Lịch sử nghiên cứu đề tài Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới PPDH, GV Ngữ Văn các cấp đã được bồi dưỡng nhiều tri thức về việc xây dựng câu hỏi mở, ra đề, đáp án mở nhằm áp dụng vào
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THỊ NGỌC THÚY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI MỞ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THỊ NGỌC THÚY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI MỞ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hoàn
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính
trọng tới Lãnh đạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội, các Thầy
Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, chuyên sâu, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại nhà trường
Tôi xin trân trọng gửi tới Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn – Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học Bộ Giáo dục và Đào tạo tình cảm biết ơn sâu sắc nhất Thầy đã hướng dẫn tôi rất tận tình, khoa học trong quá trình viết luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường THPT Phan Đình Phùng, bạn bè đồng nghiệp cùng những người thân trong gia đình đã giúp đỡ tạo điều kiện
để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Ngọc Thúy
Trang 4DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT GD& ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÂU HỎI MỞ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn 8
1.1.2 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Đặc điểm của môn Ngữ văn Trung học phổ thông (THPT) 13
1.2.2 Khảo sát các ý kiến bàn bạc về đổi mới đánh giá đối với môn Ngữ văn 21
1.2.3 Việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn và trong đánh giá thi cử .24
1.2.4 Việc tiếp nhận câu hỏi mở của học sinh Trung học phổ thông 33
1.2.5 Ý nghĩa, tác dụng của việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn 36
1.2.6 Đánh giá sơ bộ về thực trạng sử dụng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn hiện nay 37
Tiểu kết Chương 1 39
Chương 2: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG ĐỀ MỞ, ĐÁP ÁN MỞ MÔN NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 40
2.1 Phương hướng xây dựng hệ thống câu hỏi mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông .40
2.1.1 Vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng tiếp cận năng lực 40
2.1.2.Hệ thống đề mở, đáp án mở phải phù hợp thực tế dạy và học 41
2.1.3 Hệ thống câu hỏi mở, đề mở phải có đáp án mở 43
Trang 62.1.4 Hệ thống câu hỏi mở, đề mở phải phát huy được năng lực vốn có
của người học 44
2.1.5 Hệ thống câu hỏi mở, đề mở phải tương thích các phương pháp dạy học tích cực .45
2.1.6 Hệ thống câu hỏi mở, đề mở phải mang tính sáng tạo 47
2.2 Xây dựng hệ thống đề mở, đáp án mở cho quá trình dạy học Ngữ văn (đánh giá thường xuyên và định kì) 48
2.2.1 Đối với bài kiểm tra thường xuyên 48
2.2.2 Đối với bài kiểm tra định kì 58
2.3 Xây dựng hệ thống đề mở, đáp án mở cho kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông 66
2.3.1 Hệ thống đề mở, đáp án mở cho “phần đọc hiểu” .66
2.3.2 Hệ thống đề mở, đáp án mở cho “phần viết bài văn” 74
Tiểu kết Chương 2 78
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79
3.1 Mục đích thực nghiệm 79
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 79
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 79
3.4 Thiết kế đề mở, đáp án mở thực nghiệm 80
3.5 Kết quả thực nghiệm 95
3.5.1 Tiến hành kiểm tra 95
3.5.2 Kết quả kiểm tra 95
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .101
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những đổi thay không ngừng của xã hội theo xu hướng toàn cầu hoá và sự phát
triển của khoa học, kĩ thuật hiện đại là những thách thức lớn cho giáo dục trong việc phát triển nguồn nhân lực có tri thức cao, thông minh và sáng tạo Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo và phương pháp dạy học (PPDH) là những vấn đề thời sự của tất cả hệ thống giáo dục Rất nhiều các PPDH mới được thử nghiệm nhằm đào tạo những người lao động có bản lĩnh, có năng lực chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng thích ứng với những đổi thay của xã hội hiện đại… Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động tập thể để tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống được quan tâm hơn lúc nào hết; từ
đó, người học tự chiếm lĩnh và vận dụng các kiến thức và kĩ năng cơ bản dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên (GV)
Trong dạy học Ngữ văn, việc xây dựng hệ thống câu hỏi, đặc biệt là câu hỏi mở
là một đòi hỏi quan trọng, quyết định lớn đến chất lượng dạy và học Câu hỏi mở giúp cho học sinh (HS) chiếm lĩnh tác phẩm, hình thành ở các em một phương pháp
tự tìm hiểu, phám phá, liên hệ, cảm nhận tác phẩm văn chương; đồng thời, câu hỏi
mở còn có vai trò trong khâu cuối cùng của quá trình dạy học – khâu kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập
Muốn đào tạo những con người chủ động, sáng tạo, bản lĩnh, dạy học nói
chung, dạy học Ngữ văn nói riêng cần phải đổi mới PPDH, không thể duy trì phương pháp truyền thống, áp đặt, cung cấp kiến thức nặng nề Đã đến lúc dạy học cần một phương pháp khoa học Dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông cần lấy hoạt động của HS làm trung tâm Theo đó, một tác phẩm văn chương được tiếp cận từ hai phía: người dạy và người học; nói cách khác, tác phẩm văn chương được nhìn ở ba điểm nhìn khác nhau: nhà văn – giáo viên – học sinh Vậy nhiệm vụ của giờ văn là phải tạo được sự tương tác của ba chủ thể đó
Để đạt được hiệu quả, một giờ dạy học Ngữ văn cần có sự chuẩn bị và hoạt động của cả thầy và trò Khi ấy, việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở được quan tâm bàn bạc và áp dụng Khi đã có kĩ năng giải quyết các câu hỏi mở trong các giờ đọc văn,
HS sẽ thành thục trong việc giải quyết đề văn ra theo hướng mở Đề mở giúp nâng
Trang 8cao tính suy luận, sáng tạo ở người học, chống học vẹt, học tủ, đòi hỏi cả thầy và trò phải đổi mới cách dạy và học Đây cũng là biện pháp nâng cao chất lượng môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông và đánh giá đúng thực chất kết quả học tập cũng như
tự học của HS
Muốn xây dựng và áp dụng được hệ thống câu hỏi mở vào quá trình dạy học đòi hỏi phẩm chất của người GV Họ phải là những người tổ chức, dẫn dắt, điều khiển quá trình dạy học GV cần duy trì được thói quen tự rèn luyện, không ngừng sáng tạo, có năng lực
tự học, tự nghiên cứu, giỏi cả chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm Trong đó, kĩ năng đặt câu hỏi mở là một kĩ năng quan trọng
Câu hỏi mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn không phải là vấn đề hoàn toàn mới nhưng trong quan niệm của người dạy và cả xã hội ngày nay còn nhiều vấn đề cần bàn bạc GV còn lúng túng trong việc xác định câu hỏi như thế nào là mở, đáp án ra sao là phù hợp Về phần dư luận xã hội, họ băn khoăn tính giáo dục hay độ công bằng trong đánh giá thi cử khi áp dụng đề mở Khi ấy câu hỏi mở, đề mở phải thực
sự có hiệu quả khi sử dụng trong giờ dạy học Ngữ văn, phù hợp với nhu cầu học và tích lũy tri thức, kĩ năng của HS Hệ thống câu hỏi mở sẽ đặt người học vào những “ tình huống có vấn đề”, đòi hỏi HS phải trau dồi khả năng tự tư duy, liên hệ, khám phá, sáng tạo Từ đó, năng lực người học dần được hình thành, củng cố
Mấy năm trở lại đây, việc xây dựng câu hỏi mở, đề mở đã được sự quan tâm, áp
dụng của các nhà sư phạm nhiều cấp Thực tế, trong giờ dạy học Ngữ văn, giáo viên
đã có ý thức đưa ra những câu hỏi có tính sáng tạo nhưng phần nhiều còn ngẫu hứng, tản mạn Vì thế tính định hướng của những câu hỏi này chưa cao và chưa đạt kết quả mong muốn
Vấn đề câu hỏi mở gần đây đã được các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm bàn đến và đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Ở nước ta đã có một cuốn
sách và hai cuốn luận án làm riêng về hệ thống câu hỏi trong dạy học văn như “ Câu
hỏi trong giảng văn” (Trương Dĩnh), “Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học” ( Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Quang Cương), “Câu hỏi nêu vấn đề trong giờ giảng văn” ( Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngân) Bên cạnh đó còn có những bài
báo, cuốn tạp chí về đề mở, câu hỏi mở như tập “Đề mở, đáp án mở” của Tạp chí Văn học tuổi trẻ và cuốn “Hệ thống đề mở Ngữ văn” (Đỗ Ngọc Thống chủ biên)
Trang 9Nhưng chưa có ai bàn riêng đến việc xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông (THPT)
Trong chương trình Ngữ văn THPT, câu hỏi mở, đề mở không chỉ được sử dụng trong các giờ dạy học Ngữ văn mà còn được sử dụng trong các kì kiểm tra định kì, kì thi Tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, thi chọn học sinh giỏi các cấp Vì thế, việc xây dựng câu hỏi mở, đề mở sao cho có hiệu quả là mục tiêu cần đạt tới của giáo dục phổ thông nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
Xuất phát từ những lí do trên và từ thực tiễn dạy học môn Ngữ văn của người
viết, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy
học Ngữ văn Trung học phổ thông” cho luận văn thạc sĩ của mình nhằm góp thêm
tiếng nói về vấn đề đổi mới PPDH Ngữ văn ở phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới PPDH, GV Ngữ Văn các cấp đã được bồi
dưỡng nhiều tri thức về việc xây dựng câu hỏi mở, ra đề, đáp án mở nhằm áp dụng vào dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu, các tạp chí, bài viết định hướng việc xây dựng câu hỏi mở Các tác giả, trong chuyên luận của mình, khi nói về vấn đề đổi mới PPDH và đổi mới KTĐG trong dạy học môn Ngữ văn, đều không bỏ qua hoạt động xây dựng câu hỏi mở nhằm tổ chức học sinh đọc hiểu văn bản Ngữ văn và đáp ứng những kì kiểm tra thi cử Tiêu biểu là các công trình của các tác giả:
Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể (Nhà
xuất bản (NXB) Đại học Sư phạm, 2006), PGS - TS Nguyễn Viết Chữ đã xây dựng
cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề câu hỏi trong dạy học văn Từ đó, tác giả đề ra những yêu cầu của việc xây dựng câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương và xác lập một hệ thống câu hỏi cảm thụ để dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông Việt Nam Ở chuyên luận này, tác giả nối tiếp quan điểm của các nhà sư phạm Nga đã vận dụng linh hoạt hệ thống câu hỏi cảm thụ để dạy học tác phẩm văn chương Ông đưa ra những yêu cầu cho việc đặt câu hỏi trong quá trình dạy học và vận dụng cách thức đặt câu hỏi cho những thể loại văn học tiêu biểu
Còn trong công trình nghiên cứu chuyên biệt về hệ thống câu hỏi trong sách
giáo khoa Văn học của Tiến sĩ Nguyễn Quang Cương mang tên Câu hỏi và bài tập
Trang 10với việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (NXB Đại học Quốc Gia
Hà Nội, 2002) tập trung vào những vấn đề xung quanh hệ thống câu hỏi, bài tập văn học, từ thực trạng dạy học đến các vấn đề lí luận, từ mô hình lí thuyết đến sự vận dụng trong thực tế dạy học tác phẩm văn chương Tác giả đã khảo sát, đánh giá hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa (SGK) Văn học cải cách; từ đó, xây dựng một số nguyên tắc cũng như đưa ra những tiêu chí để xây dựng hệ thống câu hỏi cho SGK Ngữ văn THPT với mong muốn mang lại cho bộ SGK này một diện mạo mới với hệ thống câu hỏi có chất lượng cao
Trong cuốn Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
(NXB Giáo dục, 2002), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn đã đi sâu vào trình bày những biện pháp nhằm rèn luyện tư duy cho HS Tác giả có phân loại hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn Theo Tiến sĩ, “việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức” Thêm nữa, “các câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng trong hệ thống các câu hỏi sáng tạo trong bài học tác phẩm văn chương được xem như một trong những giải pháp liên kết phương hướng triển khai quá trình hình thành kiến thức, góp phần làm phong phú các hướng tiếp nhận tích cực ở học sinh”[17] Như vậy theo tác giả, hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ dạy học Ngữ văn
có ý nghĩa tạo ra các tình huống có vấn đề cho HS tìm hiểu và giúp họ tiếp nhận bài học một cách tích cực
Ở bài viết Phân tích nêu vấn đề với khả năng phát huy năng lực cảm thụ văn
chương của học sinh trong cuốn Văn chương bạn đọc sáng tạo của Giáo sư Phan
Trọng Luận (NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003) đã khẳng định loại câu hỏi trong hoạt động tái hiện thường vụn vặt, rời rạc và đưa ra những yêu cầu của câu hỏi nêu vấn đề như sau:
+ Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng một dung lượng lớn, mang tính chất tổng hợp, bao gồm nhiều mối liên hệ giữa các yếu tố, các sự kiện nhằm làm sáng tỏ quan điểm chung của tác giả trong tác phẩm văn chương
+ Câu hỏi nêu vấn đề thường có tính chất phức tạp về nội dung, chứa đựng mâu thuẫn
Trang 11+ Câu hỏi nhất thiết phải vạch ra được (hoặc định hướng) mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cụ thể với những vấn đề tổng hợp của tác phẩm
+ Câu hỏi mang tính hệ thống liên tục Mỗi câu hỏi là một cái mốc trong quá trình khám phá Câu sau bổ sung cho câu trước, câu trước chuẩn bị cho câu sau + Câu hỏi phải sát hợp với tác phẩm văn học, khơi gợi được hứng thú của bản thân HS
Trong bài “Đa dạng và hiệu quả của câu hỏi trong dạy học Văn” (Tạp chí
Giáo dục số 148/2006), Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng khẳng định: “Xây dựng được
hệ thống câu hỏi có chất lượng là công việc khó khăn nhất trong dạy học Ngữ văn” Ông quan niệm: Tiếp cận tái hiện, chúng ta có câu hỏi nhằm vào dạng thức bên ngoài, về số lượng, tính chất và đặc điểm của số lượng, vào trí nhớ, việc học, việc đọc thuộc lòng và liệt kê Tác giả còn xây dựng những tiêu chí của câu hỏi tốt và nội dung câu hỏi ngắn, rõ, chính xác, trực tiếp, tránh đánh đố; câu hỏi có tác dụng kích thích HS, phải thách thức gợi trí tò mò, đòi hỏi muốn trả lời phải vận dụng kiến thức
đã học; câu hỏi phù hợp lứa tuổi, khả năng và mối quan tâm của HS; câu hỏi phải tác động tới cảm xúc, thẩm mĩ của HS Ngoài ra, tác giả còn khuyên GV đặt câu hỏi phải
có kĩ thuật mới hiệu quả
Những năm gần đây, việc nêu câu hỏi mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn được
chú ý hơn PGS - TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn Hệ thống đề mở Ngữ văn 10
(NXB Giáo dục, 2007) đã nhận định: “Điều đáng ghi nhận nhất là việc tăng cường ra các đề theo dạng mở đã kích thích được nhiều sự suy nghĩ độc lập, độc đáo và sáng tạo của học sinh”[32, tr.5] “Trong nhà trường của ta hiện nay, hiện tượng học sinh chép văn mẫu, bài làm văn không có suy nghĩ sáng tạo gì còn rất nhiều Nguyên nhân một phần là do đề văn chưa đổi mới, chưa buộc học sinh phải sáng tạo…Để góp phần khắc phục tình trạng trên, nhằm khuyến khích những suy nghĩ đa dạng, phong phú của nhiều đối tượng học sinh khác nhau, xu hướng ra đề mở ngày càng phổ biến”[32,tr.7]
đến khẳng định: nếu GV biết xây dựng và sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi, nhất là câu hỏi mở trong quá trình dạy học Ngữ văn sẽ mang lại niềm say mê học tập bộ môn cho HS, kích thích được tư duy sáng tạo, bày tỏ ý kiến độc lập ở HS Tuy nhiên,
Trang 12những công trình đi sâu, cụ thể vào vấn đề xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn ở bậc THPT thì chưa nhiều Trên cơ sở học hỏi và tiếp thu thành tựu
của người đi trước, luận văn này đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề “Xây dựng hệ
thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông”
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận về dạy học hiện đại và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong KTĐG HS, đề xuất việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn ở THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những kiến thức chung về xây dựng câu hỏi, ra đề KTĐG kết quả học tập của HS
- Khảo nghiệm việc xây dựng câu hỏi, ra đề kiểm tra theo hướng mở dành cho bậc học THPT
- Đề xuất phương hướng xây dựng hệ thống đề mở, đáp án mở môn Ngữ văn cho bậc THPT
- Thiết kế một số đề bài mở, đáp án mở Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc xây dựng câu hỏi mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn THPT
5.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh, GV dạy Ngữ văn ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội
6 Giả thuyết khoa học
Trong bối cảnh GV Ngữ Văn đang có nhiều lúng túng khi xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học, việc xác định tính khả thi và vận dụng linh hoạt hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn sẽ góp phần đa dạng hóa PPDH Ngữ Văn, giúp
GV khai thác sâu tác phẩm văn chương, tạo hứng thú và tích cực hóa hoạt động của HS; đồng thời hình thành năng lực giải quyết đề mở cho HS
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Lí thuyết xây dựng câu hỏi mở và đề xuất phương hướng xây dựng đề mở, đáp án
mở trong dạy học Ngữ Văn THPT
Trang 138 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận của đề tài
Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn lớp THPT
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những đề xuất về phương hướng xây dựng đề mở, đáp án mở trong dạy học Ngữ văn có thể được áp dụng rộng rãi vào các trường THPT trong cả nước và đáp ứng được yêu cầu đổi mới của việc dạy học Ngữ văn hiện nay
9 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có nội dung liên quan
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích
- Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận, qui trình xây hệ thống câu hỏi, các biện pháp rèn luyện kĩ năng đưa câu hỏi mở đã nêu, tiến hành thực nghiệm câu hỏi mở ở một số bài học và kì thi, kiểm tra
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: Vận dụng kiến thức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào quá trình giải quyết đề tài
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn ở Trung học phổ thông
Chương 2: Đề xuất phương hướng xây dựng đề mở, đáp án mở môn Ngữ văn Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG CÂU HỎI MỞ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn
1.1.1.1 Khái niệm câu hỏi
Trong quá trình dạy học nói chung và trong dạy học Ngữ văn nói riêng, câu hỏi được đặt ra khi người dạy muốn tạo “tình huống có vấn đề” đòi hỏi HS phải suy nghĩ trả lời nhằm thu được kiến thức và kĩ năng nào đó Có thể hiểu câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi, một mệnh lệnh của GV mà người học cần giải quyết Câu hỏi thường có cấu trúc: “cái đã biết” cộng với “cái chưa biết” Mục đích của việc đặt câu hỏi trong dạy học là giúp GV thực hiện việc dạy học nhằm mục đích luyện tập, thực hành, nhằm hướng dẫn tổ chức HS học, nhằm khích
lệ và kích thích suy nghĩ, nhằm đánh giá HS
1.1.1.2 Vai trò của câu hỏi trong quá trình dạy học
Đối với HS, câu hỏi có vai trò như sau:
Câu hỏi giúp HS lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống, tạo không khí học tập sôi nổi và tránh tình trạng ghi nhớ máy móc
Câu hỏi giúp HS hình thành và tự rèn luyện được phương pháp tìm hiểu, khám phá và cảm nhận nội dung bài học; điều này có ý nghĩa lớn đối với môn Ngữ văn, câu hỏi giúp các em rèn luyện tốt phương pháp đọc hiểu, phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học
Đối với GV, theo Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng: “….câu hỏi còn để dạy tiếp nữa Như vậy, đáng xếp phương pháp nêu câu hỏi trong dạy học Ngữ văn vào phương pháp dạy học hiện đại, vì chẳng những nó phát huy tính tích cực chủ động của học sinh mà còn thực hiện phương châm: dạy học để thầy trò cùng học và tiếp tục phát triển.”[17] Câu hỏi có vai trò giúp GV đánh giá được năng lực của HS, giúp người dạy có thông tin phản hồi từ phía người học để có những điều chỉnh phù hợp Việc đặt câu hỏi còn nâng cao tầm hiểu biết của GV bởi vì hỏi cũng là một các bổ ích cho việc người dạy đi sâu vào tìm hiểu bài học Hệ thống câu hỏi còn giúp GV
Trang 15xây dựng cho mình một PPDH tối ưu, thích hợp với hoàn cảnh và đối tượng dạy học Trên thực tế chúng tôi nhận thấy việc đưa ra những câu hỏi trên lớp của thầy và việc chuẩn bị câu hỏi trong giáo án có thể không trùng khít nhau, nhưng chúng đều hướng tới một mục tiêu là giúp HS lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng cần thiết.
