1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học chủ đề tọa độ trong không gian

126 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số thực trạng về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm tổng quan của giáo viên chủ đề Tọa độ trong không gian .... Trong sự đổi mới về kiểm tra đánh giá, việc kết hợp giữa phươn

Trang 1

TRONG KHÔNG GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

HÀ NỘI – 2014 

Trang 2

TRONG KHÔNG GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Bùi Văn Nghị

HÀ NỘI – 2014  

 

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Bùi Văn Nghị, người đã giảng dạy, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học và phòng Đào tạo trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thành viên lớp Cao học Toán khóa 8 và bạn

bè, đồng nghiệp về sự động viên, khích lệ cũng như những trao đổi hữu ích Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thực hiện và hoàn chỉnh luận văn, song chắc rằng luận văn vẫn còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thân yêu của chúng ta

Tôi xin chân thành cảm ơn! 

Hà Nội, tháng 11 năm 2014 Tác giả

Phùng Thị Huyền

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT  

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn   i 

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt  ii 

Danh mục bảng biểu   v 

Danh mục các hình   vi 

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1. Kiểm tra, đánh giá   5 

1.1.1. Quan niệm về kiểm tra, đánh giá   5 

1.1.2. Chức năng của kiểm tra, đánh giá   6 

1.2. Kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan   6 

1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm   6 

1.2.2. So sánh các phương pháp tự luận và trắc nghiệm   8 

1.3. Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần tọa độ  trong không gian   12 

1.3.1. Căn cứ vào mức độ nhận thức   12 

1.3.2. Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan  24 

1.4. Một số thực trạng về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm tổng quan của  giáo viên chủ đề Tọa độ trong không gian   34 

Tiểu kết chương 1   39 

Chương 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN VỀ TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN 40

2.1. Một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng trong dạy học bài “Hệ tọa độ  trong không gian”   40 

2.1.1. Nội dung và yêu cầu về kiến thức kĩ năng   40 

2.1.2. Thể hiện của từng mức độ   41 

2.1.3. Dự kiến những sai lầm có thể mắc phải của học sinh khi tiếp nhận những tri  thức trong bài   41 

2.1.4. Một số câu hỏi theo từng mức độ   42 

2.2. Một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng trong dạy học bài “Phương trình  mặt phẳng”   50 

Trang 6

2.2.2 Thể hiện của từng mức độ   51 

2.2.3. Dự kiến những sai lầm có thể mắc phải của học sinh khi tiếp nhận những tri  thức trong bài   52 

2.2.4. Một số câu hỏi theo từng mức độ   52 

2.3. Một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng trong dạy học bài “Phương trình  đường thẳng   69 

2.3.1. Nội dung và yêu cầu về kiến thức kĩ năng   69 

2.3.2. Thể hiện của từng mức độ   69 

2.3.3. Dự kiến những sai lầm có thể mắc phải của học sinh khi tiếp nhận những tri  thức trong bài   70 

2.3.4. Một số câu hỏi theo từng mức độ   70 

Tiểu kết chương 2   84 

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85

3.1. Mục đích, tổ chức thực nghiệm sư phạm   85 

3.1.1. Mục đích   85 

3.1.2. Tổ chức   85 

3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm   86 

3.2.1. Nội dung thực nghiệm trên lớp học   86 

3.2.2. Nội dung bài kiểm tra   97 

3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm   100 

3.3.1. Thống kê ý kiến của giáo viên   100 

3.3.2. Thống kê ý kiến của học sinh   101 

3.3.4. Thống kê điểm bài kiểm tra học sinh   102 

Tiểu kết chương 3   104 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 108

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Khác biệt cơ bản giữa tự luận và trắc nghiệm.   10 

Bảng 1.2: So sánh ưu thế của tự luận và trắc nghiệm.   12 

Bảng 1.3: Bảng thống kê mức độ hiểu biết của giáo viên đối với phương pháp trắc  nghiệm trong kiểm tra, đánh giá trong môn Toán.   35 

Bảng 1.4: Bảng thống kê mức độ sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra,  đánh giá chủ đề Tọa độ trong không gian của giáo viên.   35 

Bảng  1.5:  Bảng  thống  kê  các  hình  thức  sử  dụng  phương  pháp  trắc  nghiệm  trong  kiểm tra, đánh giá chủ đề Tọa độ trong không gian.   36 

Bảng 1.6: Bảng thống kê mức độ sử dụng các loại câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm  tra, đánh giá chủ đề Tọa độ trong không gian.   36 

Bảng  1.7:  Bảng  thống  kê  những  khó  khăn  khi  sử  dụng  phương  pháp  trắc  nghiệm  trong kiểm tra, đánh giá chủ đề Tọa độ trong không gian của giáo viên   37 

Bảng 3.1: Đáp án kiểm tra trắc nghiệm 15 phút   99 

Bảng 3.2: Thống kê ý kiến của giáo viên   100 

Bảng 3.3: Bảng thống kê số lượng học sinh   101 

Bảng 3.4: Thống kê ý kiến học sinh   102 

Bảng 3.5: Thống kê điểm bài kiểm tra tự luận   102 

Bảng 3.6: Thống kê điểm bài kiểm tra trắc nghiệm   102 

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học  9 

Hình 3.1: Biểu đồ so sánh điểm kiểm tra trắc nghiệm và tự luận   103 

  

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển của xã hội đòi hỏi tất cả các ngành phải có sự phát triển, đổi mới không ngừng. Trong đó, ngành Giáo dục phải đổi mới cả về hệ thống, nội  dung,  chương  trình,  sách  giáo  khoa,  phương  pháp  dạy  học  và  kiểm  tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. 

Trong sự đổi mới về kiểm tra đánh giá, việc kết hợp giữa phương pháp kiểm tra đánh giá bằng các đề tự luận với câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã 

và đang được nhiều giáo viên quan tâm sử dụng. Phương pháp kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm  khách  quan  đã  được  nghiên  cứu  và kiểm  nghiệm,  cho thấy  phương pháp  này  có  khá  nhiều  ưu điểm. Tuy  nhiên, cũng  còn không ít giáo viên Toán THPT hiểu về câu hỏi trắc nghiệm khách quan chưa thật thấu đáo và còn lúng túng trong việc sử dụng phương pháp này trong đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh.  

