1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) xây dựng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vât) cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm

128 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy trình sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương Sinh trưởng và phát triển của thực vật, học phần sinh lý thực vật .... Một số ví dụ về quy trình sử dụng website

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự ủng hộ

và giúp đỡ hết sức nhiệt thành từ tập thể, gia đình, cá nhân và bè bạn

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể Thầy, Cô trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội, phòng Quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học, phòng tư liệu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

và nghiên cứu tại trường

Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn Thầy

PGS.TS Dương Tiến Sỹ, đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm trí tận tình

hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong mọi mặt để tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo cùng các em sinh viên trường CĐSP Hà Giang, CĐSP Tuyên Quang đã tạo mọi điều kiện giúp

đỡ tôi thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, thầy cô và bè bạn đã luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2013

Tác giả

CHU THỊ BÍCH NGỌC

Trang 3

iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNTT & TT Công nghệ thông tin và truyền thông

ST & PT Sinh trưởng và phát triển

Trang 4

iv

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn i

Các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Cơ sở lí luận 11

1.2.1 Phương thức đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ 11

1.2.2 Hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH) 14

1.2.3 Website 21

1.3 Cơ sở thực tiễn 25

1.3.1 Thực trạng xây dựng và sử dụng website dạy học ở Việt Nam 25

1.3.2 Thực trạng khai thác và sử dụng Internet trong dạy học ở các trường CĐSP nói chung 27

Kết luận chương 1: 31

Chương 2: XÂY DỰNG WEBSITE ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CHƯƠNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 32

2.1 Nguyên tắc xây dựng và sử dụng website dạy học 32

2.1.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu dạy học 32

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác khoa học của nội dung dạy học 34

Trang 5

v

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan và tính sư phạm 34

2.1.4 Nguyên tắc bù không gian và rút ngắn thời gian trong trong quá trình dạy học 35

2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác tối đa giữa người và máy trong quá trình dạy học 36

2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, hữu dụng đặc trưng của công nghệ thông tin 38

2.2 Quy trình xây dựng website dạy học 38

2.2.1 Xác định mục tiêu dạy - học 39

2.2.2 Phân tích lôgic cấu trúc nội dung dạy - học 39

2.2.3 Sưu tầm, gia công sư phạm và gia công kỹ thuật hệ thống tư liệu kỹ thuật số phù hợp với nội dung dạy - học 43

2.2.4 Thiết kế kịch bản các giáo án để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần mềm tin học (MS PowerPoint 2007 ) hình thành bài giảng đa phương tiện 47

2.2.5 Xây dựng Web quản lí thư viện tư liệu kỹ thuật số, KBGA và BGĐT bằng phần mềm Frontpage 2007 52

2.3 Quy trình sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương Sinh trưởng và phát triển của thực vật, học phần sinh lý thực vật 54

2.3.1 Giai đoạn học trên website 55

2.3.2 Giai đoạn học trên lớp 55

2.4 Một số ví dụ về quy trình sử dụng website dạy học theo học chế tín chỉ chương Sinh trưởng và phát triển của thực vật 56

2.4.1 Ví dụ 1: Mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của thực vật 56

2.4.2 Ví dụ 2: Hướng động 57

2.4.3 Ví dụ 3: Sinh trưởng của tế bào thực vật 58

Kết luận chương 2 59

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 60

3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 60

3.3 Phương pháp thực nghiệm 60

Trang 6

vi

3.3.1 Chọn trường thực nghiệm 60

3.3.2 Chọn GV và lớp tham gia thực nghiệm 60

3.3.3 Bố trí thực nghiệm 60

3.4 Kết quả thực nghiệm 61

3.4.1 Kết quả phân tích định lượng 61

3.4.2 Kết quả phân tích định tính 70

Kết luận chương 3 71

Kết luận – Khuyến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Trang 7

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1 Phân loại website trong giáo dục và đào tạo……… 23

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng Internet của sinh viên một số trường CĐSP………… 28

Bảng 1.3 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của sinh viên………… 28

Bảng 1.4 Các mức độ sử dụng Internet của GV một số trường CĐSP………… 29

Bảng 1.5 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của GV……… 29

Bảng 1.6 Mức độ sử dụng tư liệu PTDH kĩ thuật số……… 29

Bảng 3.1 Các bài thực nghiệm……… 60

Bảng 3.2 Tần số điểm bài kiểm tra trong thực nghiệm……… 61

Bảng 3.3 Phân phối tần suất điểm trong thực nghiệm (%) ……… 61

Bảng 3.4 Bảng tần suất hội tụ tiến trong thực nghiệm……… 62

Bảng 3.5 Các giá trị đặc trưng của mẫu trong thực nghiệm……… 63

Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra giả thuyết H0 trong thực nghiệm……… 63

Bảng 3.7 Bảng tống hợp trong thực nghiệm……… 64

Bảng 3.8 Bảng kết quả phân tích phương sai trong thực nghiệm……… 64

Bảng 3.9 Tần số điểm bài kiểm tra sau thực nghiệm……… 65

Bảng 3.10 Phân phối tần suất điểm sau thực nghiệm (%) ……… …… 66

Bảng 3.11 Bảng tần suất hội tụ tiến sau thực nghiệm……….… 66

Bảng 3.12 Các giá trị đặc trưng của mẫu sau thực nghiệm……… 67

Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra giả thuyết H0 sau thực nghiệm……… 68

Bảng 3.14 Bảng tống hợp sau thực nghiệm……….… 69

Bảng 3.15 Bảng kết quả phân tích phương sai sau thực nghiệm……… 69

Trang 8

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc trong QTDH 15

Hình 1.2 Sự phát triển của các HTTCDH 18

Hình 1.3 Hình thức dạy học kết hợp 19

Hình 1.4 Những hình thức dạy học kết hợp 20

Hình 1.5 Mô hình của dịch vụ web 20

Hình 2.1 Bài giảng đảm bảo tính tương tác giữa người và máy 37

Hình 2.2 Giao diện cửa sổ Internet Explorer 44

Hình 2.3 Giao diện công cụ tìm kiếm trực tuyến 45

Hình 2.4 Trang chủ để nhập từ khoá 46

Hình 2.5 Quan sát và lựa chọn kết quả 46

Hình 2.6 Lưu hình ảnh tìm kiếm vào máy tính 46

Hình 2.7 Cấu trúc nội dung website DH ST & PT của TV 52

Hình 2.8 Qui trình sử dụng mô hình dạy học kết hợp 54

Hình 3.1 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 62

Hình 3.2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến trong thực nghiệm 62

Hình 3.3 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra sau thực nghiệm 66

Hình 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến sau thực nghiệm 67

Hình 3.5 Biểu đồ so sánh độ bền kiến thức trong và sau TN của nhóm TN và ĐC……… …………

70

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ các văn kiện có tính pháp lý về giáo dục của Đảng và Nhà nước

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã đề ra

nhiệm vụ: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ” Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong những vấn đề cấp

thiết được Đảng và Nhà nước chú trọng Trong đó, đội ngũ giáo viên là lực lượng đóng vai trò nòng cốt vì thế đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn đối với các trường sư phạm

Nghị quyết TW2, khóa VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên ĐH ” Nghị quyết nêu trên đã được cụ thể hóa bằng Chỉ thị 58-CT/TW (17/10/2000) của Bộ Chính trị, nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD & ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội”

Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài

1.2 Xuất phát từ yêu cầu trong đổi mới PPDH

Yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng đề cao vai trò của người học, chống lại thói quen học tập thụ động, bồi dưỡng năng lực tự học nhằm mục đích giúp cho người học có khả năng học tập suốt đời