1.1.2 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
1.1.2.1 Khái niệm câu hỏi mở
Có thể hiểu câu hỏi mở là loại câu hỏi chỉ nêu ra yêu cầu về nội dung hay đề tài cần bàn bạc, phân tích, không nhất thiết có yêu cầu về thao tác nghị luận hay phương thức biểu đạt cũng như phạm vi tư liệu, đòi hỏi người trả lời phải lựa chọn cách trình bày phù hợp, sáng tạo và có sức thuyết phục cao Theo PGS – TS Đỗ Ngọc Thống nội dung của câu hỏi mở “chỉ nêu ra vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu đề tài để viết văn bản tự sự, miêu tả , không nêu mệnh lệnh cụ thể về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải thích, hãy phân tích hoặc về phương thức biểu đạt như: hãy kể, hãy tả, hãy phát biểu cảm nghĩ, " [32,tr.7] Cũng có dạng câu hỏi mở, đề mở theo hướng nêu ra một gợi dẫn, HS sẽ tiếp tục phát triển theo các mạch cảm nhận và suy nghĩ riêng của mỗi cá nhân Đề mở khác với loại đề theo truyền thống, thường không có đầy đủ các yếu tố như: lời dẫn, yêu cầu về thao tác cụ thể, nguồn tư liệu cần huy động;
đề mở thường chỉ định hướng nội dung của bài viết Đề mở còn có thể được thể hiện ở những câu hỏi mở, những câu hỏi có thể chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lô gích trong quá trình đi đến câu trả lời
1.1.2.2 Vai trò của câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
Câu hỏi mở là loại câu hỏi không có câu trả lời duy nhất nên luôn kích thích được suy nghĩ, mở ra những tranh luận, trao đổi ở HS Việc đặt câu hỏi mở tốt sẽ tạo điều kiện cho người học đưa ra quan điểm khác nhau, làm phong phú nội dung trao đổi và kinh nghiệm của người học
Câu hỏi mở nếu là câu hỏi lớn sẽ mở ra được các nội dung mới hay hình thành được trọng tâm cho giờ học Ví dụ: Khi dạy học bài ”Người lái đò sông Đà”, GV đặt
câu hỏi: Suy nghĩ của anh /chị về sự ổn định và phát triển của phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Tuân từ văn bản ”Chữ người tử tù” (lớp 11) đến ”Người lái đò sông Đà?
Trang 16Còn câu hỏi mở nếu là câu hỏi nhỏ hơn sẽ giúp GV áp dụng ngay lập tức khi giờ học phát sinh tình huống mới; câu hỏi này sẽ khuyến khích HS suy nghĩ kĩ hơn
về một ý kiến hay đào sâu ý tưởng của chính mình Ví dụ: Khi dạy học bài ”Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, HS đang tranh luận sôi nổi về việc người đàn bà hàng chài có nên bỏ người chồng vũ phu không, GV có thể gợi ý, định hướng
cuộc thảo luận bằng câu hỏi: Theo em, người đàn bà này theo lô gíc cuộc sống, sẽ
đứng trên lập trường nào để đưa ra quyết định của mình (theo lí lẽ thông thường hay theo lí lẽ kì diệu của những người trải đời như chị)? Loại câu hỏi mở này nếu GV
càng có tay nghề cao khả năng áp dụng càng lớn, giờ học sẽ hiệu quả hơn Khi HS trả lời được những câu hỏi này thì chủ đề bài học sẽ được phát triển thông qua suy nghĩ và diễn đạt của HS, cùng với sự hướng dẫn của GV
Câu hỏi mở còn trực tiếp khuyến khích được mọi đối tượng HS, nhất là những
HS ít nói, rụt rè, ngại phát biểu ý kiến
Nếu chia câu hỏi mở thành câu hỏi bậc thấp và câu hỏi bậc cao (theo hệ thống
phân loại các mức độ câu hỏi của Bloom), thì câu hỏi mở bậc thấp (câu hỏi biết, câu
hỏi hiểu, câu hỏi áp dụng) có những vai trò sau đối với người học:
+ Giúp HS ôn lại những gì đã biết, đã trải qua để làm cơ sở lĩnh hội, tìm tòi kiến thức, thông tin mới có hệ thống
+ Giúp người học có khả năng nêu ra được những yếu tố cơ bản trong bài học; biết cách so sánh, phân biệt các nội dung khác nhau trong bài học
+ Giúp HS hiểu được nội dung kiến thức, kĩ năng mà bài học trang bị, từ đó biết vận dụng vào thực tế tiếp nhận, đọc hiểu văn bản văn học
+ Đồng thời, HS biết cách lựa chọn nhiều phương pháp để giải quyết bài tập, đề văn và các vấn đề trong cuộc sống liên quan
Còn câu hỏi mở bậc cao (câu hỏi phân tích, câu hỏi tổng hợp, câu hỏi đánh
giá) có thể giúp người học:
+ Tìm ra được các mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự diễn giải hoặc đưa
Trang 17Có thể nói, câu hỏi mở trong dạy học có vai trò rất quan trọng: tạo môi trường giao tiếp; tạo môi trường học tập; là công cụ khai thác kiến thức, phát triển tư duy cho người học; đồng thời câu hỏi mở được sử dụng để KTĐG kết quả của người học, khuyến khích tư duy sáng tạo, suy nghĩ độc lập của HS Mặt khác loại câu hỏi này còn thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH của GV
Câu hỏi mở, đề văn mở bao giờ cũng hay, hấp dẫn, kích thích được hứng thú của HS, nhưng nói như PGS TS Đỗ Ngọc Thống, dù “mới mẻ”, “khác lạ”, “mở” đến đâu vẫn phải đảm bảo “sự chính xác, tính khoa học, tính thẩm mỹ và yêu cầu giáo dục tư tưởng cho thế hệ trẻ”[32,tr.5]
Thật vậy, cách ra đề theo hướng mở yêu cầu người viết cần vận dụng tổng hợp những kiến thức, kĩ năng và sự trải nghiệm của cá nhân để giải quyết tốt nhất vấn đề hay đề tài được nêu ra ở đề bài; tùy vào nội dung vấn đề, đề tài mà người viết sẽ lựa chọn và quyết định các thao tác và phương thức biểu đạt phù hợp Việc ra đề mở do vậy nhằm đánh giá tốt hơn khả năng tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng diễn đạt của người học Các đề văn ra theo hướng mở thường đem đến cho HS một
cơ hội thể hiện trí tưởng tượng, sức sáng tạo, tạo điều kiện để HS thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân trước những gì HS được quan sát, tiếp nhận trong các tác phẩm, được trải nghiệm trong cuộc sống Cách ra đề như vậy sẽ tránh được lối học tủ, học theo văn mẫu đang diễn ra trong môn học này lâu nay Ví dụ các đề
văn như sau: Về một phẩm chất quan trọng của người học trong xã hội hiện nay; Vì
sao nhà trường và xã hội cần chú trọng trang bị kĩ năng sống cho học sinh; Một trải nghiệm để lại bài học cuộc sống cho anh /chị; ., HS có thể huy động những kiến
thức, kĩ năng mà nhà trường và xã hội trang bị cho các em để tự bộc lộ suy nghĩ, quan điểm cá nhân Khi ấy, người học không thể trông chờ vào một loại tài liệu nào
có sẵn Khi tiếp xúc với đề văn mở, HS sẽ rèn luyện được phương pháp học tập, tích lũy tri thức, kĩ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu của đề bài; từ đó, HS có thể trình bày ý kiến, thể hiện khả năng cảm xúc thẩm mĩ nhằm thuyết phục người đọc
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu cho đúng thế nào là ”đề văn mở” Việc lựa chọn nội dung đưa vào đề phải có sự cân nhắc, tránh tình trạng GV không kiểm soát nổi những hướng triển khai đa dạng của HS Bởi cho dù ra đề theo hướng mở thì một
Trang 18đề kiểm tra Ngữ văn trước hết vẫn phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản, đó là tính mô phạm trong cách diễn đạt, trong nội dung đề cập đến, là sự phù hợp với nội dung chương trình và đối tượng người học; là tính thẩm mĩ, hướng thiện của môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Do đó, việc ra đề trước hết cần đáp ứng được mục tiêu đánh giá và các tiêu chí đánh giá đã được xác định Chẳng hạn, với một đề kiểm tra theo hướng kể chuyện sáng tạo (đóng vai nhân vật trong truyện để
kể lại câu chuyện, chọn một cách kết thúc khác cho câu chuyện, ), HS có thể có những sáng tạo trong cách kể, cách kết thúc bất ngờ, thú vị, song vẫn phải đảm bảo đúng đặc trưng thể loại của tác phẩm và cách kể chỉ có thể gọi là sáng tạo khi làm tăng thêm ý nghĩa và giá trị cho tác phẩm, vẻ đẹp của hình tượng nhân vật và cốt truyện Đối với các đề nghị luận xã hội cũng cần nêu ra những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, gần gũi với HS, kích thích những suy nghĩ và cảm nhận sâu sắc của người học từ chính những gì mình đã được trải nghiệm Các đề nghị luận văn học cũng cần nêu ra những vấn đề có ý nghĩa, không bị bó vào những tác phẩm được học trong chương trình hoặc những hướng tiếp nhận đã định sẵn mà cần có cách khơi gợi, nêu vấn đề một cách đa dạng để HS có thể bộc lộ được năng lực cảm thụ thẩm mĩ về tác phẩm văn học Thực tế cho thấy đã có những đề văn và bài văn nêu ra những vấn đề
xa lạ hoặc phi lô gích, thiếu thực tế hoặc quá ”nhạy cảm” (chẳng hạn: Tưởng tượng
cuộc hội ngộ của Tấm và Cám ở thủy cung, Kiều lấy đại gia để cứu cha và em, )
Mặt khác, theo PGS - TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn Hệ thống đề mở Ngữ văn 10,
thì: quan niệm “đề mở” dẫn đến đáp án và hướng dẫn chấm cũng cần mở; tức là, không nên bó chặt người viết vào một số ý nào có sẵn, cho trước, mà cần xem xét định hướng về cách giải quyết, còn nội dung cụ thể thì để cho HS tự xác định, tự bộc lộ và trình bày, GV căn cứ vào nội dung và hình thức trình bày của HS mà đánh giá, cho điểm
Đồng thời, chất lượng của bài viết cũng không thể dựa vào dung lượng mà đánh giá được, vấn đề là HS viết mạch lạc, sáng rõ, trình bày những suy nghĩ hoặc kể lại câu chuyện nào đó một cách trung thực, cảm động Như vậy, tuy là đáp án mở nhưng vẫn cần có những tiêu chí và yêu cầu cơ bản trong việc xây dựng một bài văn phù hợp với đề bài mà HS cần đáp ứng
Có thể nói, câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn là câu hỏi hướng tới sự phát triển khả năng tư duy phê phán và sáng tạo của người học, phù hợp với môi trường
Trang 19dạy học và có sự liên kết với hệ thống câu hỏi trong bài học, được đặt ra theo các bậc nhận thức từ thấp đến cao, nhằm hình thành nên những tri thức, kĩ năng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu mục đích của người học
