1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tổ chức dạy học theo dự án phần hai sinh học tế bào sinh học 10 trung học phổ thông

121 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về dự án như nêu trên chỉ quan tâm về mặt kế hoạch hành động, một chương trình hành động, chưa quan tâm, chưa đề cập, chưa làm rõ sử dụng kiến thức trong nội dung học để hoàn t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ NGA

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN HAI SINH HỌC TẾ BÀO SINH HỌC 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ NGA

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

PHẦN HAI SINH HỌC TẾ BÀO SINH HỌC 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN SINH HỌC)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Thành

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và thành kính tới Thầy giáo PGS TS Nguyễn Đức Thành đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, các Cô giáo trong khoa sau Đại học, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng toàn thể các Thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong thời gian tôi học tập tại trường, đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô giáo giảng dạy bộ môn Sinh học tại trường THPT An Dương, THPT Nguyễn Trãi - Huyện An Dương – Thành phố Hải Phòng, cùng các Thầy Cô giáo tham gia cộng tác đã nhiệt tình tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm

sư phạm

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình tôi đã luôn tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Thị Nga

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Vấn đề nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

9 Cấu trúc luận văn 4

10 Những đóng góp mới của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài 5

1.1.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài 6

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án 8

1.2.1 Khái niệm dự án 8

1.2.2 Khái niệm dạy học theo dự án 9

1.2 3 Mục tiêu của dạy học dự án 10

1.2.4 Đặc điểm dạy học dự án 11

1.2.5 Ưu điểm và hạn chế của dạy học dự án 13

1.2.6 Các loại dự án học tập 14

1.2.7 Cấu trúc dự án học tập 15

1.2.8 Các bước dạy học dự án 16

1.3 Tổ chức dạy học theo dự án 18

Trang 6

1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị của GV 18

1.3.2 Giai đoạn tổ chức thực hiện dự án 19

1.4 Khái niệm năng lực 20

1.4.1 Khái niệm chung về năng lực 20

1.4.2 Cấu trúc năng lực 21

1.4.3 Các loại năng lực 23

1.4.4 Khái niệm về năng lực học tập 24

1.5 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24

1.5.1 Phương pháp xác định 24

1.5.2 Kết quả 24

1.5.3 Thực trạng về năng lực học tập của học sinh lớp 10 ở một số trường THPT của Hải Phòng hiện nay 29

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN 2 SINH HỌC TẾ BÀO (SINH HOC 10) THPT 32

2.1 Phân tích nội dung kiến thức phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 Trung học phổ thông 32

2.1.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng phần hai: sinh học tế bào- sinh học 10, trung học phổ thông 32

2.1.2 Nội dung phần hai: Sinh học tế bào (Sinh học 10) 33

2.2 Năng lực học tập Sinh học tế bào (Sinh học 10) 35

2.3 Thiết kế dự án dạy học phần Sinh học tế bào (Sinh học 10) 36

2.3.1 Nguyên tắc thiết kế dự án 36

2.3.2 Qui trình thiết kế dự án học tập 37

2.3.3 Một số dự án được thiết kế 38

2 4 Tổ chức dạy học theo dự án phần hai: Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT 50

2.4.1 Điều kiện vận dụng để tổ chức dạy học theo dự án 50

2.4.2 Một số dự án cụ thể được tổ chức dạy học trong phần hai: sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT 51

Kết luận chương 2 77

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78

Trang 7

3.1 Mục đích thực nghiệm 78

3.2 Nội dung thực nghiệm 78

3.2.1 Các bài dạy thực nghiệm 78

3.2.2 Các tiêu chí đánh giá trong thực nghiệm 78

3.3 Phương pháp thực nghiệm 78

3.3.1 Chọn trường, lớp 78

3.3.2 Bố trí thực nghiệm 79

3.3.3 Thời gian, người dạy 79

3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 79

3.4 Kết quả thực nghiệm 81

3.4.1 Kết quả học tập của HS 81

3.4.2 Một số kĩ năng học tập theo dự án được hình thành 85

3.4.3 Các năng lực học tập theo dự án đã hình thành 86

3.4.4 Hiệu quả của dạy học dự án phần hai Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT 86 Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra nhận thức của GV về dạy học theo dự án 25

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về sử dụng dạy học theo dự án 26

Bảng 1.3 Kết quả điều tra về nhận thức của HS về học tập theo dự án 28

Bảng 3 1 Kết quả học tập của HS qua 3 bài kiểm tra trong thực nghiệm 81

Bảng 3.2 Các tham số đặc trưng trong thực nghiệm 81

Bảng 3 3 Kết quả học tập của HS sau thực nghiệm 83

Bảng 3.4 Các tham số đặc trưng sau thực nghiệm 83

Bảng 3.5: Kết quả sự hình thành và phát triển một số kỹ năng của lớp TN và ĐC 85 Bảng 3.6: Kết quả sự hình thành và phát triển một số năng lực của lớp TNB và ĐC 86

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá các dự án đã thiết kế của GV 86

Bảng 3.8: Kết quả điều tra sau khi học tập dạy học dựa án phần hai: Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ điểm TB trong thực nghiệm giữa lớp TN và ĐC 82

Hình 3.2 Biểu đồ biến thiên điểm số trong thực nghiệm của lớp TN và ĐC 82

Hình 3.3 Biểu đồ điểm TB sau thực nghiệm giữa lớp TN và ĐC 84

Hình 3.4 Biểu đồ biến thiên điểm số sau thực nghiệm của lớp TN và ĐC 84

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ mục tiêu giáo dục hiện nay của Bộ Giáo dục và đào tạo

Theo nghị quyết hội nghị lần thứ 8, ban chấp hành trung ương khóa XI (nghị quyết số 29 - NQ/TW) về giáo dục trong, sau năm 2015 có sự đổi mới căn bản toàn diện Phát triển năng lực, một trong những biện pháp dạy học dự án

Đổi mới căn bản toàn diện, chuyển từ việc dạy nội dung cho học sinh sang dạy kĩ năng, để tạo điều kiện cho học sinh biết cách tự học, tự tìm kiếm các nội dung kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau

Việc đổi mới chương trình giáo dục trong nhà trường tiến hành dạy tích hợp các nội dung của các môn học với nhau