Tuy  đã  có  một  số  kết  quả  nghiên  cứu  và  một  số  sách  tham  khảo  giới thiệu về hệ thống những câu hỏi trắc nghiệm khách quan, nhưng thực tế trong quá trình dạy học cho thấy giáo viên cần thiết phải biết tự thiết kế, xây dựng những đề kiểm tra cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình. 

  Nghiên  cứu  hình  học  bằng  phương  pháp  tọa  độ  là  một  phương  pháp 

“Đại  số hóa”  Hình học.  Việc nghiên  cứu Hình  học được  thể hiện thông  qua các  biểu  thức  tọa  độ,  công  thức,  phương  trình   nên  kết  quả  nghiên  cứu thường là những con số. Chính vì thế, theo chúng tôi, sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan cho chương này sẽ có nhiều thuận lợi.  

  Vì những lý do trên đề tài được chọn là:  Xây dựng và sử dụng câu hỏi

trắc nghiệm khách quan trong dạy học chủ đề tọa độ trong không gian 

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

  Đã  có  một  số  luận  văn  Thạc  sĩ  nghiên  cứu  về  sử  dụng  phương  pháp kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan trong quá trình dạy học, đánh giá kết quả học tập môn Toán. Chẳng hạn các đề tài sau: 

- “Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm chủ đề hàm số, phương trình bậc hai một ẩn trong chương trình đại số lớp 9 cho học sinh THCS” [5] 

- “Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT” [11] 

-  “Biên  soạn  hệ  thống  câu  hỏi  trắc  nghiệm  khách  quan  trong  dạy  học Hình học không gian lớp 11 THPT” [18] 

- “Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kết quả học tập chương Hàm số lượng giác, Giải tích 11 Ban nâng cao” [8] Bởi vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài lần này sao cho không trùng lặp với những đề tài, công trình đã được công bố. 

3 Mục đích nghiên cứu

Biên  soạn  được  một  bộ  câu  hỏi  trắc  nghiệm  về  Phương  pháp  tọa  độ trong không gian nhằm  hỗ trợ  trong  quá trình  dạy học  và  kiểm  tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. 

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

-  Nghiên  cứu  lý  luận  về  kiểm  tra  đánh  giá  bằng  câu  hỏi  trắc  nghiệm khách quan. 

-  Nghiên  cứu  chương  trình  nội  dung  phương  pháp  tọa  độ  trong  không gian. 

-  Biên  soạn  một  hệ  thống  câu  hỏi  trắc  nghiệm  về  phương  pháp  tọa  độ trong không gian. 

- Đề xuất giải pháp sư phạm về sử dụng hệ thống câu hỏi một cách có hiệu quả. 

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài.  

Trang 11

5 Giả thuyết khoa học

Nếu biên soạn được một bộ câu hỏi trắc nghiệm về phương pháp tọa độ trong không gian và vận dụng các biện pháp sư phạm thích hợp sẽ góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập chủ đề này của học sinh một cách có hiệu quả. 

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Lý luận về kiểm tra đánh giá về câu hỏi trắc nghiệm tổng quan và các kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan gần gũi với đề tài.  

6.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra – quan sát

Dự giờ, quan sát, lập phiếu điều tra về việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan của giáo viên trong chủ đề Tọa độ trong không gian. 

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số lớp 12 nhằm đánh giá tính khả  thi  và  hiệu  quả  của  đề  tài.  Sử  dụng  một  phần  bộ  câu  hỏi  đã  biên  soạn được trong dạy học và dùng kiểm tra một phần thuộc nội dung phương pháp tọa độ trong không gian tại lớp thực nghiệm. Đánh giá thực nghiệm thông qua quan sát trên lớp, phiếu đánh giá của giáo viên, phiếu đánh giá của học sinh 

và qua bài kiểm tra.  

7 Khách thể nghiên cứu

  Chương  trình sách giáo  khoa  Hình học  12 ban  cơ bản  và  thực tiễn sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở trường THPT. 

8 Đối tượng nghiên cứu

  Nghiên  cứu  xây  dựng  câu  hỏi  trắc  nghiệm  khách  quan  chủ  đề  tọa  độ trong không gian lớp 12 ban cơ bản THPT. 

9 Phạm vi nghiên cứu

-  Nghiên  cứu  nội  dung  chủ  đề  Tọa  độ  trong  không  gian  theo  chương trình, sách giáo khoa Hình học 12 ban cơ bản, Nxb Giáo dục, năm 2010. 

Trang 12

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo ba chương: 

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. 

Chương 2:  Xây  dựng  một  số  câu  hỏi  trắc  nghiệm  về  Tọa  độ  trong không gian 

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Kiểm tra, đánh giá

1.1.1 Quan niệm về kiểm tra, đánh giá

Có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá: 

Theo tài liệu [20]: đánh giá là nhận định giá trị.  

Theo bảng thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt: “Đánh giá là quá trình hình

thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn

đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công việc”. [3, tr.5] 

Theo tài liệu [17] đánh giá là việc căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định, đánh giá năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo. Đánh giá có thể là định lượng dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị 

Theo  tài  liệu  [6]  trong  giáo  dục,  đánh  giá  được  hiểu:  “…là  quá  trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn 

đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” 

Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa chung về đánh giá trong dạy học: Đánh giá trong dạy học là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán 

về  kết  quả  của  quá  trình  dạy  và  học,  dựa  vào  sự  phân  tích  những  thông  tin được đối chiếu với mục tiêu dạy  học đề ra, nhằm  đề  xuất những quyết định thích  hợp  để  cải  thiện  thực  trạng  của  dạy  học,  nâng  cao  chất  lượng  và  hiệu quả quá trình dạy học. 

Trang 14

Theo  tài liệu [20]:  Kiểm  tra  là  xem  xét  tình  hình thực  tế để đánh  giá, nhận xét.  

Theo  tác  giả  Trần  Bá  Hoành  [7]:  Kiểm  tra là  việc  thu  thập  những  dữ 

liệu thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá 

Còn theo tác giả Nguyễn Trọng Phúc [13] thì khái niệm kiểm tra thuộc 

về  phạm  trù  phương  pháp,  nó  giữ  vai  trò  liên  hệ  ngược  trong  quá  trình  dạy học, nó cho biết những thông tin về kết quả vận hành của hệ dạy học

Từ các định nghĩa trên, chúng ta có một định nghĩa chung về kiểm tra trong dạy học như sau: Kiểm tra là một quá trình thu thập thông tin, dữ kiện phản  ánh  trình  độ  đạt  được  trong  nhân  cách  người  học,  nhân  cách  học  sinh sau một quá trình học, làm cơ sở cho việc đánh giá  Thi cũng là một kiểm tra nhưng có tầm quan trọng hơn đặc biệt trong các đợt kết thúc khóa học; tuyển sinh;… 

1.1.2 Chức năng của kiểm tra, đánh giá

Theo Trần Bá Hoành [7], kiểm tra, đánh giá có ba chức năng:  

Chức năng khoa học: Nhận định chính xác một mặt nào đó trong thực trạng dạy học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến cải tiến nào đó trong dạy học. 