Nội dung dạy học từng khối lớp của môn Ngữ văn THPT như sau:
Lớp 10:
Phần Tiếng Việt: gồm bốn nội dung sau:
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ (ngôn ngữ dạng nói và dạng viết, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật)
Trang 20- Hoạt động giao tiếp (hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ)
- Một số kiến thức khác (khái quát về lịch sử tiếng Việt, yêu cầu về sử dụng tiếng Việt, một số yếu tố Hán Việt thường dùng để cấu tạo từ)
- Củng cố hoàn thiện một số kiến thức, kĩ năng đã học ở Trung học cơ sở ( từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ)
Phần làm văn: gồm hai nội dung sau:
- Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản (hệ thống hóa kiến thức chung về văn bản đã học ở Trung học cơ sở)
- Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt (Hệ thống hóa các kiếu văn bản đã học
ở THCS: văn bản tự sự, văn bản thuyết minh, văn bản nghị luận; luyện nói, luyện viết đoạn văn, bài văn tự sự, thuyết minh, nghị luận; một số kiểu văn bản khác: kế hoạch cá nhân, quảng cáo)
Phần văn học: gồm ba nội dung sau:
- Văn bản văn học:
+ Văn học dân gian Việt Nam (sử thi: Đam Săn – trích đoạn Chiến thắng Mtao
Mxây; truyền thuyết: An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy; truyện cổ tích: Tấm Cám; truyện cười: Nhưng nó phải băng hai mày, Tam đại con gà; đọc thêm
truyện thơ: Tiễn dặn người yêu – trích đoạn Lời tiễn dặn; ca dao: một số bài ca dao
yêu thương tình nghĩa, ca dao than thân, ca dao châm biếm, hài hước)
+ Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (Thơ: Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão; Bảo kính cảnh giới, số 43 – Nguyễn Trãi; Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm;
Độc “Tiểu Thanh kí” – Nguyễn Du; đọc thêm: Quốc tộ - Đỗ Pháp Thuận; Cáo tật thị
chúng – Mãn Giác thiền sư; Quy hứng – Nguyễn Trung Ngạn Phú: Bạch Đằng
giang phú – Trương Hán Siêu Ngâm khúc: Chinh phụ ngâm khúc – trích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Nghị luận: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi; “Trích diễm thi tập” tự - Hoàng Đức Lương; đọc thêm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
– Thân Nhân Trung Sử kí: Đại Việt sử kí toàn thư – trích đoạn Hưng Đạo Đại
Vương Trần Quốc Tuấn của Ngô Sĩ Liên Truyện: Truyền kì mạn lục – trích Tản viên phán sự lục của Nguyễn Dữ Truyện thơ Nôm: Truyện Kiều – trích đoạn Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng – Nguyễn Du; đọc thêm: Truyện Kiều – trích
đoạn Thề nguyền – Nguyễn Du)
Trang 21+ Văn học nước ngoài (Sử thi: sử thi Ô-đi- xê – trích đoạn Uy–lít–xơ trở về của Hô–me–rơ; Ra–ma–ya–na – trích đoạn Ra–ma buộc tội của Van–mi–ki Tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc: Tam quốc diễn nghĩa – trích đoạn Hồi trống Cổ Thành của
La Quán Trung; đọc thêm: Tam quốc diễn nghĩa – trích đoạn Tào Tháo uống rượu
luận anh hùng của La Quán Trung Thơ Đường và thơ hai–cư: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lí Bạch; Thu hứng – Đỗ Phủ; đọc thêm : thơ
Đường có: Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu; Khuê oán – Vương Xương Linh; Điểu minh
giản – Vương Duy; thơ hai – cư có: trích thơ M.Ba–sô, Y.Bu–son của Nhật Bản)
+ Văn bản văn học (văn bản văn học, ngôn từ, hình tượng, ý nghĩa)
+ Thể loại (sơ lược về một số thể loại văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam và nước ngoài được học trong chương trình)
+ Một số khái niệm lí luận văn học khác (nhân vật trữ tình, cốt truyện, kết cấu) Lớp 11
Phần Tiếng Việt: gồm bốn nội dung sau:
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ (phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ báo chí)
- Hoạt động giao tiếp (ngữ cảnh)
- Một số kiến thức khác (nghĩa của câu; từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, đặc điểm loại hình tiếng Việt; một số yếu tố Hán việt thường dùng để cấu tạo từ)
- Củng cố, hoàn thiện một số kiến thức, kĩ năng đã học ở THCS (từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ)
Phần làm văn: gồm hai nội dung sau:
- Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản (hệ thống hóa kiến thức về liên kết trong văn bản, đoạn văn đã học ở Trung học cơ sở)
Trang 22-Các kiếu văn bản và phương thức biếu đạt (Văn nghị luận: tóm tắt văn bản nghị luận; các thao tác lập luận: so sánh, phân tích, bác bỏ, bình luận; kết hợp các thao tác lập luận trong văn nghị luận; viết đoạn văn, bài văn nghị luận kết hợp các thao tác Một số kiểu văn bản khác: phỏng vấn, bản tin, bản tóm tắt tiểu sử)
Phần văn học: gồm ba nội dung sau:
- Văn bản văn học
+ Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (tiếp theo) gồm có: Kí
(Thượng kinh kí sự - trích đoạn Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác) Truyện thơ Nôm (Truyện Lục Vân Tiên – trích đoạn Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu) Thơ (Tự tình – Hồ Xuân Hương; Sa hành đoản ca – Cao Bá Quát; Thu điếu – Nguyễn Khuyến; Thương vợ - Trần Tế Xương Đọc thêm: Chạy Tây – Nguyễn Đình Chiểu; Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến; Vịnh khoa thi Hương – Trần Tế Xương) Văn tế (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu) Hát nói (Bài ca
ngất ngưởng- Nguyễn Công Trứ Đọc thêm: Hương Sơn phong cảnh ca – Chu Mạnh
Trinh Nghị luận (Cầu hiền chiếu – Ngô Thì Nhậm Đọc thêm: Tế cấp bát điều – trích đoạn Xin lập khoa luật – Nguyễn Trường Tộ)
+ Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 bao gồm:
Truyện: Hai đứa trẻ - Thạnh Lam; Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân; Chí Phèo – Nam Cao; Số đỏ - trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trong Phụng; đọc thêm:
Cha con nghĩa nặng – Hồ Biểu Chánh; Vi hành – Nguyễn Ái Quốc; Tinh thần thể dục –
Nguyễn Công Hoan Thơ: Xuất dương lưu biệt – Phan Bội Châu; Hầu Trời – Tản Đà;
Mộ - Hồ Chí Minh; Từ ấy – Tố Hữu; Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử; Vội vàng – Xuân
Diệu; Tràng giang – Huy Cận; đọc thêm: Lai Tân – Hồ Chí Minh; Nhớ đồng – Tố Hữu;
Tương tư – Nguyễn Bính; Chiều xuân – Anh Thơ Kịch: Vũ Như Tô – trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng Nghị luận: Bàn về đạo đức Đông Tây –
Phan Châu Trinh; Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh và Hoài Chân; đọc thêm:
Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh
+ Văn học nước ngoài gồm có: Truyện: Những người khốn khổ - V Huy-gô;
Người trong bao – A sê-khốp Thơ: Tôi yêu em – A Pu-skin; đọc thêm: Bài thơ số
28 – R Ta-go Kịch: Rô-mê-ô và Giu-li-ét – trích đoạn Tình yêu và thù hận của U
Sếch-xpia Nghị luận: Bài phát biểu đọc trước mộ Các Mác – Ph Ăng-ghen
Trang 23Lớp 12
Phần Tiếng Việt: gồm bốn nội dung sau:
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ (phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ khoa học)
- Hoạt động giao tiếp (nhân vật giao tiếp)
- Một số kiến thức khác (thi luật, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)
- Củng cố, hoàn thiện một số kiến thức, kĩ năng đã học ở THCS (từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ)
Phần làm văn: gồm có nội dung sau:
Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt (Văn nghị luận: vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận, nghị luận xã hội, nghị luận văn học Một số kiểu văn bản
khác: phát biểu theo chủ đề, phát biểu tự do, đề cương diễn thuyết, văn bản tổng kết)
Phần văn học: gồm ba nội dung sau:
- Văn bản văn học
+ Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX gồm
có: Truyện: Vợ nhặt – Kim Lân; Vợ chồng A phủ - Tô Hoài; Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành; Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi; Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu; đọc thêm: Một người Hà Nội - Nguyễn Khải; Mùa lá rụng
trong vườn - trích đoạn Tết sum họp của Ma Văn Kháng; Hương rừng Cà Mau –
trích đoạn Bắt sấu rừng U Minh Hạ của Sơn Nam Kí: Người lái đò sông Đà –
Trang 24Nguyễn Tuân; Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường; đọc thêm:
Những năm tháng không thể nào quên – Võ Nguyên Giáp Thơ: Tây Tiến – Quang
Dũng; Việt Bắc – Tố Hữu; Mặt đường khát vọng – trích đoạn Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm; Sóng – Xuân Quỳnh; Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo; đọc thêm:
Đất nước – Nguyễn Đình Thi; Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên; Bác ơi! – Tố Hữu; Dọn về làng – Nông Quốc Chấn; Đò Lèn – Nguyễn Duy Kịch: Hồn Trương Ba, da hàng thịt - trích đoạn Cuộc đối thoại giữa hồn và xác của Lưu Quang Vũ Nghị luận: Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc – Phạm Văn Đồng; đọc thêm: Bàn về thơ – Nguyễn Đình Thi
+ Văn học nước ngoài (Truyện: Số phận con người – M Sô – lô - khốp; Thuốc –
Lỗ Tấn; Ông già và biển cả - trích đoạn Đương đầu với đàn cá dữ của E uê; đọc thêm: Tự do – P Ê – luy - a Đọc thêm nghị luận: Đốt – xtôi – ép - ki – Tiếng
Hê-ming-sấm của sự nổi dậy rền vang – S Vai - gơ)
+ Văn bản nhật dụng (Một số văn bản nhật dụng về những vấn đề cấp thiết đang đặt ra trong cuộc sống hiện tại: đổi mới tư duy, công nghệ thông tin,….)