1.2 Xuất phát từ đặc điểm môn sinh học và đặc điểm nội dung phần ‘‘Sinh học tế bào ’’ – Sinh học 10

Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm và ngày nay đang tiến dần lên sinh học lí thuyết, kiến thức sinh học xuất phát từ đời sống sản xuất và được ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất và đời sống Phần Sinh học tế bào có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn, vì vậy khi dạy học phần này, đòi hỏi những phương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh hình thành, khắc sâu kiến thức một cách chủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập Có thể áp dụng những phương pháp dạy học gắn với thực tế hay xuất phát từ vấn đề thực tế trong cuộc sống cần giải quyết

1.3 Xuất phát từ thực trạng phát triển năng lực học tập trong dạy và học môn Sinh học hiện nay

Hiện nay trong nhà trường THPT việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn gặp nhiều khó khăn Với những phương pháp dạy học truyền thống hiện nay thì nhiều

GV chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức cho HS mà xem nhẹ việc hình thành phương pháp và các kĩ năng học tập cho các em Trong khi đó, kiến thức nhân loại ngày một bùng nổ, lượng kiến thức các em cần tiếp thu cũng càng nhiều Do vậy, nếu HS không được phát triển các kĩ năng học tập cần thiết thì việc tiếp thu kiến thức trở lên quá tải và nặng nề

Trang 11

Bên cạnh đó, trong dạy học bộ môn sinh học, cách dạy học của một bộ phận giáo viên hiện nay còn thiên về lý thuyết, ít liên hệ với thực tế Học sinh ít khi được giao các bài tập, công việc về nhà liên quan đến thực tế Do vậy người học ít có cơ hội được phát triển các năng lực học tập của mình thông qua quá trình nghiên cứu khoa học

Do đó, việc hình thành và phát triển năng lực học tập cho HS thông qua sử dụng các phương pháp dạy học tích cực là một nhiệm vụ quan trọng cần giải quyết của GV và

HS trong quá trình dạy, học

1.4 Xuát phát từ ưu điểm của dạy học dự án

Dạy học dự án là một hình thức dạy học có đặc trưng định hướng vào người học, định hướng hoạt động dạy học theo quan điểm tích hợp dạy học dự án gắn liền

lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp người học nâng cao năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, rèn luyện thái độ và kĩ năng làm việc nhóm

Xuất phát từ các lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần Sinh học tế bào, để học sinh từng học sinh được tham gia vào tìm hiểu thực tế, tôi chọn đề tài: "Tổ chức dạy học theo dự án phần 2 Sinh học tế bào (Sinh học 10 ) Trung học phổ thông"

2 Mục đích nghiên cứu

Sử dụng dự án trong dạy học Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án, năng lực học tập

3.2 Xác định thực trạng việc sử dụng dự án trong dạy học Sinh học nói chung

và phần Sinh học tế bào (Sinh học 10) nói riêng ở một số trường THPT của Hải Phòng

3.3 Phân tích cấu trúc chương trình và nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10), để xác định tiềm năng thiết kế dự án trong dạy học

3.4 Xác định cơ sở và qui trình thiết kế dự án trong dạy học phần Sinh học tế bào (Sinh học 10, THPT)

Trang 12

3.5 Sử dụng dự án tổ chức học sinh học tập trong dạy học phần Sinh học tế bào (Sinh học 10)

3.6 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả dạy học dự án

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy, học Sinh học 10 trường THPT An Dương, Hải Phòng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Dự án học tập và sử dụng dự án trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10, trung học phổ thông

5 Vấn đề nghiên cứu

Sử dụng dự án như thế nào để phát triển được năng lực học tập của học sinh phần Sinh học tế bào ( Sinh học 10) trung học phổ thông

6 Giả thuyết khoa học

Năng lực học tập của học sinh được phát triển nếu có dự án học tập phù hợp

với nội dung và trình độ học sinh, đồng thời tổ chức học sinh tự lực thực hiện dự án

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Góp phần cụ thể hóa cơ sở lý luận của dạy học dự án và triển khai trong dạy học bộ môn có hiệu quả

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Dự án đã xây dựng và tổ chức học tập là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp góp phần vận dụng rộng rãi dạy học dự án trong dạy học Sinh học

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu nhận thức của giáo viên về dạy học theo

dự án, tìm hiểu về vận dụng dạy học dự án trong dạy học hiện nay

8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài

8.4 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

Sử dụng các tham số thống kê X , s2, s, Cv%, td, m, để xử lý số liệu thu được trong thực nghiệm

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính luận văn được trình bầy trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tổ chức dạy học theo dự án trong dạy học phần

Sinh học tế bào (Sinh học 10)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

10 Những đóng góp mới của đề tài

10.1 Xây dựng cơ sở và thiết kế các dự án mẫu để triển khai dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học

10.2 Đề xuất biện pháp tổ chức học tập theo dự án có kết quả

10.3 Đề xuất biện pháp thực hiện mục tiêu dạy học mới là phát triển năng lực học tập ở mức độ cao

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài

1.1.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài

Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một PPDH Khái niệm project đã được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc – xây dựng ở Ý từ cuối thế kỉ 16 Từ đó, tư tưởng DHDA lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mĩ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp

Đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các học thuyết tâm lý giáo dục của J Piagie,

L Vugotxki, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard; J.Deway; W.Kilpatrich) đã xây dựng lý luận cho dạy học dự án DHDA đã được áp dụng cho HS ở mọi lứa tuổi với hầu hết các môn học và trong những môi trường học tập đa dạng Các tác giả

này cho rằng mọi dự án phải có xu hướng trở thành dự án của cuộc sống và đều

phải mang đến chuyển biến cho cuộc sống của HS John Dewey đã nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết và HS là trung tâm của mô hình DHDA Với những quan điểm này ông đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên cho việc dạy theo dự án ở trường Đại học bang Chicago nước Mĩ Và John Dewey đã rút ra nhận

Từ đầu thế kỷ XX, ở Bắc Mỹ cũng như ở Châu Âu, DHDA đã tạo nên một chuyển động xã hội- giáo dục với thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường Nền tảng của chuyển động này là đem đến cho HS sự hào hứng tiếp nhận kiến thức, sự thay đổi phương pháp học tập với sự tham gia một cách có ý thức nhất, tích cực nhất của học sinh vào việc tiếp thu tri thức

