đó có hiệu lực thi hành ngay Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán giao cho nguyên đơn một phiếu hòa giải không thành, trừ trường hợp các bên các đương

sự thỏa thuận là việc kiện được xét xử ngay

+ Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm:

Thẩm phán sẽ cố gắng hòa giải các đương sự trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Việc hòa giải có thể được tiến hành trong phòng làm việc của Thẩm phán

Trang 23

Nếu hòa giải không thành, việc kiện có thể được xử ngay hoặc để một phiên tòa sau (Điều 840 BLTTDS Pháp)

Ở cấp phúc thẩm, việc hòa giải vẫn được tiến hành theo trình tự như ở cấp

sơ thẩm nhưng đặt dưới sự giám sát của một Thẩm phán của tòa được phân công xét xử phúc thẩm

1.2.2 Pháp luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga

- Về tiền xét xử:

Cũng giống như pháp luật tố tụng dân sự của Pháp, pháp luật tố tụng dân

sự Nga coi trọng việc chuẩn bị xét xử sơ thẩ Thẩm phán tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đương sự thảo luận yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án Các đương sự có quyền yêu cầu trao đổi chứng cứ và

cá vấn đề khác Phiên họp này giúp cho Thẩm phán xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ

án, giúp các bên chuẩn bị tốt hơn cho quá trình tranh luận tại tòa

1.2.3 Pháp luật Tố tụng dân sự Vương quốc Anh

- Về hình thức khởi kiện:

Khi khởi kiện, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện do luật sư của nguyên đơn soạn thảo cho Tòa án [ 39, tr503]

Trang 24

Ở Việt Nam thì đơn khởi kiện chỉ cần tuân thủ đúng hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 164 LSĐBS BLTTDS 2011 Và không bắt buộc luật sư của nguyên đơn phải soạn thảo

- Về căn cứ xét xử, căn cứ quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc:

Trong trường hợp, nếu một trong các bên đương sự không thực hiện nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ hoặc trả lời câu hỏi của đương sự phía bên kia theo quy định của pháp luật thì Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ việc hoàn toàn theo chứng cứ do bên đương sự xuất trình trước tòa án [ 39, tr504]

BLTTDS Việt Nam có nhắc tới vấn đề về “Hậu quả nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả” (Điều 84 LSĐBS BLTTDS 2011) Tuy nhiên hậu quả chưa quy định rõ ràng và cũng không nhắc tới vấn đề Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ việc hoàn toàn theo chứng cứ do bên đương sự xuất trình trước tòa án như pháp luật tố tụng dân sự Vương quốc Anh

1.2.4 Pháp luật Tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn thông báo:

Trong thời hạn 20 ngày nhận được thông báo của Tòa án liên bang, 30 ngày hoặc có thể kéo dài đến 60 ngày nhận được thông báo của tòa án bang bị đơn có nghĩa vụ nộp cho Tòa án văn bản trả lời của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn [ 39, 508]

Điều 175 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam lại quy định thời hạn “khiêm tốn” hơn rất nhiều so với pháp luật tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:

“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện…”

- Về căn cứ xét xử, căn cứ quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc:

Trang 25

Trong quá trình nhận đơn nếu đơn khởi kiện không hợp lệ, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; việc giải quyết vụ việc đó chưa được quy định trong luật; thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc

Theo Điều 168 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam, thì các vấn đề: đơn khởi kiện không hợp lệ, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là căn

cứ để trả lại đơn khởi kiện chứ không giống quy định của Pháp luật Tố tụng dân

sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

1.2.5 Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản

Về thủ tục hòa giải trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Nhật bản có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thỏa thuận Tranh tụng mới chỉ được biết đến khi được du nhập từ các nước phương Tây vào những năm đầu thế kỷ XIX

- Chủ thể tiến hành hòa giải:

Hòa giải trong pháp luật của Nhật được thực hiện thông qua một Hội đồng hòa giải Hội đồng này thường bao gồm một Thẩm phán và hai hòa giải viên trở lên Các hòa giải viên này thường là những người có chuyên môn trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp Điều này sẽ giúp cho hiệu quả hòa giải được cao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong những lĩnh vực mang tính chất đặc thù như tranh chấp thương mại hoặc tranh chấp xây dựng thì Thẩm phán thường không có kiến thức chuyên sâu Do vậy, việc tham gia của những người có chuyên môn sẽ giúp Thẩm phán rất nhiều trong quá trình hòa giải Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về hòa giải Trong pháp luật Việt Nam, chủ thể chủ trì phiên hòa giải chỉ là một Thẩm phán thư ký ghi biên bản và các đương sự (Điều 184 LSĐBS BLTTDS 2011)

Trang 26

- Thủ tục hòa giải:

Ở Nhật, hòa giải được tiến hành bằng nhiều buổi gặp gỡ các bên Buổi đầu tiên Hội đồng hòa giải sẽ thông báo cho các bên về thủ tục hòa giải Các buổi tiếp theo Hội đồng hòa giải sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra bản chất của vấn

đề và các vấn đề liên quan

Ở Việt Nam, việc hòa giải được diễn ra dưới hình thức là phiên hòa giải với sự có mặt của Thẩm phán và các bên liên quan trong một khoảng thời gian nhất định

- Hiệu lực của biên bản hòa giải:

Điều 267 BLTTDS Nhật Bản quy định “Khi có sự thỏa hiệp hoặc ý kiến chấp thuận hay từ bỏ chấp nhận yêu cầu được thể hiện trong biên bản thì biên bản này có hiệu lực như một bản án không thể bác bỏ được” Như vậy, theo

quy định của pháp luật Nhật Bản thì biên bản hòa giải thành có hiệu lực ngay

sau khi lập, còn như trong pháp luật Việt Nam thì “Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về

sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.” (Điều 187 LSĐBS BLTTDS 2011)

1.2.6 Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

- Về hình thức khởi kiện:

Khi khởi kiện nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản cho Tòa án Nếu nguyên đơn khó khăn trong việc viết đơn có thể trình bày bằng miệng và tòa án ghi thành biên bản (Điều 109 BLTTDSTH)

Trang 27

Theo Điều 164, 190 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam thì cá nhân, cơ quan, tổ chức làm đơn khởi kiện và nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đơn đến Tòa án qua bưu điện

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn thông báo:

Sau khi thụ lý vụ việc, tòa án tiến hành chuẩn bị xét xử trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, trong trường hợp đặc biệt thời hạn này thêm 6 tháng

Điều 179 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam quy định về thời hạn

CBXXSTVADS khác, thời gian cụ thể hơn với từng loại việc so với Pháp luật

Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trong đó quy định : “Đối với các

vụ án về tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân gia đình, thời hạn là 04 tháng,

kể từ ngày thụ lý vụ án; Đối với các vụ án về kinh doanh thương mại, lao động

thì thời hạn là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.”

- Về thủ tục hòa giải:

Theo Điều 9 Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

thì hòa giải là một nguyên tắc hoạt động của các cơ quan xét xử “Tòa án nhân dân giải quyết cá vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc tự nguyện và hợp pháp” [43, tr63] Chế định hòa giải được quy định cụ thể tại

Chương 8 Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc, gồm một số điểm đáng chú ý sau:

- Người tham gia hòa giải:

Theo Điều 86 và Điều 87 Luật tố tụng dân sự Trung Quốc thì người tham gia hòa giải gồm: Thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn, nhân chứng, đơn vị và cá nhân có liên quan

Trang 28

Điều 184 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam quy định về thành phần Hòa giải gồm: Thẩm phán, thư ký, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự

- Thủ tục hòa giải:

Về nguyên tắc, hòa giải đi đến thỏa thuận, TAND phải làm bản hòa giải ghi rõ kết quả hòa giải, trừ một số trường hợp sau:

+ Những vụ án ly hôn đã hòa giải đi đến hàn gắn quan hệ hôn nhân

+ Các vụ án về cấp dưỡng đã hòa giải đi đến duy trì mối quan hệ nuôi dưỡng

+ Những vụ án khác không cần làm bản hòa giải

Bản hòa giải sau khi có chữ ký của hai bên đương sự là có ngay hiệu lực pháp luật Hòa giải không đi đến thỏa thuận thì TAND kịp thời ra phán quyết

