Giả thuyết khoa học Nếu xác định được nội dung và phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ đề phù hợp với nội dung dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 sẽ vừa nâng cao chất lượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ VÂN ANH
TÍCH HỢP GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG "SINH SẢN", SINH HỌC 8 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Tiến Sỹ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo – Công tác Sinh viên
và các thầy cô trong Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và giáo viên, học sinh trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn (Mộc Châu – Sơn La) đã cộng tác và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT j DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giới hạn của luận văn 4
8 Những kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan về giáo dục SKSS VTN 5
1.1.1 Vấn đề giáo dục SKSS VTN trên thế giới 5
1.1.2 Vấn đề giáo dục SKSS VTN ở Việt Nam 5
1.2 Cơ sở lí luận 7
1.2.1 Khái niệm tích hợp 7
1.2.2 Khái niệm dạy học tích hợp 7
1.2.3 Các quan điểm về sự tích hợp các môn học 8
1.2.4 Các mô hình chương trình dạy học tích hợp 9
1.2.5 Các mức độ tích hợp 12
1.3 Tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học 13
1.3.1 Một số khái niệm có liên quan 13
1.3.2 Mục đích giáo dục SKSS VTN ở trường phổ thông 13
Trang 41.3.3.Nội dung giáo dục SKSS VTN ở trường phổ thông 13
1.4 Cơ sở thực tiễn 14
1.4.1 Mục đích điều tra 14
1.4.2 Nội dung và kết quả điều tra 15
Kết luận chương 1 17
Chương 2 TÍCH HỢP GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG SINH SẢN, SINH HỌC 8 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 18
2.1 Các nguyên tắc tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học 8 Trung học cơ sở 18
2.2 Các địa chỉ tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ đề trong dạy học chương :Sinh sản”, Sinh học 8 THCS 20
2.2.1 Nội dung các chủ đề giáo dục SKSS VTN 20
2.2.2 Các địa chỉ tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ đề trong dạy học chương sinh sản, Sinh học 8 trường THCS 21
2.3 Quy trình chuẩn bị bài học tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học 8 34
2.4 Phương pháp tổ chức bài học tích hợp giáo dục SKSS VTN 035
2.5 Thiết kế một số hoạt động tích hợp giáo dục SKSS VTN qua dạy học chương sinh sản, Sinh học 8 trường THCS 39
Kết luận chương 2 42
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1 Mục đích TN 43
3.2 Nội dung TN 43
3.3 Phương pháp TN 43
3.3.1 Chọn trường TN 43
3.3.2 Bố trí TN 44
3.4 Kết quả thực nghiệm 44
3.4.1 Phân tích định lượng 44
Trang 53.4.2 Phân tích định tính 51
Kết luận chương 3 53
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 57
Trang 6danh môc c¸c Tõ VIÕT T¾T
ĐC : Đối chứng GDDS : Giáo dục dân số
GV : Giáo viên
HS : Học sinh KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình SGK : Sách giáo khoa
SKSS : Sức khỏe sinh sản THCS : Trung học cơ sở
TN : Thực nghiệm VTN : Vị thành niên
Trang 72.1 Các địa chỉ tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
theo chủ đề trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8
trường trung học cơ sở
21
3.1 Bảng tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 44 3.2 Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 45 3.3 Kiểm định X theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra trong TN 46 3.4 Phân tích phương sai kết quả các bài kiểm tra trong TN 47
3.6 Tần suất hội tụ tiến điểm của các bài kiểm tra sau TN 48 3.7 Kiểm định X theo tiêu chuẩn U kết quả kiểm tra sau TN 49 3.8 Phân tích phương sai kết quả kiểm tra sau TN 50
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
2.1 Quy trình chuẩn bị bài học tích hợp giáo dục SKSS VTN 34 2.2 Phương pháp tổ chức bài học tích hợp GD SKSS VTN 37 3.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 45 3.2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 46 3.3 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN 48 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN 48 3.5 Biểu đồ so sánh độ bền kiến thức trong và sau thực nghiệm của
khối lớp TN và ĐC
50
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ với gần 1/3 dân số thuộc nhóm vị thành niên, thanh niên (lứa tuổi từ 10 - 24 tuổi) [1] Đây là lực lượng đông đảo, quyết định tương lai và sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc Vì vậy, vấn đề sức khỏe và phát triển của thanh thiếu niên hiện nay là vấn đề luôn được Đảng và Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt
Tại Điều 27 - Mục 2, Luật Giáo dục có ghi: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các năng lực cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân " [9]
Giáo dục SKSS VTN là giúp HS có kiến thức về sức khỏe, SKSS để từ đó các em có thể tự chăm sóc cho bản thân, xây dựng lối sống lành mạnh, hình thành các kỹ năng sống cơ bản
Tích hợp giáo dục SKSS trong dạy học là một hướng đi phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, vừa đảm bảo kiến thức khoa học bộ môn, vừa tích hợp giáo dục SKSS cho HS Thông qua đó, đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho người học, nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Xuất phát từ thực trạng công tác giáo dục sức khỏe sinh sản trong nhà trường phổ thông
Vấn đề giáo dục SKSS đã và đang được toàn xã hội quan tâm Trong giáo dục, vấn đề giáo dục SKSS cũng đã là nội dung giáo dục xuyên suốt trong tất cả các cấp học, bậc học Chúng ta không xây dựng bộ sách giáo khoa riêng cho nội dung giáo dục này nhưng vấn đề này đã được tích hợp trong nhiều môn khoa học khác nhau như: Văn học, Địa lí, Sinh học, Giáo dục công dân Tuy nhiên, hiệu quả giáo dục SKSS vẫn chưa cao bởi lẽ văn hóa phương đông vẫn coi đây là vấn đề tế nhị, đã gây ra sự e ngại cho cả GV và HS Thực tế cho thấy, mặc dù nội dung giáo dục SKSS đã được triển khai từ nhiều năm nay nhưng hiện tượng HS mang thai ngoài ý muốn, tỷ lệ nạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục đang có xu hướng ngày càng gia tăng
Trang 10Từ thực trạng trên cho thấy, chúng ta cần tăng cường hơn nữa việc giáo dục
và nâng cao hiệu quả giáo dục SKSS cho HS để các em có kiến thức về SKSS; hoàn thiện nhân cách và rèn luyện các kĩ năng sống cơ bản; vững vàng bước vào cuộc sống gia đình và xã hội
1.3 Xuất phát từ ưu điểm của dạy học tích hợp và khả năng tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học 8
Tích hợp các môn học không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học, mà quan trọng hơn là tập dượt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn Như chúng ta đã biết, để giải quyết một vấn đề thực tiễn thường phải huy động tri thức của nhiều môn học trong khi dạy từng môn học riêng chỉ đem lại những tri thức hàn lâm có hệ thống mà khó vận dụng vào thực tiễn Hơn nữa, nhờ tích hợp nên số đầu sách giáo khoa được giảm bớt, không cần đào tạo GV giảng dạy chuyên về các môn phụ trong khi vẫn có thể tích hợp các mặt giáo dục như: Giáo dục dân số, giáo dục SKSS, giáo dục môi trường… trong quá trình giảng dạy các môn học [17]
Sách giáo khoa phổ thông hiện hành cũng đang được trình bày theo quan điểm tích hợp các môn học Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết các hiện tượng, khái niệm, quy luật, quá trình sinh học đều bắt nguồn từ thực tiễn do đó, khả năng tích hợp giáo dục là rất lớn Chúng ta có thể tích hợp giáo dục dân số, sức khỏe, SKSS, giáo dục môi trường, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình dạy học Sinh học
Chương "Sinh sản" (Sinh học 8) là những kiến thức về sinh sản ở người Khi dạy kiến thức chương này, GV có thể tích hợp giáo dục SKSS cho HS, giúp các em
có kiến thức và hiểu biết về sinh sản, SKSS cũng như xây dựng kĩ năng sống, có niềm tin, sự vững vàng trong cuộc sống sau này
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Tích hợp giáo dục
sức khỏe sinh sản vị thành niên theo chủ đề trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường trung học cơ sở"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung và phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ
đề trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 nhằm vừa nâng cao chất lượng dạy - học, vừa tích hợp giáo dục SKSS VTN có hiệu quả
Trang 113 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung và Phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ đề trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 8 trường THCS
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được nội dung và phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN theo chủ đề phù hợp với nội dung dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 sẽ vừa nâng cao chất lượng dạy học kiến thức chương "Sinh sản", vừa tích hợp giáo dục SKSS VTN cho HS có hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về tích hợp và dạy học tích hợp để vận dụng vào tích hợp giáo dục SKSS VTN thông qua dạy học Sinh học ở một số trường THCS
5.2 Điều tra thực trạng hiểu biết của GV về dạy học tích hợp và thực trạng việc tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
5.3 Nghiên cứu những tài liệu về SKSS VTN để xây dựng nội dung một số chủ đề cần tích hợp trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
5.4 Xác định nguyên tắc, quy trình và đề xuất phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học
5.5 Thiết kế một số hoạt động tích hợp giáo dục SKSS VTN qua dạy học Chương "Sinh sản" Sinh học 8 trường THCS
5.6 Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minh tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tích hợp và dạy học tích hợp
- Nghiên cứu tổng hợp tài liệu về SKSS VTN để xây dựng nội dung một số chủ đề cần tích hợp trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
Trang 126.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thiết kế và sử dụng các phiếu điều tra hiểu biết của GV về dạy học tích hợp
và thực trạng việc tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm có đối chứng nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Kết quả thực nghiệm sư phạm được phân tích và xử lý bằng phần mềm Exel nhằm tăng độ chính xác cũng như sức thuyết phục của kết luận
7 Giới hạn của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu tích hợp các nội dung giáo dục SKSS VTN theo chủ đề trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
8 Những kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận văn
8.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học tích hợp để định hướng cho việc tích hợp giáo dục SKSS VTN qua dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
8.2 Xây dựng được 05 chủ đề cần tích hợp trong dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS
8.3 Xác định nguyên tắc, quy trình và đề xuất phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học
8.4 Thiết kế các giáo án chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường THCS theo hướng tích hợp giáo dục SKSS VTN để đưa vào thực nghiệm sư phạm
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên theo chủ đề
trong dạy học chương "sinh sản", Sinh học 8 trường trung học cơ sở
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1.1 Tình hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trên thế giới
Giáo dục dân số đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, trước năm 1994 chính sách dân số và nội dung GDDS của các nước đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển (quy mô dân số,
di cư, KHHGĐ )
Năm 1994, Hội nghị ICPD ở Cairo - Ai Cập (1994) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số ở các quốc gia Tuyên ngôn của ICPD đã kêu gọi các nước đặt vai trò chất lượng dân số là ưu tiên hàng đầu, trong
đó có các vấn đề SKSS, đặc biệt là SKSS VTN Từ đây, mục tiêu GDDS của các nước đã thay đổi
Giáo dục SKSS và SKSS VTN là những vấn đề mới chính thức được thừa nhận tại Hội nghị quốc tế về "dân số và phát triển" ở Cairo SKSS VTN được coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình dân số thế giới Cũng chính tại Hội nghị này, một khái niệm mới về SKSS, giáo dục SKSS VTN bao gồm tất cả các nội dung liên quan tới tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống đã được trình bày cặn kẽ trong chương trình hành động của ICPD Sau Hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSS VTN như:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh (1995)
- Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague Hà Lan (1999)
- Hội nghị dân số cấp cao của Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) tại Băng Cốc
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới vấn đề SKSS, coi đó là một vấn đề có tính chiến lược quốc gia
1.1.2 Tình hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Việt Nam
Ở nước ta trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 các dự án GDDS đã bắt đầu được thử nghiệm Giai đoạn từ 1994 đến 1998 bước đầu đã thể chế hóa GDDS
Trang 14trong nhà trường Lần đầu tiên GDDS được đưa vào chương trình tích hợp GDDS với 5 chủ đề cơ bản: Dân số học, môi trường, gia đình, giới, dinh dưỡng Các nội dung SKSS VTN đã được chính thức tích hợp vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến bậc trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là giáo dục SKSS VTN cho VTN Tháng 10 năm 1996 hội thảo vì SKSS VTN đã nhấn mạnh đầu tư giải quyết vấn đề SKSS VTN là một yêu cầu quan trọng trong vấn đề phát triển đất nước Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nội dung GDDS quá thiên về dân số phát triển, chưa chú trọng tới SKSS VTN như một mục tiêu ưu tiên quốc gia Với sự ra đời của chương trình mới về giáo dục phổ thông cho giai đoạn sau 2000, các dự án GDDS giai đoạn mới được xây dựng Mục tiêu GDDS trong giai đoạn này ở các trường phổ thông gồm: xây dựng chương trình tích hợp GDDS mới phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2000 trên tinh thần nhấn mạnh tới SKSS VTN; xây dựng các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và các tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên song chúng ta vẫn chưa xây dựng được chương trình GDDS và SKSS VTN cho THCS mặc dù các mục tiêu cho cấp học này đã được xác định
Năm 2004, Ủy ban Dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án "Mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ cho VTN và thanh niên" tại 10 tỉnh thành Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành Mục tiêu chính của đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/KHHGĐ bao gồm các vấn đề liên quan về giới, giới tính, tình dục an toàn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS góp phần làm giảm các hành
vi gây tác hại đến SKSS VTN
Ngoài ra, trong những năm gần đây, có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề SKSS VTN như:
- Dự án VIE/97/P13, Hà Nội, 2000: cuốn "Phương pháp giảng dạy các chủ
để nhạy cảm về sức khỏe sinh sản vị thành niên" và cuốn "Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên" (Tài liệu tự học dành cho GV) do BGD & ĐT và Quỹ Dân số Liên hợp quốc - Dự án VIE/97/P13 ấn hành, Hà Nội, 2001
- Nguyễn Thế Hùng (2005): "Biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên đối với các bậc cha mẹ"
Trang 15- Nguyễn Ngọc Thái (2006): "Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên cho vị thành niên thông qua mô hình giáo dục đồng đẳng tại tỉnh Quảng Nam"
- Nguyễn Thị Hải Lý (2008): "Ảnh hưởng của giáo dục nhà trường tới nhận
thức của học sinh trung học phổ thông về sức khỏe sinh sản"
Theo Dương Tiến Sỹ: "Tích hợp là mối quan hệ hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó" [14]
Tích hợp được hiểu là sự hợp nhất hay sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất giữa các thành phần của đối tượng, nó không phải là một phép cộng mang tính cơ học những thuộc tính của các thành phần ấy Như vậy, tích hợp có hai thuộc tính cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Tính liên kết tạo nên một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần Tính toàn vẹn thể hiện ở mối quan hệ hữu cơ dựa trên sự thống nhất nội tại của các thành phần liên kết ấy Sẽ không thể gọi là tích hợp nếu các thành phần đó chỉ là sự sắp đặt bên cạnh nhau mà không có mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần đó
1.2.2 Khái niệm dạy học tích hợp
Tháng 9-1968, "Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học" đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì Theo đó, dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: "Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm
sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau" [6] Định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở
Trang 16HS những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống
Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động Khoa sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy cách phát huy sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau, được định nghĩa như sau:
Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước, những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động [23]
1.2.3 Các quan điểm về sự tích hợp các môn học
Tùy theo quan điểm mà có những phương thức khác nhau trong việc thực hiện tích hợp các môn học Theo D’Hainaut (1977), có thể chấp nhận bốn quan điểm tích hợp khác nhau đối với các môn học:
Quan điểm "đơn môn": chương trình đào tạo được xây dựng theo hệ thống nội dung của các môn học riêng biệt, trong đó ưu tiên các nội dung khái quát cốt lõi của môn học Quan điểm này duy trì các môn học một cách riêng rẽ
Quan điểm "đa môn": chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở những tình huống, hay những "đề tài" có thể nghiên cứu theo các quan điểm khác nhau trong những môn học khác nhau Ví dụ: giáo dục SKSS VTN có thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khác nhau Quan điểm này vẫn duy trì tiếp cận các môn học riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài trong những môn học khác nhau, nó không thực sự tích hợp
Quan điểm "liên môn": chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ví dụ: câu hỏi tại sao cần hiểu biết về sức khỏe sinh sản vị thành niên? Mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản? những câu hỏi này chỉ có thể được xem xét từ nhiều góc độ bằng cách huy động kiểu tích hợp
và phương pháp đặc trưng của một số môn học Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống
Trang 17cho trước, cụ thể Khi đó, các quá trình học tập sẽ không còn rời rạc mà chúng liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần phải được giải quyết Quan điểm này thể hiện
rõ sự liên kết các môn học để giải quyết một tình huống cho trước
Quan điểm "xuyên môn": chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở quan tâm phát triển những kỹ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Những kỹ năng đó gọi là kỹ năng "xuyên môn" Có thể lĩnh hội những kỹ năng này trong từng môn học hoặc trong những tình huống có những hoạt động chung cho nhiều môn học Ví dụ:
Kiến thức về
SKSS VTN
Qua những chủ đề giáo dục SKSS chung cho các môn học
Kỹ năng; thái độ; hành vi; thói quen bảo vệ SKSS Ngày nay, xu thế phát triển của khoa học và những nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hướng tới quan điểm liên môn (trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống) và quan điểm xuyên môn (trong đó chúng ta tìm cách phát triển những kĩ năng xuyên môn ở
HS, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng rộng rãi) [23]
1.2.4 Các mô hình chương trình dạy học tích hợp
Hiện nay, trên thế giới, ba mô hình chương trình dạy học tích hợp phổ biến nhất là: Mô hình đa môn (interdisciplinary model), mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) và mô hình dựa trên các chủ đề (theme-based model) [22]
- Mô hình đa môn (interdisciplinary model)
Hình 1.1 Mô hình đa môn (interdisciplinary model)
Trang 18Mô hình này đòi hỏi khi xây dựng chương trình học tập phải tuân theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của một số môn học khác nhau [21]
Hình 1.1 cho thấy sự tích hợp giữa kiến thức các môn học như tiếng Anh (English), Khoa học (Science), Lịch sử (History) và Địa lí (Geography) trong một môn học tại trường phổ thông của Mỹ
Ưu điểm của mô hình này là GV có thời gian làm việc cùng nhau, số lượng HS vừa phải
- Mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model)
Hình 1.2 Mô hình dựa trên chuỗi vấn đề
Mô hình này đòi hỏi khi xây dựng chương trình học tập phải thiết kế theo logic phát triển của một chuỗi các vấn đề từ thấp đến cao, muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của những môn học khác nhau theo cả chiều ngang và chiều dọc [22]
Hình 1.2 cho thấy một vấn đề có thể liên quan đến nhiều môn học khác nhau như Nghệ thuật (Arts), Xã hội (Social Studies), Ngôn ngữ (Language Arts), Toán (Mathematics) và Khoa học (Science)…
Mô hình này cho thấy quá trình học tập xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp
- Mô hình dựa trên hệ thống chủ đề (Theme- based model)
Trang 19Hình 1.3 Mô hình dựa trên chủ đề
Mô hình này đòi hỏi khi xây dựng chương trình học tập phải dựa trên những nguyên lý tồn tại của vật chất trong tự nhiên và những khái niệm lớn của khoa học giáo dục để thiết kế hệ thống các chủ đề, trong đó chủ đề phạm vi hẹp là thành phần cấu trúc nên chủ đề rộng hơn Các chủ đề tích hợp nếu được xây dựng
có tính hệ thống sẽ phá vỡ ranh giới giữa các môn học truyền thống, làm cho tất cả các môn học đều có thể liên kết với nhau để giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh ngày càng nhiều trong nội dung các chủ đề
Hình trên cho thấy chủ đề học tập có thể liên quan đến nhiều môn học khác nhau Do đó, mô hình này giảng dạy theo các chủ đề đòi hỏi GV và HS vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau [21]
Ngày nay, trên thế giới, người ta chấp nhận quan điểm phân chia dạy học tích hợp thành tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration) trong giáo dục phổ thông Tích hợp dọc là "loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một
số lĩnh vực gần nhau", còn tích hợp ngang là "tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau" xung quanh một chủ đề [21]
Trang 20- Mức độ 3 - Mức độ liên hệ: Bổ sung vấn đề cần tích hợp vào bài học sao cho nội dung bài học và nội dung cần tích hợp có sự thống nhất, lôgic Các kiến thức cần được tích hợp không được nêu rõ trong nội dung bài học, nhưng dựa vào kiến thức bài học, GV bổ sung, liên hệ các kiến thức cần được tích hợp vào bài giảng
Dương Tiến Sỹ cũng phân chia ba mức độ tích hợp [13], tuy nhiên tác giả lưu ý khi vận dụng để dạy bất kỳ nội dung nào, cần phối hợp các mức độ tích hợp -
> kết hợp -> liên hệ với nội dung cần giáo dục Tác giả cho rằng thường nội dung nào tích hợp được thì đều có thể kết hợp / lồng ghép và liên hệ được
- Tích hợp (Integration): Chương trình môn học được giữ nguyên Trong mức độ này, nội dung chủ yếu của bài học hay môn học có sự trùng hợp với nội dung cần tích hợp Việc khai thác mối quan hệ hữu cơ, có hệ thống giữa kiến thức môn học chính khóa với kiến thức cần giáo dục thành một nội dung thống nhất
- Kết hợp hay lồng ghép (Infusion): Chương trình môn học được giữ nguyên Trong mức độ này, một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của nội dung môn học có liên quan trực tiếp với nội dung cần giáo dục Những nội dung giáo dục này được lựa chọn rồi lồng ghép vào chương trình các môn học chính khóa
ở chỗ thích hợp sau mỗi bài, mỗi chương, hay hình thành một chương riêng Ví dụ: sau mỗi bài trong môn sinh học 8 có thêm mục "Em có biết"
- Liên hệ (Permeation): Chương trình môn học được giữ nguyên Trong mức
độ này, các nội dung cần giáo dục có liên quan đến một số nội dung của bài học, môn học được làm sáng tỏ bằng các ví dụ, các bài thu hoạch giúp liên hệ hợp lí với các nội dung cần giáo dục Hầu hết các bài học đều có khả năng liên hệ với thực tế
ở địa phương nơi trường đóng
Trang 211.3 Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học
1.3.1 Một số khái niệm có liên quan
- Khái niệm sức khỏe sinh sản
"Sức khỏe sinh sản là tình trạng thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và
xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay tật về tất cả những vấn đề liên quan đến
hệ sinh sản ở mọi giai đoạn của cuộc đời" [10]
Theo định nghĩa này, sinh sản ở đây không chỉ là tình trạng bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động của bộ máy này với đầy đủ các chức năng Do đó, SKSS cũng có nghĩa là mọi người đều có thể có cuộc sống tình dục được thỏa mãn, có trách nhiệm và an toàn, tự do quyết định khi nào có con và khoảng cách giữa các lần sinh
Điều này cũng có nghĩa là tất cả mọi người, nam cũng như nữ, có quyền nhận được thông tin, tư vấn đầy đủ và được tiếp cận với các biện pháp KHHGĐ an toàn và hữu hiệu, phù hợp với khả năng và chấp nhận được theo sự lựa chọn của bản thân họ, có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo đảm cho người phụ nữ có thai
và sinh đẻ an toàn, và cho những cặp vợ chồng cơ hội tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh với một khởi đầu tốt đẹp cho sự phát triển tinh thần và thể chất
- Khái niệm sức khỏe sinh sản vị thành niên [3]
SKSS VTN là những nội dung SKSS liên quan đến lứa tuổi VTN Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là những người ở lứa tuổi từ 10 - 19 tuổi, lứa tuổi
nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến tuổi trưởng thành
Tuổi VTN được phân làm 3 giai đoạn: 10-13 tuổi: VTN sớm; 14-16 tuổi: VTN giữa; 17-19 tuổi: VTN muộn
1.3.2 Mục đích giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở trường phổ thông
- Giúp cung cấp những hiểu biết về bản chất sinh học và những ảnh hưởng tốt, xấu đến sức khỏe, tâm lý và xã hội có thể có của hoạt động tính dục để từ đó hình thành cho HS những nhận thức, thái độ, hành vi đúng đắn
- Giúp HS nắm vững kiến thức, kỹ năng và thay đổi hành vi có lợi về chăm sóc SKSS
1.3.3 Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở trường phổ thông
Học sinh phổ thông đang phải đương đầu với nhiều vấn đề như: Ứng xử trước những khó khăn, bỡ ngỡ của sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, trong tình bạn
Trang 22khác giới, tình yêu, tình dục và làm thế nào để thực hiện tình dục an toàn và có trách nhiệm Nên hay không nên; nguy cơ xâm hại tình dục; nguy cơ có thai ngoài ý muốn; phòng tránh và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục (kể cả HIV/ AIDS); VTN còn có khó khăn, trở ngại khi tiếp xúc với dịch vụ chăm sóc SKSS VTN; có thai và nuôi con ở tuổi VTN; học tập, làm việc và thu nhập…do đó hỗ trợ, chăm sóc nâng cao SKSS VTN là trách nhiệm của toàn xã hội, mỗi gia đình và bản thân VTN
Giáo dục SKSS VTN cho HS THCS là nội dung cần quan tâm đặc biệt trong chương trình hành động cơ bản về SKSS, sự ưu tiên đầu tư chăm sóc SKSS VTN đã
và đang được thực hiện trên phạm vi toàn quốc và trên thế giới, ở từng quốc gia và từng gia đình Cụ thể là:
+ Cung cấp các thông tin, giáo dục, truyền thông, tham vấn về SKSS, sức khỏe tính dục và trách nhiệm làm cha, mẹ, KHHGĐ và các dịch vụ KHHGĐ
+ Cung cấp cho HS kiến thức về mang thai, phá thai
+ Cung cấp cho HS về các nhiễm trùng đường sinh sản, các bệnh lây qua quan hệ tình dục và các bệnh về sinh sản khác
+ Cung cấp cho HS về các biện pháp tránh thai và phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục
+ Cung cấp và giới thiệu các dịch vụ về chăm sóc trước sinh, sinh đẻ an toàn
và chăm sóc sau sinh
+ Cung cấp cho HS về xâm hại tình dục, lạm dụng tình dục và biện pháp
3) Các biện pháp tránh thai và phá thai an toàn
4) Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và phòng chống lây truyền HIV/AIDS 5) Kết hôn sớm ở tuổi VTN
Trang 231.4.2 Nội dung và kết quả điều tra
Việc điều tra được tiến hành tại Trường THCS Nguyễn Trãi (Thanh Xuân
-Hà Nội), Trường THCS Dịch vọng (Cầu Giấy - -Hà Nội) và Trường THCS Long Biên (Long Biên - Hà Nội) Số phiếu phát ra: 30; số phiếu thu lại: 30 Nội dung phiếu điều tra (xem phụ lục 1)
- Thực trạng việc hiểu biết của GV về dạy học tích hợp
Bảng 1.1 Kết quả điều tra hiểu biết của GV về dạy học tích hợp
Mức độ hiểu biết của GV về dạy học tích hợp Số phiếu Tỉ lệ (%)
1 Hiểu biết về cơ sở lí thuyết của dạy học tích hợp
2 Hiểu biết về sự cần thiết dạy học tích hợp
- Rất cần thiết
- Cần thiết
- Không cần thiết
3 Hiểu biết về mục đích dạy học tích hợp
- Vừa đảm bảo cung cấp tri thức khoa học cơ bản môn
học, vừa tích hợp giáo dục các nội dung khác
- Đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc
- Tạo được niềm tin, hứng thú cho HS
- Phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo
của HS trong quá trình học tập
30 13.33 76.67
46.67 36.67 73.33
23.33 33.33 76.67
Số liệu của bảng trên cho phép nhận định khái quát thực trạng hiểu biết của
GV về dạy học tích hợp như sau:
- Chỉ có 33,33% GV hiểu về dạy học tích hợp còn 66,67% GV chưa hiểu
về dạy học tích hợp Đa số GV đánh giá cao tầm quan trọng và sự cần thiết của việc dạy học tích hợp (86,67%) Theo nhận thức của GV, dạy học tích hợp chính là việc thực hiện một mục tiêu "kép" trong dạy học, vừa đảm bảo cung cấp tri thức khoa học cơ bản môn học, vừa tích hợp giáo dục các nội dung khác (76,67%) Dạy học tích hợp đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc (46,67%), tạo được niềm tin, hứng thú cho HS (36,67%)
- 73,33% GV cho rằng dạy học tích hợp phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS đúng theo Điều 24.2, Luật Giáo dục đã ghi
"phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Trang 24- Đa số GV biết về các mức độ tích hợp: tích hợp (23,33%), kết hợp (33,33%), liên hệ (76,67%) Tuy nhiên GV không phân biệt được sự khác nhau của các mức độ đó để vận dụng hợp lí Đây là khó khăn chủ yếu của GV đã hạn chế chất lượng dạy học tích hợp trong bộ môn
Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp GV, kết quả cho thấy 100% GV yêu cầu tổ chức các lớp tập huấn, các buổi hội thảo, chuyên đề về dạy học tích hợp vì theo GV sau những buổi tập huấn và hội thảo chuyên đề GV sẽ hiểu hơn về dạy học tích hợp cụ thể về nguyên tắc, phương thức và mức độ tích hợp để có thể vận dụng các nội dung giáo dục vào dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Đa số
GV có ý kiến phải trang bị cơ sở vật chất, các tài liệu tham khảo về các chủ đề tích hợp; thường xuyên dự giờ trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp về các giờ dạy học tích hợp
- Thực trạng tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thực trạng tích hợp giáo dục SKSS VTN
trong dạy học Sinh học
Thực trạng tích hợp giáo dục SKSS VTN
trong dạy học Sinh học ở trường THCS Số phiếu
Tỷ lệ (%)
1 Những nội dung kiến thức cơ bản liên quan đến tích hợp
giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học
- Nắm được đầy đủ những nội dung/chủ đề cần tích hợp
- Chưa nắm được đầy đủ những nội dung/chủ đề cần tích hợp
2 Những phương pháp dạy học đã sử dụng khi dạy học tích
3 Cần thiết phải giáo dục SKSS VTN vì:
- Đó là những kiến thức cần thiết giúp HS có hành trang bước
vào đời
- Thực trạng nạo phá thai ở tuổi VTN ngày càng gia tăng
- Tỉ lệ người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
ngày càng gia tăng
26,66 53,33 33,33 63,33
Trang 25Kết quả điều tra thực trạng tích hợp giáo dục SKSS VTN cho thấy:
- Đa số GV vẫn còn lúng túng trong dạy học tích hợp, cụ thể GV chưa nắm được đầy đủ nội dung/chủ đề cần tích hợp (66,67%) do GV chưa tìm hiểu nhiều về dạy học tích hợp; tài liệu tham khảo về dạy học tích hợp, về các chủ đề có thể dạy học tích hợp còn hạn chế, đây là khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dạy học tích hợp của
GV
- Có nhiều phương pháp dạy học tích hợp, trong đó phương pháp được GV
sử dụng nhiều nhất là phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (53,33%) và phương pháp dạy học hợp tác (63,33), đối với phương pháp tích hợp giá trị và gạn lọc giá trị
là phương pháp rất có hiệu quả trong dạy học tích hợp, tuy nhiên phương pháp này chỉ có 26,66% GV sử dụng vì đa số GV chưa biết đến phương pháp này
- 100% GV cho rằng cần thiết phải tích hợp giáo dục SKSS VTN vì một số lí do: Đó là những kiến thức cần thiết giúp HS có hành trang bước vào đời; thực trạng nạo phá thai ở tuổi VTN ngày càng gia tăng; tỉ lệ người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng Tuy nhiên qua trao đổi trực tiếp, 1 số GV cho rằng khoa học công nghệ phát triển, HS có rất nhiều kênh và nguồn thông tin, nên cũng không cần thiết phải "đào sâu", "gọt giũa" nhiều về các nội dung đã lan tỏa rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng; làm cho bài học cồng kềnh, gây khó khăn cho GV trong quá trình phân phối thời gian giảng dạy
- Trong qua trình giảng dạy, nhiều GV đã tổ chức giảng dạy theo hướng tích hợp ở mức độ thường xuyên (36,66%), 46,66% GV giảng dạy theo hướng tích hợp nhưng ở mức độ chưa thường xuyên và 16,67% GV không sử dụng Kết quả này phản ánh thực trạng là mặc dù GV đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của tích hợp giáo dục SKSS VTN, nhưng việc tổ chức giảng dạy theo hướng này trong thực
tế lại rất hạn chế Điều này đã tạo nên mâu thuẫn giữa nhận thức và thực tiễn giảng dạy theo hướng tích hợp của GV ở trường THCS hiện nay
Kết luận chương 1 Nội dung chương 1 tập trung nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lí luận về tích hợp
và dạy học tích hợp và nêu rõ Mục đích, nội dung giáo dục SKSS VTN làm cơ sở định hướng cho đề tài; đồng thời điều tra thực trạng hiểu biết của GV về dạy học tích hợp và thực trạng việc tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học ở một số trường THCS là căn cứ nói lên tính cấp bách của đề tài Đó là những điểm tựa về lý luận và thực tiễn đảm bảo vận dụng thành công vào việc tích hợp giáo dục SKSS VTN thông qua dạy học chương "Sinh sản", Sinh học 8 ở trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 26CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG "SINH SẢN",
SINH HỌC 8 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Các nguyên tắc tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học 8 Trung học cơ sở
Do nội dung kiến thức SKSS VTN chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau thì nó cũng khác nhau không chỉ về nội dung mà còn khác nhau cả
về mức độ tích hợp Vì vậy, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp giáo dục SKSS VTN trong nội dung môn học Muốn vậy, GV phải biết cách lựa chọn, phân loại những kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ tích hợp khác nhau để đưa vào bài giảng; nghĩa là việc đưa các kiến thức giáo dục SKSS VTN vào bài không thể tùy tiện, mà phải dựa vào những nguyên tắc sư phạm cụ thể, rõ ràng Những nguyên tắc đó là:
Nguyên tắc tích hợp có hệ thống, không tràn lan tùy tiện
Kiến thức tích hợp khi đưa vào bài phải được sắp xếp một cách hệ thống, với một lượng hợp lý làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát thực tiễn, tránh
sự trùng lặp, thích hợp với trình độ của người học, không gây quá tải ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
Ví dụ: Để đảm bảo quán triệt nguyên tắc tích hợp có hệ thống, không tràn lan tùy tiện, đề tài xây dựng hệ thống 5 chủ đề: Tuổi dậy thì; Làm mẹ an toàn; Các biện pháp tránh thai và phá thai an toàn; Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và phòng chống lây truyền HIV/AIDS; Kết hôn sớm ở tuổi VTN
Nguyên tắc không biến môn Sinh học 8 thành môn giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Tích hợp không làm thay đổi đặc trưng của môn học, không biến bài học thành bài giáo dục SKSS VTN, các kiến thức của bài học được coi như là cơ sở cho kiến thức giáo dục SKSS VTN
Ví dụ: Khi dạy bài 62 "Thụ tinh, thụ thai và sự phát triển của thai" mục III/ Hiện tượng kinh nguyệt Mục tiêu kiến thức HS giải thích được hiện tượng kinh
Trang 27nguyệt Đồng thời, GV cần giúp HS có ý thức và biết cách chăm sóc SKSS, biết giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt
GV treo tranh 62-3 hướng dẫn HS quan sát, kết hợp nghiên cứu thông tin mục III tr.194 để tự trả lời các câu hỏi: Hiện tượng kinh nguyệt là gì? Kinh nguyệt xảy ra khi nào? Do đâu có kinh nguyệt? Chu kì kinh nguyệt có sự tham gia của những hoocmon nào? Tiếp theo, GV tổ chức cho HS thảo luận và chính xác hóa kiến thức:
- Kinh nguyệt là hiện tượng lớp niêm mạc tử cung bong ra từng mảng, thoát
ra ngoài cùng với máu và dịch nhày
- Kinh nguyệt xảy ra theo chu kì (hàng tháng, từ 28-32 ngày) khi trứng không được thụ tinh
- Kinh nguyệt đánh dấu chính thức tuổi dậy thì ở em gái
Giáo viên có thể giảng giải thêm về tính chất của chu kì kinh nguyệt do tác dụng của hoocmon tuyến yên Sau đó, nêu câu hỏi tích hợp giúp HS biết vận dụng vào việc giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt: Những biểu hiện của hiện tượng kinh nguyệt không bình thường? Khi thấy hiện tượng kinh nguyệt không bình thường, em nên làm gì? Kể từ khi bắt đầu có kinh nguyệt, cần làm gì để phòng chống thiếu máu? Trong thời kì kinh nguyệt cần chăm sóc sức khỏe, vệ sinh kinh nguyệt hàng ngày như thế nào? Trong quan hệ tình dục, nếu không thấy có kinh (chậm kinh hoặc tắt kinh) chứng tỏ điều gì, khi đó em nên làm gì?
Nguyên tắc phát huy cao độ tích cực nhận thức của học sinh
Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của HS và vốn sống của các em Kiến thức tích hợp phải phù hợp với từng đối tượng, từng thời kỳ, phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, giúp cho HS thấy vấn đề một cách cụ thể và sâu sắc, không xa lạ đối với họ
Cũng ví dụ nêu trên: Khi dạy bài 62 "Thụ tinh, thụ thai và sự phát triển của thai" mục III/ Hiện tượng kinh nguyệt Mục tiêu kiến thức HS giải thích được hiện
tượng kinh nguyệt, GV sử dụng tranh 62-3 hướng dẫn HS quan sát, tìm tòi bộ phận trên tranh và kết hợp nghiên cứu thông tin mục III tr.194 để tự phát hiện kiến thức mới Tiếp theo GV tổ chức cho các nhóm thảo luận, các ý kiến của HS được phân tích, đánh giá, sàng lọc qua tranh luận Mọi HS đều được tham gia trình bày ý kiến,
Trang 28quan điểm của mình, qua đó đã khơi dậy và phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức và vốn sống của các em Từ đó, HS vận dụng được kiến thức về hiện tượng kinh nguyệt vào việc nâng cao ý thức và biết cách chăm sóc SKSS, biết giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt
2.2 Các địa chỉ tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên theo chủ đề trong dạy học Chương "Sinh sản", Sinh học 8 trường Trung học cơ sở
Chương "Sinh sản" Sinh học 8 giới thiệu cho HS các kiến thức về: cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nam và nữ; điều kiện của sự thụ tinh và thụ thai, sự nuôi dưỡng thai và điều kiện đảm bảo cho thai phát triển tốt; hiện tượng kinh nguyệt; nguy cơ có thai ở tuổi VTN, cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai; các bệnh lây truyền qua đường tình dục; đại dịch AIDS Vì vậy, khi hình thành cho
HS hệ thống các kiến thức của chương, GV còn có nhiệm vụ chỉ rõ cho HS ý nghĩa của những kiến thức này đối với việc chăm sóc sức khỏe, SKSS cho bản thân, hạnh phúc cho gia đình và phồn vinh của xã hội
2.2.1 Nội dung các chủ đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Qua nghiên cứu nội dung chương "Sinh sản" Sinh học 8, ta có thể tích hợp nội dung giáo dục SKSS VTN theo chủ đề như sau (nội dung chi tiết xem phụ lục 2)
- Những dấu hiệu mang thai
- Chăm sóc trước sinh:
+ Giáo dục vệ sinh và hiểu biết về thai nghén
+ Giai đoạn sau của thai nghén
+ Kiểm tra sức khỏe và điều trị các bệnh lý hoặc biến chứng trong thời kỳ mang thai
+ Sàng lọc những nguy cơ với thai phụ
Trang 292.2.1.3 Các biện pháp tránh thai và phá thai an toàn
* Các biện pháp tránh thai
* Các phương tiện tránh thai
* Phá thai an toàn:
- Phương pháp kỹ thuật nạo phá thai an toàn
- Lựa chọn dịch vụ phá thai an toàn
- Chuẩn bị trước khi phá thai
- Theo dõi, chăm sóc sau nạo phá thai
- Những biến chứng có thể gặp phải sau nạo hút thai
2.2.1.4 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và phòng chống lây truyền HIV/AIDS
* Đặc điểm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phòng ngừa
* Dự phòng nhiễm khuẩn đường sinh sản lây truyền qua đường tình dục
2.2.1.5 Kết hôn sớm ở tuổi vị thành niên
* Nguyên nhân kết hôn sớm ở tuổi vị thành niên
* Nguy cơ có thai ở tuổi VTN
trong chương sinh sản
Tích hợp Kết hợp Liên hệ Tuổi
dậy
thì
1 Sự thay đổi:
Bạn trai:
+ Dương vật và tinh hoàn lớn dần lên
+ Bắt đầu mộng tinh (di tinh) khi ngủ:
Mộng tinh là hiện tượng xuất tinh khi
nằm mơ Nói một cách khác, đó là sự
xuất tinh vô giác
Khi xuất tinh, tinh trùng ra khỏi dương
vật dưới dạng một dịch lỏng được gọi là
I/Bài 60 I/Bài 60 I/Bài 60
Trang 30tinh dịch Các túi tinh, tuyến tiền liệt và
các tuyến hành - niệu đạo (tuyến củ
hành/tuyến Cowper/tuyến hình củ) bổ
sung thêm chất tiết vào trong tinh dịch
ở nam giới khi già, tuyến tiền liệt có thể
mở rộng và ôm chặt lấy niệu đạo, làm cho
việc đi tiểu trở nên khó khăn và rất đau
Hiện tượng di tinh xảy ra do tinh hoàn
luôn sản sinh ra tinh trùng còn tuyến
tiền liệt luôn tạo ra dịch, hỗn hợp này
khi tích đến một mức độ nhất định sẽ
gây ra kích động thần kinh, làm cho di
tinh Di tinh là một phương thức bài tiết
tinh hoàn ra ngoài cơ thể
Mật độ di tinh bình thường đối với
người khỏe mạnh khoảng 1-2 lần/tháng
hoặc 1-2tháng/lần với mật độ này di
tinh không có hại cho sức khỏe Nếu tần
số di tinh quá nhiều thậm chí
1-2ngày/lần hoặc chỉ hơi bị kích thích tình
dục đã xuất tinh sẽ có hại cho sức khỏe
khi đó tinh thần sa sút, đầu đau mắt hoa,
đau lưng mỏi gối cần đi khám và điều trị
- Nguyên nhân di tinh bất thường: nguyên
nhân di tinh bất thường có thể do các
nguyên nhân như có bệnh tật ở cơ quan
sinh dục: viêm quy đầu, viêm tuyến tiền
liệt chỗ viêm có thể kích thích gây hưng
phấn trung khu thần kinh tính dục gây di
tinh Do bao quy đầu quá dài chất cặn
không được thải hết ra ngoài gây kích
thích di tinh Do tác động của các yếu tố
khách quan như các loại băng hình sách
báo đồi trụy cũng gây kích thích trung
khu tình dục dẫn đến di tinh Có khoảng
17% số đàn ông không hề bị di tinh
Phòng chống di tinh bất thường: cần vệ
sinh bộ phận sinh dục sạch sẽ và thường
Trang 31xuyên, không để dương vật bị chèn ép,
không tiếp xúc với văn hóa phẩm đồi
trụy khiêu dâm
Bạn gái:
+ Âm đạo bắt đầu tiết dịch trong hoặc
hơi trắng
+ Bắt đầu có kinh nguyệt: Khi mới bắt
đầu hành kinh, kinh nguyệt bạn gái có
thể không đều, dao động từ 21 đến 45
ngày, hành kinh kéo dài từ 3 - 8 ngày và
lượng máu ra là 30 -120ml
Tuy nhiên có kinh nguyệt không có nghĩa
là buồng trứng đã có công năng rụng
trứng, vì việc rụng trứng đòi hỏi giữa
tuyến yên và vùng dưới đồi có một cơ chế
tinh tế và phức tạp hơn, đó chính là sự điều
chỉnh theo cơ chế phản ngược lại Theo
điều tra, trong năm đầu tiên thấy kinh, có
80% trường hợp không rụng trứng, trong
vòng 2-4 năm sau khi thấy kinh lần đầu,
30 - 50% trường hợp không rụng trứng
Năm năm sau khi thấy kinh lần đầu, vẫn
còn có gần 20% trường hợp không rụng
trứng Do vậy, vài năm sau khi thấy kinh
lần đầu, trong buồng trứng có các noãn
bào phát dục và sự tiết ra oestrogen không
có sự ảnh hưởng của hoàng thể và
progestagel Do dao động về mức độ
oestrogene nếu dẫn đến bong niêm mạc tử
cung và xuất huyết thì thường biểu hiện
thành kinh nguyệt không theo quy luật
2 Chăm sóc sức khỏe sinh sản, vệ
sinh cá nhân, vệ sinh bộ phận sinh dục:
* Nữ:
+ Vệ sinh bộ phận sinh dục: hàng ngày,
sau khi đi tiểu và đi cầu
+ Phải biết cách thực hiện vệ sinh kinh
nguyệt (thay băng vệ sinh thường xuyên
trong thời gian hành kinh)
I/bài 61 I/bài 61
I/Bài 61 III/Bài 62
I/bài 61
Trang 32+ Không làm việc nặng trong thời kỳ
hành kinh
+ Tắm bằng nước ấm
+ Không ngâm cơ quan sinh dục trong
nước bẩn (ao, suối…)
+ Đến 15-16 tuổi mà không có kinh
nguyệt thì phải đi khám
+ Uống viên sắt: kể từ khi bắt đầu có
kinh nguyệt, mỗi tuần uống 01 viên, liên
tục 16 tuần/01 năm (16 viên/01 năm) để
phòng tránh thiếu máu do thiếu sắt
+ Đừng thụt rửa: có thể bạn đã nghe về
điều này trước đây, nhưng âm đạo của
bạn có khả năng tự làm sạch, không cần
phải thụt rửa Làm thế sẽ có thể phá hủy
môi trường tự nhiên trong âm đạo và dẫn
đến nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm khác
+ Mặc quần lót chất cotton: Chất cotton
giúp không khí lưu thông tốt hơn các
chất khác và giữ được độ ẩm thấp nhất
Thay quần lót hàng ngày
+ Nên khỏa thân lúc ngủ: cởi bỏ quần
lót về đêm trong giấc ngủ giúp không
khí lưu chuyển ra bên ngoài âm đạo,
chống lại các vi khuẩn sinh sản tốt hơn
* Nam:
+ Phải biết phát hiện những bất thường
về cơ quan sinh dục của mình để đi khám
bệnh kịp thời như: hẹp bao quy đầu, tinh
hoàn ẩn, vị trí bất thường của lỗ tiểu
+ Không mặc quần lót quá bó sát, chật
hẹp Thay quần lót hàng ngày
1 Những dấu hiệu khi mang thai bao gồm:
* Dấu hiệu cơ năng: Tắt kinh; nghén:
Buồn nôn hoặc nôn khi sáng sớm, thay
đổi khẩu vị …;Cảm giác thấy vú căng hơn
II/Bài 63 II/Bài 63 II/Bài 63
Trang 33* Dấu hiệu thực thể: Âm hộ, âm đạo
sẫm màu hơn bình thường; quầng vú thâm, có hạt nhỏ mọc trên quầng vú, vú căng to hơn bình thường
* Cận lâm sàng: Test thử thai sớm; siêu
âm: Cho thấy tình trạng phát triển của thai
Các dấu hiệu cho thấy một phụ nữ nên
đi khám thai đó là: mất kinh, tăng tần số
đi tiểu, mệt mỏi vào buổi sáng và vú nở nang hơn cũng như thâm quầng núm vú
2 Chăm sóc trước sinh:
a Về dinh dưỡng:
- Dinh dưỡng tốt sẽ giúp cho người mẹ + Có sức đề kháng chống lại nguyên nhân bệnh tật nên ít mắc bệnh
+ Không bị thiếu máu khi có thai
+ Con không bị nhẹ cân (suy dinh dưỡng): Mẹ được nuôi dưỡng tốt thì con cũng nhờ đó được hưởng các chất dinh dưỡng từ mẹ cung cấp; vì thế thai sẽ phát triển bình thường, không bị đẻ non, khi đẻ bà mẹ cũng ít phải can thiệp -Về chế độ ăn khi có thai:
+ Để ăn đủ chất những thức ăn có chất đạm như thịt, cá, tôm, cua, ếch, lươn, trứng, sữa, các loại đậu, đỗ nhất là đậu tương Tinh bột: ngô, khoai, sắn, củ mài, bột mì…; thức ăn chứa nhiều muối khoáng
và vitamin như rau tươi, hoa quả các loại + Ngoài ra nếu thai phụ là người có bệnh mạn tính đã được theo dõi điều trị, cần phải có chế độ ăn kiêng thì khi có thai họ vẫn cần một chế độ ăn hạn chế các thức ăn đó và hỏi ý kiến thầy thuốc chuyên khoa điều trị bệnh trước đây
* Về chế độ làm việc khi có thai:
- Không bao giờ làm việc quá sức
- Trong thời gian thai nghén không làm việc ở trên cao (dễ bị tai nạn) và ngâm
Trang 34mình dưới nước (dễ nhiễm lạnh, nhiễm khuẩn), nhất là nước ao tù, cống rãnh
- Trong thời gian làm việc nên xen kẽ những phút nghỉ ngơi giữa giờ Nếu đang lao động thấy người mệt mỏi, đau bụng thì nên nằm nghỉ để các cơ thư giãn Nếu thấy nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng vùng dưới xương
ức thì nên đi khám kiểm tra xem có bất thường do thai nghén hay không
- Vào tháng cuối trước ngày dự kiến đẻ cần nghỉ ngơi để mẹ có sức, con tăng cân
- Cần đảm bảo ngủ mỗi ngày ít nhất 8 giờ Nên ngủ trưa từ 30 phút đến một giờ Không thức khuya, dậy sớm
* Về vệ sinh thân thể:
- Năng tắm rửa, thay quần áo hàng ngày Tắm trong nhà tắm, kín đáo, tránh gió lùa
- Trong thời kỳ thai nghén, bộ phận sinh dục thường tiết dịch nhiều hơn lúc không có thai, vì thế cần thực hiện vệ sinh bộ phận sinh dục thường xuyên, đều đặn hàng ngày
- Khi có thai chăm sóc vú bằng cách lau rửa vú hàng ngày với khăn vải mềm
* Về sinh hoạt trong khi có thai:
- Cần có cuộc sống thoải mái, ấm cúng trong gia đình Tránh lo lắng, căng thẳng trong sinh hoạt
- Cần ở nơi thoáng đãng, sạch sẽ, không khí trong lành, không có khói bếp nhất là khói thuốc lá, thuốc lào
- Mặc áo quần rộng rãi, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
- Khi có thai nên tránh phải đi xa Nếu bắt buộc phải đi thì nên chọn phương tiện nào an toàn, êm, ít xóc nhất
Trang 35- Bao cao su (nam giới): là một loại bao
mỏng bằng cao su nhân tạo, bao khít
dương vật khi giao hợp để ngăn tinh
dịch vào âm đạo Đạt 98% hiệu quả
tránh thai Ngoài ra, nó còn giúp tránh
sự lây truyền bệnh qua đường tình dục,
trong đó có cả HIV Bao chỉ dùng một lần
- Bao nữ giới: được cho vào âm đạo
trước khi giao hợp, giúp cặp bạn tình
tránh tiếp xúc với dịch sinh dục của
nhau Đạt 95% hiệu quả tránh thai
Ngoài ra, nó còn giúp tránh sự lây
truyền bệnh qua đường tình dục, trong
đó có cả HIV Bao chỉ dùng một lần
1.2 Vòng tránh thai:
Là một dụng cụ nhỏ bằng nhựa được đặt
vào tử cung Vòng tránh thai ngăn
không cho trứng làm tổ ở niêm mạc tử
cung, đồng thời cũng cản trở sự gặp gỡ
giao duyên của trứng và tinh trùng Biện
pháp này đạt hiệu quả khoảng 98%
1.3 Tránh thai bằng thuốc:
* Thuốc uống tránh thai thông thường:
Thuốc có tác dụng cơ bản là điều chỉnh
một chút các mức hoóc môn của cơ thể,
làm cho trứng không rụng Ngoài ra,
thuốc còn làm mỏng niêm mạc tử cung để
trứng nếu được thụ tinh thì cũng khó làm
tổ, làm đặc chất dịch nút cổ tử cung để
cản tinh trùng đi qua, giảm sự di chuyển
của tinh trùng trong ống dẫn trứng
Thuốc có hiệu quả rất cao, khoảng 99%
* Thuốc tránh thai khẩn cấp: được dùng
sau khi giao hợp "không có dự phòng"
Nếu lúc đó trứng chưa rụng, thuốc sẽ ức
chế sự rụng trứng Nếu trứng đã rụng và
thụ tinh, thuốc cũng tác động đến niêm
III/Bài 63 III/Bài 63 III/Bài 63
Trang 36mạc tử cung khiến phôi khó làm tổ Nếu dùng đúng chỉ dẫn, trong vòng 72 giờ sau khi giao hợp, thuốc có hiệu quả 75%
* Thuốc tiêm tránh thai: chỉ tiêm một
lần vào bắp, giúp bạn gái tránh thai trong một thời gian dài (có loại 1 tháng
và 3 tháng) Biện pháp này đạt hiệu quả rất cao, gần 100% Nhược điểm của nó
là làm thay đổi chu kỳ kinh nguyệt Bạn
có thể thấy ra kinh nhiều hơn, ra máu giữa hai kỳ kinh hoặc không thấy kinh Tuy vậy, điều này không có hại
* Thuốc cấy tránh thai: là biện pháp
tránh thai tạm thời Hiện nay thuốc cấy tránh thai có hai loại: Norplant có tác dụng kéo dài 5 năm và Implanon có tác dụng 3 năm
* Thuốc diệt tinh trùng: có tác dụng diệt
tinh trùng Khoảng 15 phút trước khi giao hợp, người nữ đưa thuốc vào trong
âm đạo, chú ý phải đưa sâu đến tận cổ
tử cung để thuốc lan ra khắp vùng cổ tử cung Tinh trùng gặp thuốc sẽ ngừng hoạt động Đạt hiệu quả 94%
1.4 Triệt sản:
Triệt sản là biện pháp chỉ làm một lần
mà có tác dụng tránh thai mãi mãi, khả năng sinh sản hầu như không thể phục hồi, hiệu quả rất cao Nếu bạn đã có đủ
số con mình mong muốn, lại không có ý định kết hôn lần nữa thì đây là một biện pháp phù hợp
1.5 Biện pháp tránh thai tự nhiên:
a Biện pháp tránh thai tính theo vòng kinh:
- Căn cứ vào số ngày của mỗi vòng kinh, tính được ngày dự kiến sẽ có kinh lần sau
Trang 37- Từ ngày dự kiến có kinh lùi lại 14 ngày là ngày có thể phóng noãn trong vòng kinh
- Trong vòng 5 ngày trước và 4 ngày sau khi phóng noãn là những ngày không an toàn, cần kiêng giao hợp hoặc nếu giao hợp thì cần dùng biện pháp tránh thai hỗ trợ
b Biện pháp tránh thai bằng cách xuất tinh ngoài âm đạo:
- Khi giao hợp lúc đầu hai vợ chồng hoạt động như bình thường
- Đến khi người chồng cảm thấy sắp sửa xuất tinh thì rút nhanh dương vật để xuất tinh ra ngoài, xa hẳn bộ phận sinh dục của người vợ
- Không để giọt tinh trùng nào rỉ ra trong lúc dương vật vẫn còn trong âm đạo (những giọt tinh dịch này chứa nhiều tinh trùng nhất)
- Không để một giọt tinh dịch nào khi phóng tinh dịch ở bên ngoài đi vào âm đạo
- Nếu có nhu cầu giao hợp lần nữa, người chống nên đi tiểu để không còn tinh dịch đọng lại trong niệu đạo
2 Các phương tiện tránh thai:
Bao cao su; vòng tránh thai; thuốc diệt tinh trùng; thuốc tránh thai (thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc cấy)
3 Phá thai an toàn
* Biện pháp bơm hút chân không
- Hút phá thai sớm: Hút thai trong tử cung từ tuần thứ 6 đến hết tuần thứ 12
* Chấm dứt thai bằng thuốc
- Phá thai bằng thuốc: sử dụng phối hợp thuốc Mifeprispon và Misouproston gây sẩy thai
+ Loại áp dụng cho thai dưới 9 tuần + Loại áp dụng cho thai từ 13-23 tuần
Trang 38* Phá thai muộn: Bằng phương pháp
nong và gắp từ tuần 13-18
4 Chuẩn bị trước khi phá thai:
- Sức khỏe chung không nên phá thai khi người phụ nữ đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính
- Tinh thần: người phụ nữ khi phá thai cần được tư vấn trước để yên tâm, không lo sợ, tư vấn để tránh tư tưởng kỳ thị về phá thai
- Vệ sinh: trước khi phá thai cần vệ sinh thân thể sạch sẽ, đặc biệt là bộ phận sinh dục
5 Theo dõi và chăm sóc sau phá thai:
- Kiêng giao hợp đến khi hết ra máu
- Dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ
- Vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài ngày 3-4 lần
- Chế độ dinh dưỡng ăn giầu dinh dưỡng dễ tiêu
- Tự theo dõi các dấu hiệu ra máu, tăng nhiệt độ cơ thể… nếu thấy sốt ra máu nhiều hoặc kéo dài trên 10 ngày cần khám lại ngay
- Hẹn khám lại sau 1 tuần,1 tháng
- Tư vấn tránh thai sau phá thai
6 Các biến chứng có thể gặp phải sau nạo hút thai:
+ Choáng: do tinh thần, do đau hoặc mất máu
+ Thủng tử cung: do kỹ thuật nạo phá thai không đúng kỹ thuật hoặc do thai to (các phần của thai cứng) gây thủng tử cung + Nhiễm khuẩn: sau phá thai bị nhiễm khuẩn do không đảm bảo vô khuẩn trong quá trình phá thai, không chăm sóc tốt sau phá thai (không sử dụng đúng và kháng sinh dự phòng sau phá thai, vệ sinh bộ phận sinh dục không đảm bảo hoặc do cơ thể giảm sút đề kháng…)
Trang 39+ Vô sinh: do vòi trứng bị tắc lại vì
nhiễm khuẩn
+ Dính buồng tử cung: Sau phá thai buồng
tử cung bị viêm dính dẫn đến vô sinh
người này sang người khác thông qua
quan hệ tình dục bằng đường âm đạo,
hậu môn, miệng, cọ xát Những nguyên
tắc cơ bản để phòng ngừa Các bệnh lây
truyền qua đường tình dục và phòng
chống lây truyền HIV/AIDS:
- Không quan hệ tình dục với bất cứ ai
không sử dụng bao cao su, đang nghiện
chích hoặc mắc bệnh lây truyền qua
- Chắc chắn rằng bao cao su bao phủ cả
dương vật Nếu không, bạn sẽ không
được bảo vệ đầy đủ
- Kiểm tra định kỳ hàng năm, chữa trị
sớm có thể giúp bạn tránh khỏi các bệnh
lây truyền tình dục và giảm lây nhiễm
cho những người khác
- Một số nhiễm khuẩn qua đường tình
dục: Hecpet, lậu, giang mai, mụn cóc,
trùng roi, nấm candida, HIV/AIDS,
viêm gan B, mụn rộp…
* Đặc điểm 1 số bệnh và cách phòng ngừa:
1 Lậu: do vi khuẩn lậu cầu gây ra
- 70% tiềm ẩn ở phụ nữ
- Ở bộ phận sinh dục có dấu hiệu:
+ Tiểu mủ ở nam, nóng rát, ngứa đầu
dương vật
+ Huyết trắng ở nữ, đau chảy máu khi
giao hợp
Bài 64-65
Bài
64-65
Bài
64-65
Trang 40- Nếu quan hệ tình dục bằng đường miệng có thể gây viêm họng do lậu cầu
- Nếu quan hệ tình dục qua đường hậu môn sẽ gây đau, tiết dịch ở hậu môn
- Bệnh lậu ở nam có thể đưa đến viêm mào tinh hoàn gây vô sinh
- Bệnh lậu cấp tính ở nữ có thể tổn thương mắt, da, khớp, viêm quanh gan
- Bệnh lậu lâu dài ở nữ có thể gây vô sinh, thai ngoài tử cung, đau bụng dưới mãn tính
- Trẻ sinh ra mù lòa nếu mẹ mang thai
bị lậu không điều trị
2 Giang mai: do vi khuẩn hình xoắn (xoắn khuẩn) gây ra
* Bệnh diễn biến qua 03 thời kỳ:
- Thời kỳ 1: bắt đầu từ 10 đến 100 ngày sau khi nhiễm bệnh
+ Vết loét: xuất hiện ở bộ phận sinh dục, không đau, 30% có trên 1 vết loét + Nổi hạch bẹn: không đau
- Thời kỳ 2: bắt đầu 2-4 tháng sau khi nhiễm bệnh
+ Ban đào ở thân mình, lòng bàn tay, lòng bàn chân
+ Hạch nổi toàn thân, không đau
+ U sùi (sần ướt) ở hậu môn, sinh dục
- Thời kỳ 3: bắt đầu 5-20 năm sau khi nhiễm bệnh với các tổn thương nội tạng như: thần kinh, xương, da, tim …
* Giang mai có thể tiềm ẩn (không có
triệu chứng)
* Giang mai bẩm sinh:
Mẹ bị giang mai không điều trị hoặc điều trị không đúng có thể truyền sang
con (50% trường hợp) gây ra hậu quả:
+ Thai chết lưu
+ Nếu sống, trẻ bị giang mai bẩm sinh với các triệu chứng: viêm mũi, gan lách