Chức  năng  sư  phạm:  Làm  sáng  tỏ  thực  trạng,  định  hướng  điều  chỉnh hoạt động dạy và học. 

Chức  năng  xã  hội:  Công  khai  hóa  kết  quả  học  tập  của  mỗi  học  sinh trong tập thể lớp, trường, báo cáo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh học sinh, các cấp quản lí. 

1.2 Kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm

Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX, người ta đã dùng phương pháp này chủ yếu 

để phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỷ 

XX, E.Thoidaicơ là người đầu tiên dùng trắc nghiệm như một phương pháp “ khách quan và nhanh chóng ” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng 

Trang 15

với  môn  sử học và sau đó  đối với  một số  loại  kiến thức  khác. J.  MC.Catlen (1860-1944) cho ra đời cuốn sách “Các trắc nghiệm về đo lường trí tuệ” xuất bản  năm 1890  tại  NewYork.  Đến năm 1940  ở  Hoa  Kì đã xuất  bản nhiều hệ thống  trắc  nghiệm  dùng  để  đo  thành  tích  học  tập  của  học  sinh.  Năm  1941, Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn.  

Ở Liên Xô, từ năm 1926-1931 đã có một số nhà sư phạm tại Maxcova, Leningrat tiếp  thí  nghiệm  dùng trắc nghiệm  để  chẩn đoán tâm lí  cá nhân và kiểm  tra  kiến  thức  học  sinh.  Từ  năm  1936-1960,  các  công  trình  nghiên  cứu của chuyên gia Xô Viết hướng vào những việc tìm kiếm học tập kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh. Năm 1963 tại Liên Xô mới phục hồi việc 

sử dụng trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức học  sinh đã xuất hiện những công trình  nghiên  cứu  dùng  trắc  nghiệm  trong  các  môn  học  khác  như E.E.Solovievan  (1963),  V.A.Korinsaka  và  L.M.Pansevnicova  (1964), K.A.Craxmianfoia (1963)  

Ở Anh, nhà tâm lí học Francis Golton (1822-1911) đã dùng trắc nghiệm tâm lí đo năng lực trí tuệ con người. 

Ở  Pháp,  năm  1905  nhà  tâm  lí  học  Alfred  Binet  và  bác  sĩ  tâm  thần  T. Simon làm trắc nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau. 

Ở Đức, nhà tâm lí học V. Steru đưa ra hệ số thông minh IQ (intelligene Quotient) thông qua trắc nghiệm. 

Ở  Việt  Nam,  vấn  đề  kiểm  tra  trắc  nghiệm  thực  sự  chỉ  được  nhắc  đến trong khoảng 20 năm trở lại đây. Trước năm 1975, ở miền Bắc, khoa học về trắc  nghiệm  cũng  như  ứng  dụng  nó  gần  như  không  được  nhắc  đến;  ở  miền Nam trắc  nghiệm được  áp dụng sớm  hơn  nhờ  một số học  giả du học từ  các nước Phương Tây trong đó có Giáo sư Dương Thiệu Tống, và điển hình là kỳ thi tú tài IBM năm 1974, dùng phương pháp trắc nghiệm khách quan trên máy tính của IBM đem lại những kết quả khả quan. 

Trang 16

- “Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong Giáo dục” [16] 

Nhiều thạc sỹ đã chọn trắc nghiệm làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình. Điều đó cho thấy rằng, các ưu điểm của trắc nghiệm đang đưa phương pháp này trở thành một trong các công cụ để kiểm tra thành quả học tập. Và thực tiễn cho thấy rằng công tác nghiên cứu vấn đề này đang rất tích cực và sôi động. 

Mỗi công trình nghiên cứu, mỗi tác phẩm luôn mang lại những giá trị, những kinh nghiệm,  những lý thuyết khác  nhau nhưng cơ  bản thì  tất cả đều hướng  đến  điều  cốt  lõi  là  nâng  cao  chất  lượng  đào  tạo  thông  qua  kiểm  tra bằng phương pháp trắc nghiệm. 

1.2.2 So sánh các phương pháp tự luận và trắc nghiệm

Trước hết, có thể hình dung hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học qua biểu đồ dưới đây. 

Trang 17

Hình 1.1: Hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học 1.2.2.1 Khái niệm tự luận

Tự luận là hình thức kiểm tra truyền thống của nền Giáo dục nước ta. Đây là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả  lời dưới dạng  bài viết bằng ngôn ngữ của 

mình trong một khoảng thời gian định trước

1.2.2.2 Khái niệm trắc nghiệm

Theo  [10, tr.322], trắc  nghiệm  mà  đối  tượng  là  con  người  có  thể  hiểu theo  định  nghĩa  sau:  “Trắc  nghiệm  là  một  phương  pháp  khoa  học  cho  phép dùng  một  loạt  những  động  tác  xác  định  để  nghiên  cứu  một  hay  nhiều  đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm với mục tiêu đi đến những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu”.  

Vậy có thể hiểu về trắc nghiệm như sau: 

Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học, trắc nghiệm được phát triển dựa  trên  những  quy  tắc  có  căn  cứ  khoa  học,  chẳng  hạn:  thử  nghiệm  trắc nghiệm, phân tích, đánh giá độ tin cậy, xác định tính hiệu quả  

- Dựa trên một loạt những động tác xác định, dễ thao tác, dễ tiến hành. 

-  Trắc  nghiệm  có  thể  được  sử  dụng  để  nghiên  cứu,  xác  định  một  hay 

Trang 18

nhiều đặc điểm. Trường  hợp nghiên  cứu nhiều đặc điểm,  người  ta nói là  bộ trắc nghiệm. 

