Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
NGÔ THỊ KIM THU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ –
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
NGÔ THỊ KIM THU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ –
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh
HÀ NỘI – 2014
Trang 3và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua Đó là khoảng thời gian quý giá và bổ ích cho tác giả nâng cao nghiệp vụ quản lý và phương pháp nghiên cứu khoa học
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGSTS.NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh - Người hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tận tình đầy trách nhiệm cho em trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn Tác giả xin trân trọng cảm ơn các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, ban đại diện cha mẹ học sinh, học sinh trường PTDTNT-THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên và bạn bè đồng nghiệp đã tận tình cộng tác, giúp đỡ, động viên chia xẻ với tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện đề tài song luận văn khó tránh khỏi thiếu sót.Tác giả kính mong nhận được sự thông cảm
và ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để công
trình khoa học sau của bản thân có chất lượng hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Thị Kim Thu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… i
Danh mục chữ viết tắt ……… …… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các bảng……… vii
Danh mục biểu đồ, sơ đồ……… ix
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG… 6 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài……… 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước……… 7
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu ……… 10
1.2.1.Quản lý……… 10
1.2.2.Quản lý giáo dục……… 13
1.2.3 Đạo đức ……… 19
1.2.4 Giáo dục đạo đức……… 20
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THPT……… 24
1.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức………
1.3.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức………
1.3.3 Quản lý hình thức giáo dục đạo đức………
1.3.4 Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức………
1.3.5 Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh………
25 25 26 27 29 1.4 Đặc điểm về rèn luyện đạo đức của học sinh ở trường THPT………… 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông 30
1.5.1.Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT……… 31
1.5.2.Yếu tố giáo dục nhà trường……… 32
Trang 61.5.3 Yếu tố giáo dục gia đình……….……… 32
1.5.4 Yếu tố giáo dục xã hội ……… ……… 33
1.5.5.Yếu tố tự giáo dục của bản thân……… 33
Tiểu kết chương 1 ……… 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG PTDTNT - THPT HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆNBIÊN……….……… 35
2.1 Khái quát đặc điểm chung về huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên…… 35
2.1.1 Vài nét về huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên……… 35
2.1.2 Về kinh tế, xã hội……… 35
2.1.3 Về giáo dục và đào tạo……… 36
2.1.4 Vài nét về trường PTDTNT-THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên……… 36
2.2 Thực trạng đạo đức của học sinh trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên qua 3 năm học 2011 – 2014……… 37
2.3.Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường PTDTNT -THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên……… 42
2.3.1.Thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên,CMHS về GDĐĐ cho HS trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên………… 42
2.3.2 Thực trạng về nội dung hoạt động giáo dục đạo đức……… 44
2.3.3 Thực trạng về hình thức giáo dục đạo đức ……… 46
2.3.4 Thực trạng về phương pháp giáo dục đạo đức học sinh ……… 47
2.3.5 Thực trạng về vi phạm đạo đức của học sinh……… 48
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên……… 55
2.4.1 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch GDĐĐHS……… 55
2.4.2 Thực trạng công tác tổ chức, chỉ đạo, triển khai kế hoạch GDĐĐHS 56 2.4.3 Thực trạng công tác quản lý nội dung, hình thức GDĐĐHS……… 58
Trang 72.4.4 Thực trạng công tác quản lý phương pháp GDĐĐHS ……… 59
2.4.5 Thực trạng công tác phối hợp các lực lượng trong GDĐĐHS……… 60
2.4.6 Thực trạng công tác quản lý CSVC và các điều kiện phục vụ cho hoạt động GDĐĐHS……… 62
2.4.7 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDĐĐ học sinh 62 2.5 Đánh giá chung về thực trạng đạo đức và công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trong trườngPTDTNT Mường Chà ……… 64
2.5.1 Ưu điểm……… 64
2.5.2 Tồn tại……… 66
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế……… 66
Tiểu kết chương 2……… 68
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG PTDTNT - THPT HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN……… 69
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp……… 69
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa……… 69
3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống……… 69
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi……… 69
3.2.Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh trường PTDTNT - THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên……… 70
3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên, tổ chức đoàn thể, CMHS và HS đối với hoạt động GDDĐ……….…… 70
3.2.2 Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức 72
3.2.3 Bồi dưỡng năng lực quản lý của giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ……… 74
3.2.4 Phát huy vai trò tổ chức của Đoàn Thanh niên trong nhà trường…… 75
3.2.5 Phát huy vai trò tự quản và tự rèn luyện của học sinh……… 78
Trang 83.2.6 Xây dựng kế hoạch phối hợp chặt chẽ với hội cha mẹ học sinh và
chính quyền địa phương nơi học sinh cư trú trong hoạt động GDĐĐ…… 79
3.2.7.Tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức học sinh………… 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường PTDTNT- THPT huyện Mường chà tỉnh Điện Biên………… 84