Trang 15

Ngày nay, DHDA còn mang tính toàn cầu và càng phát triển hơn với một định hướng quan trọng là sử dụng nó như một phương pháp dạy học tich cực nhằm phát triển năng lực học tập của HS

1.1.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài

Trong lịch sử phát triển Giáo dục ở Việt Nam thì các vấn đề: phát triển năng lực học tập, phương pháp dạy học dự án đã được chú ý từ lâu

Từ năm 2003, chương trình “Dạy học cho tương lai” của Bộ Giáo dục và

Đào tạo đã triển khai phương pháp DHDA tại 20 trường thuộc 9 tỉnh trong cả nước Chương trình này hướng dẫn GV cách triển khai các dự án học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh phát triển các kĩ năng học tập

Từ năm 2011 đến nay, Bộ Giáo dục đã triển khai thử nghiệm dự án “Bàn tay

nặn bột” trong các trường phổ thông tại nhiều tỉnh thành trong cả nước “Bàn tay

nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, áp dụng giảng dạy cho các môn học tự nhiên Phương pháp này chú trọng tới việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các

em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc điều tra Đây cũng là một phương pháp học tập định hướng sự phát triển năng lực học tập đang được Bộ Giáo dục triển khai áp dụng

Gần đây nhất, cuối năm 2013, trong đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo

dục và Đào tạo” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ cần xây dựng chương trình

Giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, tức là tập trung vào các năng lực cần có của mỗi người học Chương trình tiếp cận theo hướng này chủ trương giúp

HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động

cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Để đạt được mục tiêu này, GV phải đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có DHDA

Bên cạnh đó, rất nhiều tác giả có các bài báo, công trình liên quan đến DHDA Hai tác giả TS Nguyễn Văn Cường và TS Nguyễn Thị Diệu Thảo có bài

viết: “Dạy học dự án- một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên”

[24,tr 17] đã tiếp cận phương pháp DHDA từ góc độ lý luận và đã nêu được vai trò

Trang 16

của phương pháp này đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học của GV Tại hội nghị khoa học nữ lần thứ 9, hai tác giả PGS TS Nguyễn Thị Phương Hoa và Võ Thị

Bảo Ngọc đã có bài trình bày về “Tình hình vận dụng phương pháp project trong

dạy học ở trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội” nêu lên được tình

hình vận dụng phương pháp này trong dạy học ở khoa Anh – Đại học Ngoại ngữ- ĐHQG Hà Nội cũng như đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học

PGS.TS Đỗ Hương Trà có bài viết : “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” [26]

đã đưa ra cơ sở tiếp cận dự án và nêu lên tiến trình chi tiết thực hiện DHDA Đặc

biệt, trong tài liệu Dự án Việt Bỉ “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ

thuật dạy học” đã giới thiệu rất chi tiết về DHDA, bao gồm các bước thực hiện, tiêu

- Nguyễn Thị Hường (2012), Tổ chức dạy học theo dự án phần sinh thái học

sinh học lớp 12 – THPT Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia

Hà Nội đã nói đến phương pháp DHDA và tổ chức dạy học bằng phương pháp này cho phần Sinh thái học (Sinh học 12).[19]

- Nguyễn Hồng Nhung (2013), Phát triển năng lực học tập cho học sinh

bằng sử dụng dạy học dự án trong dạy học phần ba Sinh học VSV - Sinh học 10, THPT Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nói đến

phương pháp tổ chức dạy học theo dự án để phát triển năng lực cho học sinh.[21]

Lê văn Sóng ( 2013), Vận dụng dạy học dự án vào dạy học chương III phần

Sinh học Vi sinh vật - Sinh học 10 THPT Luận văn thạc sĩ giáo dục Đại học Sư

phạm Hà Nội đã nói đến phương pháp DHDA và vận dụng dạy học dự án vào chương III Vi sinh vật - sinh học 10 THPT.[31]

Trang 17

Mặc dù vậy, lượng thông tin về lý luận cũng như các biện pháp phát triển năng lực học tập cho HS vẫn còn hạn chế

Như vậy, DHDA không phải là một vấn đề mới mẻ đối với ngành Giáo dục ở trong nước cũng như thế giới Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu

cơ sở lý thuyết cũng như các biện pháp phát triển năng lực học tập Sinh học 10 thông qua phương pháp DHDA Do đó, việc tìm hiểu về cơ sở lý luận về tổ chức DHDA nhằm phát triển năng lực học tập cho HS là rất cần thiết

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

1.2.1 Khái niệm dự án

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là project, có gốc tiếng Latinh là projicere có nghĩa là phác thảo, dự thảo, một thiết kế, một đề án, một kế hoạch được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra

hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự

án Khái niệm dự án được hiểu là tập hợp của những hoạt động khác nhau có nhau

liên quan với nhau theo một lôgic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định

Quan niệm về dự án như nêu trên chỉ quan tâm về mặt kế hoạch hành động, một chương trình hành động, chưa quan tâm, chưa đề cập, chưa làm rõ sử dụng kiến thức trong nội dung học để hoàn thành dự án và kết quả thực hiện dự án là sản phẩm học tập và những sản phẩm làm phong phú nội dung học, gắn nội dung học với công việc thực hiện trên

Trong tài liệu của dự án Việt- Bỉ có nêu: Dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung bài học [5, tr.125]

Quan niệm này đã chuyển dự án theo quan niệm chung thành dự án dạy học hay dự án học tập Điểm nổi bật của quan niệm này là chuyển nội dung học thành bài tập tình huống, mà khi giải quyết tình huống này phải sử dụng kiến thức theo nội dung học tập Như vậy, nội dung học thành vốn kiến thức của chủ thể để giải bài tập tình huống

Từ những quan niệm về dự án và dự án học tập nêu trên, chúng tôi cho rằng :

Trang 18

Dự án học tập là một đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn (vấn đề nghiên cứu) mà người học phải thực hiện bằng cách sử dụng các kiến thức một cách tổng hợp trong đó phải sử dụng kiến thức trong nội dung bài học Kết quả

là người học được phát triển năng lực nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ thực tiễn sử dụng kiến thức đã học