-  Đối tượng nghiên  cứu của  trắc  nghiệm  là những  đặc  điểm  nhân cách phân biệt được bằng  thực  nghiệm.  Những đặc điểm  này được  hiểu  rất rộng, thường là kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo, năng lực. 

- Mục tiêu là đi tới những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được, kết quả cần được biểu thị bằng số. 

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, trong đó đề kiểm tra, thường gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết, sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu. 

1.2.2.3 So sánh phương pháp tự luận và trắc nghiệm

Bảng 1.1: Khác biệt cơ bản giữa tự luận và trắc nghiệm

Mỗi  đề  bài  kiểm  tra  gồm  một  số  câu 

hỏi rất ít, thí sinh phải trả lời bằng cách 

trình bày theo tư duy của mình. 

Mỗi  đê  bài  là  một  hệ  thống  gồm nhiêu câu hỏi, có tính riêng biệt, thí sinh  phải  trả  lời  bằng  một  đáp  án ngắn. 

Khi  làm  bài  thí  sinh  phải  dành  nhiều 

thời gian để suy nghĩ và viết. 

Khi làm bài thí sinh phải dành nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ. 

Chất  lượng  bài  kiểm  tra  phụ  thuộc 

nhiều vào cá nhân người biên soạn đề, 

người chấm bài. 

Chất  lượng  của  bài  kiểm  tra  phụ thuộc vào kỹ năng soạn thảo câu trắc nghiệm, của người soạn đề. 

Một  bài  tự  luận  dễ  soạn,  nhưng  khó 

chấm và điểm số khó chính xác. 

Một  bài  trắc  nghiệm  thường  khó soạn, công phu nhưng việc chấm và cho điểm nhanh và chính xác. 

Trang 19

Thể  hiện  quan  điểm  đo  quá  trình  tư 

duy của thí sinh. 

Thể hiện quan điểm đo tốc độ tư duy của thí sinh. 

Thí sinh có cơ hội thể hiện quan điểm, 

tư  duy  của  mình  trên  bài  làm  theo 

hướng  riêng. Người chấm  bài có quan 

điểm chấm riêng. 

Người  soạn  câu  trắc  nghiệm  có  cơ hội  thê  hiện  quan  điểm  của  mình. Thí sinh chỉ có cơ hội thể hiện  mức 

Điểm số trong mỗi câu hỏi có sự phân 

bố không đều. Phụ thuộc người chấm. 

Điểm số phân rải đều ở mỗi câu hỏi, không  phụ  thuộc  vào  yếu  tố  nào ngay cả người soạn đề. 

Trang 20

Bảng 1.2: So sánh ưu thế của tự luận và trắc nghiệm

Lĩnh vực nhận thức liên quan đến những kiến thức tiếp nhận được, thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận, bao gồm việc thu thập các thông tin, sự kiện, giải thích, lập luận theo kiểu diễn dịch và quy nạp và sự đánh giá có phê phán. 

Trang 21

Lĩnh  vực  cảm  xúc lên quan đến  những  đáp  ứng về  mặt  tình  cảm,  bao hàm cả những mối quan hệ như yêu ghét, thái độ nhiệt tình, thờ ơ, cũng như 

sự cam kết với một nguyên tắc và sự tiếp thu các lí tưởng [10]. 

Các lĩnh vực nêu trên không hoàn toàn tách biệt hoặc loại trừ lẫn nhau. Phần lớn việc phát triển tâm linh và tâm lí đều bao hàm cả ba lĩnh vực nói trên. 

B.S.Bloom  và  những  người  cộng  tác  với  ông  cũng  xây  dựng  nên  các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong 

đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất. 

Sự  phân  loại  các  mục  tiêu  giáo  dục  Toán  theo  các  mức  độ  của  nhận thức  của Bloom  gồm có sáu  mức  độ: nhận biết, thông hiểu,  vận dụng, phân 

Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các động từ: 

- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, tính chất. 

- Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản. 

- Liệt kê, xác định vị trí tương đối, mối quan hệ giữa các yếu tố đã biết.  Mức độ nhận biết gồm nhận biết kiến thức, thông tin và những kĩ thuật, 

Trang 22

- Kiến thức, thông tin 

Trong phạm trù này học sinh được đòi hỏi chỉ nhớ được định nghĩa một 

sự kiện và không cần phải hiểu. Một chú ý quan trọng là kiến thức ở mức này chỉ là  khả năng  lặp  lại. Những  câu hỏi kiểm  tra các  mục  tiêu ở  phần này  sẽ được đặt ra theo đúng với cách mà các kiến thức được học. Những phạm trù con chính của kiến thức bao gồm: 

Kiến thức về thuật ngữ: Mục tiêu này đòi hỏi học sinh phải nhận diện 

và làm quen với ngôn ngữ toán học, tức là phần lớn các thuật ngữ và kí hiệu tắt được sử dụng bởi các nhà toán học với mục đích giao tiếp thông tin. Ví dụ 

kí  hiệu  mp(d,M)  là  mặt  phẳng  chứa  đường  thẳng  d  và  điểm  M;  Kí 

Kiến thức về cách thức và phương tiện sử dụng trong những trường hợp 

cụ thể: Mục tiêu này đòi hỏi học sinh phải nắm được các quy ước trong toán, các kiến thức về phân loại…Ví dụ học sinh biết phân loại phương trình  mặt thẳng và phương trình  mặt cầu. Quy ước 

n là vectơ pháp tuyến, 

u là vectơ chỉ phương. 

Kiến  thức  về  các  quy  tắc  và  các  tổng  quát  hóa:  Mục  tiêu  này  đòi  hỏi học sinh phải gọi ra được các quy tắc trừu tượng của toán học để giúp mô tả, giải thích, dự đoán các  hiện tượng  hay là  nhớ  lại các quy  tắc, các  tổng quát hoá. Kiến thức về những định lí toán học và những quy tắc lôgic cơ bản thuộc vào  trong  phạm  trù  con  này.  Ví  dụ định  lý  về  tích  vô  hướng  của  2  véc  tơ : 

Trong  không  gian  Oxyz,  tích  vô  hướng  của  hai  vectơ  

Trang 23

có thể : Nhớ được mối liên hệ giữa tọa độ của vectơ và tọa độ của hai điểm mút, các biểu thức tọa độ của các phép toán vectơ, các công thức và các cách tính các đại lượng hình học bằng tọa độ. Biết biểu thị chính xác bằng tọa độ các quan hệ hình học như : sự thẳng hàng của ba điểm, sự cùng phương của hai  vectơ,  sự  đồng  phẳng  của  ba  vectơ,  quan  hệ  song  song,  quan  hệ  vuông góc. Nhận dạng được các phương trình của đường phẳng, mặt thẳng, mặt cầu trọng một hệ tọa độ cho trước. 