+ Một số khái niệm văn học khác (Quá trình văn học, phong cách văn học, tiếp nhận văn học)
Ôn tập cuối cấp
- Kiến thức
Trang 25+ Tiếng Việt và Làm văn (Hệ thống hóa kiến thức về phong cách chức năng ngôn ngữ và giao tiếp Hệ thống hóa kiến thức về các kiểu văn bản và sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản, các bước hoàn thiện văn bản nghị luận)
+ Văn học (Hệ thống hóa kiến thức về nội dung và nghệ thuật biểu đạt của các văn bản đã học chủ yếu ở lớp 12 Hệ thống hóa các vấn đề lịch sử văn học: các giai đoạn, các tác giả tiêu biểu; các vấn đề lí luận văn học)
- Kĩ năng
+ Củng cố kĩ năng viết đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội và văn học có sự vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận
+ Củng cố kĩ năng phát biểu, thuyết trình một vấn đề trước tập thể
Như vậy, nội dung dạy học môn Ngữ văn từ lớp 10 lên lớp 12 có sự nối tiếp, nâng cao dần các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng ở cả ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn; từ đó, HS được trang bị những năng lực Ngữ văn ngày một hoàn thiện hơn, có kế thừa những gì đã được trang bị từ bậc THCS Theo đó, các em có khả năng giải quyết được các yêu cầu của đề văn ra theo hướng mở trong các bài kiểm tra thường xuyên, định kì và các kì thi lớn
1.2.1.3 Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của các dạng bài kiểm tra, đánh giá
Ở nhà trường phổ thông, mục tiêu cơ bản của môn Ngữ văn là trang bị kiến thức tiếng Việt cùng với bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống (từ đó hình thành và phát triển ở HS năng lực chung – năng lực giao tiếp) Đồng thời, môn học cũng hướng tới trang bị kĩ năng tiếp nhận, cảm thụ văn học, sáng tác văn học (từ đó hình thành năng lực chuyên biệt – năng lực văn học); tuy nhiên nhà trường phổ thông không đặt mục tiêu hình thành năng lực sáng tác văn học cho HS
Cụ thể hơn, môn Ngữ văn hình thành, bồi dưỡng cho HS kĩ năng nghe và đọc (năng lực tiếp nhận văn bản) Khái niệm “văn bản” được mở rộng, bao gồm cả văn học và văn bản thông tin
Việc KTĐG trong dạy học Ngữ văn đang trong quá trình kiếm tìm những
bộ công cụ phù hợp với mục đích của từng bài kiểm tra, kì thi Việc KTĐG thường xuyên và định kì mang tính chất rèn luyện, thực hành để chuẩn bị cho các
kì thi quốc gia
Trang 26Hiện nay, việc KTĐG kĩ năng nghe và nói của HS cấp THPT chưa được coi trọng đúng mức Trên thực tế, nghe và nói là những kĩ năng mà HS phải sử dụng nhiều, nếu không được rèn luyện, năng lực giao tiếp của HS sẽ bị hạn chế
Tuy nhiên, việc KTĐG kĩ năng nghe và nói của HS đang từng bước được tiến hành thường xuyên trên lớp, qua những hình thức như kiểm tra miệng, phát vấn, trao đổi thảo luận nhóm,…để giúp người học tự tin hơn trong giao tiếp và đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp trực tiếp
Trong nhà trường phổ thông, kĩ năng “đọc” (chủ yếu là “đọc hiểu”) và năng lực cảm thụ văn học rất được coi trọng Phần lớn bài học trong chương trình và SGK là bài học về văn bản văn học Tuy nhiên, càng lên lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc đọc hiểu và cảm thụ có những bất cập, do nhiều HS học lệch, chỉ chú
ý các môn thi Đại học Do áp lực thi cử, hiện nay còn tình trạng GV “đọc hiểu hộ” HS Trong các giờ dạy học văn, có một bộ phận HS chỉ nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản
Hơn nữa, văn bản được đọc hiểu chủ yếu là văn bản văn học, có ít văn bản thông tin được đưa vào chương trình, SGK Việc KTĐG năng lực của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của văn bản đã học) Hình thức này chưa đánh giá được năng lực đọc hiểu của người học Vì vậy, cần đổi mới KTĐG kĩ năng đọc hiểu của HS bằng việc đưa ra những văn bản mới (bao gồm cả văn bản văn học và văn bản thông tin, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với việc đọc hiểu và cảm thụ văn bản mới này
Các câu hỏi KTĐG kĩ năng đọc hiểu và cảm thụ đã được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những câu trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng – sai phức hợp
Trong một vài năm gần đây, việc KTĐG kĩ năng đọc của HS đã được tiến hành thường xuyên hơn trong các bài kiểm tra từ 1 - 2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm và kì thi chung quốc gia
Trang 27Ở cấp THPT, kĩ năng viết của HS đã phát triển ở mức độ cao hơn Về mặt lí thuyết, HS ở cấp học này có thể tạo lập được văn bản theo những phương thức khác nhau, đặc biệt là có thể viết được bài văn nghị luận nêu được quan điểm, tư tưởng riêng của mình về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức thuyết phục Song, nếu GV vẫn tiếp tục ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng kiến thức văn học, thì các đề kiểm tra viết hiện có sẽ không tạo điều kiện cho
HS phát biểu những suy nghĩ riêng, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình Vì thế, chúng ta cần đổi mới cách thức KTĐG kĩ năng viết của HS bằng cách ra đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên môn) Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời đối ngược nhau, miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lôgic trong quá trình đi đến câu trả lời
Đáp án không áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án mà HS
có thể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng thời nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến khích họ sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau sao cho tư tưởng của người viết không đi ngược lại với những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã qui định; khuyến khích HS vận dụng được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách có sức thuyết phục, hợp lí,
tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em
1.2.2 Khảo sát các ý kiến bàn bạc về đổi mới đánh giá đối với môn Ngữ văn
Trước thực trạng dạy học và thi cử môn Ngữ văn còn không ít bất cập trong một thời gian dài, các cơ quan có thẩm quyền, các nhà giáo tên tuổi, tâm huyết đã đề xuất nhiều ý kiến nhằm tìm ra, thống nhất về việc đổi mới KTĐG với môn Ngữ văn Theo tinh thần Nghị quyết số 29 - NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, việc KTĐG môn Ngữ văn đang có những chuyển biến tích cực, góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Trong xu hướng chung đổi mới từ đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực; đánh giá để xếp loại sang đánh giá để phát triển học tập; từ đánh giá một chiều sang đánh giá đa chiều; đổi mới cách ra đề, đề mở được xem là điều kiện đủ nhằm giúp quá trình dạy học đạt kết quả mong muốn
Trang 28Như vậy, chúng ta được quyền kì vọng môn Ngữ văn sẽ giữ được vị thế cần phải
có trong trường phổ thông, sẽ có thêm nhiều HS yêu thích và học tốt môn học này Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI cũng xác định cần phải đào tạo, đánh giá toàn diện; chú trọng năng lực, kĩ năng thực hành, người học phải biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.”
Trong bài “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát
triển năng lực”, thầy Đỗ Ngọc Thống đã xác định: “Mục tiêu của đánh giá theo yêu
cầu phát triển năng lực cần xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh vào việc giải quyết một bài toán mới, đáp ứng các yêu cầu mới trong một tình huống tương tự Nội dung đánh giá không phải chỉ là những gì đã học
mà còn là yêu cầu tổng hợp, liên hệ nhiều nội dung đã học; không chỉ giữa các phân môn trong môn học mà còn cả những hiểu biết từ các môn học khác”
Theo báo giaoducthoidai.vn, môn Ngữ văn cần chú trọng hình thành năng lực
tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản; việc kiểm tra thường xuyên, định kì nhằm chuẩn bị kĩ năng thực hành ở các kì thi quốc gia cho học sinh: “… môn Ngữ văn hình thành, bồi dưỡng cho HS năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết) Khái niệm “văn bản” được
mở rộng, bao gồm cả văn bản văn học và văn bản thông tin
Để đánh giá được các năng lực Ngữ văn của HS, cần có những bộ công cụ phù hợp với mục đích của từng bài kiểm tra, kì thi Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì phải mang tính chất rèn luyện, thực hành để chuẩn bị cho các kì thi quốc gia.”