3.4 Khảo nghiệm về tính chất cần thiết và tính khả thi của các biện pháp… 86 3.4.1.Mục đích, nội dung, cách thức khảo nghiệm……… 86
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm……… 86
Tiểu kết chương 3……… 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 92
1 Kết luận……… 92
2 Khuyến nghị……… 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 94
PHỤ LỤC……… 97
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực và hạnh kiểm của HS qua 3
Bảng 2.2 Nhận thức của HS trường PTDTNT-THPT về các phẩm
chất đạo đức HS cần có……….……… 39 Bảng 2.3 Mức độ quan tâm của CM HS đối với việc rèn luyện đạo
đức của con em mình ……… 41 Bảng 2.4: Nhận thức của CBQL,GV và cha mẹ học sinh về tầm
quan trọng giáo dục đạo đức cho học sinh trường
Bảng 2.5: Nhận thức về mức độ cần thiết của nội dung giáo dục
đạo đức học sinh trường dân tộc nội trú……… 44 Bảng 2.6: Mức độ thực hiện các hình thức hoạt động giáo dục đạo
đức HS của trường PT dân tộc nội trú……… ………… 46 Bảng 2.7 Mức độ thực hiện các phương pháp GDĐĐ HS của
trường PT dân tộc nội trú……… 48 Bảng 2.8 Thực trạng những biểu hiện vi phạm đạo đức của học
sinh trường PT dân tộc nội trú ……… 49 Bảng 2.9 Thực trạng ý thức tự rèn luyện đạo đức học sinh của
trường PT dân tộc nội trú……… 51 Bảng 2.10 Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm đạo đức của
HS trường PT dân tộc nội trú……… 52 Bảng 2.11 Thực trạng về quản lý kế hoạch GDĐĐHS trường PT
Bảng 2.12 Công tác tổ chức, chỉ đạo, triển khai kế hoạch GDĐĐ
học sinh của trường PT dân tộc nội trú ……… ……… 56 Bảng 2.13 Mức độ thực hiện hiệu quả quản lý nội dung, hình thức
Trang 10giáo dục đạo đức của trường PT dân tộc nội trú……… 57 Bảng 2.14 Mức độ sử dụng hiệu quả các phương pháp quản lý
GDĐĐHS của trường PTDT nội trú……… 59 Bảng 2.15 Mức độ phối hợp thực hiện giáo dục đạo đức cho học
sinh của các lực lượng trong và ngoài nhà trường……… 60 Bảng 2.16 Mức độ thực hiện công tác kiểm tra hoạt động GDĐĐ
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các
biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ HS trường PTDTNT-THPT huyện Mường Chà……… 89
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả xếp loại học lực của học sinh trong 3 năm từ
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý……… 11
Sơ đồ 1.2 Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý……… 13
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ luôn được cộng đồng xã hội quan tâm, đặc biệt trong các cơ sở Giáo dục-Đào tạo của Việt
Nam.Trong luật giáo dục đã nêu rõ “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhận cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”[24,tr.18] Nhà trường có vai
trò quan trọng trong việc giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước có đủ đức và tài để góp phần xây dựng và phát triển đất nước Bước vào thời kỳ hội nhập nhiều học sinh, thanh niên có ý chí khát vọng hoài bão lớn Tuy nhiên chúng ta phải đối mặt với những thách thức của thời đại, mặt trái cơ chế thị trường, tác động rất mạnh mẽ và ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ thông tin do sự du nhập văn hoá phẩm đồi trụy, bạo lực thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet; sự sa sút, suy thoái về đạo đức, hành vi lệch chuẩn đạo đức có chiều hướng gia tăng như
vi phạm luật giao thông, đánh nhau, quay cóp, vô lễ lười lao động và học tập, thiếu rèn luyện, sống thờ ơ ,vô cảm của một bộ phận thanh niên và học sinh Ngoài ra, thực tế trong giáo dục phổ thông thường chỉ quan tâm đến việc “dạy chữ”chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người” cho thanh thiếu niên
Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo Nghị quyết TW 2 khóa VIII
nhấn mạnh:“Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình
trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”
Trang 13Những hiện tượng tiêu cực trên cho ta thấy giáo dục đạo đức, tư tưởng lối sống cho HS đặc biệt là học sinh THPT còn nhiều bất cập, hạn chế Đối với trường phổ thông dân tộc nội trú -THPT Mường Chà trong bối cảnh hiện nay cũng không đứng ngoài thực trạng đó Phần lớn học sinh là người dân tộc thái, HMông, khơ mú, Xạ phang ở các xã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ít
có điều kiện tiếp xúc với xã hội Nên khi ra học ở trung tâm thị trấn thì sống
xa nhà, học tập, ăn ở tập trung tại trường, cha mẹ với tâm lý phó mặc giao hoàn toàn cho nhà trường từ việc ăn, ở học hành, ốm đau Hơn nữa nhà trường nằm ngay trung tâm thị trấn có các hàng quán kinh doanh đủ loại các trò chơi từ bi A, games, chát…thu hút đối tượng chủ yếu là học sinh Số thanh niên đã ra trường không có việc làm thường xuyên tụ tập, lôi kéo học sinh bỏ học tham gia hút thuốc, uống rượu, ma tuý, đánh nhau và nhiều tệ nạn khác, làm cho số học sinh yếu về rèn luyện đạo đức của trường có chiều hướng gia tăng Đây là vấn đề bức xúc cần được nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng, nhận diện đúng vấn đề, phát hiện được trở ngại vướng mắc để tìm
ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
HS ở nhà trường chúng tôi có hiệu quả sẽ góp phần tạo nên chuyển biến tích cực về giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục toàn diện cho học sinh dân tộc thiểu số nói chung hiện nay
Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, tác
giả mạnh dạn chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trường phổ thông dân tộc nội trú – trung học phổ thông huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường phổ thông và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của địa phương
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường PTDTNT- THPT huyện Mường chà tỉnh Điện Biên
Các số liệu thống kê được sử dụng tại trường từ năm 2011 đến 2014
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường PTDTNT- THPT huyện Mường chà tỉnh Điện Biên như thế nào?
Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên nên lựa chọn tiếp cận theo hướng nào?
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nào có thể sử dụng hiệu quả tại trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên?