Trang 24

sinh  có  thể  nhầm  phương  án  A  vì  quen  với  phương  trình  đường  trong  mặt 

phẳng.  Phương  trình  chính  tắc  của  đường  thẳng  là   0   0   0

Ở  phạm  trù  nhớ  (nhớ  các  khái  niệm,  sự  kiện)  học  sinh  càng có  nhiều kiến thức thì càng ít mắc sai lầm. Vì vậy sử dụng câu hỏi trắc nghiệm là một công cụ mạnh để đánh giá mức độ nhớ của học sinh. 

- Những kĩ thuật và kĩ năng:  

Kĩ thuật và kĩ năng được thể hiện qua việc tính toán và khả năng thao tác trên các kí hiệu; các lời giải. Mục tiêu này bao gồm việc sử dụng các thuật toán như các kĩ năng thao tác và khả năng thực hiện trực tiếp những phép tính, hoàn thành các bài tương tự với các ví dụ học sinh đã gặp trên lớp (có thể khác nhau về chi tiết). Câu hỏi có thể không đòi hỏi phải đưa ra quyết định là làm thế nào để tiếp cận lời giải, chỉ cần dùng kĩ thuật đã được học, hoặc có thể là một quy tắc phải được nhớ lại và áp dụng ngay một kĩ thuật đã được dạy. 

Cuối  giai  đoạn  học  này  học  sinh  có  thể:  Viết  được  phương  trình  của đường  thẳng,  mặt  phẳng,  mặt  cầu  khi biết  trước  một  số  điều  kiện.Vận  dụng 

Trang 25

1.3.1.2 Thông hiểu

Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được các ý nghĩa của các khái niệm,  hiện  tượng,  sự  vật;  giải  thích  được;  chứng  minh  được;  là  mức  độ  cao hơn  nhận  biết  nhưng  là  mức  độ  thấp  nhất  của  việc  thấu  hiểu  sự  vật,  hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, các thông  tin  mà  học  sinh  đã  học,  đã  biết.  Điều  đó  có  thể  thể  hiện  bằng  việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các kết quả hoặc ảnh hưởng). 

Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu bằng các động từ: 

- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, định lí, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại). 

-  Biểu  thị  minh  họa  giải  thích  được  ý  nghĩa  của  các  khái  niệm,  định nghĩa, định lí. 

- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó. 

- Sắp xếp lại lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic. 

Phạm trù này gồm các câu hỏi để học sinh có thể sử dụng các kiến thức học được mà không cần liên hệ với kiến thức khác hay nhận ra các kiến thức 

đó  qua  những  áp  dụng  của  nó.  Những  câu  hỏi  này  nhằm  xác  định  xem  học sinh có nắm được ý nghĩa của kiến thức mà không đòi hỏi học sinh phải áp dụng hay phân tích nó. 

Các hành vi thể hiện việc hiểu có thể  chia thành ba loại theo thứ tự sau đây: 

- Chuyển đổi  

- Giải thích. 

Trang 26

diễn bằng các sơ đồ cũng ở trong phạm trù này

Giải thích: Hành  động  chính  trong  giải  thích  là  việc  nhận  dạng  và  hiểu 

các ý tưởng chính trong tiếp cận một đối tượng cũng như hiểu các mối quan 

hệ của chúng. Nó gắn liền với việc giải thích hay tóm tắt một đối tượng. Học sinh được yêu cầu đưa ra sự phán xét bằng cách tách ra những sự kiện quan trọng  từ  nhiều  sự  kiện  và  rồi  tổ  chức  lại  dữ  liệu  để  thấy  được  toàn  bộ  nội dung. Những bài  toán trong phạm trù này sẽ quen thuộc với những bài toán 

mà  học  sinh  đã  gặp những  dạng  tương  tự  trước  đây  nhưng  các  em  cần  hiểu những khái niệm chính yếu để giải bài toán. Một quyết định sẽ được đưa ra 

không chỉ là để làm cái gì mà còn bằng cách nào để làm được điều đó

Ngoại suy: Mục tiêu này gắn liền với khả năng của học sinh nhằm ngoại 

suy hay  mở rộng những hướng vượt quá các dữ liệu đã cho. Cần phải có sự nhận thức về các giới hạn của dữ liệu cũng như các giới hạn trong phạm vi mà 

Trang 27

là khá rõ ràng khẳng định đó là phương trình mặt cầu. Phương án A theo công thức  (1)  thì  khuyết  các  giá  trị  b  và  c.  Phương  án  C  thì  theo  công  thức  (2) khuyết có các hệ số A, B, C, ngoài ra hệ số của x2 , y2 , z2  là 2 chứ không phải 

là 1. Phương án B theo công thức (2) thì  các hệ số khá đầy đủ, nhưng không thỏa  mãn  điều  kiện  A2B2C2D 0(A2B2C2D221212  7 1). Học  sinh  thường  quên  mất  điều  kiện  này.  Nguyên  nhân  của  việc  quên  điều kiện vì các em chỉ nhớ công thức mà không hiểu chúng. Công thức (2) thực 

Trang 28

này, học sinh cần nghĩ đến các vectơ chỉ phương của đường thẳng có quan hệ cùng phương với nhau.Vectơ ở phương án A cùng phương với vectơ đã tìm ra 

Trang 29

là  khả  năng  đỏi  hỏi  học  sinh  phải  biết  vận  dụng  kiến  thức,  biết  sử  dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó 

Yêu cầu vận dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, định lí, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn. Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên. 

Phương pháp giải thì không được hàm ý trong câu hỏi và khả năng tìm kiếm lời giải là khả năng phát triển các bước để giải bài toán chứ không phải tái tạo lời giải đã học ở lớp. 

Do tính không quen thuộc và bản chất có vấn đề của tình huống được đặt ra nên quá trình tư duy liên đới là cao hơn hiểu. Điều quan trọng là những tình huống được trình bày cho học sinh là khác với những tình huống qua đó các em nắm được ý nghĩa của những khái niệm trừu tượng mà các em sẽ được yêu  cầu  áp  dụng  để  đảm  bảo  rằng  bài  toán  không  thể  giải  được  nếu  chỉ  áp dụng các phương pháp thường gặp. 