Như vậy, điểm khác biệt về hòa giải trong pháp luật Trung Hoa so với pháp luật Việt Nam là bản hòa giải sau khi được lập sẽ có ngay hiệu lực Và trong một số trường hợp thì hòa giải thành Tòa án không cần lập bản hòa giải

mà chỉ cần ghi vào biên bản, sau khi có chữ ký hoặc đóng dấu của hai bên đương sự, Thẩm phán, Thư ký là có hiệu lực pháp luật ngay

Trang 29

Tóm tắt Chương 1

-

1 CBXXSTVADS là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, từ khi thụ lý vụ án đến quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét

xử sơ thẩm Do vậy, CBXXSTVADS có ý nghĩa rất quan trọng đến toàn bộ hoạt động xét xử của Tòa án CBXXSTVADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác CBXXSTVADS giúp Tòa án chuẩn bị được những điều kiện tốt về nội dung tranh chấp, trang bị thêm kiến thức pháp luật cho đương sự, cũng như tạo cơ sở vật chất cho phiên tòa…

2 CBXXSTVADS có những đặc điểm cơ bản như: CBXXSTVADS được bắt đầu từ khi toà án thu ̣ lý VADS và kết thúc khi toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vu ̣ án dân sự ; CBXXSTVADS là hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng bao gồm những công viê ̣c cu ̣ thể do toà án tiến hành nhằm chuẩn bi ̣ những điều kiê ̣n cần thiết cho viê ̣c xét xử sơ thẩm VADS ; hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của toà án trong giai đoa ̣n này; có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác

3 Một số nội dung trong hoạt động CBXXSTVADS có sự khác nhau giữa các quốc gia Đặc biệt ở các quy định về Hòa giải Tác giả đã nêu ra những điểm khác biệt tích cực về CBXXSTVADS theo pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới với pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam Để từ đó có cái nhìn rõ hơn về pháp luật tố tụng dân sự hiện hành Qua nhiều năm, cùng với sự tiến bộ của của quá trình nghiên cứu pháp luật, những quy định về CBXXSTVADS cho đến ngày hôm nay đã đạt được những bước tiến nhất định

Trang 30

Chương 2

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ

ÁN DÂN SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 Những quy phạm pháp luật về thủ tục chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 và so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Vừa qua Dự thảo BLTTDS trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, 10/2015 Dự thảo đã sửa đổi bổ sung một số điều liên quan đến vấn đề CBXXSTVADS Ngày 1/7/2016 BLTTDS 2015 mới có hiệu lực thi hành Tuy nhiên để có cái nhìn khách quan và cập nhật thông tin, sau đây tác giả xin trình bày về nội dung và sau đó so sánh LSĐBS BLTTDS 2011 và BLTTDS

2015 về những vấn đề liên quan đến hoạt động CBXXSTVADS

2.1.1 Các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Thứ nhất, thời hạn quyết định đƣa VADS ra xét xử

Thời hạn quyết định đƣa VADS ra xét xử đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều

179 BLTTDS và Khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5].Theo đó, tuỳ từng loại vụ án mà thời hạn chuẩn bị xét xử đƣợc quy định khác nhau, cụ thể nhƣ sau:

1 Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án đƣợc quy định nhƣ sau: a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh

án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhƣng

Trang 31

không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a

và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 điều này

STT Loại tranh chấp Thời hạn CBXX Gia hạn thời hạn

Trang 32

xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với VADS, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 LSĐBS BLTTDS 2011 và 1 tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động quy định tại Điều 29 và Điều 31 LSĐBS BLTTDS 2011 Trong quá trình CBXXSTVADS, nếu thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án xét thấy các vụ án này chứng cứ rõ ràng, không có tính chất phức tạp hay gặp trở ngại khách quan thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án trong thời hạn luật định mà không cần phải gia hạn Tuy vậy đối với những vụ án có tính chất phức tạp hay gặp phải trở ngại khách quan thì Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Vậy những vụ án có “tính chất phức tạp” và “trở ngại khách quan” là như thế nào? Khái niệm này đã được giải thích và hướng dẫn cụ thể tại Khoản 3 Điều