Trang 157 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên chưa thật hiệu quả, còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới
Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
có tính thực tiễn và khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức của học sinh tại nhà trường
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện Đảng, luật giáo dục, điều lệ trường học, hướng dẫn chương trình giáo dục của bộ GD-ĐT và các giáo trình, tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến
- Phương pháp quan sát và khảo sát thực tế
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, trao đổi, tọa đàm
8.3 Nhóm phương pháp xử lý lý thông tin
- Sử dụng công thức toán thống kê để xử lý số liệu đã thu được và rút
ra từ các số liệu nghiên cứu
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên Qua đó giúp nhân rộng kinh nghiệm quản lý cho các cơ sở trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường PTDTNT- THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong mọi thời đại thì vấn đề đạo đức luôn được xã hội quan tâm và đề cập đến bởi những giá trị chuẩn mực đạo đức góp phần trong nền tảng tinh thần và giữ vững ổn định thúc đẩy xã hội phát triển.Và vì lẽ đó đã có rất nhiều tư tưởng đạo đức có học thuyết khác nhau quan niệm về đạo đức
Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế
áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.Đồng thời cũng khẳng định rằng phải giáo dục con người về đạo đức để phát triển ý chí, lý chí, thể lực
I.Akomenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số quy tắc trong ứng xử”
để giảng dạy cho thanh niên học sinh Ông đưa ra phương pháp nêu gương cho học sinh bắt chước, đặc biệt là gương mẫu của thầy giáo,cha mẹ và người xung quanh, đồng thời tách HS ra khỏi những người xấu, hiện tượng xấu trong cuộc sống
Học thuyết Mác – Lê nin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển
Trang 181.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu những quan điểm đạo đức của Mác-Lê nin và làm nên cuộc Cách mạng trền lĩnh vực đạo đức Người gọi đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng Lúc sinh thời
Người luôn chú trọng đến vấn đề đạo đức, Người nói:” Dạy cũng như học
phải chú trọng cả tài lẫn đức” “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu giáo dục đạo đức và cho rằng: “Học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng không chỉ là để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà còn xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết
” (Hồ Chí Minh, 1990) Trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước thì vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh ở Việt Nam hiện nay được mọi người đặc biệt quan tâm
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước và nêu lên 6 biện pháp
cơ bản giáo dục đạo đức cho con người Việt nam thời lỳ CNH – HĐH: “Tiếp
tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng
cố giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho con người; kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho các thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức; nâng cao nhận thức cho mọi người”
[16,tr.38]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) trong công tác giáo dục học sinh, trong đó có giáo dục đạo đức Tác
Trang 19giả đã đưa ra các định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Tác giả Hà Thế Ngữ đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội nhằm giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức học sinh.[24,tr8]
Còn nhiều tác giả khác như Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo đã có các công trình nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức, quản lý nhà trường, xây dựng con người mới XHCN
Tác giả Phạm Khắc Chương đã nghiên cứu một số vấn đề giáo dục đạo đức ở trường THPT Tác giả đã đề cập đến vấn đề rèn luyện ý thức đạo đức công dân cho người học sinh
Với cuốn “Văn hóa với thanh niên-Thanh niên với văn hóa” do ban tư tưởng văn hóa trung ương biên soạn tập hợp nhiều bài viết của tác giả, trong đáo có tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, sinh viên hiện nay và nhận định : trong sinh viên học sinh có sự phân hóa rõ rệt,tỷ lệ giữa các nhóm đạo đức tốt, chậm tiến có sự chênh lệch quá lớn.Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của đa số thanh niên học sinh, sinh viên hiện nay quan tâm vẫn là cốt lõi giá trị đạo đức của nhân cách con người Việt Nam.Cũng có bộ phận nhỏ học sinh, sinh viên có sự giao động về nhậ thức và
có hành vi sai trái liên quan đến một số giá trị như trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái.Tác giả nêu khái quát nguyên nhân là công tác GDĐĐ chưa được coi trọng đúng mức và đồng bộ.Quá trình giáo dục còn nặng về kiến thức mà xem nhẹ tu dưỡng rèn luyện đạo đức,không phù hợp với lứa tuổi.Từ thực trạng và nguyên nhân trên tác giả đã đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
Trang 20PGS.TS Đặng Quốc Bảo với “Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục” Nhân cách thế hệ trẻ đang trên đà suy thoái, thực tế các môn giáo dục đạo đức, môn giáo dục công dân không còn hứng thú với học sinh trở thành môn phụ nên tác động của môn học hiệu rất quả thấp
Điểm lại công trình nghiên cứu trên tuy nhiên quan điểm có khác nhau song có một điểm chung là đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, ham học hỏi, hiểu đạo lý, có ý thức về truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Mặc dù nhận thức và hành động của bộ phận nhỏ chưa đạt chuẩn mực về đạo đức của người học sinh hiện nay có chiều hướng gia tăng
Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức khá nhiều nhưng chưa phù hợp với từng hoàn cảnh thực tế nhà trường và địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.Hơn nữa trong bối cảnh hội nhập hiện nay ít nhiều tác động lên tâm lý đời sống mỗi cá nhân nhất là lớp thanh niên trẻ nhạy cảm hiện nay.Từ đó thấy được sự tính cấp thiết trong công tác giáo dục đạo đức hết sức quan trọng Mà hiện nay chúng ta tham gia hội nhập WTO thì nhu cầu đáp ứng nhân lực đáp ứng CNH-HĐH vô cùng cấp bách Nguồn nhân lực đòi hỏi có trình độ khoa học kỹ thuật, vừa có phẩm chất đạo đức vừa có tay nghề cao.Tóm lại nguồn nhân lực mới phải có cả “Đức và tài” “Vừa hồng và vừa chuyên” Vậy một điều ai cũng trăn trở tại sao bên cạnh thành tựu đạt được về kinh tế thì tiêu cực và tệ nạn ngày càng diễn biến phức tạp,