Đề dẫn của Vụ Giáo dục phổ thông tại Hội thảo về đổi mới kiểm tra đánh
giá thúc đẩy đổi mới phương pháp do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Cần Thơ,
tháng 4/2009) chỉ đạo về sự thống nhất biện chứng giữa kiểm tra và đánh giá Kiểm tra đi trước, đánh giá theo sau và sẽ giúp việc kiểm tra đạt mục tiêu ban đầu đặt ra:
Trang 29“Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học; đánh giá là xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu dạy học; đánh giá đúng hay chưa đúng tùy thuộc ở mức độ khách quan, chính xác của kiểm tra
Kiểm tra, đánh giá phải căn cứ mục tiêu dạy học, mục tiêu giáo dục, cụ thể là căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ của HS đã được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông; kiểm tra và đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định kết quả thực hiện mục tiêu dạy học, trong đó kiểm tra là khâu đi trước (không kiểm tra thì không có căn cứ đánh giá), chỉ kiểm tra không đánh
giá thì không thực hiện được mục tiêu của hoạt động kiểm tra, đánh giá” (Về chỉ đạo
thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học)
Còn theo báo giaoducthoidai.vn, việc dạy học Ngữ văn cần coi trọng mối quan
hệ biện chứng giữa phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; việc ra đề văn theo hướng mở sẽ giúp hình thành năng lực, phẩm chất cho người học: “Định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của người học đối với chương trình giáo dục kéo theo yêu cầu tất yếu phải đổi mới về phương pháp dạy học Tuy nhiên, khắc phục những hạn chế, yếu kém trì trệ về phương pháp dạy học Ngữ văn không phải là điều dễ dàng Nhất là khi mà việc thi và kiểm tra vẫn lạc hậu, lối mòn Đổi mới cách thức ra
đề thi, trong đó có đề thi theo hướng mở sẽ là một giải pháp quan trọng Vậy nó có vai trò gì trong việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học?
Đề thi, kiểm tra môn Ngữ văn theo hướng mở có vai trò gián tiếp thúc đẩy hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của người học Điều này có thể thấy rõ qua việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá”
Trong cuốn Hệ thống đề mở Ngữ văn 10 (Nxb Giáo dục, 2007), PGS-TS Đỗ
Ngọc Thống cũng bàn đến điều kiện cần và đủ để một đề kiểm tra được coi là đổi mới, cần tập trung thay đổi cách ra đề tự luận:
“Đổi mới ra đề văn, nhiều người chỉ nghĩ đến việc có thêm nghị luận xã hội và kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan Đương nhiên điều đó là cần nhưng chưa đủ… đề tự luận đối với môn Ngữ văn vẫn chiếm một vị trí hết sức quan trọng và vì
thế cần tập trung suy nghĩ để đổi mới cách ra đề tự luận Để đổi mới, một trong
Trang 30những điểm cần chú ý là cần thay đổi cách hỏi, cách nêu vấn đề Cùng một tác phẩm, cho dù là tác phẩm đã học, nhưng có nhiều cách hỏi, cách khai thác, tiếp cận nhiều góc độ và yêu cầu khác nhau khiến cho vấn đề nêu lên mới mẻ, buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo” Tác giả cũng lưu ý việc đổi mới cần kế thừa thành tựu của quá khứ và cũng cần cân nhắc kĩ lưỡng thế nào là đổi mới đích thực: “Đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ là một yêu cầu hết sức cần thiết Nhưng đổi mới không có nghĩa là phá bỏ tất cả, dỡ ra làm lại từ đầu Cần suy nghĩ tìm hiểu kĩ càng
để lựa chọn, kế thừa những gì đúng và hay từ trong truyền thống Quá yêu mến quá khứ, một mực khư khư ôm lấy các quan niệm và nếp nghĩ cũ hẳn là một thái độ cực đoan, cản trở đổi mới Nhưng quá nôn nóng, thiếu một sự bình tĩnh để suy xét, lựa chọn, hăng hái đi tìm những gì thật lạ, thật khác mới coi là đổi mới cũng lại là một ngộ nhận, cực đoan không kém Điều này về lí thuyết không có gì mới, nhưng khi vận dụng trong thực tế sẽ nảy sinh rất nhiều khó khăn, phức tạp”
Như vậy qua một số ý kiến, nội dung chỉ đạo trên, ta nhận thấy vấn đề đổi mới KTĐG đã được chú trọng đặc biệt trong những năm gần đây Việc đổi mới này không chỉ tác động cơ bản đến chất lượng, “đầu ra” của người học mà còn giúp người dạy cải tiến, thay đổi PPDH của mình Từ đó, chất lượng giáo dục đào tạo chắc chắn được nâng lên từng bước trong thời gian tới
1.2.3 Việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn và trong đánh giá thi cử
1.2.3.1 Trong giờ dạy học Ngữ văn
Trong luận án Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học, Tiến sĩ Nguyễn
Quang Cương đã nhận xét: “nhiều câu hỏi chỉ dừng lại ở dạng tái hiện, số lượng câu hỏi sáng tạo chưa nhiều…, học sinh ở nhà do chưa có nhiều thời gian suy nghĩ, hơn nữa lại có thể tham khảo nhiều tài liệu hướng dẫn ngoài, vì thế rất cần quan tâm đến loại câu hỏi sáng tạo, buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi trước khi đến lớp, tránh tình trạng các em chỉ cần xem sách giáo khoa và trả lời một cách quá dễ dàng”[4] Qua tìm hiểu thực tế dạy học Ngữ văn ở một số trường THPT, tôi thấy rằng cách đặt câu hỏi trong giờ dạy học tác phẩm văn chương vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, cả ưu
và nhược điểm Có khi GV quá ham kiến thức nên không còn thời gian đặt câu hỏi, hoặc nếu có thì lượng câu hỏi đưa ra ít ỏi không tương ứng với phần thuyết trình
Trang 31Ngược lại, có trường hợp GV nêu câu hỏi nhiều nhưng chưa tập trung hoặc chưa có
hệ thống, câu hỏi còn thiếu sự phát huy sáng tạo của HS Bên cạnh đó, nhiều thầy cô
đã chú ý việc lựa chọn hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tư duy, sáng tạo của HS Ví như việc sử dụng câu hỏi phải gợi mở để tìm tòi vấn đề, kích thích sự cảm thụ của
HS với tác phẩm, gây được những phản ứng bên trong của HS, GV không đưa những
dạng câu hỏi chỉ yêu cầu HS trả lời có hoặc không Ví dụ: Khi dạy học tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao, người dạy đã tránh đặt những câu hỏi như: Đọc xong tác phẩm,
em thấy Chí Phèo có phải là một tên lưu manh không? Mà các thầy cô đặt những câu hỏi giúp HS tìm những chi tiết cho thấy quá trình lưu manh hoá của Chí như thế nào?
Vì sao Chí biến mình thành một kẻ lưu manh như vậy?…
Câu hỏi tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là tác động đến trực giác của HS, đã được chú ý Ở dạng câu hỏi này GV phải biết chọn lựa những
chi tiết nghệ thuật đặc sắc, có tác dụng thẩm mỹ cao Ví dụ: Cách sử dụng các từ láy
ở hai câu thơ: “Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu - Lả lả cành hoang nắng trở chiều” trong bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu gợi tả được điều gì? Ở câu hỏi này
GV giúp HS phân tích để thấy được cái vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên có đường nét dịu dàng, uyển chuyển Các từ láy trong hai câu thơ làm nổi bật cảnh vật như lảo đảo, buổi chiều đang ở trong ánh nắng thay màu, mùa thu rung động nhẹ nhàng trong nắng, trong gió Để có được bức tranh thiên nhiên như vậy nhà thơ của chúng ta cũng phải đắm say trong vẻ đẹp của chiều thu…
Câu hỏi kích thích các thao tác tư duy (như phân tích, tổng hợp, khái quát) cũng được GV tìm tòi sử dụng; đồng thời, khi cần thầy cô cũng đặt những câu hỏi nhỏ gợi ý, tạo điều kiện để HS nhận ra yêu cầu và trả lời được VD: Khi dạy bài
“Giải đi sớm” của Hồ Chí Minh - bài I, GV có thể đặt câu hỏi: Hành trình chuyển
lao của Bác được phản ánh như thế nào qua bài thơ? Để hiểu rõ được câu hỏi này
GV phải gợi mở cho HS tìm hiểu về: thời gian, không gian chuyển lao; người bị giải lao đi trong tâm thế như thế nào…từ đó đi đến kết luận tuy hành trình gặp muôn vàn gian khó nhưng người bị giải lao không còn là hình ảnh của một tù nhân trong một cuộc chuyển lao mà là hình ảnh của một chiến sĩ kiên cường lên đường vì nghĩa lớn Giờ dạy thường có câu hỏi then chốt, trọng tâm với mục đích yêu cầu của bài giảng, thầy cô đã giảm tối đa việc đưa ra những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt Hệ
Trang 32thống câu hỏi được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với đối tượng và phân loại đối tượng Yêu cầu của câu hỏi trong giờ dạy học Ngữ văn vừa tạo ra sự kích thích, vừa tác động đến nhận thức, tư duy của HS Việc đưa ra câu hỏi đã căn cứ vào nội dung bài học, vào đối tượng HS, vào điều kiện khách quan…
Dựa theo kinh nghiệm bản thân và tham khảo ý kiến các đồng nghiệp, người viết thu được các dạng câu hỏi thường sử dụng trong giờ dạy học Ngữ văn như sau:
Thứ nhất là câu hỏi tái hiện:
GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Loại câu hỏi này giúp HS tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm như: các hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật, nhân vật, bức tranh đời sống qua sự phản ánh…Các câu hỏi này có khả năng khơi dậy sự liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình tiếp nhận ở HS Đó là một biện pháp được sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học, hoặc củng
cố kiến thức vừa mới học Ví dụ: Dạy học bài “Vợ nhặt” của Kim Lân (Ngữ văn 12
tập 1), GV có thể hỏi: Bức tranh nạn đói năm Ất Dậu 1945 được nhà văn miêu tả
qua các chi tiết đặc sắc nào trong tác phẩm? Hãy tái hiện lại bức tranh đó và cho biết cảm nghĩ của bản thân? Sau khi HS điểm qua một vài chi tiết như: Cả xóm ngụ
cư tối sầm vì đói rét, bóng người xanh xám, người chết như ngả rạ, thây nằm còng queo…GV hướng dẫn HS phân tích cái hay của các chi tiết trên và cho các em liên
hệ một số tác phẩm khác để tái hiện lại nạn đói năm 1945; từ đó các em nêu cảm nghĩ của riêng mình về hiện thực trên
Thứ hai là câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ:
Loại câu hỏi này nhằm mục đích làm sáng tỏ một khái niệm, vấn đề nào đó
GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp HS dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi GV sử dụng phương tiện trực quan (băng ghi hình, phim đèn chiếu, phim điện ảnh) Ví dụ: Khi giảng bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu (sách Ngữ văn 11 tập
1), GV cho HS giải thích tựa đề của bài thơ ( người và cảnh giao hoà với nhau một
cách tự nhiên và thật đẹp - thơ để làm duyên, để bắc cầu đến tình yêu) Khi dạy bài
“Chí Phèo” của Nam Cao, ở phần quá trình thức tỉnh lương tâm của Chí có đoạn đề cập đến nhân vật Thị Nở, GV có thể đặt câu hỏi cho HS tìm hiểu về nhân vật này
Trang 33thông qua bức tranh tư liệu lấy từ bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy như sau: Em có
nhận xét gì về ngoại hình của nhân vật này?
