ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐINH THỊ THÙY LINH CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ THÙY LINH
CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG HƯU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ THÙY LINH
CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG HƯU
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Thu
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đinh Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG 7
1.1 Khái niệm chế độ lương hưu hàng tháng 7
1.1.1 Khái niệm BHXH 7
1.1.2 Khái niệm lương hưu hàng tháng 10
1.1.3 Các loại lương hưu hàng tháng 17
1.1.4 Vai trò của lương hưu hàng tháng 19
1.2 Điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng 21
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về lương hưu hàng tháng 21
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng 22
1.2.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng 23
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BHXH NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG HƯU 30
2.1 Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 30
2.1.1 Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH bắt buộc 30
2.1.2 Lương hưu hàng tháng trong chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện 50
2.1.3 Qũy hưu trí và tử tuất 54
2.1.4 Tiếp cận chế độ lương hưu hàng tháng theo bảo hiểm hưu trí bổ sung 55
Trang 52.2 Tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật
BHXH năm 2014 tới đời sống của người hưởng lương hưu 58
2.2.1 Tác động đến đời sống vật chất của NLĐ 59
2.2.2 Tác động đến đời sống tinh thần của NLĐ 64
Tiểu kết Chương 2 66
Chương 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 67
3.1 Điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng 67
3.1.1 Điều kiện về nhận thức của các chủ thể liên quan 67
3.1.2 Điều kiện về thể chế 68
3.1.3 Điều kiện về tổ chức, cán bộ làm công tác BHXH 71
3.1.4 Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ tổ chức thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng 72
3.2 Giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng ở Việt Nam 74
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện về chế độ lương hưu hàng tháng 74
3.2.2 Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của chế độ lương hưu hàng tháng và pháp luật về lương hưu hàng tháng 78
3.2.3 Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH 80
3.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính phục vụ tổ chức thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng 82
Tiểu kết Chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cũng giống như các chính sách xã hội khác, BHXH có nguồn gốc từ yêu cầu thực tiễn cuộc sống đặt ra Từ thời xa xưa con người để chống lại thiên tai, đói rét, bệnh tật đã biết đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Tuy nhiên sự giúp đỡ này chỉ mới mang tính tự phát và giới hạn trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống nhỏ lẻ Khi xã hội chuyển sang giai đoạn phân chia giai cấp, phân công lao động thì các hình thức tương trợ cộng đồng cũng dần phát triển rộng rãi, phong phú hơn Một trong những giải pháp hiệu quả nhất mà con người tìm ra và lựa chọn áp dụng chính là xây dựng các biện pháp hỗ trợ một đối tượng hoặc nhóm đối tượng nào đó khi xảy ra rủi ro liên quan đến ốm đau, bệnh tật, tuổi già Theo thời gian, các chế độ tương trợ cộng đồng dần được nâng lên trở thành một hệ thống chính sách gọi chung là Bảo hiểm xã hội, được thể chế hóa thành quy định pháp luật tại mỗi quốc gia
và là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong
“Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp quốc” Trong thế giới hiện đại, BHXH là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội của các tầng lớp lao động và dân cư; đồng thời là nhân tố đảm bảo ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, công bằng và an toàn cho mỗi quốc gia trên thế giới
Là một bộ phận của hệ thống BHXH, chế độ bảo hiểm hưu trí đóng vai trò quan trọng, là chính sách BHXH dài hạn dùng để trả cho NLĐ khi họ không còn tham gia quan hệ lao động và đủ điều kiện hưởng theo luật định Bất cứ NLĐ nào rồi cũng đến lúc hết tuổi lao động (trừ trường hợp NLĐ chết), bởi vậy hưu trí là chế độ áp dụng cho hầu hết mọi đối tượng và là mục đích chính khi họ tham gia đóng BHXH Bảo hiểm hưu trí là một biện pháp khắc phục rủi ro, đảm bảo cho NLĐ khi hết tuổi lao động có một khoản tài chính
Trang 9nhất định để không phải phụ thuộc vào người thân, không trở thành gánh nặng cho gia đình, cộng đồng và xã hội Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi trọng chế độ hưu trí và xem đây là một trong những lĩnh vực có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Tại Việt Nam, chế
độ hưu trí luôn có vị trí quan trọng đặc biệt đối với người tham gia BHXH Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường – hàng hóa với cơ hội việc làm rộng mở đã dẫn đến nhu cầu về BHXH ngày càng gia tăng và đa dạng Thêm vào đó, đất nước ta đang có tốc độ già hóa dân số dẫn đầu châu Á
và nhanh nhất Thế giới (theo Tổng Cục dân số và Kế hoạch hóa gia đình dự báo chỉ trong khoảng từ 15 đến 20 năm tới Việt Nam sẽ trở thành quốc gia có dân số già) dẫn đến đời sống của người về hưu sẽ trở thành một trong những mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước Chính bản thân NLĐ cũng lo lắng
về cuộc sống của mình sau khi nghỉ hưu Việt Nam hiện có hơn 5,6 triệu người cao tuổi nhưng chỉ 20% trong số này có lương hưu từ BHXH Và với mức lương hưu như hiện nay, phần lớn NLĐ phải khá chật vật để có thể đủ chi tiêu, trang trải cho cuộc sống Trong Hội thảo “Tương lai hưu trí: Từ thách thức tới cơ hội” do Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Viện lão hóa toàn cầu (GAL) và Công ty Prudential tổ chức ngày 08/09/2015 tại Hà Nội có tới 95% số người được hỏi bày tỏ nỗi lo thiếu hụt về tài chính, không đủ khả năng trang trải cho cuộc sống khi về hưu Tình hình đó đặt ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện chế độ hưu trí sao cho phù hợp với cơ chế mới để đạt được hiệu quả cao nhất
Ngày 20/11/2014 Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật BHXH (thay thế cho Luật BHXH năm 2006), trong đó có nhiều quy định mới về chế độ lương hưu hàng tháng trên cơ sở kế thừa chính sách cũ đồng thời có sự điều chỉnh, phát triển dần theo lộ trình để áp dụng hiệu quả trong tương lai Chế độ lương hưu hàng tháng được điều chỉnh theo các quy định về thời gian tham
Trang 10gia BHXH, mức đóng phí BHXH, độ tuổi của NLĐ và ngành nghề lao động Ngày 01/01/2016 Luật BHXH năm 2014 chính thức có hiệu lực và đi vào áp dụng trong thực tiễn Có thể thấy thời gian Luật BHXH năm 2014 được áp dụng chưa phải là dài nên việc triển khai, thực thi luật trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn; ảnh hưởng của luật đến đời sống của người hưởng lương hưu nói riêng và xã hội nói chung chưa thể hiện rõ Bởi vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 không chỉ có ý nghĩa đóng góp cho việc giải thích, tổ chức thực hiện luật mà còn mang mang tính thời sự cao trong giai đoạn hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm
2014 và những tác động tới đời sống của người hưởng lương hưu” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Bảo hiểm hưu trí là một chính sách quan trọng trong hệ thống pháp luật
an sinh xã hội, nó xuất hiện từ giai đoạn đầu hình thành các chính sách BHXH của nước ta Bởi vậy việc nghiên cứu về các chế độ hưu trí cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu qua nhiều công trình khoa học mang tính tổng quan cũng như các bài viết về những khía cạnh của chế độ hưu trí và nâng cao chất lượng hưu trí như:
- Tác giả Bùi Ngọc Thanh với bài viết: “Kiến nghị sửa đổi chế độ hưu trí trong Luật BHXH”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19/2013;
- Tác giả Đặng Như Lợi với bài viết: “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12/2014;
Ngoài ra có thể kể đến một số công trình ở cấp độ luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này như:
Trang 11- Tác giả Trần Công Dũng với công trình: “Góp phần hoàn thiện chế độ hưu trí trong pháp luật về BHXH ở Việt Nam”, Khoa Luật Đại học Quốc gia
Các công trình khoa học trên đã tiếp cận, phân tích và làm rõ các vấn đề
lý luận liên quan đến chế độ hưu trí tại Việt Nam song chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào nghiên cứu chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016) và phân tích tác động của những quy định mới trong luật tới đời sống của người hưởng lương hưu Bởi
vậy đề tài “Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của luật BHXH năm 2014 và những tác động tới đời sống của người hưởng lương hưu” có
thể nói là đề tài khoa học lần đầu tiên được đề cập và đi sâu vào nghiên cứu
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014, đánh giá những tác động của quy định mới đến đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người hưởng hương hưu Từ đó đưa ra giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng nhằm đảm bảo quyền lợi của người hưởng lương hưu
Cũng như nhiều lĩnh vực khác, bảo hiểm hưu trí là một lĩnh vực rộng,
có thể được nghiên cứu dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ với mức độ tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, bảo hiểm hưu trí sẽ được tiếp cận ở một bộ phận đó là chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014, bao gồm các nội dung về: Vấn đề lý luận chung, điểm mới của Luật BHXH năm 2014 so với Luật BHXH năm 2006 và tác
Trang 12động của những quy định đó đến đời sống của người hưởng lương hưu Luật BHXH năm 2014 vừa mới được đưa vào thực hiện từ ngày 01/01/2016 nên đối với tác giả chưa có đủ cơ sở kiến nghị và hoàn thiện pháp luật Vì vậy luận văn không đặt ra vấn đề hoàn thiện pháp luật mà chủ yếu đưa ra một số giải pháp tổ chức, thực hiện, áp dụng luật trong thực tiễn
4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
Cùng với BHXH nói chung, bảo hiểm hưu trí cũng được mở rộng dần ở nhiều nước trên thế giới, là một trong năm chế độ bảo hiểm bắt buộc mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện đối với NLĐ Bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động, không còn tham gia quan hệ lao động nữa Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quy định pháp luật về các điều kiện và mức tài chính cho những người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh chế độ lương hưu hàng tháng của NLĐ tại Việt Nam, mối quan hệ và tương quan so sánh với hệ thống pháp luật quốc tế
Luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát các vấn đề lý luận về chế độ lương hưu hàng tháng
- Phân tích những điểm mới về chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 so với Luật BHXH năm 2006 (nguyên nhân, nội dung của những sửa đổi, bổ sung đó)
- Phân tích tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo luật BHXH năm 2014 đến đời sống của người hưởng lương hưu
- Đưa ra một số phương hướng và biện pháp tổ chức thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014 trong thực tiễn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở
Trang 13phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp trong nghiên cứu khoa học pháp lý như: phương pháp logic; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp đối chiếu, so sánh; phương pháp liệt kê… Các phương pháp này được sử dụng đan xen để có thể xem xét một cách toàn diện các vấn
đề lý luận và thực tiễn
6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
- Luận văn tổng hợp một cách có hệ thống các vấn đề chung về chế độ hưu trí và chế độ lương hưu hàng tháng
- Luận văn đã tìm hiểu thực trạng của người hưởng lương hưu trên thực
tế, đánh giá những tác động từ những quy định mới của Luật BHXH năm
2014 đến đời sống vật chất và tinh thần của người hưởng lương hưu
- Luận văn đưa ra một số phương hướng trong tổ chức, triển khai thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và học tập của sinh viên, học viên chuyên ngành luật Ngoài ra có thể tham khảo trong quá trình tuyên truyền pháp luật, triển khai tổ chức và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng trên cả nước
7 Bố cục luận văn
Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ lương hưu hàng tháng
Chương 2: Thực trạng chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và những tác động của nó tới đời sống của
người hưởng lương hưu
Chương 3: Giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng
tháng theo Luật BHXH năm 2014
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
cộng đồng và xã hội
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Mối quan hệ kinh tế giữa người làm thuê và chủ sử dụng lao động ngày càng trở nên phức tạp, xuất hiện những mâu thuẫn về lợi ích NLĐ muốn mình được đảm bảo quyền lợi ngày càng nhiều hơn và tốt hơn, còn chủ sử dụng lao động lại mong muốn có được lợi ích kinh tế cao nhất, chi phí bỏ ra thấp nhất
Sự mâu thuẫn này đòi hỏi phải có một bên thứ ba đứng ra can thiệp và điều hòa, đó chính là Nhà nước Nhà nước buộc cả người làm thuê và giới chủ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng, được tính toán dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với NLĐ Số tiền đóng góp đó hình thành một quỹ tiền
tệ tập trung; ngoài hai khoản thu chính từ người làm thuê và giới chủ, quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết Sự vận hành của quỹ thể hiện rõ nét tính đoàn kết, san sẻ rủi ro trong cộng đồng không phân biệt
Trang 15già trẻ, nam nữ, lao động phổ thông, lao động kỹ thuật, người khỏe, người yếu Như vậy, BHXH xuất hiện là một tất yếu khách quan, là nhu cầu và quyền lợi chính đáng của NLĐ BHXH được thừa nhận là một trong những quyền lợi của con người được quy định tại Khoản 1, Điều 25 Tuyên ngôn nhân quyền
năm 1948 của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc:
“Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y
tế và những dịch vụ cần thiết, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu hay thiếu
phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn”
Thuật ngữ “BHXH” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật An sinh xã hội năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938 Năm 1941 trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được nhắc đến trong Hiến chương Đại
Tây Dương (the Atlantic Charter of 1941)
ILO (International Labol Organization) cũng chấp nhận thuật ngữ BHXH và đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này trong Công ước 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952 Theo đó BHXH được định nghĩa
là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia
đình đông con
Dưới góc độ chính sách, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các rủi ro, góp phần đảm
bảo an toàn xã hội
Trang 16Dưới góc độ pháp lý, BHXH là một chế định bảo vệ NLĐ, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết
Theo Luật BHXH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2014, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH
(khoản 1, Điều 3)
Nhắc đến BHXH là nhắc đến một trụ cột cơ bản, là “xương sống” của
hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia; không có BHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Trước hết BHXH đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, đặc biệt là người làm công ăn lương Khi có sự cố làm thu nhập bình thường bị hao hụt hoặc không có thu nhập (ốm đau, tai nạn, hết độ tuổi lao động ); người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền từ quỹ BHXH nhằm mục đích san sẻ, hỗ trợ giúp NLĐ có thể giảm bớt khó khăn
về mặt tài chính Bên cạnh đó, các chế độ BHXH còn gián tiếp góp phần tăng năng suất và hiệu quả lao động, thúc đẩy mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước – NLĐ và NSDLĐ trở nên gắn bó hơn Khi tham gia BHXH, NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình với công việc; làm cho mối quan hệ thị trường trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường
BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp; tạo cho những người bất hạnh có thêm điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng BHXH không chỉ tạo sự an tâm, tin tưởng
Trang 17của NLĐ vào chính quyền mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa con người với con người nhằm hướng tới xây dựng một xã hội nhân văn nhân ái không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội Ngoài ra phần quỹ BHXH nhàn rỗi có thể được sử dụng đầu tư phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho NLĐ
1.1.2 Khái niệm lương hưu hàng tháng
Mỗi chúng ta sinh ra phần lớn đều trải qua các giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử trong cuộc đời Tương ứng với mỗi giai đoạn này con người có nhu cầu tài chính và khả năng thu nhập khác nhau Đảm bảo cho người về hưu có nguồn thu nhập đầy đủ và ổn định là một trong những chính sách quan trọng nhất của mọi chính phủ trên toàn cầu Tại các quốc gia thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), chương trình hưu trí công và trợ cấp cho người cao tuổi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của Chính phủ
1.1.2.1 Cơ sở và quá trình hình thành chế độ lương hưu hàng tháng trong hệ
thống BHXH
- Cơ sở hình thành:
Quan điểm về chế độ hưu trí dựa trên các căn cứ về cơ chế sinh học (độ
tuổi, sức lao động) và điều kiện kinh tế - xã hội
Cơ sở sinh học là cơ sở khách quan nhất vì nó liên quan đến yếu tố tự nhiên trong bản thân con người như độ tuổi, giới tính, sự suy giảm sức khỏe
tự nhiên Tuổi già, giới tính chịu sự chi phối của các quá trình diễn biến sinh
lý trong cơ thể của con người cùng điều kiện và môi trường sống, do đó ở các quốc gia khác nhau quy định về độ tuổi nghỉ hưu cũng có sự khác biệt Trong chế độ hưu trí, tuổi nghỉ hưu của nam giới thường cao hơn nữ giới vì khả năng lao động của nữ giới bị suy giảm khá nhiều sau khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ Ngoài ra các yếu tố khác như khả năng sức khỏe, ốm đau, bệnh tật… xảy
ra sẽ làm suy giảm khả năng lao động của NLĐ Bởi lẽ đó các nhà làm luật
Trang 18cần phải chú ý đến các yếu tố này để định ra độ tuổi nghỉ hưu cho NLĐ khi bị
suy giảm khả năng lao động
Điều kiện và môi trường lao động là một trong những cơ sở quan trọng khi thiết lập chính sách về bảo hiểm hưu trí Những yếu tố này sẽ liên quan đến việc xác định độ tuổi khi nghỉ hưu của NLĐ, đến việc phân loại ngành nghề để xác định mức trợ cấp và thời gian trợ cấp… NLĐ làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc có tính chất đặc biệt sẽ được tạo điều kiện nghỉ hưu sớm hơn so với NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường
Cơ sở kinh tế - xã hội biểu hiện ở trình độ dân trí và nhận thức xã hội của NLĐ cũng như NSDLĐ, ở tiềm lực và sức mạnh kinh tế của đất nước, ở khả năng tổ chức và quản lý an sinh xã hội của mỗi quốc gia… Những yếu tố này không chỉ quyết định một quốc gia nào đó có thể thực hiện được bao nhiêu chế độ BHXH mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và khả năng thực thi của từng chế độ Nền kinh tế phát triển, thu nhập của NLĐ ngày càng được nâng cao thì khả năng đóng góp cho quỹ BHXH sẽ ngày càng nhiều, từ
đó có thể nâng cao được các mức hưởng trợ cấp BHXH trong từng chế độ và ngược lại Cơ sở kinh tế - xã hội còn ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách cứu trợ xã hội trong hệ thống an sinh nói chung
- Quá trình hình thành:
Hưu trí là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử tồn tại và phát triển của BHXH Đặc biệt từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội đã có nhiều cơ sở để hình thành và phát triển Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già… đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những
người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương
Trên thế giới, năm 1850 lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu
Trang 19nhập do bệnh tật; dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ - Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội
đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê [1] Đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội trên thế giới là Đạo luật năm
1935 ở Mỹ, quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật
và trợ cấp thất nghiệp Tiếp đó nội dung của an sinh xã hội đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
10/12/1948: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền
hưởng an sinh xã hội Quyền đó đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh
tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người” Ngày 25/6/1952 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước
số 102 về an sinh xã hội, quy định nội dung về các chế độ và vấn đề an sinh
xã hội đã có và thực hiện ở một số nước trên thế giới Sau Công ước 102 hầu hết các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ - Latinh đều xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp
Theo khuyến nghị của ILO, hệ thống BHXH bao gồm 09 chế độ:
Trang 2009 chế độ trên hình thành nên hệ thống BHXH của mỗi quốc gia Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia Công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được
03 chế độ (trong đó ít nhất phải có một trong 05 chế độ: trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp khi tàn phế và trợ cấp tiền tuất) Sau Công ước 102, ILO còn bổ sung thêm một số nội dung quy định liên quan đến chế độ hưu trí tại Khuyến nghị số 131 về chế
độ mất sức lao động, tuổi già và tuất (năm 1967); Công ước 128 quy định cụ thể về trợ cấp lúc tàn tật, tuổi già (năm 1976); Khuyến nghị số 162 về NLĐ cao tuổi (năm 1980)
Tại Việt Nam các chế độ BHXH được đề cập đến đầu tiên trong Nghị
quyết Trung ương Đảng tháng 11/1940: “Khi thiết lập được chính quyền cách
mạng thì đặt luật BHXH, có quỹ hưu bổng cho thợ thuyền già, đặt quỹ cứu tế thất nghiệp và ban bố bộ luật lao động” Đến ngày 22/05/2001 tại Kỳ họp thứ
IX Quốc hội khóa X, lần đầu tiên dự thảo Luật BHXH đã được đưa ra bản thảo Tuy nhiên do còn nhiều vấn đề chưa thống nhất nên chưa ban hành thành một đạo luật riêng mà được điều chỉnh thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002 Trước yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn xã hội; Quốc hội đã đưa nội dung sửa đổi luật BHXH vào chương trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật và chính thức thông qua Luật BHXH năm
2006 Năm 2014, Luật BHXH (sửa đổi) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 08 thông qua ngày 20/11/2014
1.1.2.2 Khái niệm lương hưu hàng tháng
Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong năm chế độ của hệ thống BHXH
Theo nghĩa chung nhất, chế độ hưu trí là chế độ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động Đây là hình thức tạo nguồn tài chính cho NLĐ khi suy giảm khả năng
Trang 21lao động do tuổi tác, già yếu NLĐ tạo ra thu nhập để nuôi sống chính họ thông qua việc cống hiến sức lao động để xây dựng đất nước, tạo ra thu nhập cho xã hội và cho bản thân; do đó khi không còn khả năng lao động nữa thì họ cũng cần có sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp lương hưu hàng tháng phù hợp với số phí BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với mức lương khi đang làm việc nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho người về hưu
có thể phần nào ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống
Chế độ hưu trí hoạt động theo các nguyên tắc:
- Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động có quyền tham gia và hưởng quyền lợi về BHXH
- Đảm bảo thực sự cho NLĐ về mức thu nhập để có thể duy trì được cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời cũng như khi tuổi già hết khả năng lao động
- Có sự phân biệt hợp lý giữa chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí giữa lao động nam và lao động nữ
- Giảm độ tuổi nghỉ hưu đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nặng nhọc độc hại, làm việc ở vùng sâu vùng xa hoặc trong lực lượng vũ trang
- Đảm bảo nguồn quỹ BHXH
- Đảm bảo sự công bằng cho đối tượng tham gia BHXH và bảo đảm ổn định nhiều mặt về kinh tế - xã hội
Lương hưu hàng tháng là một bộ phận của chế độ hưu trí Bên cạnh chế
độ lương hưu hàng tháng, người tham gia bảo hiểm hưu trí còn có thể hưởng chế độ BHXH một lần khi có yêu cầu và đủ điều kiện luật định Theo nghĩa
chung nhất thì chế độ lương hưu hàng tháng là một chế độ BHXH nhằm đảm
bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan
hệ lao động nữa khi họ đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp
Trang 22luật, được tổ chức BHXH chi trả theo từng tháng trong năm từ lúc NLĐ hết tuổi lao động đến lúc chết
Dưới góc độ pháp luật, chế độ lương hưu hàng tháng là tổng hợp các
quy phạm pháp luật quy định về: đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng lương hưu, mức lương hưu hàng tháng, thời điểm hưởng lương hưu và các quy định khác có liên quan
1.1.2.3 Đặc điểm của chế độ lương hưu hàng tháng
Là một bộ phận của hệ thống BHXH, chế độ lương hưu hàng tháng mang đầy đủ đặc điểm của BHXH:
- Đối tượng tham gia: Là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước trong một số
trường hợp Trong chế độ hưu trí, NLĐ vừa là người tham gia BHXH, vừa là người thụ hưởng BHXH, được trợ cấp BHXH khi nghỉ hưu
- Hình thức tham gia: Có 02 hình thức chính đó là BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức
mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ tham gia dựa trên tinh thần tự nguyện; được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí Ngoài ra ở các nước còn có loại hình bảo hiểm hưu trí tự nguyện, là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nhằm cung cấp thu nhập bổ sung cho người được bảo hiểm khi hết tuổi lao động
- Đối tượng bảo vệ: Thu nhập của NLĐ Bảo hiểm hưu trí hướng tới bù
đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động
- Mục đích: Chế độ bảo hiểm hưu trí hoàn toàn không hướng tới mục
tiêu lợi nhuận mà hướng tới đảm bảo an sinh xã hội, thể hiện trách nhiệm và
sự chia sẻ của NSDLĐ với NLĐ và giữa những NLĐ với nhau
Ngoài những đặc điểm trên, chế độ lương hưu hàng tháng còn mang
Trang 23một số đặc trưng riêng để phân biệt với các chế độ BHXH khác như:
- Là chế độ hưởng nằm ngoài quá trình lao động: NLĐ tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài và chỉ được hưởng khi họ hết độ tuổi lao động và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Khi đó NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí theo từng tháng tính từ lúc về hưu cho đến khi chết, quá trình hưởng này dài ngắn bao nhiêu tùy thuộc vào tuổi thọ của từng người
- Có sự tách biệt giữa đóng và hưởng: NLĐ tham gia đóng phí ngay trong quá trình lao động; trong suốt quá trình đó, số tiền NLĐ đóng góp vào quỹ bảo hiểm hưu trí dùng để chi trả lương hưu cho thế hệ trước Như vậy có
sự kế thừa giữa các thế hệ lao động trong việc hình thành quỹ bảo hiểm hưu trí, qua đó thể hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít của bảo hiểm
- Chế độ hưu trí phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ sử dụng lao động: Khi NSDLĐ đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho NLĐ (trong đó có chế độ đóng BHXH) sẽ giúp ổn định quỹ BHXH; tránh tình trạng trốn đóng, nợ tiền BHXH Đồng thời ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, khiến họ
nỗ lực, gắn bó với công việc hơn; qua đó thúc đẩy năng suất cũng như hiệu quả lao động
- Trong chế độ hưu trí mức đóng góp tỷ lệ thuận với mức hưởng lương hưu hàng tháng, mức đóng góp càng cao thì lương hưu hàng tháng càng cao
và ngược lại [11, tr.6-7]
Mỗi NLĐ khi tham gia bảo hiểm hưu trí đều mong muốn có thể đảm bảo cuộc sống sau khi nghỉ hưu với mức sống tương đương hoặc gần tương đương so với trước khi nghỉ hưu cũng như theo kịp mức sống chung của xã hội Bởi vậy chế độ bảo hiểm hưu trí đóng vai trò quan trọng trong hệ thống BHXH Bảo hiểm hưu trí không chỉ góp phần ổn định thu nhập cho NLĐ khi
