13 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 1.1.1 Khái niệm pháp luậ
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội – 2009
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
TÔI Những kết luận của luận văn đưa ra là kết quả nghiên
cứu của tôi sau quá trình nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu cần thiết
Tất cả nguồn tài liệu sử dụng của các công trình nghiên
cứu khác tôi đều có trích dẫn cụ thể và chính xác
Học viên
Lê Thị Phương Thuý
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Thay lời mở đầu của luận văn, em xin cảm ơn các thầy cô, gia
đình và bạn bè đã giúp đỡ em trong toàn bộ khoá học
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Công Trứ
đã tận tâm giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Học viên
Lê Thị Phương Thuý
Trang 55
MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 3
3.1 Mục đích nghiên cứu ……… 3
3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 4
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 5
6 Bố cục của luận văn ……… 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 6
1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 6
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động 8 1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 12 1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 20
1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ……… 20
1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ……… 23
1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 25
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……… 30
2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……… 30 2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
Trang 66
2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức
2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ ……… 40 2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về an toàn,
2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở
2.2.5.Tình hình thanh tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp không đảm bảo
quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ 73 2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ 74
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 77
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
3.1 Sự cần thiết khác quan của việc hoàn thiện pháp luật về về an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ 84 3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối
với lao động nữ 89 3.1.1 Về mặt chủ quan 92 3.1.2 Về mặt khách quan 93 3.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ 93
Trang 77
3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ 95 KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8là yêu cầu ngày càng cấp thiết của xã hội
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn,
vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tính cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yêu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế bền vững vµ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế
toàn cầu hóa
Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua công tác ATVSLĐ ở nước ta đã có những chuyển biến đáng kể về hệ thống văn
bản pháp luật và bộ máy tổ chức Chỉ thị số 132CT/TƯ của Ban Bí thư Trung
ương Đảng nhấn mạnh: Ở đâu, khi nào có hoạt động lao động sản xuất, thì ở đó,
khi đó phải tổ chức công tác bảo hộ lao động theo đúng phương châm: Bảo đảm
an toàn để sản xuất - Sản xuất phải bảo đảm an toàn lao động [27]
Thể chế hoá đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bé Luật Lao động n¨m 2002 đã dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trên thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng lao động đã có những biện pháp, sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và môi trường sản xuất kinh doanh
Trang 99
Tuy vậy, công tác BHLĐ nói chung và công tác ATVSLĐ nãi riªng
ở nước ta còn quá nhiều khó khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp khu vực phi chính thức mới chỉ quan tâm đầu tư phát triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động Vì vậy, Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước
và doanh nghiệp Theo Cục An toàn lao động (Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội), trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2004, mặc dù chỉ có 10% tổng số doanh nghiệp thực hiện báo cáo về tai nạn lao động nhưng đã cho thấy những con số đáng bình quân mỗi năm xảy ra 4.245 vụ, làm gần 500 người chết, hơn 4.000 người bị thương; có người bị tàn phế suốt đời Hiện tại, cả nước có gần 22 nghìn lao động mắc bệnh nghề nghiệp Số vụ tai nạn lao động hằng năm tăng 17,38% Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2005, số vụ tai nạn lao động có người chết tăng 5,5% Theo báo cáo của 63 Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, trong năm 2008 đã xảy ra 5836 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 6.047 người bị nạn,
có 508 vụ TNLĐ chết người làm 573 người chết, 1.262 người bị thương nặng
Có 129 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên, đặc biệt là vụ nổ khí metan tại mỏ than Khe Chàm ngày 08/12/2008 làm 11 người chết và 22 người bị thương nặng, vụ sập giàn cẩu tại Cảng Cái Lân ngày 15/07/2008 làm 7 người chết, 1 người bị thương nặng [95; 4/3/2009] Điều đáng lưu tâm là số vụ tai nạn lao động được thống kê kể trên còn thấp hơn rất nhiều so với số vụ xảy ra trong thực tế
Nguyên nhân chính trong các vụ tai nạn lao động do chủ sử dụng lao động thiếu quan tâm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khác do ý thức tự giác chấp hành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động Hậu quả của thực tế trên không chỉ gây thiệt hại
về tính mạng và sức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước
mà còn ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 10mà việc áp dụng pháp luật ATVSLĐ còn nhiều bất cập và tồn tại
Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ
sự an toàn của lao động nữ trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, học viờn chọn
đề tài nghiờn cứu “An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua thực tế tìm hiểu, học viên thấy đã xuất hiện một số bài báo, công trình nghiên cứu có đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động nói chung, với một số lượng hạn chế
Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp đi sâu vào tìm hiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đó có những kiến nghị xác đáng nhằm nâng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của đối tượng lao động này
Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với hi vọng đóng góp một góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật liên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động
Trang 1111
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn,
vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu phân tích các quy định về an toàn, vệ sinh lao động và thực tế thực hiện đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế của các nước trong lĩnh vực này
Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an
toàn, vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an
toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao
động đối với lao động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn,
vệ sinh lao động trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm
hiểu các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam
Trang 1212
(văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh đó, trong chừng mực nhất định cũng có
đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ ở Việt Nam Chương 2: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và
thực tế thực hiện ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam
Trang 13
13
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc An toàn, vệ sinh lao động muốn được
triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn cần được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật Tập hợp các quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy định các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong môi trường làm việc; các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường làm việc nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động; hạn chế các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp chính là pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động được đề cập trong các văn bản pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (như Bộ luật lao động, Nghị định và các Thông tư hướng dẫn các quy định của Bộ luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động) Ngoài ra, trong các văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động Thực chất, các quy định này chính là sự cụ thể hoá các quy định trong các văn bản pháp luật về an toàn vệ sinh lao động của nhà nước cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Bên cạnh đó, các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trực tiếp hoặc gián tiếp quy định các tiêu chuẩn lao động quốc tế về an toàn lao động và bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao
Trang 1414
động tại nơi làm việc nếu được Nhà nước Việt Nam thông qua cũng chính là một loại nguồn quan trọng bổ sung các quy định cho pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta
Với mục đích bảo vệ sức khoẻ người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thường bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:
1 Các quy định về điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động chung áp
dụng tại nơi làm việc
2 Các quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, độc
hại đến sức khoẻ của người lao động
3 Các quy định về chế độ bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp
4 Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những
nhóm lao động đặc thù như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật
5 Các quy định quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động,
người sử dụng lao động và trách nhiệm của Nhà nước trong công tác
an toàn, vệ sinh lao động
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động Ngoài ra, những quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội bộ công ty như quy định trong nội quy, quy chế an toàn vệ sinh lao động hay trong thoả ước của công ty được đặt ra đều nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn, thông
số kỹ thuật cần thiết được tính toán trên cơ sở khoa học Do đó, việc thực hiện các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động
Trang 1515
Như vậy, có thể thấy pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động là một chế
định trong hệ thống pháp luật lao động Với những nội dung và mục tiêu điều
chỉnh như đã đề cập ở trên, chế định này có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ người lao động và được coi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật lao động ở mọi quốc gia
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Trong thực tế, hoạt động an toàn, vệ sinh lao động thực chất là tổng hợp các biện pháp về khoa học kỹ thuật, y tế học, vệ sinh học, pháp luật, kinh tế học kết hợp với tuyên truyền, vận động nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khoẻ người lao động, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục hậu quả của tai nạn lao động, hoặc bệnh nghề nghiệp Vì vậy, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động khi điều chỉnh hoạt động này cũng có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp luật khác
1.1.2.1 Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét
Mọi biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khoẻ người lao động trong môi trường làm việc đều xuất phát từ cơ sở khoa học tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kỹ thuật Các biện pháp đó bao gồm các hoạt động điều tra khảo sát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động; giải pháp xử
lý điều kiện môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn,
vệ sinh lao động trên cơ sở từng ngành nghề; cải tiến trang bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất…
Phần lớn các quy định điều chỉnh hoạt động an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ ràng Tính khoa học và tính pháp lý cùng tồn tại trong rất nhiều các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Các
Trang 1616
quy định về tiêu chuẩn ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, nồng độ bụi tối đa trong môi trường làm việc,… là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu các yếu tố khoa học, kỹ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ của người làm việc trong môi trường tương ứng
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển các kết quả này thành các quy định có tính chuẩn mực về an toàn, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật
có tính chất bắt buộc chung trong phạm vi toàn quốc, hoặc trong phạm vi từng ngành Điều đó cho thấy tính khoa học kỹ thuật là một trong những đặc điểm riêng biệt của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động so với các chế định pháp luật lao động khác
Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là việc ban hành và quản lý thống nhất
hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động Theo quy định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành
Về hình thức, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động mang đầy đủ những yếu tố của một quy phạm pháp luật (như có tính chất bắt buộc áp dụng) Về nội dung, nó chứa đựng những yêu cầu mặt kỹ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động Những quy chuẩn này (gồm
150 loại) có thể được áp dụng ở cấp Nhà nước hoặc cấp ngành nhằm mục đích hạn chế, ngăn ngừa các tai nạn lao động, sự cố có thể xảy ra đối với con người, môi trường hoặc thiết bị; phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động
Đối tượng quản lý về an toàn, lao động của Bộ LĐ -TB & XH là các loại máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong cả nước Trước đây các thiết bị, máy móc trên được quản lý theo tiêu
Trang 1717
chuẩn do Nhà nước ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thường mang tên gọi chung là Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) quy định tại Khoản 1 điều 3 Nghị định 06/ CP Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các TCVN nhưng do điều kiện về kinh phí hạn chế (chỉ có từ 3 - 5 triệu đồng/ 1 TCVN), chịu ảnh hưởng của hệ thống tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao đồng của Liên Xô cũ Một số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu, không phù hợp so với khu vực và quốc tế như các quy phạm về an toàn lao động trong hầm lo than, điện lạnh, nồi hơi và các thiết bị nâng cần được xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành tiêu chuẩn mới cho phù hợp
1.1.2.2 Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao
Để các giải pháp khoa học kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện, Nhà nước đã thể chế các biện pháp này thành quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu
cụ thể có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, các cá nhân người lao động và các chủ thể có liên quan khác trong quá trình áp dụng pháp luật Phần lớn các văn bản pháp luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động đều chứa đựng các quy định cứng, không thể thoả thuận giữa các chủ thể khi vận dụng Ví dụ như các quy định về điều kiện làm việc, trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân, việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động
Trong chế định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động có một số quy định
có tính chất “định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao động trong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, tiền bồi thường cho người
bị tai nạn lao động So sánh với cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định pháp luật khác của pháp luật lao động, có thể thấy các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất “cứng nhắc” hơn, khó có thể có phần linh hoạt để các bên thoả thuận trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể Đó là nguyên nhân khách quan khiến các chủ thể khi thoả thuận về điều khoản an toàn, vệ sinh lao
Trang 1818
động trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể thường ghi là “theo quy định
của pháp luật hiện hành”
1.1.2.3 Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội
Việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đòi hỏi sự tham gia của tất cả các chủ thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, các
cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng có liên quan
Trong quá trình lao động, việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm,
có hại từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo điều kiện lao động ngày một tốt hơn
Do vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Hiển nhiên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động thường mang tính xã hội rộng rãi và có liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội
1.1.2.4 Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động
Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là yêu cầu tất yếu, khách quan của hoạt động sản xuất Hoạt động sản xuất là quá trình tác động tới môi trường xung quanh, đồng thời cũng là quá trình người lao động chịu các tác động ngược trở lại của môi trường lao động Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiến công cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình Do hoạt động sản xuất là một trong những nguyên nhân gây tác hại tới môi trường sống, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những tiến bộ của trình độ, công nghệ sản xuất cũng
Trang 1919
tăng lên đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội Mặt khác, những yếu tố đó lại làm cho môi trường sống, trong đó có môi trường lao động ngày càng xấu đi do những tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại như phóng xạ,
tia tử ngoại… Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi
hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng
Công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện tốt sẽ giảm thiểu các chi phí về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết cho đối tượng bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cũng như góp phần bảo vệ môi trường sống của con người Thực hiện hiệu quả công tác này là góp phần giảm tới mức thấp nhất sự tiêu hao lao động và những tổn thất tới vật chất, con người và môi trường
An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo
an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc Chạy theo lợi nhuận, người sử dụng lao động tìm mọi cách để giảm mọi chi phí, bao gồm cả chi phí xây dựng môi trường lao động an toàn, vệ sinh cho người lao động Do đó, nếu không giải quyết thoả đáng vấn đề an toàn, vệ sinh lao động thì nền kinh tế không đảm được
sự phát triển bền vững Điều kiện lao động xấu không chỉ ảnh hưởng tới người lao động trực tiếp mà còn có tác động xấu tới thế hệ lao động tương lai
Vì vậy, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
Trang 2020
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động
Công tác an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ người lao động, duy trì nền sản xuất tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, an toàn, vệ sinh lao động đang đặt ra nhiều vấn đề ngày càng bức xúc, đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước, tổ chức có đủ quyền năng và sức mạnh cưỡng chế, với bộ máy từ trung ương đến cơ sở đảm bảo việc tiến hành hiệu quả các hoạt động quản lý về an toàn, vệ sinh lao động
Nguyên tắc này đã được quy định tại điều 56 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và được cụ thể tại Bộ luật Lao động sửa đổi:
“Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn
lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ
sở sản xuất dụng cụ, trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Điều khoản 2 điều 95) [25]
Việc quản lý của nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất tập trung dân chủ Đây là trách nhiệm của các ngành chức năng và là nghĩa vụ của những đối tượng tham gia quan hệ lao động Quyền quản lý cao nhất thuộc
về Chính phủ, bên cạnh đó có sự phân công, phân cấp quản lý cụ thể nhằm tạo
cơ chế cho các ngành chức năng được phát huy tính chủ động trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất
Quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động tạo cơ sở pháp lý và thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật an toàn, vệ sinh
Trang 2121
lao động trên thực tế Việc thiết lập môi trường lao động phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và không đồng đều, do vậy, chúng ta chưa thể tạo dựng được một môi trường lao động lý tưởng với việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động ở mức cao nhất hoặc theo các tiêu chuẩn quốc tế
Nhà nước đã và đang cố gắng từng bước đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường lao động an toàn và vệ sinh theo điều kiện hiện
có của đất nước, mục đích quan trọng nhất là đảm bảo an toàn về tính mạng và sức khoẻ người lao động nhằm xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển, bền vững
1.1.3.2 Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động
Thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, các bên tham gia quan
hệ lao động bắt buộc phải tuân thủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo những quy định mà pháp luật đã ban hành Bộ luật Lao động sửa đổi quy định:
“Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương
tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp Mọi tổ chức và cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường” (Khoản 1 điều 95) [25]
Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm chính trong công tác an toàn, vệ sinh lao động, họ phải đầu tư kinh phí cho xây dựng, cải tạo nhà xưởng, máy móc, trang bị phương tiện đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho cá nhân và máy móc; thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật… cho người lao động theo quy định của pháp luật Việc người sử dụng lao
Trang 22vụ bắt buộc trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nhằm ràng buộc trách nhiệm của của họ khi thiết lập quá trình sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, môi trường lao động an toàn, vệ sinh là một trong những yếu
tố dễ thu hút lao động có chất lượng cao Người lao động sẵn sàng phát huy chất xám và sức lực đem lại hiệu suất lao động cao cho doanh nghiệp, hơn nữa, việc thiết kế môi trường lao động an toàn, vệ sinh sẽ làm giảm các chi phí để giải
quyết các tai nạn lao động có thể xảy ra trong doanh nghiệp Do vậy, thực hiện
an toàn, vệ sinh lao động vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với người sử dụng lao động, vừa mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ
Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với các
cơ quan nhà nước có liên quan, các tổ chức và người sử dụng lao động, đồng thời, thực hiện nó là trách nhiệm của người lao động Để các quy định của pháp luật lao động được thực hiện nghiêm túc và triệt để, bản thân người lao động phải có nghĩa vụ biết và chấp hành các nội quy đó, có ý thức trong việc tự bảo vệ tính mạng, sức khoẻ trong quá trình lao động
Bộ luật lao động sửa đổi quy định: “… Người lao động phải tuân thủ các
quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp” (Khoản 1 điều 95) [25] Các quy định đối với người lao động thường
được quy định trong nội quy doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể (nếu có) và điều khoản về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động
Với các quy định này, nếu người lao động không có ý thức trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của bản thân bởi việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì dù có được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh tuyệt
Trang 2323
đối thì tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động thường gồm các việc như: giữ gìn và sử dụng đúng quy trình các thiết bị bảo vệ an toàn, vệ sinh chung (thiết bị phòng cháy chữa cháy, quạt thông gió…); bảo quản và sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân, chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội quy doanh nghiệp…
Việc thực hiện các quy định này phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức,
ý thức của bản thân người lao động, công tác tuyên truyền về công tác an toàn,
vệ sinh lao động của các đơn vị, tổ chức có liên quan, đặc biệt là tổ chức Công đoàn Đồng thời, việc áp dụng nghiêm minh các biện pháp xử lý người lao động nếu không tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động đặc biệt quan trọng Như vậy, việc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động không chỉ đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho chính bản thân người lao động
mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ
Như vậy, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với tất cả các bên khi tham gia quan hệ lao động Nguyên tắc này được quán
triệt, xuyên suốt trong quá trình xác lập quan hệ lao động, cũng như quá trình thực hiện quy trình lao động, sản xuất Thực hiện tốt nguyên tắc này trên thực tế
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra
1.1.3.3 Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Với quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế hoạt động, công đoàn là
tổ chức có nhiều khả năng nhất trong việc bảo vệ quyền của người lao động nói chung và quyền được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh lao động của người lao động nói riêng Vì vậy, việc đề cao và đảm bảo quyền hạn, trách
Trang 24tổ chức công đoàn phải được thành lập và người sử dụng lao động phải thừa
nhận tổ chức đó “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thành lập và hoạt động
công đoàn tại doanh nghiệp” [25] Hơn thế nữa, để tạo điều kiện cho hoạt động
của công đoàn, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đảm bảo các phương tiện làm việc cần thiết, phải trả lương và tạo điều kiện về thời gian cho người làm công tác công đoàn
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rất cụ thể về nội dung hoạt động
của công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp
gồm các hoạt động củng cố tổ chức, bộ máy bảo hộ lao động, xây dựng kế hoạch bảo vệ an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; tự kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động như rà soát máy móc, kẻ vẽ biển báo hiệu nguy hiểm; mua mới và sửa chữa máy móc; khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động nhằm sớm phát hiện bệnh nghề nghiệp, đo đạc yếu tố vệ sinh tại nơi làm việc; tổ chức tuyên truyền vận động về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động