14 Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5], theo đó:

Những vụ án có tính chất phức tạp là những vụ án có nhiều đương

sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng

cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc nguời Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải

có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam

ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài…

Thứ hai, thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa

Khoản 3 Điều 179 LSĐBS BLTTDS 2011 quy định, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn một tháng kể từ

Trang 33

ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng

Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr5], thì

“Lý do chính đáng” là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng

có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến hành xét xử

vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà án khác đến… nên cản trở Toà án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định”

Ví dụ: Theo luật định, thời hạn giải quyết một vụ tranh chấp dân sự cả sơ

và phúc thẩm (xét xử hai cấp) tối đa không quá một năm Thế nhưng, có những

vụ tranh chấp kéo dài cả chục năm, thậm chí gần 2 thập kỷ và “xuyên thế kỷ” nhưng vẫn chưa có hồi kết Suốt 18 năm, 2 công dân Võ Văn Vinh và Đặng Đạo (ngụ Bình Định) không biết bao nhiêu lần ngược xuôi, nhảy tàu, ngồi xe từ Bình Định vào TP HCM rồi ra Hà Nội để đáo tụng đình Đến nay vụ kiện đòi Công an

TP HCM cùng Công ty VIKAMEX bồi thường thiệt hại đã có đến 9 bản án (4 sơ thẩm, 4 phúc thẩm và một giám đốc thẩm) nhưng vẫn chưa có hồi kết cho đến năm 2010 vụ án đang quay trở lại vạch xuất phát, sơ thẩm lần 5 [44] Khi gặp những vụ án này thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với các tranh chấp về dân sự; hôn nhân gia đình và một tháng đối với các tranh chấp về kinh doanh và thương mại, lao động Tuy nhiên, theo tôi có một hạn chế ở đây là: trên thực tế, các tranh chấp về kinh doanh và thương mại diễn ra khá phổ biến và có nhiều tình tiết phức tạp không

Trang 34

kém gì các tranh chấp dân sự Trong thời hạn hai tháng, Tòa án khó có thể chuẩn

bị được các công việc cần thiết cho vụ án Pháp luật quy định về thời hạn đối với những tranh chấp này là hai tháng chưa phù hợp với tình hình thực tế

* So sánh quy định hiện hành với BLTTDS 2015

sửa đổi bổ sung thành Điều 203 BLTTDS 2015 Trong đó quy định mới

“Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn

bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án

có hiệu lực pháp luật.” Và Điều 203 cũng quy định thêm khoản 2 về:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: a) Lập hồ sơ vụ án; b) Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng

cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao các tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho các đương sự; c) Thông báo yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng

án phí, xét miễn, giảm tiền tạm ứng án phí; d) Xác minh, thu thập chứng

cứ theo quy định của Bộ luật này; đ) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; e) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn

Ngoài ra BLTTDS 2015 vẫn giữ nguyên thời hạn chuẩn bị xét xử của các loại vụ án Như vậy điều này gây khó khăn cho các vụ án kinh doanh, thương mại, lao động Hơn nữa cách viết số tháng ở điều này không thống nhất Ơ trên viết bằng số ở dưới viết bằng chữ

2.1.2 Các quy định về phân công Thẩm phán

Việc phân công thẩm phán phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Trang 35

Thứ nhất, việc phân công phải nhanh chóng

Theo quy định tại Điều 172 LSĐBS BLTTDS 2011 thì: “Trong thời hạn

ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.” Việc nhanh chóng chỉ định một thẩm phán xử lý vụ án

là hết sức quan trọng Các sự kiện phát sinh trong một VADS là tương đối nhiều

và phức tạp Cần phải có người có thẩm quyền đứng ra thực hiện các biện pháp ngăn chặn khi cần thiết, như vậy mới đảm bảo tính công bằng của vụ án