về hưu và gia đình của họ mà còn là sự ghi nhận cống hiến của NLĐ cho xã hội, thể hiện sự sẻ chia, giúp đỡ của xã hội với NLĐ khi họ không còn tham
Trang 24gia quan hệ lao động nữa
1.1.3 Các loại lương hưu hàng tháng
1.1.3.1 Căn cứ theo hình thức tham gia
Xét hình thức tham gia BHXH có thể phân chia lương hưu hàng tháng thành lương hưu hàng tháng trong chế độ bảo hiểm bắt buộc và lương hưu hàng tháng trong chế độ bảo hiểm tự nguyện Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, hưu trí là một chế độ BHXH bắt buộc đối với tất cả những người tham gia quan hệ lao động Bên cạnh đó nhằm đảm bảo diện bao phủ rộng, đáp ứng nhu cầu và quyền lợi an toàn tài chính cho người cao tuổi, hệ thống hưu trí thông thường trên thế giới đang được xây dựng theo hướng mô hình bảo hiểm hưu trí đa tầng (bên cạnh mô hình bảo hiểm hưu trí đơn tầng) gồm: bảo hiểm hưu trí bắt buộc, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất chương trình hưu trí
- Chương trình hưu trí có mức hưởng xác định trước: Mức chi trả được
xác định theo công thức cho trước với các yếu tố đầu vào là thời gian đóng góp và thu nhập của người đóng góp Tùy vào mô hình; Nhà nước, NSDLĐ hoặc đơn vị cung cấp sản phẩm hưu trí sẽ phải chịu rủi ro tài chính đối với các khoản chi trả cho người được hưởng
Chế độ hưu trí có mức hưởng xác định trước được thể hiện rõ trong hệ thống hưu trí của Nhật Bản với 02 chương trình hưu trí có mức hưởng xác định trước là EPI (Employee’s Pension Insurance) cho lao động ngoài quốc doanh, chương trình hỗ trợ hưu trí (Mutual Aid Pension) cho lao động thuộc các doanh nghiệp Nhà nước và giáo viên, nhân viên các trường tư thục Từ giai đoạn 1950, Nhật Bản tiến hành cải cách hệ thống theo mô hình đa trụ cột với một loạt chương trình hưu trí tự nguyện Mặc dù đã triển khai các chương trình hưu trí có mức đóng xác định, phần lớn tài sản hưu trí Nhật Bản hiện vẫn nằm trong các chương trình hưu trí có mức hưởng xác định trước [22]
Trang 25- Chương trình hưu trí có mức đóng xác định: Mức chi trả được xác
định dựa trên phần đóng góp thực tế của người tham gia cộng với lợi nhuận đầu tư, người đóng góp là người gánh chịu rủi ro tài chính Chương trình hưu trí tư nhân tính chất bắt buộc MPF (2000) tại Hồng Kông là chương trình hưu trí có mức đóng xác định dành cho NLĐ trong độ tuổi từ 18 – 65 MPF cho phép chủ doanh nghiệp/ NLĐ đóng góp thêm vào chương trình hưu trí dưới hình thức tự nguyện, tuy nhiên phần đóng góp này sẽ không được khấu trừ thuế Tại thời điểm mới triển khai chương trình, chủ lao động là người quyết định lựa chọn đơn vị cung cấp sản phẩm hưu trí cho toàn bộ lao động trong doanh nghiệp, tuy nhiên hiện tại MPF đã cho phép NLĐ được phép tự do lựa chọn đơn vị cung cấp sản phẩm hưu trí [22]
- Chương trình hưu trí tài khoản cá nhân ước tính: Mức chi trả được
tính dựa trên phần đóng góp cộng với lợi nhuận đầu tư tính trên một mức lãi suất do tổ chức điều hành quy định Nhà nước, NSDLĐ hoặc đơn vị cung cấp sản phẩm hưu trí sẽ phải chịu rủi ro tài chính trong chương trình hưu trí tài khoản cá nhân ước tính Hệ thống hưu trí tại Úc được xây dựng theo mô hình superannuation dựa trên sự đóng góp 03 bên: NLĐ, NSDLĐ và hỗ trợ từ Chính phủ Trong đó chương trình SMSFs (self – managed superannuation fund) cho phép thành viên tự đứng ra quản lý chương trình hưu trí của mình
Hệ thống hưu trí Úc còn cho phép cá nhân có thể tham gia thêm chương trình hưu trí tự nguyện dưới dạng tài khoản tiết kiệm (RSAs – Retirement saving accounts) thiết kế theo chính sách rủi ro thấp – lãi suất thấp [22]
1.1.3.3 Căn cứ theo hình thức hưởng
Chế độ hưu trí được thể hiện dưới các hình thức: lương hưu hàng tháng với mức lương đầy đủ và lương hưu hàng tháng với mức thấp hơn theo quy định của pháp luật
Trang 261.1.4 Vai trò của lương hưu hàng tháng
Trong hệ thống chế độ BHXH, chế độ hưu trí có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó thể hiện rất rõ hệ thống phúc lợi xã hội, trình độ văn minh và tiềm lực kinh tế của mỗi nước Hưu trí cũng là một trong những chế độ bảo hiểm được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của BHXH Theo ILO đây là chế độ bắt buộc khi một quốc gia muốn xây dựng hệ thống bảo hiểm và
an sinh xã hội vững mạnh bởi chính sách này phục vụ lợi ích của NLĐ, NSDLĐ và lợi ích của toàn xã hội
1.1.4.1 Vai trò của lương hưu hàng tháng đối với NLĐ
Chế độ lương hưu hàng tháng đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động với xã hội Tiền lương hưu hàng tháng mà họ nhận được là khoản thu nhập chính đáng, là kết quả tích lũy trong suốt quá trình làm việc đóng góp vào quỹ BHXH
Lương hưu hàng tháng là chỗ dựa chủ yếu nhằm đảm bảo cuộc sống về
cả vật chất lẫn tinh thần cho NLĐ trong quãng đời còn lại Không phải NLĐ nào khi về hưu cũng có tài sản riêng dành để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống; dẫn đến tình trạng nhiều người lại phải tiếp tục bươn chải với các công việc tự do hoặc sống phụ thuộc vào người thân, gia đình Lương hưu hàng tháng NLĐ được nhận khi tham gia bảo hiểm hưu trí tuy ít hơn so với lúc đang làm việc song nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho người về hưu ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ thêm điều kiện để cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã tích lũy được
Lương hưu hàng tháng là một trong những giải pháp giúp nâng cao chất lượng lao động Khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội càng được nâng cao thì con người càng có nhu cầu đảm bảo an toàn cho tương lai Giống như các chế độ khác của BHXH, chế độ hưu trí hoạt động theo nguyên tắc
Trang 27“hưởng thụ theo đóng góp”, mức đóng càng cao thì mức hưởng càng cao và ngược lại Điều đó sẽ thúc đẩy người NLĐ cống hiến hơn nữa trong công việc
để nhận được tiền lương cao hơn, đóng BHXH với mức cao hơn
Chế độ lương hưu hàng tháng góp phần kích thích NLĐ hăng say tham gia sản xuất để tạo ra của cải vật chất, giúp tăng cường tiết kiệm chi tiêu lúc trẻ làm “của để dành”; giảm bớt gánh nặng cho người thân, gia đình và xã hội, góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội Từ đó có thể giải quyết những rủi ro có liên quan đến vấn đề già hóa dân số, giúp đa dạng hóa nguồn tài chính, giảm áp lực cho NLĐ và gia đình họ
1.1.4.2 Vai trò của lương hưu hàng tháng đối với NSDLĐ
Chế độ lương hưu hàng tháng giúp các tổ chức sử dụng lao động ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý Tham gia BHXH, NLĐ yên tâm cống hiến và giảm bớt
lo lắng về tương lai hưu trí của mình Bên cạnh đó với chế độ lương hưu hàng tháng, NLĐ sẽ có thêm động lực để phát huy hết khả năng của mình để có mức thu nhập cao hơn; tăng năng suất, hiệu quả công việc, góp phần phát triển đơn vị nói riêng và kinh tế đất nước nói chung
Chế độ lương hưu hàng tháng tạo điều kiện để NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời NLĐ Nhờ đó sẽ tạo nên sự đồng thuận, đoàn kết giữa NLĐ với nhau và với NSDLĐ Các doanh nghiệp không chỉ giữ được sự ổn định trong lực lượng lao động mà còn có nhiều lợi thế trong nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững
1.1.4.3 Vai trò của lương hưu hàng tháng đối với xã hội
Chế độ lương hưu hàng tháng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của cộng động đối với NLĐ ngay cả khi họ đã già yếu, không đủ khả năng tiếp tục làm việc tạo ra thu nhập Sự quan tâm này không chỉ là nghĩa vụ, trách
Trang 28nhiệm mà còn thể hiện tinh thần tương thân tương ái của dân tộc
Chế độ lương hưu hàng tháng là một trong những nội dung cơ bản của chính sách đảm bảo an sinh xã hội quốc gia Hiện nay tỷ lệ người già trong dân số ngày càng tăng, do đó ổn định đời sống cho bộ phận này có vai trò rất quan trọng Bên cạnh đó, việc đảm bảo đời sống vật chất khi nghỉ hưu còn tạo điều kiện cho một số NLĐ vẫn còn trí tuệ, kinh nghiệm và sức khỏe được tiếp tục làm việc, được cống hiến, tạo ra niềm vui cho cuộc sống; có tác dụng làm cho trí não và thân thể khỏe mạnh
Phần đóng, phần chi cho chế độ hưu trí chiếm tỷ lệ quan trọng trong quỹ BHXH của các quốc gia Bởi vậy hoạt động thu chi của chế độ hưu trí có ảnh hưởng sống còn tới toàn bộ hoạt động của hệ thống BHXH, ảnh hưởng đến sự ổn định của BHXH nói riêng cũng như cả xã hội nói chung Qũy hưu trí cho phép các cá nhân tích lũy các khoản tiết kiệm của mình trong suốt thời gian làm việc nhằm đảm bảo cho những nhu cầu tiêu dùng khi về hưu dưới dạng chi trả một khoản tiền trọn gói hoặc một khoản tiền cố định hàng tháng Ngoài ra các quỹ hưu trí còn tạo nguồn vốn cho những người, tổ chức có nhu cầu như các doanh nghiệp, các hộ gia đình và Chính phủ dưới dạng các khoản đầu tư hoặc tiêu dùng Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi Đảng và Nhà nước khẳng định phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nội lực là chính thì nguồn đầu tư tiền nhàn rỗi từ qũy BHXH sẽ trở thành một kênh quan trọng
1.2 Điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về lương hưu hàng tháng
Pháp luật về lương hưu hàng tháng được hiểu là tổng hợp những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận; đảm bảo thực hiện việc sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm
và gia đình khi họ hết tuổi lao động theo quy định Nói cách khác, pháp luật
Trang 29về hưu trí hàng tháng là một hệ thống các quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, về điều kiện hưởng, về mức đóng, mức hưởng cho các chủ thể tham gia BHXH
Pháp luật về lương hưu hàng tháng đã phát huy vai trò tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ sau khi hết tuổi lao động Pháp luật về lương hưu hàng tháng là sự thể chế hóa đường lối, quan điểm của Nhà nước về phát triển an sinh xã hội, đảm bảo sự bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng BHXH Qua
đó điều chỉnh, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ
Pháp luật về lương hưu hàng tháng góp phần nâng cao nhận thức của NLĐ và NSDLĐ; bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ lao động Từ đó tạo điều kiện cho việc phát triển chính sách BHXH, an sinh
xã hội; giúp phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng và tạo điều kiện cho một xã hội phát triển ổn định và bền vững Chế độ hưu trí thường được quy định tại các đạo luật về lao động, BHXH, an sinh xã hội của từng quốc gia Riêng loại hình bảo hiểm hưu trí tự nguyện còn được điều tiết bằng những văn bản luật đặc thù như luật dân sự, luật kinh doanh bảo hiểm
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng
Xuất phát từ những đặc điểm về kinh tế - xã hội - chính trị mà mỗi quốc gia thiết kế cho mình mô hình BHXH riêng, trong đó có chế độ hưu trí phù hợp với trình độ phát triển cũng như nhu cầu của NLĐ Nhìn chung mô hình bảo hiểm hưu trí hiện nay trên thế giới gồm chế độ hưu trí trong mô hình BHXH Nhà nước thuần túy (quản lý được mọi đối tượng trong thị trường lao động); chế độ hưu trí trong mô hình BHXH quốc gia và BHXH ngành (bắt buộc) và chế độ hưu trí trong mô hình BHXH kết hợp giữa bắt buộc và tự nguyện Dù trong mô hình BHXH nào thì về cơ bản, chế độ lương hưu hàng tháng được điều chỉnh theo các nguyên tắc sau:
Trang 30- Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH
- Mức đóng BHXH tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của NLĐ, có
sự đóng góp của NSDLĐ và hỗ trợ của Nhà nước Các quốc gia tự quy định điều chỉnh mức đóng BHXH thấp nhất cũng như mức đóng BHXH cao nhất
- Qũy BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích
- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
1.2.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng
Pháp luật điều chỉnh lương hưu hàng tháng thường bao gồm các nội dung: Đối tượng áp dụng lương hưu hàng tháng; điều kiện hưởng lương hưu; mức lương hưu; thời điểm hưởng lương hưu và quỹ bảo hiểm hưu trí
1.2.3.1 Đối tượng áp dụng lương hưu hàng tháng
Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí rất rộng Điều 26, 27 Công ước số 102 của ILO đã quy định những người được hưởng trợ cấp hưu trí song đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí ở các nước khác nhau, hoặc ở các thời
kỳ khác nhau sẽ không giống nhau Theo Điều 27 Công ước số 102 đối tượng
hưởng trợ cấp tuổi già bao gồm: Những người làm công ăn lương được quy
định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc những người được quy định trong dân số hoạt động kinh tế, tổng số ít nhất chiếm 20% toàn bộ những người thường trú; hoặc người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn; hoặc khi đã có bản tuyên bố để áp dụng Điều 3 phải bao gồm những loại làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên
Trang 31Hiện nay một số nước kinh tế phát triển đã thực hiện trợ cấp hưu trí phổ thông cho tất cả mọi NLĐ trong xã hội để đảm bảo cuộc sống cho họ khi về già Một số nước khác chỉ giới hạn trong những NLĐ tham gia BHXH khi họ đạt được những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật Như vậy đối tượng được hưởng trợ cấp hưu trí có thể là toàn bộ NLĐ, có thể gồm những NLĐ thực tế tham gia toàn bộ chế độ BHXH hoặc tham gia BHXH cho chế
độ trợ cấp hưu trí Tùy theo điều kiện của từng quốc gia mà những đối tượng này được điều chỉnh cụ thể bởi pháp luật của quốc gia đó
1.2.3.2 Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng
Đối với chế độ lương hưu hàng tháng, điều kiện quan trọng để NLĐ
được hưởng bảo hiểm là tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm
Độ tuổi nghỉ hưu là độ tuổi mà tại đó NLĐ ngừng làm công việc đầy đủ, đều đặn và cơ bản do tuổi đã cao hoặc sức khỏe không đảm bảo để tiếp tục làm việc Trên thế giới, tùy điều kiện kinh tế xã hội cũng như tập quán của từng nước mà độ tuổi về hưu của NLĐ được quy định khác nhau ở từng quốc gia Ngay tại một quốc gia ở các thời kỳ khác nhau cũng có sự điều chỉnh, thay đổi nhất định trong hệ thống pháp luật về chế độ hưu trí Khoản 2 Điều
26 Công ước 102 quy định: Trường hợp bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn
một độ tuổi được quy định; độ tuổi quy định không được quá 65, tuy nhiên các nhà chức trách có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn xét theo khả năng làm việc của những người cao tuổi trong lúc đó; pháp luật hoặc pháp quy quốc gia có thể đình chỉ trợ cấp nếu người thụ hưởng tiến hành những hoạt động có thu nhập vượt quá một mức quy định và có thể giảm bớt trợ cấp không có tính đóng góp khi thu nhập hay những phương tiện sinh sống khác của người đó, hoặc cả hai thứ cộng lại vượt quá một mức quy định
Độ tuổi hưởng chế độ lương hưu hàng tháng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định mức hưởng, chế độ cũng như quỹ hưu trí quốc gia Các
Trang 32chuyên gia của ILO đã điều tra, tính toán và cho rằng nếu độ tuổi nghỉ hưu là
55 thì chi phí cho chế độ hưu trí sẽ tăng thêm 50% so với độ tuổi nghỉ hưu là
60 tuổi Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc cân đối thu chi quỹ BHXH
và mức độ an toàn của quỹ Thông thường độ tuổi hưởng chế độ hưu trí có thể
được ấn định dựa trên các yếu tố:
+ Khả năng làm việc, giới tính, tuổi thọ bình quân của dân số;
+ Điều kiện và môi trường làm việc (có thuộc ngành nghề có tính chất nguy hiểm, độc hại);
+ Tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH;
+ Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước
Bảng 1.1: Độ tuổi nghỉ hưu tại một số nước năm 2003:
Trang 33Từ số liệu thống kê trên cho thấy độ tuổi nghỉ hưu thông thường tại các nước thường từ 60 đến 65 tuổi Tuy vậy ở các giai đoạn khác nhau có sự điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu khác nhau Theo thống kê của OECD, độ tuổi nghỉ hưu tiêu chuẩn của Mỹ giai đoạn 2000 – 2022 đã tăng từ 65 lên 67 tuổi Ở Anh giai đoạn 2010 – 2020 độ tuổi nghỉ hưu của nữ giới đã tăng lên 65 tuổi; ở Hàn Quốc cả nam giới và nữ giới đều tăng độ tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi vào giai đoạn 2011 – 2033 [12, tr 2-4]
Thời gian đóng BHXH để được hưởng chế độ lương hưu hàng tháng theo Công ước số 102 năm 1952 và Công ước số 128 của ILO khuyến cáo tối thiểu là 15 năm trở lên (thường dao động từ 15 đến 45 năm) và có thể cho hưởng mức thấp hơn nếu không đáp ứng được yêu cầu này Tuy vậy việc xác định độ tuổi cụ thể về hưu ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sinh và sự già hóa dân số, điều kiện lao động và phong tục tập quán Ví dụ: Ở Anh, Mỹ quy định để được hưởng BHXH NLĐ phải có thời gian đóng tối thiểu là 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc, ở Đức là từ 15 – 35 năm; Ban Lan là 20 năm cho cả nam giới và nữ giới, ở Nhật Bản là 20 năm [11, tr.19]
Thời gian hưởng chế độ lương hưu được tính từ khi NLĐ nghỉ hưu (theo độ tuổi quy định) cho đến khi họ qua đời Ở các quốc gia khác nhau hay thậm chí ở cùng một quốc gia thì thời gian hưởng chế độ lương hưu của NLĐ
có sự khác nhau bởi độ tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ của mỗi người là không giống nhau
1.2.3.3 Mức hưởng lương hưu hàng tháng
Mức lương hưu hàng tháng là số tiền mang tính cố định mà một người về hưu nhận được hàng tháng kể từ khi nghỉ hưu Thông thường mức hưởng lương hưu phụ thuộc vào tình trạng mất khả năng lao động; tiền lương hàng tháng khi NLĐ còn đang đi làm; tuổi thọ bình quân của NLĐ và điều kiện kinh tế xã hội
Trang 34của đất nước trong từng thời kỳ Theo Điều 29 Công ước 102 của ILO: “Người
có thâm niên 30 năm đóng góp hay làm việc, hoặc 20 năm thường trú sẽ được hưởng mức trợ cấp đầy đủ Nếu chỉ có 15 năm đóng góp hoặc làm việc thì hưởng mức thấp hơn” Mức trợ cấp hưu trí thường được ấn định bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định, theo Công ước 102 của ILO tỷ lệ hưởng chế độ tuổi già là 40% Đến Công ước 128 tỷ lệ này được nâng lên mức 45%
Mức hưởng trợ cấp hưu trí tại một số nước được quy định khác nhau Theo số liệu năm 2002 tại Mỹ mức trợ cấp đồng nhất tối đa là 11.280 USD/tháng tính trên thu nhập được bảo hiểm cho đến khi nghỉ hưu, ở Anh là 32,85 Bảng/tuần cộng 12% thu nhập được bảo hiểm trong nước, ở Pháp mức hưởng bằng 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất, ở Trung Quốc là 60 – 90% thu nhập trong tháng cuối (phụ thuộc vào thời gian công tác), ở Philipines là 1,5% lương bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42
- 102% của tiền lương bình quân của 10 tháng lương [11, tr.20]
Có nhiều quan điểm khác nhau về mức hưởng lương hưu, trong đó chia thành hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất cho rằng tiền lương hưu là để đảm bảo mức sống tối thiểu của người nghỉ hưu theo tiêu chuẩn sống của quốc gia; theo nhóm thứ hai tiền lương hưu phải có giá trị đảm bảo cho người về hưu có mức sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội Dù được xác định theo quan điểm nào thì về nguyên tắc mức trợ cấp hưu trí phải thấp hơn mức lương lúc đang đi làm và phải đảm bảo được mức sống tối thiểu Tiền lương hưu hàng tháng thường được tính theo công thức: TLH = T * L Trong đó: TLH (tiền lương hưu được hưởng hàng tháng), T (tỷ lệ % dùng để tính lương hưu), L (mức tiền lương cơ bản hay thu nhập dùng để tính lương hưu)
1.2.3.4 Qũy bảo hiểm hưu trí
Chế độ lương hưu hàng tháng được tính toán dựa trên cơ sở mức đóng BHXH và tỷ lệ % dùng để tính lương hưu Mức đóng góp cho chế độ do cả
Trang 35NLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp, quy định bằng một phần tỷ lệ phần trăm nào
đó so với tiền lương của NLĐ và quỹ lương của NSDLĐ Công ước 102 của ILO không quy định cụ thể mức đóng BHXH, các quốc gia có thể tự quy định mức đóng dựa trên các điều kiện về kinh tế - xã hội Ví dụ: ở Mỹ NLĐ đóng 6,2% tiền lương (nếu là lao động độc lập phải đóng 12,4%), NSDLĐ đóng 6,2% tổng quỹ lương; tại Pháp NLĐ đóng 6,54% trong thu nhập được tính BHXH của mình, NSDLĐ đóng 8,2% tiền lương tối đa để đóng BHXH (12.360 Francs/ tháng); một số nước lại quy định mức thu nhập trần để đóng góp cho quỹ bảo hiểm hưu trí, nếu NLĐ có mức thu nhập cao hơn mức trần thì có thể tham gia thêm các loại hình hưu trí tự nguyện [11, tr.21]
Qũy bảo hiểm hưu trí là một bộ phận của quỹ BHXH, góp phần ổn định tài chính vĩ mô và là một trong các nguồn lực để thực hiện chính sách an sinh
xã hội Quỹ bảo hiểm hưu trí bao gồm quỹ bảo hiểm hưu trí bắt buộc và quỹ bảo hiểm tự nguyện Nếu nguồn hình thành quỹ hưu trí bắt buộc là từ sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ, tiền sinh lợi từ hoạt động đầu tư quỹ, hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác thì quỹ hưu trí tự nguyện không có sự tham gia đóng góp của NSDLĐ
Qũy bảo hiểm hưu trí hoạt động theo nguyên tắc thu trước chi sau, vì vậy hàng năm quỹ luôn có một khoản tiền nhàn rỗi cần được sử dụng và đầu
tư đúng mục đích, vừa nhằm mục tiêu sinh lời vừa đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ Tuy nhiên theo dự báo của Tổ chức ILO, trong vài năm tới quỹ bảo hiểm hưu trí tại nhiều quốc gia trên thế giới sẽ có nguy cơ cân bằng thu – chi, thậm chí có thể mất cân đối quỹ BHXH dài hạn… đòi hỏi các nước cần
có những chính sách mới đầu tư, mở rộng đồng thời tăng trưởng nguồn thu cho quỹ nhằm đảm bảo chi trả cho tương lai
Trang 36Tiểu kết chương 1
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ
bị giảm hoặc mất do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, BHXH đã tạo được sự an tâm, tin tưởng cho NLĐ đồng thời giúp họ ổn định thu nhập khi rơi vào những trường hợp “rủi ro” làm gián đoạn quá trình lao động và gây hao hụt về tài chính Đối với bất kỳ quốc gia nào, BHXH luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội, giúp tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, thể hiện tinh thần nhân đạo, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng người
Là một bộ phận của hệ thống BHXH, lương hưu hàng tháng là chế độ nhằm đảm bảo một phần thu nhập cho người đã hết tuổi lao động có tham gia bảo hiểm hưu trí, được tổ chức BHXH chi trả theo từng tháng trong năm Pháp luật về lương hưu hàng tháng là tổng hợp những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận; đảm bảo thực hiện việc sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự tài trợ, bảo
hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình khi họ hết tuổi lao động theo quy định Đa số NLĐ khi về già đều cần lương hưu như là một phần thu nhập chủ yếu để đảm bảo trang trải cuộc sống của mình, không trở thành gánh nặng cho con cái, gia đình và xã hội
Chế độ lương hưu hàng tháng là vấn đề không mới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong việc triển khai, đảm bảo thực hiện sâu rộng chế độ này đến mọi tầng lớp trong xã hội Thêm vào đó xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh chóng đã và đang đặt ra những thách thức về tính đầy đủ và tính bền vững cho hệ thống hưu trí tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BHXH NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG HƯU
2.1 Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014
Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 hướng đến việc bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng xã hội và cải thiện một bước tình hình tài chính quỹ hưu trí, tử tuất, đảm bảo an sinh xã hội lâu dài Với định hướng xây dựng hệ thống hưu trí đa tầng, đa trụ cột; Luật BHXH năm 2014 đã ban hành nhiều quy định mới nhằm mở rộng đối tượng
và các hình thức tham gia bảo hiểm hưu trí gồm:
- Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH bắt buộc;
- Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH tự nguyện;
- Bảo hiểm hưu trí bổ sung
2.1.1 Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH bắt buộc
Theo Khoản 2, Điều 3 Luật BHXH năm 2014: BHXH bắt buộc là loại
hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia
2.1.1.1 Đối tượng áp dụng lương hưu hàng tháng
Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung các quy định của luật, đối tượng tham gia BHXH đã từng bước được mở rộng song mức độ bao phủ của BHXH bắt buộc vẫn còn thấp Trước đây Luật BHXH năm 2006 quy định NLĐ tham gia
BHXH bắt buộc và công dân Việt Nam bao gồm: Người làm việc theo hợp
đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ
03 tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng
Trang 38lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH
Quy định trên đã hạn chế một bộ phận lớn NLĐ không được tham gia BHXH,
vô hình trung trở thành rào cản cho việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội trong dài hạn Theo thống kê đến cuối năm 2013 số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mới chỉ chiếm khoảng 78% tổng số lao động có quan hệ lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật
và chiếm khoảng hơn 20% lực lượng lao động Trong khi đó có một lực lượng lớn NLĐ trên thực tế không thuộc diện tham gia BHXH, dẫn đến hao hụt về nguồn lực xây dựng quỹ bảo hiểm hưu trí nói riêng và quỹ BHXH nói chung Xác định mục tiêu lâu dài của Đảng và Nhà nước là từng bước thực hiện BHXH đến mọi NLĐ nói riêng và toàn dân nói chung, Luật BHXH năm 2014
đã mở rộng đối tượng được tham gia BHXH bắt buộc, bao phủ gần như toàn
bộ NLĐ có quan hệ lao động gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công
an nhân dân;
- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an
nhân dân phục vụ có thời hạn;
- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH
bắt buộc
Trang 39Đặc biệt Luật BHXH năm 2014 đã bổ sung, mở rộng thêm 03 nhóm đối
tượng so với Luật BHXH năm 2006:
- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (áp dụng từ ngày 01/01/2018)
Báo cáo đánh giá tác động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho rằng nếu bổ sung nhóm này mỗi năm sẽ có thêm gần 06 triệu lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH so với hiện nay, bởi tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức và nông nghiệp tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 70% lực lượng lao động cả nước, khoảng từ 30% - 40% trong tổng số lao động thuộc khu vực có quan hệ lao động [5, tr.6] Nếu đơn thuần xét về yếu tố an sinh xã hội, việc mở rộng đối tượng BHXH bắt buộc cho lao động “mùa vụ” là một bước tiến lớn, không chỉ góp phần mở rộng đối tượng tham gia BHXH mà còn là một trong các biện pháp đảm bảo bình đẳng trong tham gia BHXH Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng khả năng mở rộng khó có thể làm được vì lao động thời vụ dưới 03 tháng thường không có hợp đồng bằng văn bản, quản lý thu – chi chế độ bảo hiểm đối với các đối tượng này là cực kỳ khó khăn Chưa kể rằng nếu bắt buộc nhóm này phải tham gia BHXH thì sẽ mâu thuẫn với Luật Việc làm vì lao động nhóm này không thuộc đối tượng được tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 1, Điều 43 của Luật
Việc làm
- NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp (áp dụng từ ngày 01/01/2018)
Việc bổ sung đối tượng này là phù hợp với quá trình phát triển thị trường lao động Hiện nay một số nước trong khu vực ASEAN đã có quy định hợp tác quốc tế về BHXH, một số nước như Đức, Canada, Hàn Quốc đã đề nghị Việt Nam ký kết Hiệp định hợp tác song phương về lĩnh vực BHXH
Trang 40nhằm tạo điều kiện cho NLĐ hai nước được tham gia BHXH khi sang làm việc ở nước kia
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
Đây là quy định hoàn toàn mới trong Luật BHXH năm 2014, thể hiện
sự ghi nhận của xã hội đối với những đóng góp của thành phần cán bộ không chuyên trách trong sự phát triển chung Thực tế nhiều trường hợp cán bộ không chuyên trách làm việc cả buổi tối hoặc làm việc nhiều năm không được nghỉ hưu nên cuộc sống rất vất vả Bên cạnh đó việc mở rộng diện đóng bảo hiểm cho cán bộ không chuyên trách tại xã, phường còn là giải pháp cân đối nguồn lực lao động, bồi dưỡng cán bộ cho cấp xã phục vụ phong trào xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp - nông thôn
2.1.1.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng
Điều kiện để hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng bao gồm hai yếu tố độ tuổi và thời gian đóng bảo hiểm
độ tuổi nghỉ hưu ở cả hai giới là 65 tuổi, ở Anh độ tuổi nghỉ hưu của nam là 6
5 tuổi và nữ là 60 tuổi, ở Nhật tuổi nghỉ hưu của nam là 60 tuổi và nữ là 55 tuổi [11, tr.19] Riêng đối với NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao,