Chỉ thị số 42 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THANH TÒNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THANH TÒNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Văn Bình
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin tỏ lòng biết ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để chúng tôi được tham gia học tập và hoàn thành khóa học Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Giáo dục, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Giáo dục, quý thầy giáo cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn TS.Ninh Văn Bình và quý thầy cô đã định hướng đề tài, nhiệt tình hướng dẫn
để chúng tôi thực hiện và hoàn thành luận văn khóa học Quản lý giáo dục Xin cảm ơn quý đồng nghiệp, người thân, bạn bè và các em học sinh trường THPT Bà Điểm đã giúp đỡ, động viên, chia sẽ để chúng tôi có điều kiện học tập, nghiên cứu và hoàn thành nhiệm vụ học tập
Dù hết sức cố gắng, nhưng luận văn này khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, rất mong nhận được chỉ giáo, góp ý của quý thầy cô, anh chị, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài
Trân trọng !
TÁC GIẢ
Lê Thanh Tòng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu. 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 4
3.1 Khách thể nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học. 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu. 4
6 Phạm vi nghiên cứu. 5
7 Phương pháp nghiên cứu. 5
8 Đóng góp của đề tài. 5
9 Cấu trúc của luận văn. 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu. 7
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài. 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước. 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản. 10
1.2.1 Đạo đức. 10
1.2.2 Giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông. 17
1.2.3 Quản lý. 20
1.2.4 Quản lý giáo dục. 21
Trang 61.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 23
1.3 Hoàn cảnh xã hội, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông. 27
1.3.1 Hoàn cảnh xã hội của học sinh trung học phổ thông. 27
1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông. 27
1.4 Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay. 29
1.4.1 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông. 29
1.4.2 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông. 30
1.4.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông. 31
1.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường trung học phổ thông. 31
1.5.1 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT. 31
1.5.2 Trách nhiệm của Hiệu trưởng. 33
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông. 34
1.6.1 Về phía gia đình. 34
1.6.2 Về phía nhà trường. 34
1.6.3 Về phía xã hội. 35
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 37
2.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạọ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh và trường THPT ở địa bàn nghiên cứu. 37
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạọ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. 37
2.1.2 Khái quát về trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 40
Trang 72.2 Thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 42
2.2.1 Thực trạng đạo đức của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 42
2.2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 54
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 61
2.3.1 Nhận thức về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 61
2.3.2 Về tổ chức bộ máy. 62
2.3.3 Về xây dựng kế hoạch. 62
2.3.4 Về tổ chức thực hiện. 63
2.3.5 Về kiểm tra đánh giá. 64
2.3.6 Về thi đua khen thưởng. 64
2.3.7 Thực trạng phối hợp của nhà trường với các lực lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 64
2.3.8 Lý do làm hạn chế hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 66
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 68
2.4.1 Mặt tích cực. 68
2.4.2 Mặt tồn tại. 68
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 69
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 72
Trang 83.1 Định hướng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà
Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. 72
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp. 73
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ. 73
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn. 73
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và khả thi. 74
3.3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh. 74
3.3.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng liên quan đến hoạt động giáo dục đạo đức. 74
3.3.2 Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc thù nhà trường. 77
3.3.3 Tổ chức và chỉ đạo giáo viên thực hiện cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. 79
3.3.4 Chỉ đạo tăng cường sự phối hợp giữa Đoàn thanh niên và giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 83
3.3.5 Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 85
3.3.6 Thực hiện thường xuyên, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 88
3.3.7 Tăng cường thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 90
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp. 92
3.5 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. 93
3.5.1 Đối tượng khảo sát. 93
3.5.2 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả. 94
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận. 100
Trang 92 Khuyến nghị. 102 2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo. 102 2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh. 102 2.3 Đối với đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và phòng Giáo dục huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. 102
PHỤ LỤC 106
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Quy mô trường lớp, học sinh THPT huyện Hóc Môn, thành phố Hồ
Chí Minh (2014 - 2015) 40
Bảng 2 2:Chất lượng giáo dục toàn diện học sinh THPT huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 40
Bảng 2 3: Đội ngũ sư phạm trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh.41 Bảng 2 4: Kết quả xếp loại học lực của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh (từ 2012 - 2013 đến 2014 - 2015) 42
Bảng 2 5: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh (từ 2010 - 2011 đến 2014 - 2015) 43
Bảng 2 6: Ý kiến của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh về sự cần thiết của giáo dục đạo đức 44
Bảng 2 7: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh 45
Bảng 2 8: Nhận thức của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cần được giáo dục trong bối cảnh hiện nay 46
Bảng 2 9: Thái độ của học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh đối với các quan niệm về đạo đức 48
Bảng 2 10: Tình hình học sinh vi phạm đạo đức ở trường THPT Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh (từ 2012 - 2013 đến 2014 - 2015) 50
Bảng 2 11: Những tác động khách quan trong đời sống xã hội ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của học sinh 52
Bảng 2 12: Mức độ nhận thức về công tác giáo dục đạo đức học sinh hiện nay 54
Bảng 2 13: Kết quả thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức 54
Bảng 2 14: Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện 56
Bảng 2 15: Các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 58
Trang 11Bảng 2 16: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh 59 Bảng 2 17: Nhận thức về công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh 61 Bảng 2 18: Về kế hoạch hóa công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh 62 Bảng 2 19: Sự phối hợp của nhà trường với các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh 65 Bảng 2 20: Lý do làm hạn chế tính hiệu quả của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 66
Bảng 3 1: Tổng hợp khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 94
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi 97
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục
“Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và
phát triển tốt các tri thức và kỹ năng Ngày nay, phương châm “Dạy người,
dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức
Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không
phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định ” [30]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức chỉ là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học ” Bởi vậy, tu dưỡng và
rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, có đạo đức, có tài năng là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của các thế
hệ thanh niên và học sinh
Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ luôn được Đảng, Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội quan tâm Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác thanh niên và giáo dục thế hệ trẻ đã được triển khai, đạt nhiều kết quả Hệ thống pháp luật, công tác quản lý nhà nước về thanh thiếu niên ngày càng được hoàn thiện Giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ không ngừng được tăng cường và đổi mới Thông qua hoạt động giáo dục, các cuộc vận động, phong trào thi đua đã tạo môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách Nhìn chung, thế hệ trẻ Việt Nam được giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng ngày
Trang 14một tốt hơn; phần lớn thanh thiếu niên tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình
và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ còn nhiều hạn chế, yếu kém Nhiều tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, nhất là trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi Việc cụ thể hoá các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục thế hệ trẻ chưa kịp thời và hiệu quả; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu Vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Một số ít thanh niên bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do chúng ta chưa giải quyết thoả đáng những vấn đề của thực tiễn đặt ra trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế Nhận thức về tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục thế hệ trẻ chưa thật đầy đủ
Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các đoàn thể còn thiếu chặt chẽ Đạo đức xã hội có mặt xuống cấp, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, đạo đức của thế hệ trẻ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, chưa là tấm gương để thế hệ trẻ học tập và noi theo Nội dung, hình thức dạy và học các môn lý luận chính trị, đạo đức, lối sống chưa thực sự phù hợp với từng đối tượng
Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Khóa XI về đổi mới
Trang 15căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã nêu rõ: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, các giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [2]
Chỉ thị số 42 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030 đã chỉ rõ “Trong thời gian tới, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ phải được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức,
kỹ năng lao động, trở thành những công dân tốt, tích cực tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [3]
Xác định rõ vai trò quan trọng của việc giáo dục đạo đức, Sở Giáo dục
và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh luôn coi hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu Các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố luôn quan tâm đến hoạt động giáo dục đạo đức, đến nề nếp kỷ luật của học sinh, nhằm đạt mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng sống
cơ bản, hình thành nhân cách con người Việt Nam; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên nữa hoặc đi vào cuộc sống lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Là cán bộ quản lý đang công tác tại trường trung học phổ thông Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi có nhiều trăn trở, suy nghĩ để tìm ra các
Trang 16biện pháp chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay, với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình giáo dục các em thành những con ngoan trò giỏi, thật sự có ích cho xã
hội; đó cũng là lý do để chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn: “Quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Vấn đề đạo đức của học sinh ở các trường trung học phổ thông đang được xã hội quan tâm, nhưng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh bộc lộ những bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn hiện nay Nếu nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có cơ sở khoa học và mang tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lý luận liên quan đến đạo đức, giáo dục đạo đức và
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Trang 17Nghiên cứu, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong phạm vi trường trung học phổ thông Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay
Đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý, cán bộ đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, một số giáo viên bộ môn, đại diện học sinh, phụ huynh học sinh
và cán bộ ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: tham khảo, nghiên cứu,
phân tích, tổng hợp, khái quát hóa hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài: đạo đức, quản lý, giáo dục đạo đức, quản lý nhà trường, quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, phỏng vấn, điều
tra bằng phiếu hỏỉ, xin ý kiến chuyên gia, tổng kết rút kinh nghiệm với mục đích khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18trung học phổ thông trên cơ sở của khoa học giáo dục
Về mặt thực tiễn: đóng góp vào mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, nhất là vấn đề giáo dục đạo đức
Kết quả đề tài là cơ sở lý luận giúp cho Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tham khảo việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
9 Cấu trúc của luận văn
Bao gồm: mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 03 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đạo đức phát sinh từ xa xưa, khi mà loài người cần những thỏa thuận để điều tiết các mối quan hệ đối xử với nhau Cùng với sự phát triển của xã hội thì các thỏa thuận đó dần trở thành tập quán, rồi thành các quy ước chi phối
xã hội Quy ước đó là các chuẩn mực đạo đức, là đạo đức
“Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” là chuẩn mực đạo đức của phương đông, “Tự
do, bình đẳng, bác ái” là chuẩn mực của đạo đức phương tây Nước ta phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là nền tảng cho các giá trị đạo đức mới
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển loài người, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Hy Lạp, Ấn Độ, Trung quốc cổ đại Ở phương đông, khái niệm đạo đức xuất hiện trong kinh văn nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng khá nhiều
Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội luôn được quan tâm, được nhiều nhà khoa học thừa nhận Thời cổ đại, con người đã sớm
ý thức vai trò quan trọng của việc GDĐĐ Những tư tưởng về GDĐĐ gắn liền với tên tuổi của các nhà giáo dục như Platon, Aristot (Hy Lạp), Khổng Tử, Trang Tử (Trung Quốc)
Ở phương tây, các nhà triết học cho rằng đạo đức luôn là sự tôn trọng những quy định chung và lợi ích của mọi người, “Đạo đức là cái thiện cá nhân, chính trị là cái thiện xã hội” (Aristot 384-332-TCN) Thế kỷ XVII, Komenxky nhà giáo dục học Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”
Trang 20GDĐĐ ở Nhật Bản xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn hóa truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với các môn học khác Nội dung GDĐĐ hướng đến việc bảo tồn các giá trị xã hội của dân tộc, tập trung ba vấn
đề cơ bản: tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân, ý thức trật tự Nhà trường giúp học sinh nhận thức về bản thân trong mối quan hệ với gia đình và các thành viên thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau của cộng đồng
Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin thì đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, những nguyên tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các mối quan hệ ứng xử giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội, nhằm hướng con người đến cái chân, thiện, mỹ, làm cơ sở nhằm đưa xã hội nước ta hướng đến mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Thời đại lịch sử nào đạo đức con người đều được đánh giá theo những chuẩn mực và quy tắc nhất định Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của sản xuất, của các mối quan hệ trong xã hội, hệ thống quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển; ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn Đạo đức đã trở thành mục tiêu, động lực để phát triển xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu quan điểm đạo đức Mác
- Lênin và làm nên cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức Người gọi đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân,
mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của loài người” [24, tr.337] Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của con người cách mạng Nội dung cơ bản trong quan điểm của đạo đức cách mạng là: trung với nước,
Trang 21hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người và tinh thần quốc tế trong sáng Đây là quan điểm khoa học, biện chứng và phù hợp với sự tiến hóa của xã hội loài người Để có được đạo đức thì mỗi người phải chăm lo tu dưỡng, kiên trì bền bỉ “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà hình thành, phát triển, củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [31, tr.10]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng,
là mẫu mực kết tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người Việt Nam Theo Người, học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng không chỉ để chiến đấu
và chiến thắng kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà còn để xây dựng xã hội mới,
xã hội chủ nghĩa GDĐĐ cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết Người đã căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên thanh niên, học sinh; những người thừa kế để xây dựng chủ nghĩa
xã hội vừa hồng vừa chuyên
Hiện nay, ở nước ta đã có một số nhà giáo dục nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ cho học sinh
Tác giả Đặng Vũ Hoạt nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm và đã đưa ra định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc tăng cường đổi mới phương pháp GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường phổ thông [23]
Tác giả Phạm Minh Hạc đề ra sáu giải pháp cơ bản GDĐĐ cho con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong trường học; củng cố giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc GDĐĐ con người; kết hợp chặt chẽ giữa GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và phong trào rèn luyện đạo đức lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ, đảng viên và thầy cô giáo ở các trường học; xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ; nâng
cao nhận thức cho con người” [18]
Trang 22Tác giả Đặng Quốc Bảo, trường Cán bộ quản lý giáo dục Trung ương 1
Hà Nội nghiên cứu một số khái niệm về quản lý giáo dục [8]
Tác giả Phạm Khắc Chương, trường Đại học sư phạm Hà Nội nghiên cứu một số vấn đề đạo đức và GDĐĐ ở trường trung học phổ thông [15] Nguyễn Thị Minh Huệ với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục
“Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”
Dương Công Lý với luận văn thạc sỹ khoa học “Một số biện pháp quản
lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh”
Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc định hướng các giá trị đạo đức, xác định nội dung GDĐĐ, biện pháp GDĐĐ học sinh ở các lứa tuổi; các đề tài luận văn nghiên cứu GDĐĐ ở địa bàn hoặc cấp học mà tác giả đang công tác Hiện tại, thì chưa có một công trình nào nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bà Điểm, ở thành phố
Hồ Chí Minh
Trường THPT Bà Điểm nằm trên địa bàn huyện Hóc Môn, là một huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, đang trong quá trình phát triển theo hướng đô thị hóa Trong những năm gần đây với sự gia tăng dân số và chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của nhân dân, nhất là việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài với hy vọng
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh của nhà trường trong bối cảnh hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức
Đạo đức là thành tố quan trọng của nhân cách, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn của mỗi con người; bất kỳ thời đại nào, bất kỳ quốc gia nào việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ luôn là sự tập trung chú ý của các nhà giáo dục
Trang 23Nói đến đạo đức là ta nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện trong các mối quan hệ giữa con người với con người; đạo đức là một hiện tượng xã hội
Để hiểu rõ khái niệm này chúng ta có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Dưới góc độ triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất
của ý thức xã hội; bao gồm các nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành
vi của con người trong các mối quan hệ Căn cứ vào những quy tắc ấy, người
ta đánh giá phẩm giá của mỗi con người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa, phi nghĩa”
Dưới góc độ giáo dục học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người” [38, tr.170]
Dưới góc độ đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, quy tắc, nguyên tắc, các chuẩn mực xã hội”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [37, tr.211]
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, hiệu quả những mâu thuẩn
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ giữa con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường” [23]
Trang 24Khi nói về đạo đức thì không thể không nhắc đến quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo đức là “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”
Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người; Người cho rằng đạo đức là sự thống nhất giữa tư tưởng và phong cách sống
Ngày nay, đạo đức định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan
hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của xã hội” [25, tr.8]
Bản chất đạo đức là những quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế xã hội; mỗi hình thái kinh tế
xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những chuẩn mực tương ứng Đạo đức gắn liền với những hành vi, thói quen, tập quán nên nó biến đổi theo sự phát triển của xã hội Có giá trị đạo đạo của hôm qua đến hôm nay đã phản giá trị hay phi đạo đức; có giá trị đạo đức được dân tộc, giai cấp này coi
là chuẩn mực nhưng với dân tộc, giai cấp khác thì lại không được thừa nhận Đạo đức mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại Các giá trị đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay là sự kết hợp giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại Đạo đức xã hội bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức
Ý thức đạo đức: là toàn bộ các quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương
tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng…, những quy tắc đánh giá, điều chỉnh, hành vi, ứng xử của cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội
Hành vi đạo đức: là sự biểu hiện trong thực tiễn ứng xử của ý thức đạo
đức mà con người đã nhận thức và lựa chọn Đó là sự ứng xử trong các mối quan hệ cá nhân với cá nhân; cá nhân với tự nhiên, xã hội và với chính mình
Trang 25Quan hệ đạo đức: là hệ thống những mối quan hệ giữa người với người
trong xã hội xét về đạo đức; thể hiện dưới các phạm trù bổn phận, lương tâm, trách nhiệm, quyền lợi… giữa cá nhân với cá nhân, với tập thể và cộng đồng Những tiêu chuẩn, nguyên tắc xử lý các mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng, xã hội được thừa nhận rộng rãi Đạo đức quy định hành vi quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội, phù hợp với yêu cầu của mỗi chế
Cách thức điều chỉnh của đạo đức được biểu hiện qua sự lựa chọn giá trị đạo đức, xác định phương án cho hành vi bởi chuẩn mực đạo đức, kiểm soát hành vi bởi dư luận xã hội, tạo động cơ của hành vi bởi tình cảm đạo đức
Chức năng giáo dục:
Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức khác nhau, luôn tác động đến cá nhân Môi trường đạo đức tác động đến cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hóa đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân, thực tiễn đạo đức là hiện thực nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức
Hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống làm cho đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân được củng cố, phát triển và trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức
Trang 26Hiệu quả của giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, cách thức tổ chức giáo dục, mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng trong quá trình GDĐĐ
Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu là giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng; mặc khác còn là sự tự giáo dục ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
Chức năng nhận thức:
Hành động đạo đức tiếp liền theo nhận thức giá trị đạo đức, đa số các trường hợp quá trình đó hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức Nhận thức đạo đức vừa hướng ngoại vừa hướng nội
Nhận thức đạo đức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị đạo đức của xã hội làm đối tượng; đó là các giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, những cách thức và phương tiện tạo ra giá trị đạo đức Nhờ vậy mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa những chuẩn mực đạo đức xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức cá nhân như là cái riêng
Nhận thức hướng nội lấy bản thân mình làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu nhận thức, hành vi đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành, phát triển các quan điểm và nguyên tắc sống: hướng thiện hay làm ác, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, sáng tạo hay thụ động
Trong tự nhận thức thì vai trò của lương tâm và dư luận xã hội là rất quan trọng Lương tâm là sự tự phê bình, dư luận xã hội là bình phẩm, đánh giá của xã hội với chủ thể Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình, giá trị mà xã hội mong muốn
Nhận thức đạo đức ờ hai mức độ: trình độ thông thường, trình độ lý luận Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội Mọi cá nhân đều
có thể và cần phản ánh đạo đức ở trình độ này
Trang 27Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính phổ quát Trình độ này đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của giai cấp cầm quyền Nhận thức đạo đức đem lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức cho chủ thể Các cá nhân nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức đã nhận thức mà hình thành đạo đức cá nhân Cá nhân hiểu được và tin tưởng ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị đạo đức, làm cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức Khi nghiên cứu về đạo đức cần quan tâm đến một số phạm trù cơ bản như sau:
Nghĩa vụ
Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ khi con người tham gia hoạt động sống ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối với cộng đồng Ngay từ thế kỷ XVII - XVIII các nhà duy vật Pháp đã chỉ rõ
“Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu đối với tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình” Nghĩa vụ đạo đức đã xuất hiện rất sớm và nó tồn tại với thời gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người
Nghĩa vụ thể hiện ý thức, tình cảm con người về mối quan hệ hài hoà giữa nhu cầu và lợi ích cá nhân với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, xã hội Điều đáng chú ý là việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính
tự giác và do chính bản thân đã nhận thức rõ vấn đề Do vậy, khi thực hiện nghĩa vụ đạo đức con người luôn có cảm giác hạnh phúc, hài lòng vì tình cảm cao thượng, vì lòng tự trọng và phẩm giá của con người
Nghĩa vụ đạo đức của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lý của con người đều có chung mục đích là nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với qui tắc, chuẩn mực chung của xã hội
Nghĩa vụ không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện
Trang 28trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân, thậm chí qua quá trình đấu tranh, thử thách của cuộc sống
Lương tâm
Lương tâm có thể hiểu như tiếng nói bên trong đầy quyền uy chỉ dẫn, thôi thúc con người làm những điều tốt; ngăn cản, chỉ trích những điều xấu Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học thì lương tâm là ý thức trách nhiệm, tình cảm đạo đức của cá nhân về việc tự đánh giá các hành vi, cách cư xử của mình trong đời sống xã hội Sự hình thành lương tâm là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất, giao tiếp xã hội Có thể nêu ra các mức độ phát triển của lương tâm như sau:
- Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệm tâm linh
- Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác
và trước dư luận xã hội
- Ý thức về cái cần làm vì xấu hổ với bản thân Khi cá nhân xấu hổ với bản thân, với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm
Từ cảm giác đó đến sự phán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính
là lương tâm
Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt Trái lại khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận Giữ cho lương tâm trong sạch là một trong những tiêu chí hạnh phục của mỗi con người
Thiện và ác
Thiện và ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân Thiện và ác cũng là phạm trù cơ bản làm thước đo đời sống đạo đức của con người
Cái thiện là cái tốt đẹp, biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội
Trang 29Cái thiện được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người Hồ Chí Minh đã nói: “Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh” [31, tr.55] Cái thiện sẽ làm cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên cao thượng, tốt đẹp và giàu tính nhân văn hơn
Cái ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân và xã hội Cái ác làm mất đi cái văn minh, cao thượng của cuộc sống con người Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho nhau Cái thiện và ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào việc đó có thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội
1.2.2 Giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục đạo đức
Dưới chế độ nào, thời đại nào, việc GDĐĐ cho công dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng cũng là nhiệm vụ trọng tâm của toàn xã hội Trước đây, nhiều người nghĩ rằng khi xã hội phát triển, con người giàu lên thì đạo đức, quan hệ giữa người và người sẽ tốt đẹp hơn Tuy nhiên, ngày nay xã hội phát triển đi lên, đời sống phát triển hơn nhiều nhưng một bộ phận xã hội lại có biểu hiện suy thoái về đạo đức, thể hiện với nhiều hình thức khác nhau
“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho
họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [38, tr172]
Như vậy, bản chất của GDĐĐ là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu thói quen của người được giáo dục
Giáo dục trong nhà trường là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức,
có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, kỹ năng và hình thành thái độ hành vi cho người học, xây dựng và phát triển nhân cách theo quy mô mà xã hội đương thời mong muốn
Trang 30Giáo dục đạo đức ở trường THPT là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, học sinh có những hành vi ứng xử đúng mức trong các mối quan hệ: cá nhân với chính mình, cá nhân với mọi người, cá nhân với xã hội
1.2.2.2 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Luật giáo dục nước ta đã khẳng định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN; xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [34]
“Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [34]
Mục tiêu của giáo dục phổ thông thể hiện được tính toàn vẹn, GDĐĐ là một trong những vấn đề cơ bản, là nhiệm vụ chiến lược của nhà trường
- Giáo dục học sinh lòng yêu Tổ quốc, đồng bào, yêu lao động, khoa học, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn các giá trị văn hóa của loài người
Trang 311.2.2.3 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
Giúp người được giáo dục có những hành vi đạo đức trở thành nề nếp trong học tập, lao động, sinh hoạt tạo hành vi đúng đắn, thói quen bền vững Khơi dậy ở người được giáo dục những rung động, cảm xúc với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn với cuộc sống Cung cấp cho người được giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức, chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức
1.2.2.4 Nội dung giáo dục đạo đức
Giáo dục hành vi đạo đức: xác lập thói quen hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội
Giáo dục tình cảm đạo đức: khơi dậy nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền đạo đức xã hội
Giáo dục ý thức đạo đức: trang bị cho người học những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức
1.2.2.5 Con đường giáo dục đạo đức
GDĐĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành với những con đường và phương thức sau đây:
Bằng con đường tự rèn luyện, tu dưỡng, giáo dục để hình thành các thói quen hành vi đạo đức Thông qua lao động, học tập, sinh hoạt sẽ xác lập quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, ý thức pháp luật
Các môn học xã hội và nhân văn tác động trực tiếp, có tiềm năng to lớn trong việc GDĐĐ; kiến thức ở đó có giá trị điều chỉnh thái độ, cách sống, cách xử lý, hành vi đạo đức
Các môn tự nhiên góp phần không nhỏ vào việc GDĐĐ cho người học;
nó giúp người học tư duy biện chứng hợp lý, phát triển óc sáng tạo, ý thức vượt khó, coi trọng nhân quả
Các môn thể dục, nghệ thuật tạo cho người học cảm xúc, giúp bồi dưỡng nhân cách Môn giáo dục công dân có vị trí quan trọng trong việc trang bị có
hệ thống những hiểu biết cơ bản về pháp luật, đạo đức công dân
Trang 321.2.2.6 Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp GDĐĐ là cách thức tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục, để cho họ hình thành những phẩm chất cần thiết Về cơ bản, phương pháp GDĐĐ chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm phương pháp thuyết phục: tác động vào nhận thức, tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp hơn đối với cuộc sống; bao gồm các phương pháp khuyên giải, tranh luận, nêu gương…
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: đưa con người vào thực tiễn để tập dợt, rèn luyện tạo nên các hành vi, thói quen; bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện
- Nhóm các phương pháp kích thích hành vi: tác động vào tình cảm người được giáo dục tạo sự hưng phấn, tích cực hoạt động; bao gồm: thi đua, khen thưởng, trách phạt…
1.2.3 Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành
Ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nổ lực của tổ chức, từ nhóm nhỏ hay phạm vi lớn đều phải chịu một sự quản lý nào đó Xã hội phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên Hầu như tất cả mọi người đều công nhận tính thiết yếu của quản lý và thuật ngữ quản lý trở nên quen thuộc
Theo Từ điển tiếng Việt “Quản lý là tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của một đơn vị, một tổ chức” [37, tr.1363]
Tác giả Bùi Minh Hiền “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [22] Tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng chủ thể lên khách thể về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [17]
Trang 33Có quan niệm “Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội Quản lý là một quá trình tác động có tính định hướng, có tổ chức trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường
Các khái niệm quản lý nêu trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng vẫn cho thấy một ý nghĩa chung: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”
Chức năng quản lý là dạng hoạt động chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Theo quan điểm quản lý ngày nay ta có thể khái quát những chức năng
cơ bản của quản lý như sau: kế hoạch - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra
- Kế hoạch: là quá trình xác định các mục tiêu phát triển và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu
- Tổ chức: là quá trình phân phối và sắp xếp các nguồn lực theo cách thức nhất định để đảm bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đề ra
- Chỉ đạo: là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của người khác nhằm đạt tới mục tiêu với chất lượng cao
- Kiểm tra: là quá trình đánh giá, điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức
1.2.4 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước, vì vậy quản lý giáo dục có những đặc điểm riêng biệt nhưng cũng chịu sự chi phối bởi mục tiêu chung của quản lý nhà nước
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác
đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [8, tr.4]
Trang 34Theo tác giả Phạm Khắc Chương “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” [16, tr.42]
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động của chủ thể quản lý đến giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng, có hiệu quả, đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường
Chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, bộ phận của hệ thống, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển cả số lượng và chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục
Luật Giáo dục quy định nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển giáo dục
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường, ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục
- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học; biên soạn, in ấn và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ
- Tổ chức, quản lý việc đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục Thực hiện thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục
- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục
Trang 35- Tổ chức quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho những người có nhiều công lao đóng góp với sự nghiệp giáo dục
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi phạm pháp về giáo dục
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở, là thiết chế chủ chốt của hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương; quản lý trường học vừa mang tính đặc thù của giáo dục vừa mang tính xã hội Trường học là khách thể cơ bản của mọi cấp quản lý, Hiệu trưởng và các hoạt động của giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục, việc quản lý trường phổ thông thực chất là quản lý quá trình giáo dục, huy động và sử dụng các nguồn lực theo quy định pháp luật, xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa… làm sao đưa hoạt động tới mục tiêu giáo dục Người trực tiếp quản lý trường học và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà trường là Hiệu trưởng Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc : “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục” [18]
Nội dung quản lý trường học tập trung vào các nội dung:
- Quản lý hoạt động dạy và học
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
- Quản lý hoạt động giáo dục thể chất
- Quản lý hoạt động lao động sản xuất
- Quản lý hoạt động học chữ, học nghề
- Quản lý hoạt động sinh hoạt tập thể
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Từ các khái niệm quản lý, có thể định nghĩa: Quản lý hoạt động GDĐĐ
là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
Trang 36Về bản chất, quản lý GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GDĐĐ nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ
Như vậy, quản lý GDĐĐ là hoạt động điều hành hoạt động GDĐĐ để đạo đức vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của nền giáo dục
1.2.5.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Mục tiêu của quản lý hoạt động GDĐĐ là làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ, bao gồm:
- Về nhận thức: giúp cho mọi người, mọi tổ chức có nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng của công tác này, nắm được vấn đề phát triển con người một cách toàn diện
- Về hành vi: quản lý và tổ chức việc GDĐĐ, tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, việc rèn luyện tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức chung của xã hội
- Về thái độ: giúp mọi người hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với cái sai, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân với công tác quản lý GDĐĐ
Điều quan trọng trong mục tiêu quản lý GDĐĐ là làm sao để người học
có được ý thức, hành vi và tình cảm đúng
1.2.5.2 Chức năng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Quản lý hoạt động GDĐĐ có 4 chức năng sau:
Kế hoạch: kế hoạch hóa việc quản lý hoạt động GDĐĐ, đưa mọi hoạt động GDĐĐ theo một kế hoạch định trước, trong đó xác định rõ mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và điều kiện cần thiết
Tổ chức: là thực hiện những ý tưởng đã vạch ra trong kế hoạch; phân công con người với những công việc một các khoa học và hợp lý, phối hợp giữa các bộ phận tạo tác động tổng hợp Giai đoạn này gồm các hoạt động: thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên; xác định nhân sự, phân công công việc; phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy;
Trang 37xác định cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên
Chỉ đạo: xác lập sự chỉ huy của người lãnh đạo trong quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng cần thiết để thực hiện kế hoạch, đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra đồng bộ, tiến đến mục tiêu Công việc chỉ đạo bao gồm: chỉ huy, ra lệnh, theo dõi, giám sát, động viên, khuyến khích, điều chỉnh
Kiểm tra: chức năng này diễn ra liên tục ở mỗi giai đoạn của quá trình quản lý Nội dung kiểm tra bao gồm: đánh giá tiến độ, chất lượng quá trình quản lý so với kế hoạch; xác định mức độ đạt được so với các mục tiêu đề ra; phát hiện lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên nhân của chúng; phát hiện những vấn đề phát sinh trong thực tiễn cần giải quyết và rút ra bài học cho việc quản lý tiếp theo
1.2.5.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm:
Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch GDĐĐ, sao cho kế hoạch vừa bao quát vừa cụ thể, phù hợp với các đối tượng khác nhau, mang tính khả thi trong điều kiện nhất định
Chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch đúng nội dung yêu cầu, đảm bảo tiến độ, thường xuyên kiểm tra, uốn nắn sai lệch, bổ sung điều chỉnh cho phù hợp tình hình cụ thể
Chỉ đạo đánh giá, tổng kết, khen thưởng, trách phạt nhằm động viên kịp thời các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức hoạt động GDĐĐ
Nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cụ thể được lựa chọn tùy theo mục tiêu đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định
1.2.5.4 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Phương pháp quản lý hoạt động GDĐĐ là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Bao gồm:
- Phương pháp tổ chức hành chánh: là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính Là phương
Trang 38pháp không thể thiếu nhằm đảm bảo tính khả thi của công tác quản lý, nhưng nếu lạm dụng sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh
- Phương pháp kinh tế: là sự tác động gián tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh tế, nhằm làm cho đối tượng quản lý nghĩ đến lợi ích của mình mà tự giác thực hiện trách nhiệm một cách tốt nhất mà không cần phải đôn đốc, nhắc nhở về mặt hành chính
- Phương pháp tâm lý xã hội: là kích thích đúng nhu cầu tâm lý đối tượng quản lý để họ hết lòng, toàn tâm cho công việc, coi những mục tiêu nhiệm vụ quản lý như là mục tiêu công việc của chính họ, luôn cố gắng trao dồi để hoàn thành nhiệm vụ
1.2.5.5 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Nâng cao nhận thức cho mọi người để thấy rằng việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cũng như học tập nâng cao trình độ là việc làm suốt đời Làm cho mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi cấp ngành thấy được trách nhiệm của mình trong việc cùng với các cơ quan chức năng quản lý GDĐĐ
Xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất về biện pháp GDĐĐ là biện pháp then chốt, quyết định chất lượng hiệu quả của quản lý hoạt động GDĐĐ, xác định rõ chức năng quản lý hoạt động GDĐĐ của các cơ quan chuyên trách
Củng cố, tăng cường việc quản lý của gia đình với cộng đồng xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý GDĐĐ của nhà trường với chính quyền và các đoàn thể và địa phương
1.2.5.6 Kết quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Làm cho mọi người, mọi tổ chức, mọi cấp ngành, có nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác quản lý GDĐĐ trong xã hội Nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Nhiệt tình tham gia hoạt động GDĐĐ, ủng hộ cái đúng, phản ứng cái sai
Trang 39Mọi người có thái độ đúng đắn với hành vi bản thân; tự giác và tích cực thực hiện các quy định của pháp luật, của cộng đồng, nhiệt tình tham gia công tác quản lý GDĐĐ Điều quan trọng là làm sao cho quá trình GDĐĐ tác động
để mọi người hình thành ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, lặp lại thói quen hành vi đạo đức cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
1.3 Hoàn cảnh xã hội, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Hoàn cảnh xã hội của học sinh trung học phổ thông
Mỗi em học sinh được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh gia đình khác nhau Tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, phẩm chất đạo đức của cha mẹ và người thân; phương pháp giáo dục con cái, sự quan tâm chăm sóc giữa các thành viên, điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của gia đình; quan hệ giữa gia đình với hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè tốt hay xấu,
an ninh trật tự ở địa phương… tất cả những điều kiện trên đều ảnh hưởng đến học sinh THPT Hoàn cảnh sống của từng học sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập văn hòa, rèn luyện nhân cách và việc GDĐĐ cho các em Những yếu tố tích cực và tiêu cực, những điều kiện thuận lợi và khó khăn đang từng ngày, từng giờ tác động đến học sinh
1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông
Về trí lực và thể lực
Đây là giai đoạn sung sức nhất về thể lực, trí lực, có sức khỏe dồi dào
Cơ thể phát triển về chiều cao và cân nặng, có sự chuyển hóa mạnh mẽ trong
cơ thể Khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận và phán đoán cũng phát triển
Sự tranh đua, hiếu động, tự tôn, bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân
Về giới tính
Lứa tuổi này, các em bắt đầu nghĩ mình là người lớn Đây là giai đoạn thích làm dáng, thích biểu hiện trước bạn khác giới, bắt đầu có hiện tượng phát dục, những biến đổi sinh lý dẫn đến biến đổi tâm lý Ý thức được sự khác biệt giữa hai giới và nảy sinh tình cảm và mến mộ với nhau Các em
Trang 40đang bộc lộ những mâu thuẩn giữa nhu cầu, sở thích cá nhân với khả năng vốn có, cùng những quy tắc, chuẩn mực của xã hội
Về tính tình
Tính tình bộc lộ mạnh mẽ, rất không ổn định, dễ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác; từ yêu sang ghét, từ tích cực sang tiêu cực, từ vui vẻ sang buồn chán; khi gặp khó khăn thì thường thối chí, bỏ cuộc Ở tuổi này chức năng nội tiết phát triển mạnh nhưng tác dụng ức chế của vỏ não chưa hoàn hảo nên tính tình hay bất thường Có nhiều nhu cầu nhưng chưa nhận thức đầy đủ tính phức tạp của xã hội, chưa hiểu rõ hành vi bản thân, cũng như chưa có một thế giới quan nhân sinh quan đầy đủ, đúng đắn Nguyện vọng và hiện thực chưa thống nhất được nên dẫn đến những xáo trộn trong tính tình Các nhà tâm lý học đều có chung quan điểm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến người lớn, khoảng từ 11,12 đến 23,24 tuổi Giai đoạn này có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ chuyển tiếp trước từ 11,12 tuổi và kết thúc ở tuổi 16,17; thời kỳ chuyển tiếp sau từ 17,18 tuổi và kết thúc ở tuổi 23,24 lúc thành người lớn thực sự Như vậy học sinh THPT là thanh niên ở thời kỳ chuyển tiếp trước
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, học sinh THPT đã có đầy đủ điều kiện cơ bản về nhận thức, ý chí, hoạt động… để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển nhân cách Tuy nhiên với kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân chưa nhiều, học sinh THPT
dễ bị chao đảo trong hành vi hoạt động của mình
Tuổi thanh niên thường hoạt bát, nhiệt tình, nhưng vì suy nghỉ chưa chín, sức kiềm chế thấp, tình cảm sôi nổi, bộc phát mãnh liệt nên khi tình cảm bất
ổn rất dễ bị kích động, đi đến cực đoan, xảy ra xung đột, dễ hình thành các nhóm tự phát cùng đặc tính của chúng Cần tổ chức hoạt động tập thể thật đa dạng, phong phú, phát huy tính tích cực của thanh niên