Thứ ba là câu hỏi tìm tòi (vấn đáp, phát hiện):
Đây là loại câu hỏi trọng tâm nhất trong một giờ dạy học văn Sự cảm thụ tác phẩm của HS phải qua con đường của nhận thức Để HS nắm bắt chính xác tác phẩm, chúng ta phải đặt những câu hỏi khơi dậy tư duy ở các em GV tổ chức việc trao đổi ý kiến, tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, thông qua đó
HS nắm được tri thức mới Hệ thống câu hỏi được sắp đặt hợp lý nhằm phát hiện, đặt
ra và giải quyết một vấn đề xác định, buộc HS phải liên tục cố gắng, tìm tòi lời giải đáp Trong vấn đáp tìm tòi, hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò chỉ đạo, quyết định chất lượng lĩnh hội của lớp học Trật tự lôgic của các câu hỏi hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn hiểu biết Ở đây GV là người tổ chức sự tìm tòi còn HS là người tự lực phát hiện kiến thức mới, vì vậy kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui của sự khám phá, vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức đi tới kiến thức đó, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy Cuối đoạn đàm thoại, GV vận dụng các ý kiến của HS để kết luận vấn đề đặt ra, dĩ nhiên là có bổ sung, chỉnh lí khi cần thiết Làm được như vậy, HS càng hứng thú, tự tin vì thấy trong kết luận của thầy có phần đóng góp ý kiến của mình Để HS tìm tòi được kiến
thức, GV có thể đưa ra nhiều dạng câu hỏi phát hiện khác nhau:
* Câu hỏi nêu vấn đề:
Câu hỏi nêu vấn đề có liên quan chặt chẽ đến vấn đề trọng tâm và tình huống có vấn đề Loại câu hỏi này phải làm rõ được vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho học sinh và phải động viên, khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi (tuỳ thuộc vấn đề đơn giản hay phức tạp) mà GV tạo được tình huống có vấn đề, tức
là xác định được cái chưa biết, cuốn hút sự quan tâm của HS và tiên lượng trước khả năng giải quyết vấn đề của các em Ở loại câu hỏi này có thể có nhiều tình huống khác nhau:
- Đối với tình huống lựa chọn: Là tình huống xuất hiện khi có nhiều ý kiến khác nhau về một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất, tối ưu nhất Ví
Trang 34dụ: Khi dạy học bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (Ngữ văn 11 tập 1), GV có
thể hỏi: Có người cho rằng đây là bài thơ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên thôn Vĩ? Có
người cho rằng bài thơ là tình yêu thầm kín giữa Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc? Có người lại cho rằng thôn Vĩ là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình? Em tán thành ý kiến nào? Vì sao? Câu hỏi này đặt ra khi đọc hiểu khổ thơ cuối của bài thơ
Để giúp HS giải quyết được câu hỏi trên, GV có thể gợi mở giúp cho HS thấy được tín hiệu quan trọng nhất của bài thơ nằm ở hai chữ “ở đây” trong câu thơ “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” Từ tín hiệu đó, tìm ra hệ mối quan hệ giữa “trong này” với “ngoài kia” Hàn Mặc Tử đã đứng ở thế giới bị cách ly, ở “lãnh cung” mờ mờ nhân ảnh để nhìn ra thế giới bên ngoài và khát khao trở lại trong niềm vui tuyệt vọng Thi sĩ tìm đến vườn đẹp, trăng đẹp, người đẹp Không tìm được vẻ đẹp này thì lại gắng gượng tìm vẻ đẹp khác, cứ thế thành một hành trình tâm trạng: kiếm tìm, thất vọng, rồi lại tìm kiếm…
- Đối với tình huống mâu thuẫn: Là tình huống không phù hợp giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung này và nội dung khác hoặc giữa hình thức với hình thức trong một chỉnh thể tác phẩm văn học Rộng hơn có thể có cả mâu thuẫn trong cách đánh giá và tiếp nhận tác phẩm văn học đó Ví dụ: Khi giảng bài “Thương vợ” của
Tú Xương GV có thể đặt tình huống mâu thuẫn như sau: Ấn tượng về hai câu kết của
bài thơ là một tiếng chửi, theo mạch văn thì đó là tiếng chửi của ai? Trên thực tế thì
có đúng không? Ý nghĩa của tiếng chửi này là gì? Như chúng ta biết, theo mạch văn
thì đây là lời bà Tú Bà Tú chửi, cũng là trách “thói đời”, con người bạc bẽo, lừa lọc, ông chồng “hờ hững” vô tình Có thể đấy là chút tâm sự riêng thầm kín của người phụ
nữ trải qua nhiều gian truân, vất vả lúc bực bội trách cứ người này, người khác Song
ta biết bà vốn là người đoan trang, khiêm nhường, nên tiếng chửi kia không phải là lời trực tiếp của bà mà chính là một cách Tú Xương bông đùa, trào lộng để tự phê phán mình, tự trách mình từng làm khổ vợ, “hờ hững”, vô tình, vô tâm với vợ Thấu hiểu được nỗi lòng của vợ như vậy mới thấy được ông thương vợ biết nhường nào
- Đối với tình huống bất ngờ: Là tình huống được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ hoặc bất bình thường Bản thân tình huống này đã chứa đựng yếu tố lý thú và gây hưng phấn cho HS Ví dụ: Khi hướng dẫn đọc thêm bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu, đọc hiểu câu thơ “Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”, GV có thể đặt tình
Trang 35huống như sau: Tại sao tác giả không dùng từ “át” hay “lấn” thay cho “rũa” để dễ
hiểu với người Việt chúng ta, giúp dễ hình dung bức tranh cảnh vật? Từ đó, GV
hướng dẫn HS phân tích để thấy được đây là cách diễn đạt rất Tây của Xuân Diệu do ảnh hưởng từ trường phái tượng trưng của thơ Pháp; nhà thơ diễn tả được sự chuyển động kì diệu thay màu đổi sắc của đất trời cảnh vật khi mùa thu tới
- Đối với tình huống phản bác: Tình huống này nảy sinh khi phải tranh luận, bác
bỏ với những đánh giá, những nhận định hoặc quan điểm sai lệch Ví dụ: Khi dạy bài
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, GV có thể nêu câu hỏi: Lí giải về
nguyên nhân đưa đến lời khuyên người đàn bà hàng chài bỏ chồng của chánh án Đẩu, có ý kiến cho là do vị quan tòa này không chấp nhận được hành động vũ phu của người chồng, nhưng có ý kiến khác lại nói đơn giản chánh án dựa vào sự chỉ dẫn của pháp luật Ý kiến của em như thế nào? Từ đó, GV cho HS thảo luận và hướng
HS đi đến kết luận hai nhận xét như đều phiến diện Ở chánh án Đẩu, căn nguyên của lời khuyên là do cả hai lí do trên, do vị bao công này chỉ khuôn mình với những tri thức sách vở mà bỏ quên triết lí đời thường, ở anh ta có sự thiếu hụt lớn những lí lẽ
cơ bản của cuộc đời
- Đối với tình huống giả định: Ví dụ: Khi dạy bài “Thương vợ” của Tú Xương,
GV có thể đặt tình huống giả định như sau: Em thử dùng các từ gần nghĩa với từ
“mom sông” để thay thế từ này trong câu thơ “Quanh năm buôn bán ở mom sông”
và so sánh tác dụng của nó với khi dùng từ “mom sông” trong câu thơ trên? (chẳng hạn một trong các từ: ven sông, bờ sông, bên sông)
* Câu hỏi cần được phân tích, nhận xét, đánh giá:
Sau khi nêu ra các câu hỏi tái hiện, chúng ta phải đặt những câu hỏi để tìm ra những lý do: Tại sao tác giả lại xây dựng, sử dụng những hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật đó? Ý nghĩa của vấn đề? Loại câu hỏi này giúp HS biết phân tích, đánh giá và khái quát những vấn đề quy tụ vào những đặc trưng về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác phẩm Ví dụ: Khi dạy học bài “Chí Phèo” của
Nam Cao (Ngữ văn 11 tập 1), GV có thể hỏi: Tại sao Nam Cao đã không mở đầu tác
phẩm của mình bằng sự kiện Chí ra đời ở cái lò gạch cũ mà mở đầu bằng hình ảnh của sự tha hoá - Chí uống rượu say vừa đi vừa chửi? Hãy phân tích tiếng chửi đó
Đối với loại câu hỏi này, GV hướng dẫn HS tìm hiểu đối tượng của tiếng chửi Đối
Trang 36tượng của tiếng chửi được thu hẹp dần: từ chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ Đại và cuối cùng là chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn Phân tích dấu hiệu văn bản, ta nhận thấy sau mỗi câu diễn tả tiếng chửi hướng tới một đối tượng Nam Cao đều viết những lời bình phẩm Những lời bình phẩm đó thể hiện ý thức, thái độ của dân làng
Vũ Đại và của cả Chí Phèo Dù viết dưới hình thức nào thì tất cả các câu đều có ngữ điệu khẳng định một sự thật không hề bàn cãi Nhưng duy nhất sau lần miêu tả Chí Phèo chửi “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn” thì Nam Cao dùng câu văn nghi vấn
“Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này?”,
“Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo?” Cả hai câu trên đều thể hiện ý thức, sự băn khoăn pha lẫn tức giận của dân làng Vũ Đại cũng như của Chí về vấn đề: đứa chết mẹ nào đẻ ra Chí Khi hắn còn là đứa trẻ tím ngắt trong cái váy đụp thì người ta chỉ hỏi “ai là người đẻ ra đứa trẻ ấy?” Còn khi hắn uống rượu, vừa đi vừa chửi thì câu hỏi của dân làng Vũ Đại sẽ là “đứa chết mẹ nào đẻ ra thằng quỹ dữ, thằng khốn nạn đó…?” Lúc này, vấn đề đặt ra không chỉ là “ai đã sinh thành” mà còn là “ai đã nuôi dưỡng nên một tính cách như thế” Kết cấu đảo lộn trật tự thời gian (xét trên toàn bộ tác phẩm) và kết cấu thu hẹp dần đối tượng trong tiếng chửi cùng với việc thay đổi ngữ điệu bình phẩm sau mỗi đối tượng chửi đã dẫn người đọc vào một sự truy tìm, lý giải nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện một gã Chí Phèo tha hóa Rõ ràng đây chính là tín hiệu chỉ đường vào tác phẩm của nhà văn
* Câu hỏi yêu cầu có sự so sánh đối chiếu:
Sự so sánh đối chiếu là một hình thức của thao tác phân tích trong tư duy Qua việc so sánh đối chiếu, HS có thể nhận ra những nét độc đáo, những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm Các loại câu hỏi đưa ra có thể là để so sánh các hình ảnh chi tiết trong tác phẩm hoặc với các tác phẩm khác Ví dụ: Khi dạy bài “Chí Phèo” của Nam cao,
GV có thể hỏi: Em hãy so sánh hình tượng nhân vật Chí Phèo với hình tượng nhân
vật Chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố (Ngữ văn 9 tập 2), từ đó chỉ
ra những phát hiện độc đáo của Nam Cao khi miêu tả hình tượng của người nông dân trước cách mạng?