Ngoài ra, các tổ chức công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động của quốc gia như tham gia xây dựng Chương trình Quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động; Tuần lễ quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ hàng năm; và tham gia Mạng thông tin an toàn,
vệ sinh lao động đã nói lên vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động
Trang 2525
đảm bảo thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Bộ luật lao động sửa đổi quy định:
“TLĐ LĐVN tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương
trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Khoản 3 điều 95) [25]
Đối với người lao động, trong hoạt động bảo đảm việc thực hiện pháp luật
an toàn, vệ sinh lao động cho họ, tổ chức công đoàn có vai trò quan trọng và cốt yếu trong việc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người lao động trong việc yêu cầu và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động; trong việc yêu cầu người sử dụng lao động xây dựng và đảm bảo điều kiện lao động được
an toàn, vệ sinh
1.1.3.4 Tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động trong các Công ước có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn 17 công ước trong đó có nhiều công ước liên quan đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh cho người lao động nói chung, và lao động nữ nói riêng Khi xây dựng khung pháp lý và chính sách về an toàn, vệ sinh lao động, Việt Nam tôn trọng và thể hiện trong luật pháp của mình đối với các công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn Với các công ước liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động khác của ILO, Việt Nam luôn coi là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình
xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Công ước 155 (1981) về an toàn và vệ sinh lao động cuả ILO được coi
như một công ước toàn diện và đầy đủ nhất về hoạt động an toàn, vệ sinh lao động Theo công ước này, các quốc gia thành viên phải có hệ thống chính sách quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động trong mọi ngành nghề Việt Nam là nước
Trang 2626
đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước này Điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động bảo vệ sức khoẻ người lao động
Với một số ngành kinh tế đặc thù, tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, ILO đã thông qua một số công ước và khuyến nghị như
các công ước: Công ước số 62 (1937) và Công ước số 167 (1992) về an toàn của ngành xây dựng; Công ước số 28 (1929) và Công ước số 32 (1932) về an toàn của người làm nghề bốc dỡ trên bến tàu; Công ước 120 (1964) về Vệ sinh trong
thương mại và văn phòng
Nhằm bảo vệ đặc biệt cho những người lao động dễ bị tổn thương, ILO
đặc biệt chú trọng đến 2 nhóm người lao động là phụ nữ và trẻ em thông qua các
công ước Ngay trong 6 công ước quốc tế của ILO được thông qua tại phiên họp đầu tiên của Hội nghị toàn thể lần thứ nhất năm 1919 thì có đến 4 công ước liên quan đến phúc lợi và an toàn của lao động trẻ em, lao động chưa thành niên và lao động nữ Cụ thể là:
+ Công ước số 3 (1919) về chế độ nghỉ thai sản;
+ Công ước số 4 (1919) về chế độ làm ban đêm;
+ Công ước số 5 (1919) về tuổi lao động tối thiểu của trẻ em trong các ngành công nghiệp
+ Công ước số 6 (1919) về làm việc ban đêm của người lao động chưa thành niên trong công nghiệp
+ Công ước số 45 (1935) về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới mặt đất;
+ Công ước số 111 (1958) về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp;
+ Công ước số 182 (1999) về Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất1
Bên cạnh các công ước của ILO, các công ước khác liên quan đến phụ nữ cũng ít nhiều đề cập đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phụ nữ Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
1
Xin xem phần Phụ lục 1
Trang 2727
(CEDAW) 1979, của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 19/3/1982) đã quy định:
“Các nước tham gia phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá
bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo đảm những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ” (Điều 11, khoản 1 phần f) [18]
Có thể nói, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên hiệp quốc thông qua các công ước trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xây dựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ
Trong pháp luật lao động Việt Nam, mặc dù có sử dụng cụm từ “lao động nữ” nhưng không có khái niệm lao động nữ mà chỉ có khái niệm người lao động nói chung Trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động, chúng ta có thể hiểu, lao động nữ trước hết là người lao động theo quy định của pháp luật nhưng có giới tính là nữ
Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ
sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của lao động nữ Tính đặc thù của lao động nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ:
Xét theo yếu tố sinh học (giới tính) lao động nữ có những đặc điểm về sinh lý, tâm lý, chức năng sinh học và thể lực khác hẳn so với lao động nam
Trang 2828
Dưới góc độ giới tính, xét về thể lực, lao động nữ thường yếu hơn lao động nam nên họ thường tham gia vào các công việc nhẹ nhàng Ngoài ra, lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất, tinh thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác
Theo số liệu được tổng kết trong các đề tài nghiên cứu khoa học về giới, lao động nữ thường có thể lực yếu hơn so với lao động nam Sức chịu đựng của phụ nữ trong điều kiện lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại kém hơn so với lao động nam Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu về công tác bảo hộ lao động đều đưa ra những khuyến cáo về việc không nên sử dụng lao động nữ trong những điều kiện lao động chứa nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại Sự tồn tại của những yếu tố này đương nhiên ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người lao động làm việc trong môi trường đó nói chung Riêng đối với lao động nữ, sự ảnh hưởng không chỉ để lại hậu quả nặng nề đối với sức khoẻ thông thường của lao động nữ mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ sinh sản của họ Từ đó, gây hậu quả tiếp theo cho những đứa con do lao động nữ sinh ra
Thứ hai, lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động