1.2.2 Khái niệm dạy học theo dự án

Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy học theo dự án Dạy học theo dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng và khi thực hiện phải tiến hành cả ngoài lớp Tuy nhiên

về mặt nào đó còn coi dạy học dự án như là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó

là PPDH theo nghĩa rộng

Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học mà người dạy và người học cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn cả về thực tiễn, thực hiện một nhiệm vụ học tập có tính chất tổng hợp, tạo điều kiện cho người học cùng nhau

và tự giải quyết trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định

Là phương pháp dạy học mà người dạy đóng vai trò là người định hướng các nhiệm vụ học tập, định hướng quá trình thực hiện cũng như quá trình tạo ra sản phẩm, người học trực tiếp thực hiện các giai đoạn của dự án học tập

Là phương pháp dạy học mà người học không thụ động tiếp nhận kiến thức

từ người dạy mà chủ động tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết thông qua các nhận vụ thực tế liên quan đến bài học

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm như báo cáo khoa học, mô hình, phần mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm Khi thực hiện nhiệm vụ học tập người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn

bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả

Trang 19

Trong dạy học theo dự án, người học thường phải giải quyết các vấn đề khá lớn, qua nhiều công đoạn Vì vậy, làm việc nhóm là hình thức cơ bản, người học thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua quá trình hợp tác với người dạy và bạn bè trong nhóm cũng như thu thập thông tin từ thực tế và nhiều nguồn khác nhau

Trong dạy học theo dự án người học được cung cấp các tài nguyên, các chỉ dẫn để áp dụng trên các tình huống cụ thể, qua đó người học tích lũy được kiến thức

và khả năng giải quyết vấn đề Thông qua các dự án học tập mà nhiều mục tiêu giáo dục được thực hiện và đem lại hiệu quả trong thời gian dài

Dạy học theo dự án đặt người học vào vị trí trung tâm theo sự hướng dẫn của giáo viên mà các nhóm học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch, thực hiện ý tưởng, tạo sản phẩm, công bố sản phẩm Qua đó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi

Bản chất của dạy học theo dự án là:

- Người học được đặt vào vị trí của người nghiên cứu

- Nội dung học được xây dựng thành dự án học tập

- Người dạy được đặt vào vị trí người cố vấn

- Mục đích đạt được là kiến thức tổng hợp và phương pháp phát hiện kiến thức, gắn kiến thức lí thuyết với tình huống thực tiễn

1.2 3 Mục tiêu của dạy học dự án

Dạy học theo dự án nhằm vào các mục tiêu sau đây:

- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực; Tạo ra một sản phẩm (Ví dụ: Tổ chức buổi trồng rừng ngặp mặn; Tổ chức giới thiệu một sản phẩm phục vụ du lịch sinh thái; Tổ chức cuộc thi "Hành trình sinh học" trong trường )

Trang 20

- Thực hành nghiên cứu (Ví dụ: Động vật và phân loại; Tác động của âm nhạc đói với bò sữa; Dự án nghiên cứu về rác và cách giảm bớt rác trong nhà trường; Nghiên cứu và so sánh cây phả hệ )

- Giải quyết một vấn đề (Ví dụ: Làm thế nào để học sinh tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường trong nhà trường; Tại sao loài khủng long lại biến mất; Video trong dạy học sinh học )

- Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề,

kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc nhóm, kĩ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

Tóm lại, mục tiêu của dạy học theo dự án là:

và khả năng người học Các dự án học tập gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội Trong những trường hợp đặc biệt lý tưởng việc thực hiện xá dự án học tập có thể mang lại những tác động tích cực cho xã hội

- Định hướng hứng thú người học: người học được tham gia lựa chọn những chủ đề, nội dung phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân, được tham gia thực hiện nhiệm vụ cũng như tạo ra các sản phẩm, do đó thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học cũng được tăng lên Cộng tác với các bạn trong

Trang 21

nhóm, trong lớp hay tự giải quyết các vấn đề được giao cũng là cơ hội làm tăng hứng thú học tập của người học

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án học tập có sự nghiên cứu giữa lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn và thực hành Những kiến thức lý thuyết được thấy, được thực hiện, được thể hiện qua thực

tế và các nghiên cứu thực tế của chính người học Qua các nghiên cứu thực tế mà đúc kết được các kiến thức lý thuyết, Vì vậy, thông qua dự án học tập có thể hình thành, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dự án người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học: Xác định mục tiêu, đề xuất dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình

và kết quả thực hiện, trình bầy kết quả dự án mỗi giai đoạn đều đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học người dạy chủ yếu đóng vai trò

tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Vì vậy vừa đòi hỏi, vừa rèn luyện tính tự lực cao của người học

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập được tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiến, thực hành Những sản phẩm này có thể công bố, giới thiệu, sử dụng Chính những sản phẩm này có vai trò tác động rất lớn đến quá trình học tập

và hứng thú của người học

- Tính phức hợp: nội dung các dự án học tập có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp trong quá trình thực hiện dự án, người học phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguông khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vự khác nhau Nguồn thông tin càng phong phú, sự hiểu biết của người học càng rộng và sâu, kỹ năng vận dụng kiến thức liên môn càng thành thạo thì kết quả dự án đạt được càng cao

- Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên

Trang 22

trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học và người dạy cũng như với các lực lượng xã hội tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

1.2.5 Ưu điểm và hạn chế của dạy học dự án

1.2.5.1 Ưu điểm

- Dạy học theo dự án phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong toàn bộ quá trình học tập, làm cho mọi người năng động hơn, làm việc hiệu quả hơn, kiến thức về bài học trở nên sâu rộng hơn Hoạt dộng học chỉ thực sự có chiều sâu khi người học chủ động Các nhà nghiên cứu phương tây đã bổ sung và mở rộng quan điểm của khổng tử thành phương pháp học chủ động (the Active learning Credo)

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật, cùng một nội dung nhưng theo những cách khác nhau

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập, phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm

- Phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, thúc đẩy suy nghĩ sâu hơn khi gặp các vần đề khác nhau

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc của người học

- Phát triển năng lực đánh giá

Trong đào tạo đại học, dạy học dự án là hình thức quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo theo hướng kết hợp giữa học tập và nghiên cứu khoa học