mà đối tượng phần đa là thanh thiếu niên đang độ tuổi học sinh.Trách nhiệm nhà trường làm gì để giáo dục và ngăn ngừa hành vi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hiện nay
Như đã phân tích trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài là cấp thiết, thiết thực góp phần giải quyết tháo gỡ những bất cập trong thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực toàn diện.Còn đối học sinh ở các trường dân tộc nội trú thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Chính điều đó đã thúc đẩy tác giả nghiên cứu đề tài này với mong muốn đề xuất biện pháp quản lý giáo
Trang 21dục đạo đức cho học sinh trường PTDTNT-THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Theo thuyết quản lý khoa học Frederich Winslow Taylor(1856-1915) cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học
1 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành
2 Tuyển chọn công nhân họ một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học được hình thành
3 Người quản lý phải hợp tác đầy đủ và toàn diện với người bị quản lý
để đảm bảo chắc chắn họ làm theo phương pháp đúng đắn
4 Phân chia công việc và trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý.[11, tr.29]
Theo thuyết quản lý hành chính Henri Fayol(1841-1925) cho rằng quản
lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch ,tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra [11,tr.31].Với thuyết này đã đóng góp to lớn cho sự phát triến lý luận quản lý, đặc biệt là việc phân chia rạch ròi hoạt động quản lý thành những chức năng,điều này vẫn ảnh hưởng xuyên suốt đến mọi nghiên cứu về quản lý cho đến ngày nay
Theo TS Nguyễn quốc Chí và PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra.[11,tr.9]
Trang 22Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý
Từ các cách tiếp cận trên ta thấy quản lý có điểm chung: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua cơ chế quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực trong điều kiện môi trường cụ thể để hệ thống tổ chức đó ổn định và phát triển Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại vì chủ thể quản lý nẩy sinh động lực quản lý còn khách thể quản lý làm nên giá trị về vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu con người và đạt mục đích của chủ thể quản lý
1.2.1.2 Bản chất quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là quá trình tác động có định hướng có chủ đíchcủa chủ thể quản lý (Người quản lý) đến khách thể quản lý(người bị quản lý) trong tổ chức nhằm vận hành và đạt mục đích đã xác định
1.2.1.3 Chức năng quản lý
Người quản lý thực hiện rất nhiều hoạt động Những hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, hay cấp bậc của người quản lý Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ cơ bản, phổ biến cho mọi người quản lý ở tất cả các tổ chức Người ta thường gọi những nhiệm vụ chung nhất này là chức năng quản lý Tùy theo cách phân chia mà người ta có thể có số lượng các chức năng khác
Mục tiêu
Phương pháp
Khách thể quản lý Chủ thể
quản lý
Công cụ
Trang 23nhau Cho đến nay, nhiều nhà chuyên gia nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản như sau: (Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo / Điều phối (chỉ đạo), Kiểm tra)
Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức
để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch: (a) xác định ,hình thành mục tiêu (phương hướng ) đối với tổ chức;(b) Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này(c) quyết định xem nhũng hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó [11,tr.12]
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viê, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.[11,tr.13]
Lãnh đạo- Chỉ đạo: Lãnh đạo đều bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.[11,tr.13] Là điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, điều khiển, điều chỉnh đối tượng quản lý hoạt động đúng kế hoạch
Kiểm tra, đánh giá: Là hoạt động của người quản lý kiểm tra và đánh giá các hoạt động của đơn vị về việc thực hiện mục tiêu đề ra.Thông qua một
cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành nhũng hoạt động sửa chữa uốn nắn nếu cần thiết.[11, tr.13]
Một kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ như sau:
Người quản lý đặt ra nhứng tiêu chuẩn thành đạt của hoạt động
Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra
Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch
Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Trang 24Có thể nói khâu kiểm tra là khâu không thể thiếu đối với người quản lý.Nếu không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.Các chức năng quản lý là một chu trình thống nhất, mỗi chức năng đều có đặc điểm riêng song chúng
có mối quan hệ lệ thuộc lẫn nhau Các chức năng quản lý gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ khác nhau Nhà quản lý không bỏ qua hay xem nhẹ bất cứ chức năng nào Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên trong quá trình quản lý cần quan tâm đến thông tin quản lý và quyết định quản lý
Thông tin quản lý dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ, là huyết mạch duy trì quá trình quản lý, là cơ sở để nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn, kịp thời và hiệu quả Quyết định quản lý là sản phẩm của nhà quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý
Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý thể hiện qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 1.2 Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý 1.2.2 Quản lý giáo dục
Trên thực tế khái niệm quản lý giáo dục có thể được hiểu ở nhiều cấp
độ khác nhau tùy theo sự xác định đối tượng quản lý
Trang 25Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3,tr.4]
Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm cho hệ thống đạt mục tiêu của nó.[21,tr.12]
Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục các thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.[14,tr.34]
Theo nghĩa hẹp: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường cụ thể là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hình những mục đích dự kiến [22,tr.38]
Theo nghĩa rộng: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo cho thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội Quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân [26,tr.5]
Trên cơ sở của những định nghĩa trên có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục Như vậy, bản chất của QLGD
là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và
Trang 26các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có
hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.2.2.1 Quản lý nhà trường
Mỗi nhà trường là một cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lý nhà trường cũng là quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà
trường đó nhằm đạt mục tiêu giáo dục về số lượng và chất lượng
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục” [17,tr 73]
Theo giáo trình giáo dục học của Phạm Viết Vượng – NXB Đại học quốc gia Hà Nội: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”
Theo PGS.TS Đặng quốc Bảo “Trường học là thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy-trò.Trường học là một bộ phận cộng đồng trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở” [2,tr.63)]
QLGD trong nhà trường về cơ bản là quản lý các thành tố tham gia quá trình GD gồm: Mục tiêu GD; nội dung GD; phương pháp GD; giáo viên; học sinh và điều kiện, phương tiện dạy học Quản lý quá trình này được vận hành đồng bộ trong sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố trên
1.2.2.2 Quản lí trường phổ thông dân tộc nội trú
Trường PTDTNT là loại hình trường chuyên biệt nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhà nước thành lập trường PTDTNT nhằm đào tạo các bậc học cho đối tượng con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định
cư lâu dài tại vùng có điều kiện KT- XH khó khăn, là nơi đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc [6, tr.2]
Trang 27Theo điều lệ trung học trường PTDTNT ngoài việc thực hiện các nhiệm
vụ như các trường phổ thông bình thường còn phải thực hiện các nhiệm vụ
sau ( điều 4 - quyết định số 49/QĐ ngày 25/8/2008 ban hành quy chế tổ chức
và hoạt động của trường PTDTNT) :
- Tuyển sinh đúng đối tượng theo kế hoạch được giao hàng năm Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
- Giáo dục lao động hướng nghiệp, giúp học sinh định hướng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giáo dục học sinh ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp
- Tổ chức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh phổ thông dân tộc nội trú
Quản lí các trường PTDTNT nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả tốt nhất về tổ chức hoạt động nội trú và nuôi dưỡng học sinh nội trú, các hoạt động xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh
1.2.2.3 Nguyên tắc quản lý
Nguyên tắc QLGD là những luận điểm cơ bản phản ánh các yêu cầu và tiêu chuẩn chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các cơ quan QLGD Nguyên tắc này được xác định, hình thành từ các quy luật, nhân tố khách quan của quá trình quản lý và nó phản ánh các mặt, các mối liên hệ tất yếu, cơ bản, bền vững (các quy luật) của quá trình quản lý Đó là các mối liên hệ giữa chất lượng, hiệu quả hoạt động QL với sự lãnh đạo của Đảng và phát huy mở rộng dân chủ, sự tập trung thống nhất trong QL; giữa chất lượng QL với đảm bảo tính khoa học, kế hoạch hóa, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý
Các nguyên tắc QLGD không phải bất di bất dịch, không thay đổi, ngược lại, chúng luôn phát triển, bởi các sự vật, hiện tượng giáo dục mà chúng phản ánh cũng thường xuyên vận động và phát triển; mặt khác còn bởi các phương
Trang 28tiện và khả năng nhận thức của chúng ta cũng luôn luôn phát triển, kinh nghiệm vận dụng quy luật khách quan cũng ngày càng phong phú
Các nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục bao gồm :
- Nguyên tắc mục tiêu: Mục tiêu là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ tổ chức, đơn vị nên hoạt động quản lý phải coi mục tiêu là nguyên tắc cơ bản để định hướng và chi phối các nguyên tắc khác.Việc tổ chức thực hiện mục tiêu, phải cụ thể hóa mục tiêu chung của mọi tổ chức thành mục tiêu cụ thể và phân công cho các cá nhân,bộ phận trong tổ chức để thực hiện.Chỉ khi tổ chức đạt được mục tiêu thì thỏa mãn được lợi ích
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Vừa phải tập chung thống nhất trong hoạt động quản lý vừa phải dân chủ công khai có thể huy động và khai thác được trí tuệ tập thể, giúp chủ thể quản lý luôn chủ động trong tổ chức, quản lý điều hành như đảm bảo sự tác động chủ thể lên đối tượng quản lý trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh môi trường thực tế nào Mặt khác quan tâm sự thu hút tham gia của tập thể yêu cầu không thể coi nhẹ để tạo ra thống nhất ý chí của các chủ thể với đối tượng để cùng hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức
- Nguyên tắc hiệu quả quản lí: Đây là nguyên tắc phù hợp với mục tiêu quản lí, bao gồm hiệu quả giáo dục, hiệu quả xã hội và hiệu quả của bản thân hoạt động QL Hiệu quả là thước đo năng lực của người CBQL giáo dục Thực chất của nguyên tắc này là làm như thế nào để trong điều kiện nguồn lực nhất định, với thời gian cho phép, nhà QL có thể tạo ra nhiều kết có chất lượng, đạt mục tiêu GD và mục tiêu QL như mong muốn Nguyên tắc hiệu quả quản lí có quan hệ chặt chẽ với kết quả QL Có thể một hoạt động QL nào đó là có kết quả nhưng chưa chắc đã có hiệu quả bởi tiêu tốn nhiều sức lực của không chỉ nhà
QL, mà còn của GV và học sinh
Nguyên tắc hiệu quả quản lí đòi hỏi người lãnh đạo phải có hai phẩm chất như sau:
Trang 29+ Thứ nhất, phải nắm vững nội dung, nguyên tắc, nắm vững diễn biến tình hình, diễn biến của đối tượng quản lí để từ đó sáng tạo, đề ra những biện pháp thích hợp
+ Thứ hai, phải có tầm nhìn xa và rộng Hiệu quả của hoạt động quản lí không chỉ dừng lại, bó hẹp ở một bộ phận riêng biệt, mà phải trên quan điểm toàn diện, tổng thể, theo tác động dây chuyền Điều này tránh cho nhà quản lí nhìn sự vật và sự phát triển của nó một cách thiển cận, chỉ nhìn thấy cục bộ mà không thấy toàn cục, chỉ thấy trước mắt mà không thấy lâu dài Điều này cũng
bị chi phối bởi đặc trưng của giáo dục, một hoạt động mà kết quả của nó xuất hiện sau một thời gian nhất định
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích: Lợi ích vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ đối với con người Điều cần chú ý nếu không kết hợp hài hòa được các lợi ích thì không thể có sự nhất trí về mục đích và hành động Lợi ích có hai mặt:lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần GD là hoạt động được tiến hành bởi những trí thức Do đó không phải bao giờ họ cũng coi trọng lợi ích vật chất, ngược lại những giá trị (kết quả hoạt động được tổchức và tập thể nhìn nhận, đánh giá công bằng; HS của họ trưởng thành trong cuộc sống ) lại là phần thưởng tinh thần quý báu, nguồn động viên mạnh mẽ đối với họ