1.3 Xuất phát từ nội dung học phần sinh lý thực vật

Sinh lý thực vật là một học phần với lượng kiến thức lớn bao gồm nhiều cơ chế, quá trình khó, trừu tượng trong khi đó giáo trình sử dụng học tập chỉ có kênh chữ và kênh hình tĩnh Với thời lượng học trên lớp ít ỏi không thể đủ đáp ứng yêu cầu dạy và học

1.4 Xuất phát từ yêu cầu đào tạo đại học và cao đẳng theo học chế tín chỉ

Trang 10

2

Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD & ĐT ban hành ngày 15/08/2007 đã quy định chuyển đổi phương thức đào tạo đại học, cao đẳng từ niên chế sang học chế tín chỉ Đây là một xu hướng tất yếu của hệ thống giáo dục Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế [5]

Học chế tín chỉ được xây dựng dựa trên sự phân chia chương trình học tập thành các modun, có thể đo lường, tích luỹ, lắp ghép được để tiến tới hệ thống văn bằng theo các tiêu thức tổ hợp nhất định, được thống nhất và công nhận rộng rãi thông qua hoạt động quản lý giáo dục đào tạo ở những thời gian và địa điểm khác nhau Chính ưu điểm vượt trội này cho phép đào tạo theo học chế tín chỉ có tính

mở, linh hoạt và kết nối các cơ sở đào tạo, mang lại những tiện ích tối đa cho người học nhưng nó cũng đặt ra những thách thức lớn như: đổi mới chương trình, tăng tính liên thông, chuyển đổi của chương trình, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp triển khai quá trình dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá…

1.5 Xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của CNTT, đặc biệt là Internet

Cuối thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, đặc biệt là Internet đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Các phương tiện truyền thông cùng với hệ thống Internet nối mạng toàn cầu đang làm thay đổi cách tiếp cận tri thức của con người Họ không chỉ đọc để biết, mà còn nghe và cảm nhận các sự kiện xảy ra ở xa như đang diễn ra trước mắt, vượt qua mọi giới hạn về thời gian và cả không gian, thu hẹp khoảng cách địa lí Chính vì thế, khả năng thu nhận, xử lý để hiểu biết thông tin một cách nhanh chóng và chính xác là hết sức quan trọng Điều đó đã dẫn đến phải thay đổi PPDH chuyển từ việc dạy chữ sang dạy cách tìm kiếm, thu nhận và xử lý thông tin để đạt mục tiêu giáo dục Vì thế việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đang là một xu hướng tất yếu của quá trình giáo dục đào tạo Chỉ thị số 29/2001 của Bộ Giáo dục và đào tạo đã

đưa ra: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo… theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giáo dục, học tập ở tất cả các môn học”

Nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện mạng cung cấp thư viện tư liệu điện tử, BGĐT mẫu, giáo trình điện tử, các PMDH, … để GV khai thác sử dụng trong giảng dạy như: ELISE WebCT (Pháp), Blackboard (Bỉ), N@tschool (Hà

Trang 11

Tuy vậy, việc ứng dụng mô hình ấy trong các trường sư phạm còn nhiều hạn chế Điều đó chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho nguồn nhân lực tương lai đặc biệt là đội ngũ giáo viên

Với những lí do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “ Xây dựng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (Học phần sinh lý thực vật) cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (Học phần sinh lý thực vật)

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương sinh trưởng và phát triển của

thực vật, học phần sinh lý thực vật

- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và phương pháp sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (Học phần sinh lý thực vật) cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm

4 Giả thuyết khoa học

Xây dựng được website dạy học và phương pháp sử dụng nó để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật) sẽ nâng cao chất lượng dạy học, qua đó rèn luyện kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin để học tập và phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm

Trang 12

4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tổng quan tình hình ứng dụng CNTT vào dạy học trên thế giới

5.4 Nghiên cứu chương trình khung của Bộ Giáo dục và đào tạo giành cho khối nghành sư phạm, trình độ đào tạo cao đẳng để xây dựng nội dung chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật)

5.5 Nghiên cứu các nguyên tắc sư phạm chỉ đạo quá trình xây dựng và sử dụng website dạy học

5.6 Nghiên cứu quy trình xây dựng website để vận dụng thiết kế website dạy học chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật)

5.7 Nghiên cứu sử dụng các PMCC sẵn có để xây dựng website:

- Các PM tìm kiếm, sưu tầm các tư liệu DH kĩ thuật số (Dạng văn bản, hình ảnh tĩnh, động, âm thanh, video, phim…)

- Các PM gia công sư phạm và gia công kĩ thuật các tư liệu dạy học kĩ thuật số thành phương tiện kĩ thuật số

- PM trình chiếu Powerpoint để nhập liệu thông tin (Văn bản, hình ảnh, âm thanh…) hình thành BGĐPT

5.8 Nghiên cứu quy trình và phương pháp sử dụng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật) cho sinh viên CĐSP

5.9 Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học

mà đề tài đặt ra

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trang 13

5

- Nghiên cứu các văn bản của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo về chủ trương chính sách đối với giáo dục, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong giáo dục

- Nghiên cứu tài liệu và một số công trình khoa học liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các công cụ và phương tiện hỗ trợ dạy học qua Internet

- Nghiên cứu nội dung chương trình học phần sinh lý thực vật để xây dựng bài giảng đạt hiệu quả

6.2 Phương pháp điều tra cơ bản

Thiết kế các mẫu phiếu điều tra Giảng viên và Sinh viên nhằm tìm hiểu thực trạng có liên quan trực tiếp đến đề tài Từ đó đánh giá, phân tích nguyên nhân

6.3 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi, xin ý kiến các chuyên gia giúp định hướng cho việc triển khai đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Để đánh giá hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng lớp học trực tuyến

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm bằng phần mềm Microsoft Excel

2010

7 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:

- Quy trình xây dựng website dạy học nói chung, từ đó vận dụng xây dựng website cho chương sinh trưởng và phát triển của thực vật

- Quy trình sử dụng website dạy học để nâng cao chất lượng dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật)

8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật (học phần sinh lý thực vật) cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Hà Giang

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận

Đề tài nghiên cứu giúp làm sáng tỏ cơ sở lý luận được cho việc xây dựng website dạy học để đào tạo theo học chế tín chỉ

- Ý nghĩa thực tiễn

Trang 14

6

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp các giảng viên chuyên ngành sinh học làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy học phần sinh lý thực vật và các học phần khác

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của để tài

Chương 2: Xây dựng website để tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ chương sinh trưởng và phát triển của thực vật cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC

1.1.1 Trên thế giới

Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực và CNTT đang là một phần cuộc sống của chúng ta Mỹ là nước đầu tiên sử dụng Internet vào năm 1995 (Wiles và Bondi, 2002) và sau đó phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới

Nhiều nước như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật đã xác định chiến lược phát triển ứng dụng CNTT, với mục tiêu giáo dục tin học phổ thông Vì vậy, họ đã đầu tư xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho các viện nghiên cứu và cho các trường học Việc đưa tin học vào trường phổ thông trên thế giới hình thành hai xu hướng: Một là đưa tin học vào nội dung dạy học, hai là sử dụng máy vi tính như công cụ dạy học Nhật Bản đã xác định vai trò của máy tính dùng để hỗ trợ quá trình giáo dục là rất quan trọng và đã đầu tư theo hướng này với tốc độ phát triển nhanh chóng