Trang 23

1.2.6 Các loại dự án học tập

Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Tùy theo mỗi tiêu chí phân loại, mỗi tác giả khi nghiên cứu về dạy học dự án có sự phân chia khác nhau Tiêu chí phân loại có thể theo thời giam, số lượng người tham gia hoặc quy mô dự án , v v Một số cách phân loại dạy học theo dự án:

Tùy theo các cơ sở phân loại mà ta có các loại dự án học tập sau:

- Phân loại theo phạm vi chuyên môn:

+ Dự án trong môn học: Loại dự án chỉ giới hạn trong bộ phận một môn học

cụ thể Ví dụ dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” chỉ gói gọn trong nội dung kiến thức của môn Sinh học

+ Dự án liên môn học: Khi thực hiện dự án HS phải kết hợp với kiến thức của một số môn học khác Ví dụ dự án " Ô nhiễm môi trường nước"

+ Dự án ngoài chuyên môn: Loại dự án không phụ thuộc trực tiếp vào môn học: Ví dụ " biện pháp giúp HS thực hiện nội quy trường học"

- Phân loại theo quĩ thời gian:

+ Dự án nhỏ: thực hiện trong thời gian ngắn từ 2 đến 6 tiếng đồng hồ

+ Dự án trung bình: thực hiện trong một số ngày (còn gọi là ngày dự án), giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học Ví dụ: "Tìm hiểu một số bệnh truyền nhiễm do sinh vật nhân sơ gây ra ở địa phương em"

+ Dự án lớn: thực hiện với quỹ thời gian lớn, có thể kéo dài nhiều tuần (còn gọi là tuần dự án lớn) Ví dụ: " Bảo tồn các động vật quí hiếm ở Đảo Cát Bà - Hải Phòng"

- Phân loại theo hình thức tham gia:

+ Dự án cá nhân: Bản thân mỗi HS tiến hành làm dự án học tập cho riêng mình Thường thì những dự án như thế tương đối đơn giản và mất không nhiều thời gian

+ Dự án nhóm: Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm thực hiện một dự án học tập

+ Dự án toàn lớp: Cả lớp làm chung một dự án

+ Dự án toàn trường: Dự án được thực hiện trên qui mô lớn do toàn bộ các khối HS trong nhà trường thực hiện

Trang 24

- Phân loại theo nhiệm vụ:

+ Dự án tìm hiểu: Ví dụ HS tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu về tỉ lệ

HS bị cận thị trong nhà trường, dự án tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm môi trường, dự

án tìm hiểu về thực trạng an toàn giao thông ở Việt Nam hiện nay

+ Dự án nghiên cứu, chế tạo: Ví dụ dự án nghiên cứu, chế tạo một máy làm sữa chua

+ Dự án thực hành: Ví dụ dự án trồng cây gây rừng trong nhà trường

+ Dự án hỗn hợp: Trong khi thực hiện dự án, HS phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành

Việc phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối Trong nhà trường phổ thông hiện nay, GV thường cho các nhóm HS thực hiện các dự án tìm hiểu trong phạm vi môn học sau khi HS học xong một chương và tổ chức báo cáo sản phẩm dự

án trong một buổi ngoại khóa

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong quá trình tiến hành dự án, giáo viên có thể tùy vào từng điều kiện cụ thể cũng như nội dung môn học để lựa chọn và sử dụng các loại hình trên một cách có hiệu quả

Đối với dự án môn học, quy mô trung bình hoặc nhỏ, đối với chương trình

THPT, phổ biến nhất là dự án nhóm hoặc dự án cá nhân, dự án trung bình

- Nội dung cần thực hiện trong mỗi dự án nhỏ

- Kế hoạch thực hiện mỗi dự án nhỏ

+ Tên thành viên thực hiện ( tên học sinh trong nhóm)

+ Nhiệm vụ mỗi thành viên ( công việc phải làm trong dự án nhỏ)

Trang 25

+ Phương tiện hoạt động cho mỗi thành viên ( giấy, bút, máy ảnh )

+ Thời gian hoàn thành mỗi nhiệm vụ

+ Dự kiến sản phẩm: kết quả và hình thức diễn đạt kết quả như bài viết, hình

vẽ, mẫu vật

- Kế hoạch tổng kết, đánh giá dự án

+ Hình thức tổng kết: trưng bầy, báo cáo

+ Phân công: mỗi dự án báo cáo nội dung gì, thời gian báo cáo

+ Đánh giá: các ưu điểm về nội dung, về thực hiện

Bước 3: Thu thập thông tin

Bước 4: Xử lí thông tin

Bước 5: Xây dựng và trình bày kết quả dự án

Bước 6: Đánh giá dự án

Bước 1: Lựa chọn chủ đề

Trên cơ sở phân tích cấu trúc, nội dung chương trình môn học, người dạy lựa chọn ra những vấn đề có thể tiến hành dự án Người dạy và người học cũng có thể cùng nhau thảo luận, đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát chứa đựng một vấn đề, hoặc một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú

ý đến hứng thú của người học, cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài

Người dạy cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài cho học sinh lựa chọn

và cụ thể hóa Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ học sinh

Nội dung chủ đề cần hấp dẫn, khơi gợi được hứng thú, tính tò mò ham hiểu biết của HS Chủ đề có thể khởi đầu bằng một ý tưởng liên quan tới nội dung học

Trang 26

tập, gắn với thực tiễn mà học sinh quan tâm Ví dụ: chăm sóc vật nuôi, cây trồng, đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường

Từ chủ đề lớn, GV hướng dẫn cho HS phát triển tìm các chủ đề nhỏ, còn gọi

là tiểu chủ đề, là vấn đề nghiên cứu cụ thể, là tên của các dự án

Dùng sơ đồ tư duy làm công cụ để xác định, lựa chọn ý tưởng cũng như các vấn đề cần giải quyết thông qua dự án

Dùng sơ đồ tư duy để:

- Tập hợp các ý kiến của các thành viên

- Kết hợp các ý tưởng

- Xây dựng cấu trúc kiến thức

- Xác dựng quy mô nghiên cứu

- Xác định các hoạt động học tập cần thực hiện

Bước 2: Lập kế hoạch

Sau khi có tiểu chủ đề, chính là các dự án nhỏ của từng nhóm Mỗi nhóm sẽ

thảo luận lập kế hoạch thực hiện dự án của nhóm mình Xác định các vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến tiểu chủ đề nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của dự án Các câu hỏi liên quan đến dự án của nhóm được GV cung cấp trong quá trình thảo luận lên kế hoạch dự án Đây còn gọi là bộ câu hỏi định hướng cho dự án Sau khi xây dựng được quy mô nghiên cứu, HS thảo luận xác định các nhiệm

vụ cần thực hiện để đạt được mục tiêu, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong nhóm