Thứ hai, việc phân công phải minh bạch

Theo đó, Khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP [10, tr4], hướng dẫn thì đối với Tòa án cấp huyện Chánh án có thể tự mình hoặc ủy nhiệm cho một phó chánh án phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Đối với Tòa án cấp tỉnh, Chánh án có thể ủy nhiệm cho một Phó chánh án hoặc ủy quyền cho Chánh tòa hoặc phó chánh tòa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Khi phân công Thẩm phán giải quyết vụ án không phải ra quyết định bằng văn bản nhưng cần phân công Thẩm phán đã được phân công xem xét đơn khởi kiện và các chứng cứ tài liệu kèm theo để thụ lý vụ án

Nếu phát sinh các điểm không rõ ràng giữa Thẩm phán hay Thư kí đối với các tình tiết của vụ án như đồng thời là đương sự, là thân thích của đương sự

…hay đã từng tham gia vụ tố tụng với tư cách Kiểm sát viên, việc thay đổi người

tố tụng sẽ được tiến hành theo quy định từ Điều 46 đến 51 LSĐBS BLTTDS

2011 Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 50,51 LSĐBS BLTTDS 2011

Nếu trong quá trình xử lý, Thẩm phán bị thay đổi hay không thể tiếp tục thì Chánh án sẽ chọn một Thẩm phán khác, để vụ án được tiến hành một các liên tục

Trang 36

Theo Điều 41 LSĐBS BLTTDS 2011 thì trong giai đoạn CBXXSTVADS Thẩm phán có nhiệm vụ: Tiến hành lập hồ sơ vụ án; Quyết định

áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS

Theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều 172 LSĐBS BLTTDS 2011 thì “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án , Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”; đồng thời, theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 173 LSĐBS

BLTTDS 2011 thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có nhiệm vụ thông báo về viê ̣c thu ̣ lý vu ̣ án và Khoản 1 Điều 174 LSĐBS BLTTDS 2011 quy

đi ̣nh “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho…” Như vâ ̣y, giả sử nếu Thẩm phán được Chánh án

phân công giải quyết vu ̣ án vào ngày cuối cùng theo thời ha ̣n trên thì không thể đảm bảo thông báo thu ̣ lý vu ̣ án đúng thời ha ̣n Đồng thời, có trường hợp vụ án

đã được thụ lý nhưng Chánh án lại chậm trễ trong việc phân công cho Thẩm phán giải quyết Do đó, cần sửa đổi quy đi ̣nh này cho phù hợp hơn

* So sánh quy định hiện hành với BLTTDS 2015

Điều 172 LSĐBS BLTTDS 2011 đã được bổ sung sửa đổi thành Điều 197 BLTTDS 2015 Theo đó quy định mới như sau:

1 Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết

vụ án theo nguyên tắc quay vòng hoặc ngẫu nhiên 2 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án

Như vậy BLTTDS 2015 đã kéo dài thêm thời hạn phân công thẩm phán

Trang 37

lên 5 ngày, bảo đảm thuận lợi hơn cho Tòa án giải quyết vu ̣ án nhưng vẫn nhanh chóng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

2.1.3 Các quy định về thụ lý và tống đạt văn bản tố tụng

a Về thụ lý

Sau khi thụ lý vụ án, để thực hiện việc CBXXSTVADS Tòa án phải thông báo việc thụ lý VADS Các yêu cầu đối với việc thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 174, Điều 175, Điều 176 LSĐBS BLTTDS2011

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ

lý vụ án, Tòa án phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan và cho VKS cùng cấp

Người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình

về yêu cầu của người khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn nhất định, đó là thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa

án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày nữa

Cùng với việc phải nộp cho Tòa án các văn bản và tài liệu trên đây, bị đơn

có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn Đây là trường hợp bị đơn kiện lại đối với nguyên đơn, vì vậy Tòa án có thể xem xét để giải quyết trong cùng một

vụ án để sớm kết thúc việc giải quyết tranh chấp Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu

mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng

về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây là ý

kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn

Trang 38

* So sánh quy định hiện hành với BLTTDS 2015

Về quy định Thông báo về việc thụ lý vụ án tại Điều 174 LSĐBS

BLTTDS 2011 đã được sửa đổi thành Điều 196 BLTTDS 2015 Trong đó nội

dung văn bản thông báo bổ sung thêm nội dung “Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn.” và “… yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)”