nam, đặc biệt là ở những quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt
Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ “trọng nam khinh nữ” đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sử học và xã hội học, khi xã hội loài người chuyển từ chế độ “mẫu hệ” sang chế độ “phụ hệ”, vai trò của người phụ
nữ dần dần bị đẩy xuống hàng thứ yếu so với nam giới Trong chế độ mẫu hệ, với cuộc sống bầy đàn dựa vào nguồn sống sẵn có, người phụ nữ có vai trò chính trong hoạt động hái lượm và là giới nắm vai trò quyền lực Chuyển sang hình thái xã hội “phụ hệ”, bắt đầu với hoạt động săn bắn và trồng trọt, tính chất công việc thay đổi và phụ thuộc nhiều vào sức khoẻ lao động nam là chính, quyền lực
xã hội chuyển sang giới nam Quyền lực này đã tồn tại dai dẳng và ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội cho đến tận ngày nay Với tư
Trang 2929
tưởng này, đã dần làm cho phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội,
họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất
bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển
Là một nước nằm trong hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa, ngay sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vị thế của phụ nữ, bắt đầu bằng việc ghi nhận phụ nữ được quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước (Quốc hội) Quyền bình đẳng nam nữ được ghi nhận trong bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta (1946) và từng bước được thực hiện trong đời sống kinh tế - xã hội và gia đình
Thứ ba, lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao
động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam:
Do những cản trở về mặt chính trị và thái độ xã hội, lao động nữ luôn thiếu các cơ hội học tập và tiếp cận công nghệ hiện đại, tiến tiến trong lao động, tiếp cận việc làm ở khu vực chính thức, không có thu nhập hoặc thu nhập không cao Do vậy, họ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của lao động nữ hiện nay xấp xỉ 67%, thấp hơn so với lao động nam với 76%; mức lương trung bình theo tháng đối với lao động nữ
ở Việt Nam hiện là 616.000 đồng, chỉ bằng 88,5% mức thu nhập chung của cả lao động nam và lao động nữ [75; tr.11]; nghề nông chiếm 63% việc làm ở Việt Nam, phụ nữ làm nông nghiệp có số giờ làm việc trung bình nhiều hơn nam giới tới 8h/ ngày, do vậy, họ thường bị quá tải, điều này không những ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ mà còn làm giảm thời gian nghỉ ngơi, cản trở cơ hội học tập và nắm bắt thông tin thị trường và công nghệ mới
Trong quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, lao động nữ chiếm 60%
số người lao động mất việc, 35% lao động nữ ở lại được giao những công việc không thường xuyên hoặc tạm thời Điều này không chỉ phổ biến trong các
Trang 3030
ngành nghề của Việt Nam mà còn là tình trạng chung của các nước Châu Á
Những con số trên đều cho thấy sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động
nữ Điều này làm cho lao động nữ vốn đã thiệt thòi, hạn chế ngày càng thiệt thòi,
hạn chế và kém phát triển hơn
Thứ tư, lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là
người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ
trong gia đình
Theo những tài liệu và luận thuyết khoa học đã cho thấy đồng hồ sinh học
của lao động nữ và lao động nam khác nhau Chính từ sự khác nhau về của cấu
tạo cơ thể về mặt sinh học mà lao động nữ có thiên chức riêng của mình Phụ nữ
là chủ thể của sự kết hợp giữa hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất
cho gia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sản xuất sức lao động con
người Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức
làm mẹ, chỉ có người phụ nữ mới có thể mang thai, sinh đẻ và cho con bú sữa mẹ
Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ (sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái)
thường gắn liền với chức năng nội trợ, công việc gia đình, dần dần, xã hội coi
chức năng này “đương nhiên” thuộc về phụ nữ Với ý thức này, nam giới ngày
càng có nhiều thời gian, cơ hội học tập, nắm bắt thông tin và công nghệ hiện đại
hơn, do đó, họ có điều kiện lao động sản xuất tốt hơn, tạo ra nhiều của cải hơn,
mang lại thu nhập cho gia đình cao hơn, và đương nhiên, họ có vị trí ngày càng
cao hơn trong gia đình và xã hội Tuy nhiên, xã hội dường như lại quên đi công
đóng góp đáng kể của phụ nữ trong giá trị lao động của nam giới Theo báo cáo
phát triển nhân lực của Liên Hợp Quốc, ước tính công việc không được trả lương
hiện nay của phụ nữ trên toàn thế giới (gồm việc nội trợ, chăm sóc trẻ em…)
theo giá trị thị trường khoảng 11 tỷ đô la Mỹ
1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh
lao động đối với lao động nữ
Trang 3131
Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động dành riêng cho lao động nữ trước hết xuất phát từ những điểm khác biệt, đồng thời cũng là đặc trưng riêng của lao động nữ nên không thể đồng thời sử dụng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động cho cả lao động nam và lao động nữ
Nhận thức được vấn đề này, thế giới đã và đang đề cao vấn đề bình đẳng giữa giới nam và giới nữ, xác định sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ được coi như sự tiến bộ của một nửa nhân loại Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ nói chung, và lao động nữ nói riêng, có thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới Chỉ trong điều kiện đó, họ mới có thể tái sản xuất sức lao động con người tiến bộ hơn, phát triển và hoàn thiện hơn Với nhận thức con người là của cải, vốn quý của xã hội, Đảng và nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm đến vốn quý ấy và đã có những chính sách, quy định đảm bảo quyền bình đẳng của nam nữ, cũng như có những quy định riêng đối với nữ giới
Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động nữ, đặc biệt trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động còn xuất phát từ xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam
là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong công ước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW
Việt Nam hiện là quốc gia đầu tiên ở Châu Á ký công ước này và cam kết
về việc triển khai thực hiện công ước này tại Việt Nam Do đó, quyền bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ trong các lĩnh vực thuộc quá trình lao động, đặc biệt là quyền được làm việc trong điều kiện lao động an toàn, vệ sinh là vấn
đề có tính tất yếu khách quan Đây cũng là một trong những lý do khẳng định sự cần thiết phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động dành riêng cho lao động nữ
Trang 3232
Ngoài ra, sự cần thiết của các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ được lý giải thông qua vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc
Cụ thể là, việc có những quy định riêng về an toàn, vệ sinh lao động cho
lao động nữ đã tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận việc làm, tham gia vào quan hệ lao động của xã hội của lao động đó Từ đó, một số chị em phụ nữ khi được cân nhắc vào các vị trí nhất định trong quá trình sản xuất đã chứng tỏ được vai trò trong việc tham gia đóng góp vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đóng góp vào việc tạo ra những lợi nhuận cho người sử dụng lao động, góp phần giải phòng sức lao động và tăng thu nhập cho lao động nữ và gia đình của họ trong điều kiện phúc lợi xã hội còn hạn chế
Dưới góc độ xã hội, việc ban hành những quy định riêng cho lao động nữ nhằm góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động, cả thiện vị trí trong gia đình và ngoài xã hội thông qua thu nhập ổn định, giúp an toàn và ổn định xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nữ thực hiện tốt cả hai chức năng lao động và chức năng làm
mẹ, chăm sóc và nuôi dạy con cái – lực lượng lao động tương lai
Dưới góc độ pháp lý, những quy định riêng đối với lao động nữ đã góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động nói riêng Điều này vừa thể hiện sự cam kết cao của nhà nước Việt Nam đối với các công ước về lao động và phụ nữ đã tham gia, vừa khẳng định tính nhân đạo, công bằng của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng Đồng thời, tạo điều kiện để đối tượng lao động nữ có cơ hội và điều kiện tham gia, đóng góp có hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội với số lượng ngày càng đông đảo, có văn hoá và tay nghề đáp ứng nền sản xuất tiến tiến, hiện đại trong thời kỳ hội nhập
Trang 3333
Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia Trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, việc xây dựng những quy định riêng cho lao động nữ không chỉ nhằm bảo vệ tương xứng, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tạo lập địa vị bình đẳng cho nhóm đối tượng này mà còn nhằm đảm bảo tính ổn định, bền vững của nền sản xuất, lợi ích và sự ổn định các gia đình là
tế bào của xã hội và là tiền đề để xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ ở Việt Nam
Pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển, ngày càng đầy đủ, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của lao động nữ và phù hợp với các cam kết quốc tế về lao động nữ mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc phê chuẩn
Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đề cập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bản như:
Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên của nước ta được ban hành tháng 8 năm 1947, trong đó nêu rõ tại các điều 113 và 140: “Các xí nghiệp
phải có đủ phương tiện đảm bảo an toàn và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân”,
“những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và ánh sáng mặt trời”[16]
Ngày 18/12/1964, Hội đồng Chính phủ có Nghị định 181/CP ban hành
Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động Đây là văn bản tương đối toàn diện và hoàn chỉnh về các quy tắc bảo hộ lao động Điều lệ này được ban hành gồm 6 chương,
38 điều và có hiệu lực từ đó đến cuối năm 1991
Tháng 9/1991, Hội đồng Chính phủ đã thông qua và công bố ban hành
Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992
Trang 3434
Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ
họp khoá IX, luật có hiệu lực từ ngày 10/01/1995 Ngoài chương IX và chương
X quy định về an toàn lao động và những quy định riêng đối với lao động nữ, bộ luật còn hàng chục điều ở các chương khác liên quan đến công tác bảo hộ lao động Bộ luật Lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển cao hơn trong quá trình xây dựng pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định về vấn đề an toàn,
vệ sinh lao động đã được tập hợp lại thành một chế định riêng
Tiếp đó, ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 Bộ
luật lao động sửa đổi đã có những quy định rất cụ thể và chi tiết về an toàn lao động, vệ sinh lao động Cho đến nay, đây là Bộ luật Lao động hoàn chỉnh nhất,
có những quy định rõ ràng nhất về vấn đề này
Cơ quan quản lý chuyên môn về lao động là Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể như:
Thông tư liên bộ số 03/TT – LB ngày 28/01/1994 giữa Bộ LĐ -TB & XH
và Bộ Y tế đã quy định các điều kiện lao động có hại và các công tác làm việc cấm sử dụng lao động vị thành niên
Trang 3535
Thông tư số 08/LĐTB và XH-TT ngày 11/4/1995 của Bộ LĐ -TB & XH
hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Thông tư số 23/LĐTBXH – TT ngày 18/11/1996 của Bộ LĐ -TB & XH
hướng dẫn chế độ thống kê, báo cáo định kỳ về tai nạn lao động
Thông tư số 13/TT-BYT ngày 2/10/1996 của Bộ Y tế hướng dẫn thực
hiện việc quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp
Thông tư số 20/1997 TT-LĐTBXH ngày 17/12/1998 hướng dẫn về việc
khen thưởng hàng năm về công tác bảo hộ lao động
Thông tư số 10/1998 TT – LĐTBXH ngày 28/5/1998 hướng dẫn thực hiện
trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Thông tư liên tịch số 03/1998 TTL- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN giữa Bộ
LĐ -TB & XH - Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành ngày 26/3/1998 hướng dẫn về khai báo, điều tra tai nạn lao động
Ngày 20/4/1998, thông tư liên tịch số 08/1998 TTLT BYT – BLĐTBXH
đã được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề nghiệp
Ngày 31/10/1998, thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT
BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong
doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh
Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/3/1999
hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc với các yếu tố nguy hiểm, độc hại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế – xã hội với sự nhấn mạnh đặc biệt: Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội Một
trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm đó là “chăm lo cải thiện điều kiện
Trang 36Trong lực lượng lao động, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ rất cần được đặc biệt quan tâm Điều này xuất phát từ đặc điểm về thể lực, về tâm sinh lý cũng như về chức năng xã hội của lực lượng lao động đặc biệt này Có thể nói, phụ nữ là chủ thể của sự kết hợp giữa hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sản xuất sức lao động con người Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ, vừa gánh vác công việc xã hội và chăm lo việc gia đình