Sau khi lập được kế hoạch, các nhóm cử đại diện trình bày, các nhóm khác

và GV bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện kế hoạch

Khi các nhóm đã hoàn thiện kế hoạch dự án, GV hướng dẫn HS cách thực hiện dự án, tổng hợp kết quả, trình bày báo cáo, đánh giá rút kinh nghiệm

Bước 3: Thu thập thông tin

Người học thu thập thông tin theo nhiệm vụ được giao như phỏng vấn trực tiếp các đối tượng đã xác định, có thể thu thập thông tin trực tiếp từ sách báo, tranh ảnh, internet, hoặc làm thực nghiệm, Các phương tiện hỗ trợ cần sử dụng như: phiếu phỏng vấn, ghi âm, máy ảnh nếu có

Trang 27

Bước 4: Xử lý thông tin

Sau khi đã thu thập được các dữ liệu cần tiến hành xử lý dữ liệu, có thể sử dụng biểu đồ để giải thích các dữ liệu Các thành viên trong nhóm thường xuyên trao đổi, thảo luận để tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm tra tiến độ Đồng thời xin ý kiến của GV, cần sự giúp đỡ kịp thời để đảm bảo tiến độ và hướng đi của dự

án

Bước 5: Xây dựng và trình bày kết quả dự án

Tổng hợp tất cả các kết quả đã phân tích thành sản phẩm cuối cùng, có thể trình bày ở nhiều dạng khác nhau: bài thuyết trình (powpoint), tranh ảnh, tờ rơi, trưng bày triển lãm,

Sản phẩm của dự án có thể trình bày trong lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường, hay ngoài xã hội

Việc phân chia các bước trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực

tế, chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau, có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án

1.3 Tổ chức dạy học theo dự án

Trong kỉ yếu hội thảo khoa học Quốc gia Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, PGS TS Nguyễn Đức Thành đã nêu ra các giai đoạn tổ chức dạy học theo dự án.[22,tr.121]

1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị của GV

Xây dựng ý tưởng dự án

- Phạm vi dự án: có thể cả chương hay cả bài

Trang 28

- Phân tích nội dung SGK để xác định chủ đề, xếp loại lĩnh vực của thực tiễn

- Chuyển nội dung của chủ đề sang tình huống phù hợp lĩnh vực thực tiễn, diễn đạt tình huống

Xác định và diễn đạt dự án lớn, dự án nhỏ

Dự kiến kế hoạch thực hiện, sản phẩm cần đạt

Đưa dự án vào thiết kế bài soạn

1.3.2 Giai đoạn tổ chức thực hiện dự án

Giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn trước khi lên lớp, còn giai đoạn thức chức thự hiện dự án là lúc lên lớp để thực hiện dự án đã chuẩn bị

Hoạt động 1: Hướng dẫn người học hình thành ý tưởng của dự án ( tại lớp )

Khi vào bài GV nêu vấn đề bừng tình huống thực tiễn cần phải giải quyết, đó

là mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần thực hiện, nhưng vốn kiến thức còn đang thiếu, sau

đó GV phát biểu vấn đề: tên dự án lớn - ý tưởng của mình đã hình thành

Hoạt động 2: Xác định tên các dự án nhỏ ( tại lớp)

- GV gợi ý để HS tự nghiên cứu, thảo luận tìm ra các dự án nhỏ, có thể bằng các câu hỏi như: Để giải quyết vấn đề này cần có cơ sở lí luận gì? Hoặc cấn tìm hiểu thực tế gì? hoặc cần làm thực nghiệm gì? HS xác định được một số nội dung

GV bổ sung và thống nhất các dự án nhỏ

- Chia nhóm theo dự án

- Cho người học đăng kí thực hiện dự án mà mình yêu thích ( số lượng thành viên trong mỗi dự án bằng số lượng thành viên cả lớp chia cho số dự án) trên cơ sở các kế hoạch có ghi chú các tiêu chí cần ghi rõ mỗi cột của mỗi thành viên

- Giáo viên sửa kế hoạch cho nhóm, trao đổi, thống nhất nhiệm vụ của nhóm, của từng thành viên trong quá trình thực hiện dự án

- Giáo viên hướng dẫn kĩ cách thực hiện từng nội dung thống nhất là điều tra, phỏng vấn trong thực nghiệm

Trang 29

- Giáo viên nêu câu gợi ý để nhóm tự lực xây dựng nội dung mỗi dự án, loại câu hỏi cụ thể là: với dự án này cần nghiên cứu những nội dung gì?

- GV bổ sung và xác định nội dung từng dự án nhỏ

Hoạt động 3: Hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện từng dự án nhỏ ( tại lớp)

GV hướng dẫn cách ghi các cột trong bảng cho mỗi thành viên

Hoạt động 4: Thực hiện dự án ( ngoài giờ lên lớp 1 hoặc nhiều tuần)

- Người học tự liệu và phối hợp với các thành viên trong nhóm để hoàn thành

kế hoạch dự án

- Giáo viên theo dõi, giúp đỡ, định hướng trình bày sản phẩm của mỗi nhóm

Hoạt động 5: Tổng kết, đánh giá dự án ( trong giờ lên lớp )

- Giáo viên phân công mỗi dự án báo cáo thuyết trình kết quả thực hiện dự

án trong một thời gian, còn lại trưng bày

- Các nhóm khác hỏi và giải đáp

- Giáo viên nhận xét, đánh giá, tuyên dương

- Sản phẩm của các nhóm nhỏ trình bày dưới hai hình thức:

+ Thứ nhất là phần kí hiệu coi đây là những kiến thức của bài học, loại này được xây dựng thành báo cáo, trình bày powerpoint