* Câu hỏi ứng dụng và liên hệ:
Loại câu hỏi này giúp HS chuyển từ nhận thức về tác phẩm ở bên ngoài vào bên trong Để trả lời câu hỏi này, HS phải tự liên hệ với thực tế và bản thân để tìm ra
Trang 37hướng giải quyết thích hợp theo sự cảm thụ của mình Các loại câu hỏi này có thể là: Cho biết tác dụng từ việc đọc tác phẩm đến tình cảm thái độ nhận thức của em? Theo
em, tác phẩm này có tác dụng như thế nào đối với đời sống? Tác phẩm có đóng góp
gì đối với nền văn học? Ví dụ: Dạy học bài “Chí Phèo” của Nam Cao, GV có thể
hỏi: Thái độ của em đối với nhân vật Chí Phèo như thế nào? (hoặc ấn tượng của em
về nhân vật Chí Phèo) Nam Cao đã có đóng góp gì nổi bật về nghệ thuật kể chuyện
và xây dựng nhân vật?
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy trong thực tế dạy học đọc hiểu văn bản văn học, các thầy cô đã từng áp dụng những câu hỏi đổi mới buộc HS phải tư duy tích cực để trình bày chính kiến, suy nghĩ của bản thân các em Điều này không chỉ có tác dụng tích cực đến việc rèn luyện tư duy, đổi mới cách học và thái độ học tập bộ môn cho HS, mà nó còn có tác động tích cực đến việc đổi mới PPDH của GV
1.2.3.2 Trong kiểm tra thi cử
Đề mở không phải chưa từng xuất hiện trong các kì kiểm tra thi cử, có điều nó chưa thành hệ thống và chưa định hình trong ý thức của GV Những đề văn mở đã từng xuất hiện trong chương trình sách giáo khoa cấp THPT ở cả ba khối lớp Dưới đây tôi xin lấy một số ví dụ:
Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập một, trang 20 có đề văn: “ Anh /chị hãy trả lời
câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?” Ở trang 22 sách này cũng có đề: “ Nhà văn Nga L Tônxtôi nói: “ Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường
Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng kiên định thì không có cuộc sống.” Anh /chị hãy nêu suy nghĩ của mình về vai
trò của lí tưởng trong cuộc sống của con người” Cũng trong sách này trang 66 có nêu đề: “Chia chiếc bánh của mình cho ai”; “ Anh /chị suy nghĩ gì về hiện tượng nghiện ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay”?
Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 tập 2 cũng có đề văn mở như: “ Người xưa có
câu: Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều, anh /chị nói rõ thái độ của mình về quan
niệm trên” Ở trang 35 sách này cũng có câu hỏi: “ Anh /chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về bệnh vô cảm trong xã hội ta hiện nay”; “ Anh /chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về bệnh thành tích, một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay”
Trang 38Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập một trang 27 có đề bài làm văn: “Cảm nghĩ của anh /chị về một bài thơ hoặc một nhà thơ mà anh /chị yêu thích”; “Những ngày đầu tiên bước chân vào trường Trung học phổ thông” Ở tập hai trang 136 cũng có
một số đề như: “Có ý kiến cho rằng: Những thói xấu ban đầu là người khách qua
đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính Anh /chị thấy ý kiến trên như thế nào?”; “ Học bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng)
của Phạm Ngũ Lão, có bạn cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là thái quá, kiêu kì Ngược lại có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Hãy cho biết ý kiến của anh /chị”
Những năm gần đây, việc ra đề KTĐG của môn Ngữ văn đã có sự xuất hiện những đề văn mở không chỉ trong các kì kiểm tra riêng biệt của thầy cô hay của vài trường, mà nó đã có mặt ở các kì thi quốc gia như kì thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học, Cao đẳng trong cả nước Điều này được thể hiện khá rõ từ năm 2009 đến nay Chúng ta hãy điểm lại những đề mở, trước hết là ở kì thi tốt nghiệp THPT:
Đề mở thể hiện rõ ở câu hai trong đề thi Cụ thể như sau:
Năm 2009: Anh /chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu
Năm 2012: Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức trong đời sống xã hội Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh /chị về ý kiến trên Năm 2013: Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ của anh /chị
về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từ thông tin sau: Chiều 30 – 4 – 2013, bên bờ sông Lam, đoạn chảy qua xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Nam (học sinh lớp 12T7, trường THPT Đô Lương I) nghe tiếng kêu cứu có người người đuối nước dưới sông, em liền chạy đến Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu
Trang 39được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6 Khi đẩy được em thứ năm vào bờ, thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi
(Theo Khánh Hoan, Thanhnienonline, ngày 6 - 5 - 2013) Năm 2014: Phần Làm văn có câu hỏi sau:
Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của nhà văn Lưu Quang Vũ có
đoạn:
Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi toàn vẹn
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay
cả tôi đây Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong Mà
cả Ngọc Hoàng nữa, chính Người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào Thân thế thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù
gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt Ông chỉ nghĩ đơn giản cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết
( Ngữ văn 12 tập hai, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2013, tr 149) Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên Từ đó trình bày suy nghĩ của anh /chị về vấn đề: con người cần được sống là chính mình
Có thể nhận thấy rằng việc đổi mới của đề thi trong những năm gần đây, nhất
là năm nay có sự đổi mới đáng kể Đề thi nhận được nhiều phản hồi của dư luận xã hội, trong đó phần nhiều là các ý kiến ghi nhận sự thành công Như vậy, việc đổi mới trong cách ra câu hỏi, đề thi theo hướng mở đã từng bước được vận dụng có hiệu quả trong thực tế dạy học và KTĐG
1.2.4 Việc tiếp nhận câu hỏi mở của học sinh Trung học phổ thông
Để giờ học tác phẩm văn chương trở nên sinh động, vai trò của học trò trong giờ học được khẳng định và mối liên hệ qua lại thường xuyên giữa thầy và trò được
Trang 40duy trì thì không thể thiếu hệ thống câu hỏi Lý luận dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu được áp dụng trong quá trình dạy học văn đem lại hiệu quả cao Trong các công trình đó các nhà nghiên cứu cũng đều chú trọng đến phương pháp gợi mở
mà trong đó câu hỏi được sử dụng như một liệu pháp chính để phát huy tư duy của
HS Trong quá trình giảng dạy, tuỳ vào điều kiện thực tế, tùy cách sáng tạo của mỗi
GV xây dựng hệ thống câu hỏi và tiến hành thực hiện cách hỏi nhằm định hướng và
tổ chức điều khiển hoạt động của HS trong giờ dạy học văn Nhưng việc sử dụng câu hỏi như thế nào trong giờ dạy học văn để đem lại hiệu quả cao, đó là điều mà GV dạy Ngữ văn cần trăn trở và suy nghĩ
Những năm gần đây, các thầy cô đứng lớp đã từng bước đầu tư soạn và áp dụng câu hỏi mở, đề văn mở trong quá trình dạy học và KTĐG của mình Thực ra việc áp dụng câu hỏi mở, đề văn mở không phải mới được đưa vào một vài năm nay
mà dạng câu hỏi này đã thảng hoặc xuất hiện từ trước đó, song nó chưa thành hệ thống, chưa được GV và HS cũng như xã hội biết đến một cách chính thống Vậy nên giờ đây khi được tuyên bố chính thức sử dụng đề văn mở trong đánh giá, thi cử, tâm lí chung của HS ắt là tâm lí lo lắng, băn khoăn không biết họ có đáp ứng được câu hỏi đề văn theo hướng này hay không, đáp ứng được tới đâu,…Đây là một điều bình thường Tuy nhiên, trên thực tế khi GV áp dụng những câu hỏi đề văn mở trong quá trình dạy học, HS lại đa số hào hứng muốn thử sức mình; các em say mê bộc lộ những suy nghĩ, ý kiến của bản thân về vấn đề nêu ra; khi có tranh luận, HS biết sử dụng lí lẽ
để bảo vệ ý kiến của mình Qua đây các nội dung cơ bản của bài học, các kĩ năng cần thiết được hình thành, xác lập dưới sự chỉ dẫn, tổ chức, điều khiển của thầy cô
Kết quả của việc áp dụng những câu hỏi đề văn mở qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kì cho thấy tính khả thi rất đáng kể của câu hỏi mở, đề mở trong quá trình dạy học Ngữ văn Học sinh được rèn luyện tư duy sáng tạo và kĩ năng làm bài, biết áp dụng tri thức, kĩ năng được trang bị để giải quyết yêu cầu của đề bài
Để tìm hiểu cụ thể vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra và trực tiếp trao đổi với HS
Phiếu điều tra 1: Em hãy nêu những khó khăn gặp phải khi đứng trước những
câu hỏi, đề văn mở?
- HS viết vào phiếu ý kiến của mình