Ở các nước phương Tây, các trường đại học thường cạnh tranh với nhau trên

cơ sở các chương trình riêng biệt của mình Ví dụ, ở Mỹ, các khoa kinh tế và một số ngành khác hiện nay đang được xếp hạng trong các khảo sát của các tạp chí chuyên ngành Các khoa này thiết kế chương trình học chính của mình theo cách tiếp cận hoàn toàn riêng biệt Ở các nước này, các trường đại học có thể thiết kế các chương trình cốt lõi theo triết lý giáo dục riêng, trong đó có tham khảo các tiêu chuẩn nghề nghiệp của các hiệp hội chuyên môn, nên các nội dung và ranh giới giữa các môn học rất mềm dẻo và có thể thay đổi cho phù hợp với mọi hoàn cảnh và môi trường giáo dục Năm 1998, Bà Sandra Weiss, chủ tịch Hội đồng Khoa học hệ thống các trường đại học Mỹ đề nghị các giảng viên của trường đại học California thảo luận

về việc kết nối các môn học lại với nhau nhằm tạo điều kiện cho SV có thể theo học một chương trình đào tạo được cấp bằng bởi nhiều trường hoặc nhiều khoa trong một trường CNTT có thể làm được điều này

Trang 16

8

Các nước trong khối Liên minh Châu Âu đã dành ưu tiên số một cho cuộc cách mạng thông tin, xây dựng kế hoạch “Châu Âu trên đường hướng tới xã hội thông tin” Nhờ đó, đã góp phần làm cho nền kinh tế, khoa học và công nghệ của Châu Âu được xếp vào hàng đầu thế giới

Năm 1985, các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Xerilanca,… đã tổ chức hội thảo xây dựng các phần mềm dạy học ở Malaysia Hàn Quốc cứ 3 năm có một lần huấn luyện về CNTT & TT, kĩ năng về việc sử dụng CNTT & TT trong dạy học được coi

là một trong những điều kiện xét nâng bậc GV

Từ nửa sau của thế kỉ 20, sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt, nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời Phần mềm tin học

là một chương trình cho máy tính để xử lý thông tin Các phần mềm tin học được ứng dụng ngay từ khi có hệ thống phần cứng ra đời

Trong dạy học, các website dùng để tham khảo và phổ biến kiến thức được xây dựng khá công phu và có ứng dụng rộng rãi thông qua mạng Internet, như các trang Web: http://www.encarta.com; http://www.mcb.harvard.ed; http://www.crlt.Umich

Hiện nay, đã có nhiều website hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học, trong đó về lĩnh vực dạy học sinh học có:

- http://www.encarta.com Ở phần Biology bao gồm các kiến thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu sinh lý, quá trình phát triển phôi sớm

- http://www.dnaftb.org xây dựng một số cấu trúc, cơ chế của sự di truyền như phiên mã, dịch mã; cấu trúc nhiễm sắc thể

Nhìn chung, các website nước ngoài có giao diện sinh động, có âm thanh, màu sắc trung thực, nhưng bằng tiếng nước ngoài nên khả năng sử dụng cho GV và

SV rất hạn chế Ngoài ra, nội dung các phần mềm đó chỉ phù hợp cho việc tham khảo, minh hoạ của GV khi cần thiết, không phù hợp với chương trình đào tạo bậc cao đẳng, đại học [38], [45], [46]…

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ những năm 60, nước ta bắt đầu sử dụng máy tính điện tử Hội đồng chính phủ đã ra nghị quyết số 173- CP (1975) và 245- CP (1976) về tăng cường ứng dụng

Trang 17

9

toán học và máy tính điện tử trong cả nước Viện Công nghệ thông tin được thành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhà trường Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học các môn học:

Năm 2002, Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây dựng trang web dạy học chương “dao động cơ học” ở chương trình Vật lí lớp 12 theo hướng phát triển hứng thú, tích cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tập của HS

Năm 2004, Nguyễn Thị Côi và cộng sự đã khai thác và ứng dụng tiện ích của phần mềm Microsoft powerpoint để thiết kế các dạng sơ đồ, biểu đồ, tạo các hiệu ứng hoạt hình sinh động trong dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông [18]

Năm 2005, Hoàng Trọng Phú đã ứng dụng phần mềm Working model để thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trong dạy Vật lí [26]

Lê Công Triêm đã giới thiệu một số website điển hình dùng cho việc khai thác tư liệu hố trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lí

Năm 2006, Tần Thị Trung Ninh và các cộng sự đã sử dụng phần mềm Macromedia Flash MX để minh họa một số cơ chế phản ứng hữu cơ trong dạy học hóa học Tác giả cho rằng : Chỉ cần những minh họa đơn giản, có thể hiểu được cơ chế của một số phản ứng hữu cơ xảy ra như thế nào, điều mà rất khó có thể chứng minh được bằng thí nghiệm hóa học thông thường

Năm 2007, Nguyễn Mạnh Hưởng đã nghiên cứu thiết kế bài giảng “Cách mạng tháng Tám” với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft powerpoint Theo tác giả, phần mềm này có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giúp học sinh đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, hiểu đúng bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử

Tuy nhiên, các nghiên cứu đó vẫn chủ yếu tập trung vào áp dụng trong các quá trình dạy học giáp mặt nên khó lòng đáp ứng được những yêu cầu đổi mới Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi việc chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ đang đặt ra nhiều thách thức

Trong lĩnh vực Sinh học có một số nghiên cứu:

Năm 2002, Dương Tiến Sỹ đã sử dụng phần mềm Microsoft powerpoint thiết

kế các trình phim dạy khái niệm môi trường và các nhân tố sinh thái Tác

Trang 18

10

giả thiết kế được một sơ đồ hoàn chỉnh bao gồm nhân tố sinh thái tác động vào đời sống cây xanh Các câu hỏi được khắc họa bằng sơ đồ, hình ảnh, giúp học sinh tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề mà GV đặt ra cho HS say mê, tích cực tìm tòi chiếm lĩnh những kiến thức mới và phương pháp chiếm lĩnh kiến thức đó [16], [28]

Năm 2005, đề tài “Xây dựng CD-Rom tư liệu phục vụ giảng dạy sinh học THPT" do TS Dương Tiến Sỹ làm chủ nhiệm đã đề xuất quy trình và xây dựng “Đĩa

CD tư liệu phục vụ giảng dạy Sinh học lớp 10 THPT”, giải quyết được những khó khăn, vướng mắc của GV khi thiết kế bài giảng theo hướng ứng dụng CNTT

Năm 2005, đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học học phần

Hệ thống động vật ở khoa Sinh – KTNN” của Nguyễn Phúc Chỉnh, trường Đại học

Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã trên cơ sở nghiên cứu về lược sử phân loại động vật và lựa chọn phần mềm Frontpage 2000 để kết nối các nhóm thông tin khác nhau trong trang web bằng chức năng Hyperlink Khi người học cần nghiên cứu một loài nào đó chỉ cần click vào đặc điểm phân loại đã biết để tìm hiểu các thông tin có liên quan với nhau Qua đó, giúp người học nhận biết đặc điểm các đối tượng một cách dễ dàng bởi các hình ảnh, các đoạn băng video đã được sưu tầm và xây dựng Đồng thời đã thiết kế được một số giáo án mẫu phục vụ giảng dạy của GV và tự học cho

Năm 2007, Nguyễn Văn Hồng đã nghiên cứu ứng dụng phần mềm ppt thiết

kế giáo án hướng dẫn tự học trong dạy học Sinh học [18]

Năm 2008, Nguyễn Văn Hiền - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã thử nghiệm rèn luyện kỹ năng về CNTT trong DH Sinh học cho sinh viên khoa Sinh học

- KTNN qua hoạt động kết hợp giảng dạy trên lớp với việc trao đổi qua lớp học ảo

trên địa chỉ http://nicenet.org/ [14] [15]

Trang 19

11

Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Sinh học Tuy nhiên, các nghiên cứu về quy trình thiết kế và sử dụng website để

tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ cho sinh viên CĐSP còn hạn chế Đây là điều

mà chúng tôi sẽ đề cập đề tài này

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Phương thức đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ

1.2.1.1 Phương thức đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế là phương thức đào tạo theo năm học Mỗi chương trình đào tạo của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định, mọi lịch học, lịch thi được chuẩn bị sẵn, các lớp sinh viên được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến động

Ví dụ chương trình đào tạo trình độ cao đẳng được đào tạo trong 3 năm, đại học được đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm SV học hết thời gian quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp và được ra trường

Chương trình đào tạo bao gồm khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được bố trí theo một tỷ lệ nhất định Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn)và ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một trình độ đào tạo Vì vậy chương trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất khó

Trong đào tạo theo niên chế, đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình (đvht) tương đương với 15 tiết học lý thuyết ở trên lớp, 30 giờ thực hành thí nghiệm, có thể áp dụng rất nhiều phương pháp giảng dạy như thuyết trình, nêu vấn đề, semina, thảo luận nhóm, thực hành, thí nghiệm, đi thực tập thực tế cộng đồng, thực tập tốt nghiệp Tuy đã có rất nhiều hội thảo về đổi mới công tác giảng dạy nhưng phương pháp học tập của SV ở trên lớp còn thụ động, chủ yếu

là nghe giảng, ghi chép, học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng Về lượng giá còn chưa đa dạng hóa các loại hình, các hình thức lượng giá làm chuyên đề, làm bài tập lớn còn chưa được áp dụng rộng rãi

Trang 20

12

1.2.1.2 Phương thức đào tạo theo tín chỉ

Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn

Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học sẽ tính theo sự tích lũy kiến thức của SV, khi tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp, được ra trường

Trong đào tạo theo tín chỉ, SV phải tự đăng ký lịch học, nếu không đăng ký

sẽ không có lịch học Vì thế, SV có quyền lựa chọn, không chỉ các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn hỗ trợ cho ngành nghề sau này Ngoài ra, có thể học thêm ngoại ngữ, tin học (học bằng 2) Với việc được chủ động ghi tên học các học phần khác nhau, SV dễ dàng thay đổi chuyên ngành trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu Nó cho phép SV chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợp nhất, cho phép rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập đối với bản thân họ

Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ có tính liên thông cao Các khối kiến thức đại cương (Toán, hóa, sinh ) và các môn chung như Mác - Lênin, ngoại ngữ, tin học được xây dựng trên một nền chung đáp ứng cho tất cả các ngành đào tạo trong một lĩnh vực đào tạo nhất định Điều đó tạo điều kiện cho SV có khả năng học liên thông các ngành trong cùng một lĩnh vực, có thể học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể phấn đấu học được hai hoặc ba bằng đại học

Đơn vị đo lường khối lượng học tập là tín chỉ , 1 tín chỉ tương đương với 15 tiết giảng lý thuyết, 30 giờ thực hành thí nghiệm Mỗi học kỳ SV phải tích lũy tương đương 15 tín chỉ Để chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định chuyển đổi chương trình đào tạo theo niên chế sang chương trình đào tạo theo tín chỉ theo tỷ lệ: cứ 1,5 ĐVHT quy đổi thành 1TC Như vậy trong đào tạo theo tín chỉ, thời gian có mặt ở trên lớp giảm đi 1/3 thay vào

đó là thời gian tự học phải tăng lên Theo quy định cứ 1 tín chỉ SV phải tự học là 30

Trang 21

13

tiết Như vậy thời gian giảng dạy trên lớp giảm đi, thời gian tự học của SV tăng lên trong khi không được giảm yêu cầu đánh giá Vậy làm thế nào để đảm bảo chất lượng? Vấn đề cấp bách là phải đổi mới phương pháp giảng dạy Việc tiếp tục giảng dạy bằng phương pháp truyền đạt một chiều không còn phù hợp nữa Nếu giảng viên cùng với phương tiện hỗ trợ (máy tính xách tay + Projector) tăng tốc độ giảng lên 2 lần để cho không bị "cháy giáo án" thì SV sẽ bị quá tải về thông tin và không phân biệt được nội dung trọng tâm, từ đó không hiểu bài, không hiểu bản chất của vấn đề, dẫn đến chất lượng học tập giảm sút

Bởi vậy, phương châm giảng - dạy trong đào tạo tín chỉ là học - hiểu, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, SV phải được tham gia vào từng vấn đề của bài giảng, được giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giảng viên Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Tiến sĩ Vũ Văn Xê, Trường Đại học Cần Thơ cho rằng “Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân Hầu hết sinh viên đều nhận thức rằng vấn đề tự học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chỉ (83%), tuy nhiên việc tự học này đồng nghĩa với hình thức học cá nhân (62,1%), không phụ thuộc vào người khác và không cần sự cộng tác của bạn bè Học theo chương trình tín chỉ hóa nên việc tự học là rất quan trọng, tuy nhiên để nhằm bổ sung thêm kiến thức SV thường tạo ra những nhóm học để các bạn dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong học tập Có lớp cho rằng việc tự học có nghĩa là học theo nhóm (61,3%)

Như vậy, việc dạy học tín chỉ hiện nay sẽ buộc SV phải thực hiện quá trình học tập tự giác, độc lập, học bất cứ ở đâu, mọi lúc, mọi nơi Việc thay đổi từ quan niệm lấy người dạy làm trung tâm sang quan niệm lấy người học làm trung tâm đã dẫn đến việc thay đổi cơ bản vai trò của người dạy: phương pháp truyền đạt kiến thức hoặc cách tiếp cận nội dung (nhằm cung cấp cho người học càng nhiều kiến thức càng tốt) được thay bằng cách tiếp cận mục tiêu sao cho người học đạt được mục tiêu xây dựng những kỹ năng cao cấp, như phân tích, tổng hợp, phán đoán, phản biện, ra quyết định, giải quyết vấn đề…”

Với những ưu điểm vượt trội so với hình thức đào tạo theo niên chế thì đào tạo theo học chế tín chỉ trở thành một xu thế tất yếu mà các trường cao đẳng, đại

Trang 22

14

học phải hướng tới và triển khai thực hiện Với xu thế chung đó, đào tạo theo hệ thống tín chỉ ngày càng được thực hiện rộng rãi ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước

1.2.2 Hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH)

1.2.2.1 Khái niệm

Theo quan điểm của triết học "hình thức là phương thức tồn tại của sự vật, hiện tượng, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó

"hình thức và nội dụng là hai mặt biểu hiện của một sự vật, hiện tượng [2,tr.224]

Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), hình thức là cách thức và khuôn khổ bên ngoài, khác với nội dung bên trong của sự vật, sự việc Nội dung là cái bản chất, bất biến còn hình thức là cái bề ngoài, cái thay đổi của sự vật hiện tượng [25]

Hình thức tổ chức dạy học là một khái niệm trong khoa học giáo dục Theo Thái Duy Tuyên (1998) "Hình thức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học" [36,tr 251] Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005) thì "Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học [24,tr.245] Theo Đặng Vũ Hoạt (2006) hình thức tổ chức dạy học là "hình thức hoạt động dạy học được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy đại học đã quy định" [17,tr175], trong đó, hình thức tổ chức dạy học là một chỉnh thể thống nhất giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp

và phương tiện dạy học Trong dạy học sinh học, tác giả Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành cho rằng "Hình thức tổ chức dạy học được xác định bởi thành phần học sinh, vị trí bài, thời gian tiến hành bài học, trật tự các hoạt động của học sinh, sự chỉ đạo của giáo viên" [1,tr.30 ]

Theo quan điểm của lí luận dạy học, QTDH là hoạt động dạy và học, được xem xét như là một hệ thống toàn vẹn được tạo nên bởi các yếu tố cấu trúc cơ bản: mục tiêu; phương pháp; nội dung; hình thức tổ chức, phương tiện dạy học và kiểm tra đánh giá Các yếu tố này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau và được mô

tả như sơ đồ dưới đây:

Trang 23

- PT: Phương tiện dạy học

- ĐG: Kiểm tra đánh giá Như vậy, HTTCDH là một yếu tố cấu thành của quá trình dạy học Nếu mục đích và nội dung dạy học là mặt bên trong thì HTTCDH chính là mặt bên ngoài của quá trình dạy học Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học là mối quan

hệ nội dung và hình thức Trong đó, mục đích dạy học sẽ quy định nội dung dạy học, nội dung sẽ quy định phương pháp và phương phương tiện, căn cứ vào đó và dựa theo điều kiện thực tế mà đưa ra các hình thức dạy học sao cho phù hợp Nói cách khác, hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của từng đơn vị nội dung dạy học, phản ánh quy mô, địa điểm và thành phần học sinh tham gia vào đơn

vị nội dung dạy học Việc xác định HTTCDH chính là đi trả lời câu hỏi: đơn vị nội dung dạy học là gì? thành phần tham gia là ai, quy mô như thế nào? Cần phải chuẩn

bị cái gì và như thế nào? được thực hiện ở đâu? vào thời điểm nào? Theo đó, HTTCDH được xây dựng phù hợp đặc điểm của đơn vị kiến thức, môn học, cấp học

và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HTTCDH có “tính mở", "tính linh hoạt" và "tính lịch sử"

Trong dạy học, tùy vào từng đơn vị nội dung, tùy từng bài học mà có thể sử dụng một vài HTTCDH Việc sử dụng những HTTCDH khác nhau cho phép đảm bảo được các nguyên tắc dạy học ( như: nguyên tắc trực quan, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn lí thuyết với thực hành, ) Theo đó, việc lựa chọn HTTCDH phù hợp được quyết định bởi nhiệm vụ dạy học (cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng

Trang 24

là HTTCDH chính thức đầu tiên được đưa ra và vẫn được áp dụng phổ biến trong giáo dục nước ta hiện nay, các hoạt động dạy và học được tổ chức chặt theo những quy tắc nhất định Tuy nhiên, hình thức này đôi khi còn thể hiện tính cứng nhắc, người học phải tuân theo một quy trình đào tạo đã được đề ra sẵn, không được tự do lựa chọn nội dung học tập phù hợp với mình, hạn chế tính sáng tạo của GV và của

HS

Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã đưa ra ba nhóm HTTCDH được áp dụng trong hệ thống các trường đại học đó là [17]:

Loại 1: HTTCDH nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri thức, hình thành kỹ năng,

kỹ xảo, bao gồm diễn giảng; thảo luận, tranh luận; Seminar; tự học; giúp đỡ riêng; làm bài tập thí nghiệm; thực hành học tập, thực hành sản xuất; bài tập nghiên cứu, khóa luận, luận văn tốt nghiệp; DH chương trình hóa

Loại 2: Là hình thức DH nhằm kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

của sinh viên, bao gồm kiểm tra; sát hạch; thi các thể loại; bảo vệ khóa luận và luận văn tốt nghiệp

Loại 3: Các hình thức có tính chất ngoại khóa, bao gồm nhóm ngoại khóa

theo môn học; hình thức câu lạc bộ khoa học; các hình thức nghiên cứu và phổ biến khoa học; các hoạt động xã hội; hội nghị học tập

Tác giả Thái Duy Tuyên cũng đưa ra hệ thống các HTTCDH trong nhà trường, gồm có: hình thức học tập lên lớp; hình thức học tập ở nhà; hình thức thảo luận; hình thức hoạt động ngoại khóa; hình thức tham quan học tập; hình thức bồi dưỡng HS kém và HS có năng khiếu [36, tr251]

Trang 25

(2) Căn cứ vào sự chỉ đạo của GV đối với toàn lớp hay đối với nhóm HS trong lớp

mà có các hình thức: Hình thức dạy học toàn lớp, hình thức dạy học theo nhóm, hình thức dạy học theo cá nhân

Như vậy, việc phân chia các HTTCDH đều dựa trên những cơ sở là nội dung kiến thức, các thành phần tham gia, không gian và thời gian diễn ra các hoạt động dạy - học, Có thể nhận thấy rằng, giáo dục phát triển thúc đẩy làm đa dạng hóa các HTTCDH, hỗ trợ nhiều hơn cho hoạt động của GV và HS, từ đó, làm tăng hiệu quả dạy học Căn cứ theo những cách phân chia ở trên và theo khái niệm chúng tôi phân loại các HTTCDH hay hình thức học như sau:

Căn cứ theo địa điểm tổ chức có: Hình thức học trên lớp; Hình thức học ngoài lớp (vườn trường, phòng thí nghiệm, thực tế thiên nhiên, )

Căn cứ theo quy mô lớp học có: Hình thức dạy học toàn lớp; hình thức dạy học theo nhóm; hình thức dạy học cá nhân

Căn cứ theo nội dung dạy học có: HTTCDH lĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới; Hình thức tổ chức ôn tập củng cố kiến thức; Hình thức tổ chức kiểm tra đánh giá

Căn cứ theo hoạt động của người dạy và người học mà có các hình thức: seminar, thảo luận, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm

1.2.2.3 Các hình thức tổ chức dạy học ứng dụng CNTT & TT

Ứng dụng CNTT vào dạy học là một giải pháp hữu hiệu trong đổi mới PPDH

và HTTCDH vì nó khắc phục được mặt tĩnh của sách giáo khoa, giáo trình và các PTDH truyền thồng Hơn nữa nó còn tích hợp được truyền thông đa phương tiện

CNTT & TT là "Tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được

sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin" [42, tr6] Yếu tố

công nghệ được sử dụng ở đây bao gồm CNTT (máy tính và Internet), công nghệ truyền thông (Radio, truyền hình, điện thoại, )

Những hình thức tổ chức DH có sự hỗ trợ của CNTT & TT bao gồm:

- Học tập được trợ giúp bởi công nghệ (Technology Enhanced Learning – TEL)

Trang 26

18

- Học tập dựa vào công nghệ (Technology Based Learning – TBL)

- Dạy học với sự trợ giúp của máy tính (Computer-Assisted Instruction - CAI)

- Đào tạo qua máy tính (Computer Based Training – CBT)

- Dạy học được quản lý trên máy tính (Computer Managed Instruction – CMI)

- Dạy học tương tác qua đa phương tiện (Interactive Multimedia Instruction – IMI)

- Hệ thống học tập tích hợp (Integrated Learning Systems – ILS)

- Đào tạo trên mạng (Web Based Training – WBT)

- Học tập điện tử (Electronic Learning, E-learning) [15, tr57]

Như vậy mỗi mức độ ứng dụng của CNTT & TT lại có một HTTCDH tương ứng tuỳ thuộc vào việc GV sử dụng trong các hoạt động giảng dạy hay HS sử dụng vào trong các hoạt động học

1.2.2.4 Hình thức tổ chức dạy học kết hợp ( Blended Learning) là xu thế tất yếu

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì sự giao thoa giữa các HTTCDH ứng dụng CNTT & TT với HTTCDH truyền thống ngày càng sâu sắc làm xuất hiện một khái niệm mới – Đó là dạy học kết hợp (Blended Learning)

DH kết hợp "Blended Learning - BL" xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức

là "pha trộn" để chỉ một HTTCDH hết sức linh hoạt, là sự kết hợp "hữu cơ" của

nhiều HTTCDH khác nhau Đây là một hình thức học khá phổ biến trên thế giới

Hình 1.2 Sự phát triển của các HTTCDH [41]