Như vậy, BLTTDS 2015 đã quy định chi tiết hơn một số nội dung có trong văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án Tuy nhiên, vấn đề về hậu quả pháp lý nếu người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu vẫn chưa được quy định rõ ràng

b Về tống đạt

Về vấn đề tống đạt văn bản tố tụng được quy định từ Điều 146 đến Điều

156 LSĐBS BLTTDS 2011 Trong đó Toà án, VKS, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy

Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo bao gồm:

- Bản án, quyết định của Toà án

- Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị

- Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự

- Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác

- Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định

Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng do những người sau đây thực hiện: Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng

Trang 39

được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng;

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan,

tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Toà án có yêu cầu; Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định; Nhân viên bưu điện; Những người khác mà pháp luật có quy định

BLTTDS có quy định rõ người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 174 LSĐBS BLTTDS 2011 “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho VKS cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án ”

Có 2 cách hiểu khác nhau về việc thực hiện thủ tục thông báo trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án

Quan điểm thứ nhất cho rằng thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý

vụ án, là thời hạn luật yêu cầu Tòa án phải “gửi” thông báo về việc thụ lý vụ án

đi, còn khi nào đương sự “nhận” được thông báo hoặc biết được thông báo thụ lý

vụ án đó thì luật không điều chỉnh Vì luật chỉ quy định “thông báo” chứ không quy định phải “tống đạt hợp lệ” thông báo về việc thụ lý vụ án cho đương sự

Quan điểm thứ 2 cho rằng việc gửi “Thông báo về việc thụ lý vụ án” đi và việc đương sự nhận được “Thông báo về việc thụ lý vụ án” phải là trong thời hạn

ba ngày làm việc, được thể hiện trong hồ sơ vụ án là đã tống đạt hợp lệ cho đương sự Quan điểm này đang được hiểu và áp dụng trong thực tế Tuy nhiên,

Trang 40

việc bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án nhận được “Thông báo về việc thụ lý vụ án” trễ hơn thời hạn

“ba ngày làm việc” là chuyện thường gặp

Để các văn bản tố tụng đến tận tay đương sự hoặc để đương sự biết được thông tin đó có thể bằng nhiều phương thức khác nhau, được quy định tại Điều

149 LSĐBS BLTTDS 2011 là Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Đối với trường hợp văn bản tố tụng được gửi bằng đường bưu điện:

“Thông báo về việc thụ lý vụ án” và các văn bản tố tụng khác thường được gửi qua đường bưu điện cho các đương sự Đây là phương thức mà Tòa án thường thực hiện trước khi áp dụng các phương thức khác Trường hợp thông báo không đến tay đương sự trong thời hạn ba ngày bao gồm nhiều yếu tố khách quan như: thư đến trễ, địa chỉ mà đương sự cung cấp không chính xác hoặc đã thay đổi, ở những vùng hẻo lánh, vùng rừng núi thì việc chuyển thư đến tận nhà đương sự là điều khó khăn vì cơ sở vật chất tại những vùng này còn nghèo nàn, lạc hậu, đường đi còn hiểm trở Với một số đặc thù nêu trên thì với thời hạn ba ngày làm việc Tòa án không thể dự liệu được thời gian mà đương sự nhận được thông báo thụ lý vụ án, vì lý do khách quan ở trên

Đối với trường hợp niêm yết công khai: Chỉ thực hiện thủ tục này khi không rõ tung tích của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp Có thể người tống đạt đã mất một khoảng thời gian xác minh, tống đạt không thành công trước đó hay việc xác minh không có kết quả mới áp dụng thủ tục này Thời hạn niêm yết công khai văn bản

tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết (theo quy định tại Khoản 3, Điều

154 LSĐBS BLTTDS 2011) Như vậy, để Tòa án có thể biết được kết quả của

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w