Phạm trù này là cần thiết vì việc hiểu một khái niệm trừu tượng không đảm bảo rằng học sinh sẽ có khả năng nhận ra sự phù hợp và áp dụng nó một 

Trang 30

cách đúng  đắn  vào những  tình  huống  thực  tiễn.  Khả năng  áp  dụng  các  khái niệm và quy tắc thu được cho một bài toán mới hoặc khả năng chọn lựa một ý niệm trừu tượng chính xác cho một bài toán mà có vẻ không quen thuộc cho đến khi các  yếu tố được tái hiện lại theo một ngữ cảnh quen thuộc là cực kì quan trọng trong các khóa học về toán bởi vì phần lớn những gì học sinh được học đều dự định áp dụng vào các tình huống có vấn đề toán hàng ngày. 

Ví dụ 1: Cho  tọa  độ  3  đỉnh  của  tam  giác  A(0;-1;1),  B(1;0;0)  và 

Trang 31

Phân tích: Ở  ví  dụ  này  học  sinh  cần  nắm  được:  Đâu  là  phương  trình 

tham  số,  đâu  là  phương  trình  chính  tắc  của  đường  thẳng.  Hai  đường  thẳng song  song  thì  vectơ  chỉ  phương  có  cùng  phương  với  nhau.  Và  viết  được phương trình của đường thẳng khi biết vectơ chỉ phương và một điểm thuộc 

- Chia nhỏ thông tin và tổ chức chúng lại theo các quan hệ trong bài toán. 

- Phân biệt các sự kiện từ giả thiết, xác định những giả thiết cần thiết để chứng minh quy tắc nào đó.  

- Kiểm tra tính nhất quán của các giả thiết với những giả định và thông tin đã cho. 

1.3.1.5 Tổng hợp

Tổng hợp là sắp xếp các yếu tố hoặc các phần lại với nhau để có một công thức hay quy luật mà trước đó chưa thấy rõ ràng, từ đó đưa đến sự sáng tạo và tính độc đáo cho một bộ phận học sinh một cách rõ ràng nhất. 

Trang 32

tự để tránh sự không rõ nghĩa và để cung cấp những chỉ dẫn chính xác cũng giống  như  đòi  hỏi  với  câu  hỏi  ngắn.  Tuy  nhiên  sẽ  khó  khăn  trong  việc  cho điểm vì đó là một quyết định chủ quan của một vài người. Các câu hỏi trả lời theo dạng mở còn tốn nhiều thời gian để chấm điểm. Cần có các tiêu chí được soạn theo từ trước để chấm điểm, làm giảm nhẹ bớt sự khác biệt về điểm số khi tiến hành đánh giá. 

Câu hỏi khách quan, trả lời ngắn: loại này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh hoặc phải chọn một câu 

để  trả  lời  hoặc  chỉ  cung  cấp  thêm  vài  từ  nữa.  Loại  câu  hỏi  này  được  gọi  là khách quan bởi  vì  chúng đặt  mục  tiêu phải  khách quan  khi chấm  điểm.  Các câu hỏi khách quan phải được xây dựng sao cho chi có một câu trả lời đúng một cách rõ ràng hay là câu trả lời “tốt nhất”. Bản chất chủ quan của bài trắc nghiệm này là ở việc lựa chọn tư liệu để kiểm tra và ở việc định ra câu trà lời. Không có một loại trắc nghiệm nào hoàn toàn khách quan. 

Có  một  số  quan  niệm  sai  lầm  đối  với  các  câu  hỏi  khách  quan  là  coi chúng chỉ có ích đối với việc trắc nghiệm thông thường, là không quan trọng hay  chi  là  cung  cấp  những  mẩu  thông  tin  vụn  vặt.  Nhũng  bài  trắc  nghiệm khách quan được xây dựng thật tốt có thể kiểm tra được khả năng phân tích, 

sự  suy  nghĩ  đa  dạng  có  phê  phán  và  có  kiểm  tra  những  lĩnh  vực  kiến  thức 

Trang 33

Những người soạn câu hỏi nhà nghề thừa nhận là chỉ viêt được không quá 10-15 câu trong một ngày. 

1.3.2.1 Câu hỏi trắc nghiệm đúng sai

Đặc tính của câu hỏi trắc nghiệm đúng sai

Các  nhà  xuất  bản  trắc  nghiệm  chuẩn  cũng  như  các  chuyên  viên  trắc nghiệm  thường  thích  loại  câu  hỏi  có  nhiều  câu  trả  lời  để  chọn  lựa,  nhưng giáo  viên  lại  hay  dùng  loại  câu  hỏi  “đúng  sai”.  Một  câu  trắc  nghiệm  loại 

“đúng  sai”  thường  gồm  một  câu  phát  biểu  để  thí  sinh  phán  đoán  xem  nội dung đúng hay sai. 

Người ta có thể thay chữ “đúng”, “sai” bằng các chữ như “giống nhau”- 

“khác  nhau”  “mạnh”-“yếu”,  hoặc  “lớn  hơn”-  “bằng  nhau”  -  “nhỏ  thua”.  Để giảm bớt khuyết điểm cùa loại trắc nghiệm “đúng sai”, người ta đã tìm cách cải tiến bằng nhiều phương pháp. Trước hết các chữ chính yếu quyết định tính chất  đúng  hay  sai  trong  câu  được  gạch  dưới  hay  in  đậm  nét.  Thêm  vào  đó, người ta cũng có thể đòi hỏi thí sinh phải chữa lại câu cho đúng nếu thí sinh nghĩ rằng phát biểu đã cho có ý nghĩa sai. Phương pháp này làm giảm yếu tố đoán mò và do đó làm tăng độ tin của bài trắc nghiệm. 

Ví dụ: Trong không gian với hệ tọa độ Oxyz, 2x3y 5 0  có phải là phương trình đường thẳng không ? 

Đáp án: B 

Ưu điểm của câu hỏi trắc nghiệm đúng sai

Trang 34

quan khác, loại “đúng sai” có ưu điểm là tính chất khách quan khi chấm điểm

Nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm đúng sai

-  Có  thể  khuyến  khích  sự  đoán  mò.  Mặc  dù  giáo  viên  có  thể  áp  dụng công  thức  hiệu  chỉnh  1  học  sinh  vẫn  có  khuynh  hướng  đoán  may  rủi  để  có 

50% hy vọng trả lời đúng

- Khó dùng để chẩn định yếu điểm của học sinh, do yếu tố đoán mò. 

- Trong các môn thuộc khoa học xã hội, nhân văn nghệ thuật, có thể có nhiều quan điểm khác nhau nên các câu hỏi thuộc loại “đúng sai” có thể tối nghĩa khó hiểu. Do đó người soạn câu hỏi phải xác định rõ ràng tác giả, xuất 

xứ của ý kiến, tư tưởng, lời nói nêu trong mỗi câu. 

- Loại trắc nghiệm “đúng sai” có độ tin cậy thấp. Học sinh có thể được điểm  cao  nhờ  đoán  ra  câu  trả  lời.  Ví  dụ trong  bài  trắc nghiệm  100  câu,  học sinh nào không biết gì hết, có học lực trung bình, cũng có thể kiếm được 50 điểm.  Để  có  độ  tin  tương đương  với  các loại  trắc  nghiệm  khách  quan  khác, một bài loại “đúng sai” phải dài hơn nhiều. 

- Những giáo viên dùng loại câu hỏi này thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu trong sách, và do đó học sinh sẽ tập thói quen học thuộc lòng nhiều hơn là tìm hiểu, suy nghĩ. 

Trang 35

- Khác với loại trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn, trong loại “đúng  - sai”  học sinh phải quyết  định  giữa hai điều  để  chọn quả là hạn hẹp. Việc này có thể làm cho các học sinh giỏi khó chịu hay thất vọng khi họ thấy  có  điều  kiện  rõ  ràng  mới  quyết  định  xem  câu  phát  biểu  đúng  hay  sai, hoặc  có  thể  có  những  trường hợp ngoại lệ  chứ  không phải  chỉ  có  hoàn  toàn đúng hay hoàn toàn sai [4]. 

- Với các học sinh còn bé, những câu phát biểu sai có thể khiến họ học những điều sai lầm một cách vô ý thức. 

1.3.2.2 Câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

Đặc tính của câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

Dạng  trắc  nghiệm  khách  quan  được  ưa  chuộng  nhất  là  loại  có  nhiều phương án trả lời cho mỗi câu hỏi để thí sinh chọn lựa, thường được ký hiệu 

là “MCQ”. Một câu hỏi loại này gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn, hay câu hỏi, và bốn, năm, hay nhiều phương án trả lời cho sẵn để thí sinh chọn ra câu trả lời đúng nhất, hay hợp lý nhất. Ngoài một câu đúng, các câu trả lời khác trong phương án lựa chọn phải có vẻ hợp lý đối với thí 

Trang 36

lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện; Xác định thứ tự, hay cách sắp đặt giữa 

nhiều vật; Xét đoán nhiều vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

- Độ tin cậy cao hơn. Yếu tố đoán mò may rủi giảm đi so với loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án lựa chọn tăng lên. Thí dụ, với bài trắc nghiệm 100 câu hỏi, mỗi câu có 5 phương án lựa chọn, một học sinh hoàn toàn không biết gì sẽ có thể nhờ may rủi làm đúng 20 câu, thay vì 50 câu như trường hợp 100 câu loại “đúng sai”. Đó là nguyên do tại sao các nhà soạn trắc nghiệm chuẩn thích loại câu hỏi có nhiều phương án chọn lựa câu trả lời hơn các loại khác. 

- Học sinh phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời câu hỏi. Tính chất tuyệt  đối  trong loại  “đúng sai” nhường  chỗ  cho  tính  chất  tương  đối khi học  sinh  phải  lựa  chọn  câu  trả  lời  đúng  nhất  hay  hợp  lý  nhất  trong  số  các phương án trả lời đã cho.   

- Tính chất giá trị tốt hơn. Loại câu hỏi trắc nghiệm này có độ giá trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo những mức tư duy khác nhau. Với một bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn người ta có thể đo được khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, suy diễn, tổng quát hoá   rất hữu hiệu. 

- Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi. Dùng phương pháp phân tích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu hỏi nào quá dễ, câu hỏi nào quá khó, câu nào mơ hồ hay không có giá trị đối với các  mục tiêu cần trắc nghiệm. Thêm vào đó, chúng ta có thể xét xem câu trả lời cho sẵn nào không  ích  lợi,  hoặc  làm  giảm  giá  trị  câu  hỏi.  Phương  pháp  phân  tích  này không thực hiện được với loại câu hỏi tự luận, hay khó thực hiện với các loại trắc nghiệm khác. 

- Tính chất khách quan khi chấm. Cũng như các loại trắc nghiệm khách quan khác, trong loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn điểm sẽ không phụ thuộc các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, hoặc khả năng diễn đạt tư tưởng. 

Trang 37

Nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

-  Khó  soạn  câu  hỏi.  Một  giáo  viên  phải  có  nhiều  kinh  nghiệm  và  khả năng, cũng như mất nhiều thời giờ và công phu mới có thể viết được những câu hỏi hay, đúng chuẩn kỹ thuật. Điều khó do ở chỗ phải tìm cho được một câu trả  lời  đúng  nhất  trong lúc  các  câu,  các  phương  án  trả  lời  khác để  chọn cũng phải có vẻ hợp lý. Thêm vào đó, các câu hỏi phải đo được các mục tiêu 

ở mức năng lực nhận thức cao hơn chỉ ở mức nhớ. 

- Thí sinh có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương 

án đúng đã cho, nên họ có thể không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu. 

- Các câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng đoán  tinh  vi  và  khả  năng  giải  quyết  vấn  đề  khéo  léo  một  cách  hiệu  nghiệm bằng câu hỏi loại tự luận soạn kỹ. 

- Các khuyết điểm nhỏ khác là tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này so với các loại khác, và học sinh cần nhiều thời giờ để đọc câu hỏi. 

1.3.2.3 Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết

Đặc tính của câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết

Các  câu  điền  khuyết  có  thể  có  hai  dạng:  chúng  có  thể  là  những  dạng câu hỏi  với những  giải  đáp ngắn hay  cũng  có  thể  gồm  những câu phát  biểu với  một hay nhiều chỗ để trống  mà học sinh phải điền vào bằng  một từ hay một nhóm từ ngắn hoặc kết quả một phép tính. Nếu đuợc trình bày duới dạng câu hỏi, chúng ta gọi là loại có câu trả lời ngắn, nếu được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ chúng ta gọi là loại điền khuyết. Ví dụ: Trong không  gian  Oxyz,  mặt  cầu  (S)  tâm  (1;2;3)I bán  kính  4   có  phương  trình là:………  

Đáp án: (x1)2 (y2)2(z3)2 42 

Ưu điểm của câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết

- Thí sinh có được có hội trình bày những câu trả lời khác thường phát huy óc sáng kiến. 

- Phương pháp chấm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn với loại luận 

Trang 38

đề,  mặc  dầu  việc  cho  điểm  có  phần  rắc  rối  hơn  so  với  các  loại  trắc  nghiệm khách quan khác. 

- Thí sinh mất cơ hội đoán mò câu trả lời như trong trường hợp các loại trắc nghiệm khách quan  khác.  Thí  sinh phải  nhớ ra hoặc nghĩ  ra  câu trả lời, thay vì chỉ lựa chọn câu trả lời đúng trong số các câu trả lời cho sẵn. 

- Loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn dễ soạn hơn loại ghép  đôi  hoặc  loại  có  nhiều  câu  trả  lời  để  chọn  lựa.  Tuy  nhiên,  chúng  ta không nên lấy nguyên văn từ sách giáo khoa ra và chỉ bỏ bớt vài chữ hoặc sửa thành dạng câu hỏi. 

- Có thể lấy mẫu các điều đã học một cách tiêu biểu hơn so với loại trắc nghiệm luận đề. Loại trắc nghiệm điền khuyết thích hợp hơn loại luận đề khi dùng kiểm tra những điều đòi hỏi trí nhớ. Nhờ vào câu trả lời ngắn, số câu hỏi 

có thể ra thi trong thời gian có hạn sẽ đuợc nhiều hơn so với loại luận đề, do 

đó loại trắc nghiệm  điền khuyết có độ tin cao hơn, và việc chấm điểm cũng khách quan hơn. Tuy nhiên, các câu hỏi loại luận đề lại có thể đánh giá khả năng lý luận và sắp đặt ý tưởng hữu hiệu hơn. 

- Các câu hỏi loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn rất thích hợp cho những  vấn  đề  như  tính  toán,  cân  bằng  phương  trình  hoá  học,  nhận  biết  các vùng  trên  bản  đồ  hoặc  giản  đồ,  đánh  giá  mức  hiểu  biết  các  nguyên  lý,  giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ. 

- Giúp học sinh luyện trí nhớ khi học. Nếu sự học chỉ căn cứ hoàn toàn trên trí nhớ hoặc đòi hòi nhớ mà không hiểu mới đáng công kích. Ngược lại nhớ  những  điều  căn  bản  để  suy  luận  hay  áp  dụng  vào  các  trường  hợp  khác cũng là một điều cần thiết. 

Nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết

- Giáo viên thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa

- Giáo viên có thể hiểu sai, đánh giá thấp giá trị các câu trả lời sáng tạo, khác ý giáo viên nhưng vẫn hợp lý, nhất là khi học sinh đọc thêm sách và tài 

Trang 39

liệu ngoài sách giáo khoa, như trong các môn khoa học xã hội

- Nhiều câu hỏi loại điền khuyết ngắn và gọn có khuynh hướng đề cập các  vấn  đề  không  quan  trọng  hoặc  không  liên  quan  nhau.  Phạm  vi  khảo  sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự kiện vụ vặt

- Các yếu tố như chữ viết, đánh vần sai, có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá câu trả lời

-  Việc chấm  bài  mất nhiều thời  giờ hơn so với  loại trắc nghiệm  “đúng sai” hoặc trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn

- Khi có nhiều chỗ chừa trống trong một câu hỏi, học sinh có thể rối trí. Kết quả là điểm số thường có độ tương quan cao với mức thông minh hơn là với thành quả học tập của học sinh. Do đó độ giá trị cùa bài thi giảm vì thực 

ra giáo viên đang đo lường mức độ thông minh thành quả học tập

- Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm. Mặc dầu phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm điền khuyết có tính chất khách quan hơn loại luận đề, giáo  viên  vẫn  gặp  nhiều  phiền  phức  hơn  khi  chấm  câu  trắc  nghiệm  “điền khuyết” vì giới hạn câu trả lời đúng rộng rãi hơn. Giáo viên có thể phải cho điểm  một  phần  hay  toàn  phần  cho  một  câu  trả  lời khác  với  trong  đáp  án để chấm  bài.  Do  đó  các  nhân  viên  phụ  việc  không  thể  chấm  giúp,  cũng  như không thể dùng phương pháp châm bằng máy

1.3.2.4 Câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi

Đặc tính của câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi

Loại này thường gồm có hai dãy thông tin đã được biết là các câu đặt trước và các câu đáp, chúng cần được ghép lại với nhau theo kiểu ương ứng một - một.  Hai dãy thông tin này không nên có một số câu bằng nhau để cho đôi câu ghép cuối cùng không chỉ đơn giản gắn kết với nhau do kết quả của 

sự loại trừ liên tiếp. Thực ra loại này là trường hợp đặc biệt của dạng câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn. Một danh mục gồm những tên hay thuật ngữ và một danh mục gồm các định nghĩa, các đặc điểm được đưa ra. Nhiệm vụ của người thi là ghép chúng lại một cách thích hợp. Nếu hai danh mục này có 

Trang 40

số  câu  như  nhau,  quá  trình  loại  trừ  không  xác  đáng  sẽ  cho  phép  học  sinh đạt điểm mà không có sự hiểu biết. Vì thế một danh mục cần phải làm dài hơn  danh  mục  kia  bằng  cách  đưa  vào  những  cái  tên  hay  những  đặc  điểm thừa.  Ví  dụ:  Hãy  ghép  mỗi  ý  ở  cột  bên  trái  với  một  ý  ở  cột  bên  phải  để được kết quả đúng 

- Các càu hỏi ghép đôi dễ viết và dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi cần thầm định các mục tiêu ở mức tư duy thấp. Tuy nhiên, chúng ta nên cố gắng viết những câu hỏi ở mức trí năng cao hơn

-  Theo kinh nghiệm  của  mội  số  các nhà giáo dục, học sinh  có lứa tuổi học  trường  phổ  thông  cơ  sở,  rất  thích  hợp  loại  trắc  nghiệm  ghép  đôi.  Tuy 

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w