- Nguyên tắc chuyên môn hóa: Nguyên tắc này đòi hỏi việc QLGD phải được thực hiện bởi những người có chuyên môn,được đào tạo, có kinh nghiệm
và tay nghề theo đúng vị trí trong guồng máy của hệ thống quản lí Điều 54 Luật Giáo dục đã viết: “Hiệu trưởng các trường thuộc về hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lí trường học” Đây
là cơ sở của việc nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục Người quản lí (nhất là đối với người quản lí ở cấp cao) phải có tầm nhìn chiến lược vừa rộng, vừa sâu, vừa xa trên cơ sở khoa học để đưa ra những quyết sách hợp lý.Nguyên tắc này còn được hiểu theo khía cạnh khác, đó là việc người CBQL(đặc biệt ở nhà trường) phải có trình độ vững vàng về giảng dạy và GD; mặt khác, họ là người nắm bắt nhanh nhạy các thành tựu mới của GD và khoa học QLGD Lãnh đạo
Trang 30GD mà không am hiểu về GD thì đó là nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong công tác QL và tự làm mất uy tín của mình
- Nguyên tắc sử dụng phối hợp các phương pháp quản lí: Đây là nguyên tắc yêu cầu nhà quản lí phải tác động lên đối tượng bị quản lí thông qua việc vận dụng các quy luật tổ chức-hành chính, quy luật tâm lí-giáo dục,quy luật kinh tế-xã hội Đối tượng bị quản lí là con người, hơn nữa lại là chủ thể tích cực của giáo dục (người dạy và người học) chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ,
có nhiều mục tiêu, nhiều nhu cầu, nhiều hoàn cảnh khác nhau và luôn thay đổi theo thời gian và không gian Do đó, phải tùy theo đối tượng cụ thể mà sử dụng phương pháp quản lí thích hợp trong sự phối hợp các phương pháp quản lí Điều này phụ thuộc vào nghệ thuật QL của từng người
Vậy nhà quản lý phải linh hoạt, biết phân tích thực trạng để vận dụng hiệu quả một số chức năng trên vào hoạt động quản lý giáo dục nhà trường
Theo từ điển tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã họi.Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định.[30,tr.311]
Theo quan điểm của Mác – Lênin : “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội phản ánh
và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội”
Trang 31Theo giáo trình đạo đức học “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn
cứ vào những quy tắc ấy người ta đánh giá hành vi, phẩm giá mỗi người bằng quan niệm về thiện ác, chính nghĩa, phi nghĩa, nghĩa vụ,danh dự”[21,tr.145]
Theo sách giáo khoa giáo dục công dân lớp 10 định nghĩa “Đạo đức là
hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng XH”
Góc độ xã hội: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản
ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, điều chỉnh, hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình” [21,tr.12]
Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của
con người phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, công bằng hạnh phúc và nguyên tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con người, cá nhân và xã hội
Từ những phân tích trên tác giả luận văn quan niệm đạo đức là một hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức
và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể
và cộng đồng phù hợp với thời đại
1.2.4 Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức.Quan trọng nhất là hình thành cho họ hành vi thói quen đạo đức”[13,tr.92]
Trang 32GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống những chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân thành niềm tin, nhu cầu thói quen của đối tượng giáo dục
1.2.4.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức giúp HS nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức, biết hành động theo chuẩn mực đạo đức, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người vì sự tiến bộ của xã hội.Trong đó mục tiêu cơ bản của GDĐĐ cho học sinh THPT là hình thành cho HS thói quen và các phẩm chất đạo đức như: lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm … GDĐĐ gắn chặt với GD tư tưởng chính trị, GD pháp luật và GD trí tuệ, thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp, những thái độ hành vi đạo đức đúng đắn, ý thức rèn kỹ năng sống và kỹ năng ứng xử văn hóa, những thói quen
sống và làm việc theo chuẩn mực đạo đức xã hội
1.2.4.2 Chức năng giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng trong của quá trình sư phạm, đặc biệt là giáo dục học sinh cấp THPT.Nó nhằm phát triển cơ bản ban đầu về mặt hình thành nhân cách, lối sống văn hóa cho học sinh, giúp các em biết tự điều chỉnh hành vi ,thái độ ứng xử đúng đắn mối quan hệ đạo đức hàng ngày trong học tập và cuộc sống.Việc giáo dục đạo đức là làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lê Nin tư tưởng đạo đức Cách Mạng Hồ Chí Minh,những chủ trương đường lối chính sách của Đảng
và pháp luật nhà nước để các em biết sống có kỷ cương, làm việc theo pháp luật, có nền nếp văn hóa …trong các mối quan hệ con người với con người,con người với xã hội
Trong quá trình GDĐĐ đã đưa ra một số chức năng GDĐĐ sau:
- Chức năng định hướng: Bản thân mỗi cá nhân nắm được những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản thì sẽ được xã hội chấp nhận hành vi khi thực hiện được điều tốt, điều thiện và tránh xa hành vi xấu
xã hội lên án như làm điều ác,vi phạm pháp luật …
Trang 33- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Xã hội phát triển tốt đẹp tất yếu phải có hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực với mục đích điều chỉnh để bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và cá nhân Cách thức điều chỉnh được biểu hiện lựa chọn giá trị đạo đức, xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức, xác định phương án cho hành vi bởi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu:
+ Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác
+ Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội
- Chức năng nhận thức: Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức Và đa số trường hợp có
sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức Nhận thức của đạo đức
là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức – hướng vào chính mình, chính chủ thể) Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị đạo đức Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng Từ đó cá nhân tự hình thành niềm tin, hành vi, thói quen đạo đức, ý thức trách nhiệm cho chính mình và cộng đồng xã hội