+ Thứ hai là phần sản phẩm minh họa như hình vẽ, bảng số liệu điều tra, kết quả thực nghiệm hay phỏng vấn hoặc mô hình dụng cụ, nên có vị trí trưng bày để phổ biến mỗi dự án nhỏ cần diễn đạt sản phẩm sao cho dưới nhiều hình thức cho đa dạng và phong phú

1.4 Khái niệm năng lực

1.4.1 Khái niệm chung về năng lực

Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng La tinh là competentia Ngày nay

năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc Năng lực cũng được

Trang 30

hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan

Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học

Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo từ điển tâm lý học: Năng lực là

tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.[11,tr.128]

Theo John Erpenbeck, “năng lực được sử dụng như khả năng, được quy định

bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiện hóa qua chủ định”.[10, tr 21]

Weinert (2000) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học

được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong tình huống linh hoạt”.[10]

Như vậy năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵng sàng hành động và

hơn về thành phần của năng lực, Xavier Roegiers nêu: “năng lực là một tập hợp

trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống này đặt ra”.[31]

Như vậy, năng lực được tạo nên bởi ba thành phần cơ bản, đó là: kĩ năng, nội dung và tình huống Xavier Roegiers đã công thức hóa như sau:

Năng lực= (những kĩ năng x những nội dung) x những tình huống

“Kĩ năng” ở đây được hiểu là “làm được” hay “thực hiện được”, “nội dung”

ở đây được hiểu là “nội dung học tập” hay rộng hơn là “nhiệm vụ phải hoàn thành” trong quá trình học tập “Tình huống ’ ở đây được hiểu là “hoàn cảnh” hay những điều kiện khác nhau

Trong đó, thành phần quan trọng nhất của năng lực được qui về các kĩ năng

1.4.2 Cấu trúc năng lực

Năng lực được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau

Trang 31

Dựa vào tố chất tâm lí thì năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, là

tổ hợp các đặc tính tâm lí của các cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt đẹp

Dựa vào dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa thì năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng , thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí và thực hiện thành công nhiệ vụ hoặc giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra của cuộc sống

Một năng lực là tổ hợp đo lường các kiến thức, kĩ năng, thái độ mà một con người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau Vì vậy năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm

vụ nên người học cần chuyển hóa kiến thức thành kĩ năng, thái độ có được để giải quyết các tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới Có thể có mối quan hệ sau [4]

Như vậy kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là kiến thức

mà người học phải năng động, tự kiến tạo, huy động được Việc hình thành và rèn luyện năng lực phải được rèn luyện theo đường tròn xoáy ốc, trong đó năng lực có trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới và đến lượt kiến thức mới lại là nền tảng để hình thành năng lực mới

Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệmđã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong môi trường quen thuộc Kĩ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết, những trải nghiệm giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi

Kiến thức và kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó Tuy nhiên chỉ có kiến thức, kĩ năng về một lĩnh vực nào đóthì chưa chắc chắn đã hình thành năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng thái độ, giá trị, trách nhiệm của bản thân để thể hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện

và bối cảnh thay đổi Vì vậy, bản chất của đánh giá năng lực phải thông qua khả

Kiến thức + kĩ năng + Thái độ

Bối cảnh thực

= Năng lực

Trang 32

năng vận dụng các kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tình huống phức tạp khác nhau

1.4.3 Các loại năng lực

Học sinh được hình thành và phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt [4]

Năng lực chung: là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền

tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp Học sinh được hình thành và phát triển các năng lực chung bao gồm:

Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân

- Năng lực tự học

- Năng lực giả quyết vấn đề

- Năng lực tư duy

- Năng lực tự quản lí

Nhóm năng lực quan hệ xã hội

- Năng lực giao tiếp

Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển trên

cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc và tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho các hoạt động chuyên biệt, đap ứng yêu cầu hạn hẹp hơn

Ở trường phổ thông, các năng lực chuyên ngành Sinh học, học sinh cần đạt được được đó là: Năng lực kiến thức Sinh học; năng lực nghiên cứu khoa học (năng lực quan sát, năng lực thực nghiệm); năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm

Trang 33

+ Năng lực kiến thức Sinh học bao gồm các kiến thức về tế bào và các tổ chức sống, về cá thể sinh vật, di truyền, tiến hóa

+ Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm: quan sát các hiện tượng trong thực tiến hay trong học tập để xác lập vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu, thực nghiệm; hình thành giả thuyết khoa học; thiết kế thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm; thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận

+ Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm các kĩ năng như: kĩ năng sử dụng kính hiển vi; kĩ năng thực hiện an toàn phòng thí nghiệm thí nghiệm;

kĩ năng làm một số tiêu bản đơn giản

1.4.4 Khái niệm về năng lực học tập

Từ quan niệm quan niệm về năng lực đã nêu ở trên ta có thể hiểu năng lực

học tập là khả năng nhận ra được nội dung học, xác định được bản chất của nội dung học, xác định được quan hệ giữa các nội dung, sắp xếp các nội dung thành hệ thống, sử dụng được kiến thức trong các tình huống thay đổi

Nếu tiếp cận năng lực học tập theo hướng nghiên cứu thì năng lực học tập được hiểu là năng lực nhận ra vấn đề cần giải quyết, năng lực nêu các giả thuyết nghiên cứu, năng lực chứng minh giả thuyết nghiên cứu bằng nêu ra các biện pháp giải quyết, thu thập tư liệu, tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu

1.5 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.5.1 Phương pháp xác định

Dùng phiếu điều tra

1.5.2 Kết quả

Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học theo

dự án trong dạy học Sinh học ở các trường THPT huyện An Dương - Hải Phòng bằng các phiếu điều tra Kết quả cụ thể như sau:

1.5.2.1 Thực trạng nhận thức của GV về dạy học dự án

Trang 34

Bảng 1.1 Kết quả điều tra nhận thức của GV về dạy học theo dự án

1 Trong quá trình giảng dạy ở trường phổ thông, Thầy, Cô thường sử dụng phương pháp dạy học nào? Mức độ sử dụng các phương pháp đó như thế nào?