“Mô hình trên cho thấy rõ quy luật, xu thế vận động và phát triển của HTTCDH trong tương lai HTTCDH ứng dụng CNTT & TT ngày càng phát triển thì nó càng kết hợp sâu sắc với HTTCDH truyền thống Tuy nhiên, nó cũng không

Trang 27

19

thể thay thế hoàn toàn lên HTTCDH truyền thống” [7] Với các cách định nghĩa khái niệm trên, các tác giả mới chỉ nói đến sự kết hợp chung chung, thậm chí mới chỉ dừng lại mức độ kết hợp bề ngoài giữa hai HTTCDH truyền thống và HTTCDH trực tuyến hoặc nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau: kết hợp về nội dung, kết hợp

Tóm lại, có thể nói “Hình thức dạy học kết hợp kết hợp ưu điểm của dạy học trực tuyến và ưu điểm của dạy học truyền thống, nó đang nổi lên như là mô hình giảng dạy chủ yếu của tương lai” [46]

Việc dạy học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Theo một số nghiên cứu được công bố đã đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là kết hợp ở mức hoạt động (Activity lever); kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse lever); kết hợp ở

Trang 28

Sự kết hợp giữa các phương pháp dạy học khác nhau nhằm tận dụng lợi thế

từ sự hỗ trợ của công nghệ hoặc kết hợp được thực hiện trong một khâu hay giữa các khâu của quá trình dạy học nhằm tận dụng ưu điểm của các HTTCDH trong quá trình thực hiện mục tiêu dạy học Có thể thấy, trong dạy học kết hợp, người dạy và người học được lựa chọn phương án làm việc thuận lợi nhất cho mình

Tuy nhiên, cần chú ý không phải tất cả các chương trình học đều có thể được thực hiện tốt nhất trong môi trường trang thiết bị điện tử, đặc biệt là những nội dung thí nghiệm, thực hành Do đó trước khi tổ chức dạy học cần căn cứ vào đặc điểm nội dung và mục tiêu rèn luyện kĩ năng và điều kiện dạy học để lựa chọn hình thức, phương pháp và phương tiện giảng dạy thích hợp

Trong điều kiện hiện nay, dạy học kết hợp còn chưa được phổ biến Để triển khai hình thức dạy học kết hợp hiệu quả cần phải thực hiện theo một lộ trình thích hợp Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng và những yêu cầu cần thiết, chúng tôi đề xuất lộ trình triển khai việc dạy học kết hợp qua ba bước:

Học kết hợp

Kết hợp về mặt phương pháp

Kết hợp trong các khâu của quá trình dạy học

Kết hợp về mặt nội dung

Kết hợp trong một khâu Kết hợp giữa các khâu với nhau Mức độ hoạt động

Mức độ bài học Mức độ chương Mức độ chương trình

Trang 29

21

Bước 1 - Làm quen: Trong bước này, người dạy và người học được tiếp xúc với những yếu tố của dạy học kết hợp để rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho việc dạy học kết hợp như sử dụng, khai thác mạng, làm việc với website… Đồng thời, phát triển hệ thống các tài liệu học tập, từng bước tiếp cận hệ thống quản lý học tập điện tử Đây là khâu chuẩn bị, tạo tiền đề triển khai các bước tiếp theo

Bước 2 - Thử nghiệm: Tiến hành triển khai thí điểm một số nội dung, xem xét kết quả, phân tích và rút ra nhận định làm cơ sở cho sự điều chỉnh cải tiến các nội dung học Hoàn thiện dần hệ thống tư liệu điện tử

Bước 3 - Triển khai: Áp dụng triển khai thực tế các hình thức kết hợp trong quá trinh dạy học, thường xuyên nghiên cứu, cải tiến mô hình sao cho phù hợp

Thực tế hiện nay, bước 1 đang được triển khai trong nhà trường với các nội dung đào tạo về CNTT & TT cho GV và HS Do vậy, trong đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu triển khai tiếp bước hai là xây dựng thí điểm một số nội dung nhằm đánh giá và đưa ra mô hình dạy học kết hợp có tính khả thi và hiệu quả nhất

* Website

World Wide Web là một trong những dịch vụ mới nhất trên Internet Tim Berners Lee được biết đến như cha đẻ của Website, ông đã đề xuất về World Wide Web vào đầu năm 1989

Trong World Wide Web có dạng Hypertext (siêu văn bản), có chứa các siêu liên kết (Hyperlink) với các tư liệu khác liên quan và nằm khắp nơi trên thế giới, có khả năng định hướng Internet dễ dàng Hệ thống mã hoá (một nhóm nhỏ kí tự 2 hay

3 chữ…) dùng để định dạng, xác định các siêu liên kết của tài liệu Website gọi là

“ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản” (Hypertext Markup Language - HTML).Website

Trang 30

22

phát triển rất nhanh và chỉ vài năm nó không còn có giới hạn trong siêu văn bản (Hypertext) mà trở thành một hệ thống siêu phương tiện (Hypermedia)

* Hyperlink (siêu liên kết)

Hyperlink là liên kết phổ biến nhất gặp trên Website Hyperlink có thể là một

từ hoặc một câu xuất hiện trong các hồ sơ điện tử (File) và được liên kết với thông tin trong hồ sơ khác Khi chọn siêu văn bản, màn hình sẽ tự động hiển thị các hồ sơ

và các thông tin khác liên kết với từ hoặc câu đó Các trình duyệt (Browser) hiển thị các hồ sơ trong đó các siêu liên kết được đánh dấu

* Hypermedia

Hypermedia là một công nghệ phần mềm, cho phép tổ chức và lưu trữ thông tin trên cơ sở sự truy cập và phát hành của các tác giả và người sử dụng Hệ thống Hypermedia cho phép mở rộng trong thiết kế và cùng cộng tác để giải quyết một vấn đề của các chương trình ứng dụng, các tài liệu trực tuyến (online), hệ thống trợ giúp và truy tìm thông tin, viết các trình trợ giúp và gần đây trở thành công cụ để

hướng dẫn và học tập

Hình 1.5 Mô hình của dịch vụ Web

1.2.3.2 Phân loại website dạy học

Trên cơ sở các tiêu chí khác nhau chúng tôi phân loại các Website dạy học thành các nhóm với các dạng khác nhau (Bảng 1.1)

Internet

HTM L…

Trang 31

- Công ty doanh nghiệp, tổ chức lớn

mà các Website hướng đến

số khâu của QTDH

- Học kiến thức mới

- Ôn luyện, củng cố kiến thức

- Kiểm tra, đánh giá

- DH trực tuyến Việc phân loại như trên chỉ mang tính tương đối, vì những mô hình Website dạy học hiện nay khá đa dạng Bên cạnh những ưu điểm thì nó còn tồn tại khá nhiều

vấn đề cần phải khắc phục nhằm nâng cao chất lượng học tập

1.2.3.3 Website dạy học thuận lợi để thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ

- Hỗ trợ giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy

Người giáo viên không chỉ đơn giản là người phát thông tin vào đầu HS mà

sẽ trở thành người hướng dẫn để HS tự tìm ra những kiến thức đó Đồng thời, người giáo viên cũng đóng vai trò là người học thường xuyên vì sự nâng cao hiểu biết của chính thầy Với mạng máy tính, các giáo viên có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và việc học của mình

Trang 32

24

Giáo viên tạo ra các nội dung học tập và có thể xây dựng các mô hình, các đoạn video, flash về các hiện tượng mà học sinh khó có điều kiện quan sát để minh họa cho bài giảng, làm bài học trở nên sinh động, hấp dẫn và dễ hiểu hơn đối với học sinh, đồng thời lựa chọn các tình huống có vấn đề đưa lên website, học sinh tự tìm ra và giải quyết