Trên thực tế, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ đã được chú trọng và ngày càng được hoàn thiện với hệ thống các quy định pháp luật về lao động Hệ thống pháp luật quy định về an toàn, vệ sinh lao động nói chung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn bản có
hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động
năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm
2006 và năm 2007 Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng tham gia vào một số công ước quốc tế ghi nhận quyền lợi và bảo vệ phụ nữ, thể hiện rõ hơn sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước tới đối tượng lao động đặc biệt này
Trang 3737
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ
Khả năng làm việc và sức sáng tạo của người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện làm việc Điều kiện làm việc bao gồm tập hợp các yếu tố vệ sinh công nghiệp, sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ có tác động lên trạng thái, chức năng của cơ thể con người, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả làm việc của lao động nữ khi đang tham gia quá trình lao động và sau khi kết thúc quá trình lao động
Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặt ra các quy định về đảm bảo an toàn, vệ sinh chung đối với lao động nữ trong quá trình làm việc nhằm xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thiết lập điều kiện lao động thuận lợi đối với lao động nữ Từ đó hướng tới mục tiêu đảm bảo tại nơi làm việc không tồn tại hoặc tồn tại ở mức thấp nhất các yếu tố nguy hiểm, độc hại vượt quá giới hạn chịu đựng của lao động nữ về tâm sinh lý và sức khoẻ Các quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ thường bao gồm những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm
ngặt về an toàn, vệ sinh đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất Về vấn đề này, Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định:
“người sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không
gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc,
Trang 3838
phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, và các yếu tố có hại khác Các yếu
tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường” (Điều 97) [25]
Các quy định này nhằm thiết lập nơi làm việc hợp lý, bảo vệ tốt nhất sức khoẻ người lao động Cụ thể là:
1 Máy móc, thiết bị bố trí khoa học, đảm bảo khoảng cách an toàn, phù
hợp với trình tự gia công, vận chuyển và đi lại trong quá trình sản xuất;
2 Nhà xưởng cao ráo, đủ ánh sáng, không khí, nền nhà bằng phẳng,
sạch sẽ, các chất thải, nước thải được xử lý đúng quy định;
3 Nơi làm việc có nội quy, quy trình làm việc an toàn, hướng dẫn thao
tác điều khiển, sử dụng máy móc đúng quy trình, kỹ thuật an toàn
Có thể nói, các quy định trên nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ giúp cho
việc thiết lập môi trường lao động thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn lao động có thể xảy ra Tuy nhiên, trong quá triển khai thực hiện các quy định trên, vẫn phát sinh những vấn đề cần tiếp tục xem xét để sửa đổi, bổ sung Ví dụ như: chưa quy định đến việc phải có quy trình an toàn, vệ sinh lao động cho cả dây truyền sản xuất; thiếu danh mục máy móc, thiết bị và các chất bị cấm nhập khẩu và sử dụng do không đảm bảo về an toàn, vệ sinh lao động; pháp luật hiện hành mới chỉ quan tâm chú trọng hai khâu cấp giấy phép nhập khẩu, việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy, thiết bị, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, mà chưa quan tâm đến quá trình thiết kế, vận chuyển, lắp đặt, bảo quản…
Việc quy định chưa đầy đủ, đồng bộ các quy định liên quan đã phần nào hạn chế đến hiệu quả của những quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
đã được ban hành
Thứ hai, các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi
về an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động
Trang 3939
Khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động phải lập luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật với các nội dung chính như sau:
Địa điểm, quy mô, khoảng cách từ công trình, cơ sở đến khu dân cư
và các công trình khác;
Những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình
hoạt động, các giải pháp phòng ngừa và xử lý
Luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động được xây dựng phải được cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động phối hợp với các cơ quan hữu quan xem xét và chấp thuận
Thứ ba, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng đã đưa ra những quy
định về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ tại Bộ luật lao động như sau:
“Nơi có sử dụng lao động nữ, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ
sinh nữ” (Điều 116) [25] Cụ thể hoá vấn đề này, Thông tư số 79/1997/ TT-BTC
(6/11/1997) Bộ Tài chính đã có những biện pháp rất thiết thực để giúp đỡ các doanh nghiệp khi sử dụng nhiều lao động nữ
Tuỳ theo từng mức nguồn vốn và quy mô sử dụng lao động nữ, doanh nghiệp có thể chi những khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâm làm việc
Như vậy, do những khác biệt về tâm lý, sức khoẻ và phải thực hiện chức năng sinh đẻ, khác với lao động nam, lao động nữ được cách ly hoàn toàn với những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh
Trang 4040
hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con và có quyền hưởng những điều kiện về môi trường lao động, điều kiện sinh hoạt tại nơi làm việc thuận lợi Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ
2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
Thứ nhất, pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành
cho đối tượng lao động này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có Đó là quyền được ưu tiên trong việc tuyển chọn vào làm việc khi mà lao động nữ đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp cả nam
và nữ mà doanh nghiệp đang cần
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn,
có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động Trên thực tế, nhiều người lao động nữ luôn sợ bị chấm dứt hợp đồng lao động khi họ khi kết hôn, nghỉ thai sản, hay nuôi con nhỏ dưới 12 tháng vì người sử dụng lao động cho rằng khi có những sự kiện này, người lao động nữ sẽ không có nhiều thời gian để tập trung hoàn thành công việc, ảnh hưởng tới chất lượng lao động của doanh nghiệp
Có thể nói, quy định này là một đảm bảo chắc chắn cho lao động nữ khi tham gia vào quan hệ lao động, đồng thời cũng chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong những trường hợp này, ngăn chặn hành vi gây khó khăn cho lao động nữ trong doanh nghiệp Đồng thời, trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động