Chức năng giáo dục: Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ” Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo
ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.Ở
Trang 34đây, môi trường đạo đức tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức Hiệu quả GDĐĐ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, GD mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng GD trong quá trình giáo dục Như vậy, chức năng GDĐĐ cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác, là sự “ tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
Chức năng kiểm tra: Thực tế môi trường xã hội luôn biến đổi xấu tốt, thiện - ác len lỏi vào trong cuộc sống hàng ngày Nên bản thân cá nhân thường xuyên định hướng kiểm tra, đánh giá chính xác đối chiếu qua nguyên tắc,quy tắc chuẩn mực chung của xã hội , tin vào hành động chân chính của mình có hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức đó
-1.2.4.3.Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
GDĐĐ là một hoạt động giáo dục trong quá trình sư phạm GDĐĐ là giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen đạo đức để từ đó mỗi cá nhân nhận thức trách nhiệm gắn kết giữa con người với con người, con người với cuộc sống xã hội
Giáo dục đạo đức trong nhà trường thông thường được chia ra nhiều quá trình giáo dục như về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động tổng hợp hướng nghiệp.Trong đó GDĐĐ được xem là nền tảng cơ bản tạo ra nội lực vững chắc cho các mặt giáo dục khác
Cũng như giáo dục các hoạt động khác GDĐĐ cũng có mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục, kết quả giáo dục Nên đòi hỏi nhà
quản lý giáo dục tham gia vào quá trình tổ chức GDĐĐ thực hiện được các
nhiệm vụ sau:
Trang 35+ GDĐĐHS trong các hệ thống và mối quan hệ thực tiễn, quan hệ xã hội + GDĐĐ cho HS bằng cách ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực, định hướng lựa chọn yếu tố ảnh hưởng tích cực trong quá trình lĩnh hội các giá trị đạo đức
+ Tổ chức GDĐĐ để học sinh nhận thức để chuyển từ những yêu cầu chung của xã hội thành phẩm chất đạo đức cho cá nhân HS
Mục tiêu chung GDĐĐ trong nhà trường là giúp HS nhận thức đúng giá trị đạo đức, biết hành động theo lý trí, theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống có trách nhiệm vì mọi người, vì gia đình, vì cộng đồng xã hội và phồn vinh của đất nước
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH có thể xác định thành các nhóm phản ánh mối quan hệ chính mình, con người phải giải quyết đó là nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện tư tưởng chính trị; nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự hoàn thiện bản thân; nhóm chuẩn mực đạo đức thực hiện quan hệ với con người; nhóm chuẩn mực ĐĐ liên quan đế xây dựng môi trường sống
GDĐĐ cho HS không chỉ trong môi trường nhà trường mà phải phối hợp môi trường gia đình, xã hội phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ cùng GDHS
GDĐĐ cho HS THPT bằng con đường tự rèn luyện, tự giáo dục của bản thân người học sinh
Như vậy GDĐĐ cho học sinh thành con người có nhân cách toàn diện trong nhà trường là một nội dung quan trọng trong quá trình giáo dục Quá trình GDĐĐ cho người học sinh phải tuân thủ theo các quy luật phát triển nhân cách để nhằm đạt mục tiêu hiệu quả giáo dục
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THPT
Quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt hiệu quả mong muốn Mục đích của quá trình hoạt động này hình thành ở HS những tri thức, tình cảm, niềm tin, sự hướng thiện và thói quen đạo đức Đó
Trang 36chính là hệ thống phẩm chất, năng lực nhân cách đạo đức của học sinh.Về bản chất quản lý hoạt động GDĐĐ là cách thức tác động có định hướng của chủ thể quản lý tới thành tố tham gia vào quá trình GDĐĐ nhằm làm cho các lực lượng GD nhận thức đúng đắn tầm quan trọng GDĐĐ tích cực tham gia vào quá trình GDĐĐ để thực hiện mục tiêu có hiệu quả tốt nhất
1.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức
GDĐĐ cho học sinh THPT là hướng tới sự phát triển toàn diện nhân cách đạo đức Mục tiêu của GDĐĐ là chuyển hóa những nguyên tắc quy tắc chuẩn mực thành phẩm chất nhân cách đạo đức cho học sinh đồng bộ, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh trong cơ sở giáo dục Hoạt động GDĐĐ thể hiện qua các mục tiêu cụ thể sau:
- Về nhận thức: Giúp GV, HS và cộng đồng xã hội nhận thức đúng đắn
về vai trò, tầm quan trọng về hoạt động quản lý GDĐĐ, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện trong thời kỳ hiện đại
- Về kỹ năng, hành vi: Tích cực tham gia quản lý việc GDĐĐ, tự giác
tham gia vào hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Mỗi các nhân tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo đúng với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội
- Về thái độ tình cảm: Giúp bản thân cá nhân có thái độ,quan điểm đúng đắn, phân biệt rõ ràng hành vi thiện-ác; Có tinh thần đấu tranh việc làm sai trái, ủng hộ việc làm đúng đối với việc quản lý GDĐĐ
Tóm lại quản lý mục tiêu GDĐĐ là quản lý kết quả HS có ý thức, niềm tin và nhận thức đầy đủ về giá trị đạo đức truyền thống,quyền và nghĩa vụ trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng xã hội Tự tạo lập cho bản thân thói quen làm chủ hành vi, thói quen đạo đức chuẩn mực xã hội,thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
1.3.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức
Quản lý nội dung GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT bao gồm:
Trang 37-Chỉ đạo xây dựng kế hoạch GDĐĐ đảm bảo mục tiêu, tính thống nhất giữa nhà trường-gia đình-cộng đồng XH sao cho kế hoạch vừa bao quát vừa
cụ thể, phù hợp tâm lý đối tượng HS khác nhau khả thi trong GDĐĐ
- Kế hoạch phải được xây dựng từ cơ sở thực tế thực trạng trường THPT được cụ thể theo chủ điểm phù hợp với đặc trưng học sinh dân tộc;Kế hoạch phải chỉ rõ các mục tiêu và giải pháp cụ thể đảm bảo phù hợp, hiệu quả hoạt động GDĐĐ cho học sinh Khi xây dựng kế hoạch phải chú ý đến hoạt động dự báo khoa học về GDĐĐ trong thời gian tiếp theo
- Tổ chức sắp xếp bộ máy hoạt động như thành lập ban chỉ đạo, phân công, giao việc cho cá nhân tham gia GDĐĐ cụ thể: Từ hiệu trưởng (phó hiệu trưởng), Bí thư đoàn, GVCN, ban quản sinh, ban đại diện cha mẹ HS