2 Thầy, cô biết đến phương pháp dạy học theo dự án từ nguồn nào?

3 Theo thầy cô, trong các hoạt động sau, những hoạt động nào là biểu hiện của dạy học theo dự án?

4 Mức độ quan tâm của thầy ( cô) đối với phương pháp dạy học theo dự án:

Trang 35

Kết quả lựa chọn Phương án lựa chọn

1.5.2.2 Thực trạng sử dụng dạy học theo dự án

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về sử dụng dạy học theo dự án

1 Trong quá trình vận dụng DHTDA, có những khó khăn thuận lợi như thế nào?

2 Trong dạy học theo dự án, học sinh tham gia bài học như thế nào?

Trang 36

1- Tham gia lựa chọn ý tưởng 35 % 65 % 0 %

3 Theo thầy cô, khả năng vận dụng DHTDA vào các nội dung trong chương trình Sinh học THPT như thế nào?

Nội dung

Khả năng vận dụng dạy học dự án Thuận

Không áp dụng được

5 Theo thầy cô, để nâng cao chất lượng của DHTDA trong dạy học, cần phải:

DHTDA

Trang 37

Qua bảng 1.2, có thể nhận thấy:

- Trong quá trình vận dụng phương pháp DHDA, các GV đã phát hiện những khó khăn, thuận lợi của các khâu trong qui trình thực hiện, của các phần kiến thức khác nhau trong Sinh học THPT Phần Sinh học tế bào có một số kiến thức gắn liền với thực tiến nên GV đánh giá khá cao (27%) khả năng vận dụng DHDA

- Các GV đã xác định được mức độ HS được tham gia vào các khâu của một bài học dự án để từ đó các em được hình thành và phát triển năng lực học tập

1.5.2.3 Kết quả tìm hiểu nhận thức của HS trong học tập bằng dự án

Bảng 1.3 Kết quả điều tra về nhận thức của HS về học tập theo dự án

1 Trong quá trình học môn Sinh học, em có thường xuyên thực hiện các việc sau đây không?

Lựa chọn

Mức độ thực hiện Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Không bao giờ

Hệ thống hóa kiến thức sau

Trao đổi về bài học với GV,

2 Em đã được các Thầy cô hướng dẫn học theo dự án chưa?

Kết quả lựa chọn Phương án lựa chọn

3 Nếu học rồi em có cảm nhận thế nào?

Kết quả lựa chọn Phương án lựa chọn

Trang 38

Qua bảng 1.3 cho thấy:

- Trong quá trình học môn Sinh, thời lượng các em dành cho môn học này còn

ít, có tới 10% HS không bao giờ học bộ môn này, năng lực tự học bộ môn còn hạn chế (35%), kĩ năng hệ thống hóa kiến thức còn hạn chế (50%), lập kế hoạch học tập còn ít ( 55%)

- HS có những biểu hiện khá tích cực với phương pháp Dạy học dự án (60%

HS đã được học theo phương pháp DHDA cảm thấy rất hứng thú khi học theo phương pháp này) Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của các giờ học còn hạn chế (36%

HS cảm thấy vất vả khi học theo dự án, 10% HS cảm thấy học theo dự án khó tiếp thu) Điều này có thể là do phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi và chưa được sử dụng thường xuyên

1.5.3 Thực trạng về năng lực học tập của học sinh lớp 10 ở một số trường THPT của Hải Phòng hiện nay

Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng về năng lực học tập của học sinh ở một số trường thuộc huyện An Dương - Hải Phòng bằng các phiếu điều tra Kết quả thu được như sau

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng về năng lực học tập của học sinh

1 Đối với em chương trình Sinh học THPT hiện này thì

2 Cảm hứng của em về môn Sinh học là

Trang 39

19% Không thích

3 Trong các giờ học môn Sinh học hiện nay, em thường tham gia vào hoạt động nào nhất?

5 Khi tự học, lượng kiến thức môn Sinh em tiếp thu được như thế nào?

Trang 40

Qua bảng 1.4 cho thấy

- Hiện nay môn Sinh học chưa thực sự được yêu thích ( tỉ lệ HS thích và rất thích môn học này rất ít là 37%) Có thể một trong những nguyên nhân là do các hoạt động dạy học của GV chưa lôi cuốn HS Các em chủ yếu tham gia vào các hoạt động lắng nghe giảng lý thuyết, trả lời các câu hỏi và làm bài tập (65%), các hoạt động thực hành, liên hệ kiến thức thực tế còn rất hạn chế (12%) Thậm chí việc vận dụng thực tế để tìm ra nội dung cần rất hạn chế Nên việc thay đổi các hoạt động trên lớp là rất cần thiết để lôi cuốn HS vào môn học này

- Năng lực học tập của HS còn rất hạn chế Đa số HS chỉ nhận thấy mình được phát triển một số kĩ năng học tập như: Tự học (42%), hình thành khái niệm (43%), Trong khi đó rất nhiều kĩ năng quan trọng khác như: khái quát hóa và hệ thống hóa (24%) lập kế hoạch học tập (22%), thu thập và xử lý thông tin (23%), giả quyết vấn

đề (32%), đặc biệt là năng lực xã hội được hình thành cho HS lại quá ít (năng lực giao tiếp 10%, năng lực trình bầy 10%), các em còn e ngại trình bầy các ý kiến của mình trước đám đông, mà đây là năng lực quan trọng để các em hòa nhập xã hội chứng tỏ là GV mới chỉ dừng lại ở việc chú trọng hình thành và dạy cho HS nội dung, chứ chưa quan tâm đến việc hình thành và phát triển năng lực cho HS

Kết luận chương 1 Trong chương này, chúng tôi đã tập chung làm sáng tỏ các vấn đề sau: phân tích cơ sở lý luận về dạy học dự án, phân tích cơ sở lý luận về năng lực học tập, phát triển năng lực học tập Trong đó, chúng tôi đã đưa ra một số khái niệm được dùng trong luận văn, hệ thống các luận điểm khoa học chuyên môn làm căn cứ khoa học cho đề tài

của HS ở một số trường THPT hiện nay, thực trạng vận dụng DHDA của GV Sinh học ở một số trường THPT hiện nay Các kết luận thu được khẳng định rằng việc phát triển năng lực học tập cho HS là một yêu cầu cấp bách, và việc sử dụng DHDA làm công cụ để phát triển năng lực học tập là có khả thi

Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi đề xuất một số biện pháp vận dụng dạy học dự án một cách có hiệu quả vào dạy học Sinh học tế bào nói riêng và dạy học sinh học THPT nói chung

Ngày đăng: 04/12/2020, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w