- Hỗ trợ tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh

Trong dạy học, để tạo sự tò mò, tìm hiểu các vấn đề xung quanh, kích thích hứng thú nhận thức, rèn luyện kĩ năng phân tích, đánh giá, tính sáng tạo của học sinh, giáo viên thường sử dụng phương pháp học tập tình huống Vai trò của giáo viên lúc này là hướng dẫn tạo điều kiện, tạo môi trường học tập, thúc đẩy học sinh tham gia Bằng những ảnh chụp, các mô hình, hình vẽ, sơ đồ, các đoạn videoclip quay cảnh thật, các flash… trong đó yếu tố quan trọng nhất là lựa chọn tình huống

có tính chất nghịch lý (tình huống có vấn đề) đưa vào website Học sinh gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết, từ đó phát hiện ra vấn đề phải giải quyết

- Hỗ trợ hình thành kiến thức, kỹ năng mới

Trong sinh học có nhiều hiện tượng diễn ra mà con người không thể quan sát trực tiếp được như các hoạt động sinh lí trong cây, trong cơ thể người… Vì vậy, việc sử dụng các mô hình, tranh ảnh, các đoạn videoclip, các flash mô phỏng các hiện tượng nhằm cung cấp cho học sinh những hình ảnh trực quan với làm cơ sở thực nghiệm giúp học sinh kiểm chứng những kiến thức đã học, giúp các em hiểu bài một cách sâu sắc hơn Điều đó còn tạo nên sự trình diễn sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh

- Củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh

Website dạy học không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản yêu cầu học sinh phải nắm vững mà còn mở rộng thêm các kiến thức cho học sinh, đáp ứng nhu cầu ham học hỏi, nghiên cứu của các em Bởi vậy, website bổ sung thêm một số các hình ảnh, đoạn video, flash… chưa được sử dụng trong bài học có thể dùng trong việc củng cố bài học bài học hoặc nghiên cứu những kiến thức mới

- Kiểm tra và đánh giá kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã thu được

Trang 33

25

Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu được của quá trình dạy học Đó là yêu cầu khách quan đối với việc phát triển lý luận dạy học Website dạy học cũng đáp ứng được điều này vì website giúp các em kiểm tra và đánh giá các kiến thức, kĩ năng mà các em tiếp thu được trong suốt một quá trình hoặc tự kiểm tra trình độ, sự hiểu biết của mình thông qua các câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận bên dưới mỗi bài học

Giáo viên có thể kiểm tra học sinh thông qua các bài kiểm tra Hình thức kiểm tra rất đa dạng, có thể sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm đúng sai, câu hỏi đa sự lựa chọn, câu hỏi điền từ, câu hỏi có nhúng với đồ họa và text mô tả… Các bài kiểm tra trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học Thông qua việc kiểm tra đánh giá thường xuyên, nhanh chóng được sử dụng như một biện pháp tích cực, hữu hiệu chỉ đạo hoạt động học Nó có tác dụng định hướng hoạt động tích cực, tự chủ của học sinh

- Về mặt nhân lực: Có sự tham gia của những GV giỏi, những chuyên gia hàng đầu thuộc các môn học khác nhau

- Về mặt công nghệ: Ứng dụng thành công một số giải pháp tiên tiến nhất hiện nay vào phát triển mô hình dạy học đặc biệt là sự đa dạng và phong phú của công nghệ phần mềm, ngoài ra còn các dịch vụ hỗ trợ và tiện ích khác như tốc độ đường truyền, chất lượng âm thanh, hình ảnh

- Về mặt thực hiện nhiệm vụ dạy học: Tăng tính tương tác, tính đa lựa chọn, tính linh hoạt và tính mở Tạo ra được những thay đổi tích cực về mặt nội dung và phương pháp so với học truyền thống góp phần đem lại những hiệu quả và hứng thú học tập nhất định

- Về mặt quản lý hoạt động, chất lượng: Tiến hành các hoạt động kiểm tra đánh giá thường xuyên, liên tục và toàn diện dưới nhiều hình thức Từ đó, nhanh chóng phân

Trang 34

26

loại, nắm bắt tình hình HS, thu nhận thông tin ngược để có những điều chỉnh phù hợp với năng lực, trình độ và điều kiện học của từng cá nhân HS

* Nhược điểm

Ngoài những ưu điểm như trên, Website DH hiện nay còn tồn tại một số hạn

chế Theo ThS Trương Tinh Hà, nguyên giám đốc điều hành mạng giaovien.net (http:/www.giaovien.net/) đã chỉ ra năm nhược điểm ở website giáo dục Việt Nam

đó là: chưa nhận định rõ trình độ và chưa xác định đúng đối tượng; chưa chuẩn bị tốt các tài liệu phục vụ công tác giảng dạy; Website mắc nhiều lỗi thiết kế; thiếu tính tương tác; thiếu tính cập nhật [12] Đánh giá một cách toàn diện, chúng tôi nhận thấy một số nhược điểm của Website dạy học là:

- Về lý luận: Việc sử dụng website dạy học mới thực sự chỉ được tiến hành hiệu quả

ở một số khâu của quá trình dạy học (như ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá), trong khi một quá trình dạy học hoàn thiện phải được thực hiện theo trình tự: kiểm tra kiến thức đầu vào → học kiến thức mới → ôn tập củng cố → kiểm tra đánh giá

- Về phương pháp: Vận dụng PPDH chưa được linh hoạt Một số website đưa lên những đoạn video quay lại bài giảng trên lớp, người học có thể mở ra và xem giống như ngồi học trên lớp Bề ngoài tuy có vẻ là tốt, nhưng thực chất đó chỉ là một biện pháp "xem - chép" người học chưa có kỹ năng để tổng hợp kiến thức như học trên lớp trong khi lại không có sự hướng dẫn trực tiếp từ GV, không hề có sự tương tác giữa người dạy và người học

- Chất lượng học liệu thấp, số lượng chưa đủ đáp ứng nhu cầu học, tính cập nhật còn thấp Đây là một trở ngại không nhỏ khi tiến hành dạy qua mạng

- Một số website thiên về biểu diễn, cung cấp tất cả những kiến thức cần thiết cho người học dẫn đến tình trạng ỷ lại, kiến thức trùng lặp quá nhiều với sách, giáo trình, chưa tận dụng hết nguồn học liệu ngoài mạng, chưa rèn luyện được cho người học tư duy làm việc độc lập với máy tính và Internet

- Do chưa có những nghiên cứu sâu sắc về kỹ thuật dạy học qua mạng Internet nên việc xây dựng các khóa học còn chưa có những tính toán cụ thể làm sao phù hợp nhất với từng môn học, nhóm đối tượng, từng bài học, khả năng của từng HS, điều kiện học tập và đặc điểm của địa phương

* Nguyên nhân hạn chế

Trang 35

27

- Thứ nhất: Cơ sở vật chất còn thiếu, hệ thống phần mềm hỗ trợ Việt hóa còn ít Do

đó gây khó khăn cho việc tiếp cận và sử dụng của người dạy và người học

- Thứ hai: Thiếu đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng các hệ thống đào tạo trực tuyến

- Thứ ba: Quan điểm hiện tại về dạy và học qua mạng chưa khuyến khích được sự phát triển của những hình thức đào tạo trực tuyến xuất phát từ những lo ngại điều kiện triển khai và chất lượng đào tạo

- Thứ tư: Yếu tố con người chưa sẵn sàng cho việc tiếp cận và triển khai hình thức học này Có thể thấy đây là yếu tố đóng vai trò nội lực quyết định phần lớn đến sự phát triển của dạy và học qua mạng Internet

1.3.2 Thực trạng khai thác và sử dụng Internet trong dạy học ở các trường CĐSP nói chung

Để nghiên cứu và đưa ra cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng một website dạy học hiệu quả chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng Internet trong dạy và học với hai đối tượng là GV và SV tại một số trường CĐSP

1.3.2.1 Mục đích điều tra

 Đối với GV:

- Điều tra về mức độ sử dụng các tư liệu, phương tiện kĩ thuật số

- Điều tra mức độ khai thác và sử dụng mạng Internet trong DH, những khó khăn

gặp phải khi khai thác mạng Internet trong dạy học

- Điều tra mức độ sử dụng PMDH trong hoạt động dạy học của GV

- Thăm dò ý kiến GV về việc sử dụng website dạy học

 Đối với SV:

- Điều tra mức độ sử dụng và khai thác mạng Internet trong học tập

- Điều tra những khó khăn gặp phải khi sử dụng mạng Internet trong học tập

- Kỹ năng tự học của SV

1.3.2.2 Kết quả điều tra và đánh giá

Chúng tôi đã tiến hành điều tra, thăm dò ý kiến trên 130 GV và 223 SV của trường CĐSP Hà Giang, trường CĐSP Tuyên Quang

Kết quả thống kê như sau:

 Đối với SV:

Trang 36

28

- Về mức độ và sử dụng mạng Internet của SV: Được thể hiện qua bảng 1.2

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng mạng Internet của SV một số trường CĐSP

Trong số được hỏi, hoạt động chủ yếu khi truy cập Internet giành cho giải trí (74%), chỉ có 30% thời gian giành cho học tập và tìm kiếm thông tin Mức độ thường xuyên truy cập Internet tìm thông tin liên quan đến việc học chỉ là 19%, còn lại 36% chỉ là thỉnh thoảng và 41% chỉ tìm khi cần thiết Số SV được hỏi đã được nghe nhắc đến khái niệm website dạy học là 45%, trong đó có 19% đã được tiếp xúc

 Đối với GV:

Trang 37

- Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm thông tin trên mạng Internet đối với GV

được thể hiện trong bảng 1.5

Bảng 1.5 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của GV

Thông tin có giá trị sử dụng thấp, phải chế biến lại 33%

Thông tin có bản quyền, không thể download được thông tin 17%

- Về kỹ năng sử dụng PM, phần lớn GV đều có khả năng sử dụng các PM cơ bản vào việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử như Microsoft Word, PM trình chiếu,

PM gõ Tiếng Việt Vietkey,… Chỉ có một số ít biết sử dụng PM chỉnh sửa ảnh, PM thiết kế Web

- Về mức độ sử dụng các phương tiện kĩ thuật số: Được thể hiện ở bảng 1.6

Trang 38

GV thiếu các nguồn tư liệu kĩ thuật số phù hợp với nội dung dạy học Có một số ít

GV sưu tầm được, nhưng không biết cách gia công sư phạm và gia công kỹ thuật các tư liệu đó, việc sử dụng thường chỉ là những ảnh (tĩnh hoặc động) có sẵn được sưu tầm từ các đĩa CD và các nguồn khác, có thể xem đó là nguồn tư liệu “thô”, nên mức độ sử dụng còn rất ít, hiệu quả còn rất hạn chế

Nhìn chung, các GV đều mong muốn được trang bị các kiến thức về tin học

và mong được tham gia các lớp tập huấn về kĩ năng sử dụng máy tính và thiết kế bài giảng đa phương tiện

Qua đánh giá kết quả điều tra, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

- Phương pháp giảng dạy của GV vẫn chưa được đổi mới, chưa thực sự đầu tư nghiên cứu phối hợp sử dụng PPDH hợp lý

- GV đã nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của PTDH, nhưng mức độ sử dụng PTDH trong dạy - học bộ môn còn nhiều hạn chế

- GV sưu tầm được các tư liệu dạy học từ các nguồn khác nhau, nhưng không biết cách gia công sư phạm và gia công kỹ thuật các tư liệu đó Mọi GV đều có nhu cầu cao về các PTDH kĩ thuật số để xây dựng BGĐPT trong dạy học

- Trong điều kiện hiện nay việc triển khai website dạy học còn gặp khó khăn do GV

và SV ít được làm quen và chưa được đào tạo đầy đủ những kỹ năng về CNTT

- Cả GV và SV đều có thái độ tích cực đối với website dạy học, đây là một tín hiệu tốt cho việc triển khai các hình thức trong tương lai

Trang 39

31

Bởi vậy, DH kết hợp là một giải pháp hữu hiệu nhất hiện nay, trên cơ sở những điều thuận lợi đã có, tạo ra một cách tiếp cận, một thói quen với hình thức học này Từ đó tạo cơ sở để triển khai bước hai trong thời gian tới

Kết luận chương 1:

Chương 1 tập trung nghiên cứu tổng quan về tình hình ứng dụng CNTT vào dạy - học trên thế giới và Việt Nam và cơ sở lí luận của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ cùng các hình thức tổ chức tổ chức dạy học, từ đó nêu bật xu thế tất yếu của dạy học kết hợp để định hướng cho việc xây dựng và sử dụng website dạy học thuận lợi cho phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Đây là điểm tựa lí thuyết cho đề tài Đồng thời, khảo sát thực trạng liên quan trực tiếp đến đề tài như: thực trạng khai thác và sử dụng internet ở các trường CĐSP, thực trạng triển khai website dạy học ở Việt Nam để tìm ra những hạn chế trong xây dựng sử dụng website dạy học Qua đó, làm nổi bật tính cấp bách của đề tài và làm cơ sở cho việc

đề xuất các nguyên tắc, quy trình xây dựng website và vận dụng vào xây dựng và sử dụng website chương Sinh trưởng và phát triển của Thực vật

Trang 40

32

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG WEBSITE ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CHƯƠNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 2.1 Nguyên tắc xây dựng và sử dụng website dạy học

2.1.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu dạy học

Theo quan điểm “công nghệ” thì mục tiêu là “đầu ra” là cái đích cụ thể của một quá trình, một công đoạn sản xuất Việc xác định mục tiêu có trúng, có cụ thể thì mới có căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu quả của mỗi công đoạn, mỗi quá trình sản xuất

Theo quan điểm “dạy - học lấy HS làm trung tâm” thì mục tiêu đề ra là cho

HS, do HS thực hiện chứ không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dung chương trình quy định; nó không phải là chủ đề của bài học mà là cái đích HS phải đạt tới; là nhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành

Để quán triệt nguyên tắc này, cần tuân thủ những qui tắc viết mục tiêu bài học sau đây:

+ Mục tiêu phải định rõ mức độ hoàn thành công việc của HS; nghĩa là cần chỉ rõ học xong bài này HS phải đạt được cái gì, chứ không phải là trong bài này GV phải làm gì

+ Mục tiêu phải nói rõ “đầu ra” của bài học chứ không phải chỉ nêu lên tiến trình bài học hay tóm tắt nội dung bài học

+ Mục tiêu không đơn thuần là chủ đề bài học mà là cái đích bài học phải đạt tới + Mỗi mục tiêu chỉ nên phản ánh một “đầu ra” để thuận tiện cho việc đánh giá kết quả bài học Nếu bài học có nhiều mục tiêu thì nên trình bày riêng từng mục tiêu, với mức độ phải đạt về mỗi mục tiêu đó

+ Mỗi “đầu ra” trong mục tiêu nên được diễn đạt bằng một động từ được lựa chọn

để xác định rõ mức độ HS phải đạt bằng hành động Những động từ như “nắm được”, “hiểu được” thường thích hợp cho những mục tiêu chung

Quá trình dạy học cần hình thành ở HS 3 loại mục tiêu dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng Để diễn đạt mục tiêu cụ thể cần chọn những động từ gợi ý dưới đây:

a Về kiến thức:

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w