- Quản lý nội dung đưa vào hoạt động hàng ngày, theo chủ điểm tháng qua giờ học bộ môn, hoạt động của GVCN, Đoàn thanh niên, hoạt động NGLL, nếp sống sinh hoạt nội trú…và qua đánh giá hoạt động thi đua
- Thường xuyên kiểm tra thực hiện kế hoạch, đánh giá, uốn nắn, khen thưởng, kỷ luật, điều chỉnh nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý GDĐĐ
1.3.3 Quản lý hình thức giáo dục đạo đức
Hiện nay quản lý hình thức GDĐĐ cho học sinh THPT được sử dụng trong nhà trường THPT là :
GDĐĐ thông qua các hoạt động NGLL, sinh hoạt giờ chào cờ, hoạt động của đoàn thanh niên nhằm giúp HS thực hiện tốt kỷ cương nền nếp nhà trường và khơi gợi trong HS hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, giá trị kỹ năng sống, giáo dục về giới, vấn đề tảo hôn, niềm tự hào về truyền thống dân tộc với hình thức đa dạng như tổ chức hội thi tìm hiểu về truyền thống nhà trường, hội diễn văn nghệ, thi viết về mái trường của em, người tốt việc tốt trò chơi dân gian…theo chủ đề tuần và tháng do các lớp trực tuần thực hiện theo
kế hoạch Hoặc các buổi hoạt động tập thể tăng gia chăn nuôi, tổ chức lễ hội
Trang 38của dân tộc nhằm tăng cường hiểu biết về phong tục tập quán và tính đồng đội đoàn kết trong hoạt động hiệu quả hơn
GDĐĐ thông qua môn học: qua bộ môn GDCD và môn văn hóa khác tích hợp lồng ghép nội dung cơ bản về giá trị đạo đức, quyền và nghĩa vụ công dân, ngoài ra còn tích hợp “học tập theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh”; Luật phòng chống tham nhũng; Môi trường và biển đảo…nhằm giúp học sinh nhận thức được về giá trị đạo đức và hiểu biết xã hội
1.3.4 Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức
Khi sử dụng phương pháp này có ưu điểm: Đảm bảo tính kỉ cương, kỉ luật trong mọi hoạt động của tổ chức Đảm bảo tính linh hoạt, kịp thời của các quyết định của người quản lý.Tuy nhiên có nhược điểm là sự áp đặt của các quyết định quản lí làm cho người dễ bị quản lí dễ bị rơi vào trạng thái bị động Lạm dụng biện pháp này dễ dẫn tới tình trạng quan liêu, mệnh lệnh
Tóm lại, phương pháp này là tối cần thiết trong công tác quản lí, được xem như những biện pháp quản lí cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỉ luật trong toàn tổ chức, buộc các viên chức phải làm tốt nhiệm vụ của mình
* Phương pháp tâm lí – xã hội:
Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức, biến ý chí của tổ chức thành ý chí và nguyện vọng của cá nhân thông qua những tác động tâm lí, trên cơ sở tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của mỗi cá nhân.Thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lí của người lãnh
Trang 39đạo Người lãnh đạo một mặt tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm
vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức, mặt khác phải có sự hiểu biết sâu sắc tâm tư nguyện vọng của mỗi viên chức, tôn trọng ý kiến của họ
và xây dựng được bầu không khí lành mạnh cởi mở trong tổ chức Tin tưởng vào khả năng của họ, củng cố lòng tin ở họ rằng họ có thể làm việc tốt hơn, giao việc cho họ, chỉ cho họ cách vượt khó của cá nhân, phát huy được sở trường của họ Chân thành giải toả hợp tình, hợp lí các xung đột, xây dựng tốt các mối quan hệ trong công tác cũng như trong sinh hoạt ở trong tổ chức cũng như ở ngoài xã hội Động viên khen thưởng kịp thời, đặc biệt trong trường học, tổ chức thi đua dạy tốt, học tốt nhằm động viên GV và HS thực hiện tốt Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho CBGV và HS của nhà trường Song phương pháp này đạt hiệu quả cao phụ thuộc vào nghệ thuật của người quản
lý
* Phương pháp kinh tế:
Trong trường học, thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ giáo viên, học sinh ghi trong điều lệ nhà trường, qui chế chuyên môn, … với những kích thích có tính đòn bẩy trong nhà trường
Thực hiện phương pháp này là tổ chức xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức cho từng loại hoạt động trong tổ chức trường học,
Tổ chức bộ máy bình bầu, đánh giá phân loại CBGV, HS theo tháng, kỳ, năm thưởng phạt theo chế độ đã quy định, đảm bảo tính công khai, công bằng và dân chủ Phương pháp này có ưu điểm giảm bớt tối đa việc ban hành các mệnh lệnh, chỉ thị, đồng thời giảm bớt sự giám sát của CBQL tới hoạt động của từng người Phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác, độc lập của mỗi người trong công việc Bên cạnh đó có nhược điểm lạm dụng các biện pháp kinh tế dễ dẫn tới khuynh hướng tư lợi, chỉ biết tới lợi ích cá nhân,ít quan tâm đến lợi ích tập thể.Vì vậy, các biện pháp kích thích vật chất phải
Trang 40được kết hợp chặt chẽ và tương xứng với các biện pháp động viên khuyến khích về tinh thần
* Quản lý theo mục tiêu:
Đặc trưng của phương pháp này là các mục tiêu phải được trình bày ngắn gọn về những kết quả trông đợi, có thể đo lường được và đánh giá được Các mục tiêu đều có thời hạn hoàn thành, và gắn với một kế hoạch hành độngQuản lý theo mục tiêu dùng mục tiêu để động viên hơn là để kiểm soát.Trong quản lý GDĐĐ, việc quản lý theo các mục tiêu về số lượng và chất lượng của công tác giáo dục là rất quan trọng
Phương pháp quản lý theo mục tiêu có những ưu điểm tạo ra động lực quan trọng của công tác quản lí vì vạch ra mục tiêu rõ ràng để đánh giá kết quả thực hiện của người quản lí; Cho phép người quản lí tham gia xây dựng mục tiêu và kế hoạch hành động có liên quan; Tạo ra cách đánh giá khách quan và công bằng Tuy nhiên cũng có nhược điểm là áp đặt mục tiêu cho người quản lí.Quá nhấn mạnh mục tiêu định hướng tới việc hoàn thành mục tiêu, dễ dẫn tới cục bộ, phiến diện
Như vậy phương pháp QLGD là lĩnh vực sáng tạo của người quản lí, đòi hỏi người quản lí vừa phải có tri thức, vừa có kinh nghiệm nghề nghiệp, ứng xử và sáng tạo Nó vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Phải tùy theo công việc, con người, hoàn cảnh cụ thể và thời gian mà lựa chọn và kết hợp với các phương pháp cho phù hợp nhằm đem lại hiệu quả quản lí cao nhất Không có phương pháp quản lí nào là vạn năng, chiếm địa vị độc tôn, mà mỗi phương pháp có thế mạnh của nó tùy thuộc vào mỗi hoàn cảnh cụ thể; để quản lí một tổ chức có hiệu quả, đòi hỏi người làm công tác quản lí phải vận dụng linh hoạt cả bốn nhóm phương pháp này
1.3.5 Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh
Để học sinh phát triển hình thành nhân cách toàn diện thì cần phải có
sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục đó là nhà trường-gia đình-
xã hội Các lực lượng giáo dục trong nhà trường bao gồm công đoàn, đoàn