Cụ thể như sau: Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn, huyện Ý Yên, Nam Định trong bối cảnh hiện nay” năm 2012 của tác giả Hoàng Khắc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ TRƯỜNG GIANG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ TRƯỜNG GIANG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG QUỐC BẢO
HÀ NỘI – 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo dục
- Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn khoa học này
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với PGS.TS Đặng Quốc Bảo, người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Cán bộ quản lý, giáo viên, các em học sinh Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình triển khai luận văn Xin cảm ơn các đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Lê Trường Giang
Trang 4TNCSHCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vii
Danh mục bản đồ viii
Danh mục sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 9
1.2.2 Trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú 14
1.2.3 Học sinh giỏi và bồi dưỡng học sinh giỏi 15
1.3 Tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi 18
1.4 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT 19
1.4.1 Công tác phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi 19
1.4.2 Kế hoạch hóa các hoạt động 21
1.4.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch đề ra 22
1.4.4 Công tác chỉ đạo 23
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch 24
Trang 6iv
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh
giỏi 26
1.5.1 Tình hình kinh tế - xã hội 26
1.5.2 Nhận thức, năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên 26
1.5.3 Chất lượng tuyển sinh đầu vào 27
1.5.4 Quy chế dạy học và quy chế quản lý hoạt động dạy học j 27 1.5.5 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 28
1.5.6 Công tác thi đua, khen thưởng 29
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THPT HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 31
2.1 Khái quát về huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Bên 31
2.2 Khái quát về Trường PTDT Nội Trú THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 33
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 33
2.2.2 Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 34
2.2.3 Cở sở vật chất, thiết bị dạy học 38
2.2.4 Chất lượng giáo dục 39
2.3 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 40
2.3.1 Nội dung bồi dưỡng 42
2.3.2 Phương pháp bồi dưỡng 43
2.3.3 Việc tự học của đội tuyển học sinh giỏi 45
Trang 7v
2.3.4 Kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi 48
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 49
2.4.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về mục đích của hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi 49
2.4.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi 51
2.4.3 Công tác phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi 53
2.4.4 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi 53
2.4.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi 56
2.4.6 Công tác thi đua khen thưởng đối với hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi 58
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 61
2.5.1 Điểm mạnh 61
2.5.2 Điểm yếu 62
2.5.3 Thời cơ 63
2.5.4 Thách thức 65
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG PTDTNT THPT HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 68
3.1 Bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra cho hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 68
3.2 Nguyên tắc chọn lựa biện pháp 70
3.2.1 Đảm bảo tính kế thừa 70
3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 70
Trang 8vi
3.2.3 Đảm bảo tính đồng bộ 71
3.2.4 Đảm bảo tính hiệu quả 71
3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay 72
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của hoạt động bỗi dưỡng học sinh giỏi 72
3.3.2 Kế hoạch hóa việc phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi 75
3.3.3 Bồi dưỡng cho giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi 81
3.3.4 Chỉ đạo giáo viên đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi 86
3.3.5 Phát triển kỹ năng tự học cho học sinh giỏi 91
3.3.6 Cải tiến chế độ thi đua khen thưởng và tích cực hộ trợ tinh thần vật chất để giáo viên, học sinh hoàn thành nhiệm vụ 95
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97
3.5 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 98
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê kết quả kiểm tra kiến thức giáo viên đầu năm 35
Bảng 2.2 Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm 39
Bảng 2.3 Thống kê kết quả xếp loại học lực 39
Bảng 2.4 Thống kê kết quả học sinh đỗ tốt nghiệp so với các trường nội trú vùng ngoài thành phố Điện Biên Phủ 40
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về phương pháp bồi dưỡng HSG của GV 44
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát CBQL, GV về tầm quan trọng của việc tự học đối với HSG 45
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát HSG về việc tự học 46
Bảng 2.8 Thống kê kết quả thi HSG đạt giải cấp tỉnh 48
Bảng 2.9 Thống kê số giải HSG cấp tỉnh theo môn học 49
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát CBQL, GV và HSG về mục đích bồi dưỡng HSG 50
Bảng 2.11 Đánh giá mức độ thực trạng việc lập kế hoạch bồi dưỡng HSG của nhà trường 52
Bảng 2.12 Ý kiến của HS về thời lượng tham gia bồi dưỡng HSG 53
Bảng 2.13 Kết quả khảo sát GV về biện pháp phát hiện và tuyển chọn HSG 54
Bảng 2.14 Kết quả khảo sát CBQL về mức độ kiểm tra hoạt động bồi dưỡng HSG 57
Bảng 2.15 Đánh giá mức độ của việc thực hiện nội dung thi đua, khen thưởng trong hoạt động bồi dưỡng HSG 59
Bảng 3.1 Kết quả kiểm chứng về tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG 99
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước “Nguồn tài nguyên và sự giầu có
của một quốc gia không phải nằm trong lòng đất mà chính là nằm trong bản thân con người, trí tuệ con người” Kinh nghiệm cho thấy chìa khóa của sự tăng
trưởng vượt bậc của các nước châu Á trong những thập kỷ gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore chính là bởi các nước này đã thành công trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài
Trí tuệ, tài năng là vốn quý của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tài năng không phải tự nhiên mà có Tài năng có được nhờ sự khổ luyện của mỗi con người Sự khổ luyện ấy trong thời đại nào cũng gắn với nhà trường, gắn với người thầy
đáng kính Nhà trường chính là vườn ươm nhân tài, là “trang sách đầu tiên của
chiếc nôi văn hóa nhân loại” Sẽ không có người tài, không có HSG nếu không
có nền giáo dục chân chính, không có công tác bồi dưỡng HSG của những nhà
sư phạm tài năng
Bồi dưỡng HSG có tác động tích cực đến quá trình dạy và học, tạo động lực, làm nòng cốt trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt Qua hoạt động bồi dưỡng HSG, HS sẽ được trang bị thêm kiến thức, kỹ năng, phát triển về năng lực
tư duy, khả năng sáng tạo, phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, kích thích
ý chí vươn lên đỉnh cao thành tích học tập, rèn luyện, góp phần giáo dục toàn diện nhân cách HS Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV Bởi
“muốn có học sinh giỏi phải có thầy giáo giỏi, muốn có thầy giáo giỏi cần có
học sinh giỏi” Bồi dưỡng HSG đòi hỏi người GV phải không ngừng tự học, tự
bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu… điều đó góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ GV
Trang 122
Với Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục hiện nay, đặc biệt là đổi mới kiểm tra, thi của Bộ GD&ĐT Đòi hỏi hoạt động bồi dưỡng HSG phải điều chỉnh nội dung chương trình, phương pháp, hình thức bồi dưỡng HSG theo định hướng đổi mới giáo dục của Bộ GD&ĐT
Mặt khác, giáo dục dân tộc đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm Mạng lưới các trường từ mầm non đến phổ thông được mở rộng, thu hút nhiều
HS các dân tộc thiểu số đến trường Hệ thống trường PTDTNT phát triển với nhiệm vụ đào tạo nguồn cán bộ là con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được xem là yêu cầu cấp bách hiện nay Để đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao, xóa dần về khoảng cách tri thức giữa các vùng miền thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường PTDTNT là cần bồi dưỡng HSG Chính vì vậy trong quy chế hoạt động của các trường PTDTNT ban hành kèm theo quyết định
số 49/2008/QĐ-BGDĐT tại Điều 21 đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ của
GV là bồi dưỡng HSG
Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé tiền thân là trường PTDTNT huyện Mường Nhé (trường THCS cấp huyện) Trường được thành lập theo quyết định số 241/2003/QĐ-UB ngày 10 tháng 6 năm 2003 của UBND huyện Mường Nhé Khi mới thành lập trường được đặt tại xã Chà Cang huyện Mường Nhé (nay là xã Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên) với nhiệm vụ đào tạo cấp THCS cho con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài trên địa bàn huyện Đến năm 2009, trường đổi tên thành trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé theo quyết định số 879/QĐ-UBND ngày 3 tháng 6 năm 2009 của UBND tỉnh Điện Biên và giao quyền quản lý về Sơ GD&ĐT tỉnh Điện Biên, với nhiệm vụ đào tạo cấp THCS và THPT Trong những năm qua, dù trong
Trang 133
nhưng hoàn cảnh khó khăn về CSVC, đội ngũ GV, nhưng nhà trường luôn nỗ lực
để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là hoạt động bồi dưỡng HSG Tuy nhiên, chất lượng HSG của nhà trường còn thấp, chưa tương xứng với một trường THPT trọng điểm của huyện Mường Nhé và sự tin tưởng của các phụ huynh HS, các em HS Có nhiều nguyên nhân như chất lượng tuyển sinh đầu vào chưa cao, đội ngũ GV thiếu kinh nghiệm, chưa thật sự đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG Và một trong những nguyên nhân đó là công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG còn nhiều khó khăn, bất cập
Vì những lý do đã trình bày ở trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động bồi dưỡng HSG ở trường PTDT Nội Trú THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng HSG ở Trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé
đã được quan tâm Song trước yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, chất lượng bồi
dưỡng vẫn chưa đạt được như mong muốn Nếu có các biện pháp quản lý phù hợp hơn với đặc thù của một trường PTDTNT và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay thì kết quả bồi dưỡng HSG sẽ được nâng cao
Trang 144
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Bồi dưỡng HSG ở đây chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng HSG từng bộ môn văn hóa cho kỳ thi chọn HSG các cấp, đề tài không nghiến cứu việc bồi dưỡng HS năng khiếu về văn nghệ, thể thao, HSG toàn diện
Các số liệu được sử dụng trong đề tài về hoạt động bồi dưỡng HSG chỉ từ năm 2011 đến năm 2015
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THPT
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và các văn bản Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, quy chế, quy định của ngành GD&ĐT tạo có liên quan đến đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Tiến hành xây dựng bộ phiếu hỏi dành cho đối tượng là CBQL, GV, HS nhằm thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn
Trang 155
Tiến hành phỏng vấn đối với CBQL, GV, HS của trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên để làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Vận dụng những lý luận khoa học quản lý giáo dục để phân tích, đánh giá thực trạng bồi dưỡng HSG và thực trạng quản lý bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Từ đó khái quát hoá, hệ thống hoá và rút ra những kết luận
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thế áp dụng cho công tác quản
lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở các trường PTDTNT THPT trên địa bàn tỉnh Điện Biên
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường
THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường
PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường
PTDTNT THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
Trang 166
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH
GIỎI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Đã từ lâu vấn đào tạo, bồi dưỡng HSG, bồi dưỡng nhân tài đã được các nước trên thế giới coi trọng Tuy nhiên, mỗi đất nước, mỗi giai đoạn lịch sử lại
có những quan niệm và cách thức phát hiện, bồi dưỡng nhân tài khác nhau
Ở châu Âu trong suốt thời Phục Hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc và văn học đều được nhà nước và các tổ chức, cá nhân bảo trợ, giúp đỡ Viện quốc tế Aurino với nhiệm vụ nhận diện, khảo sát HSG và HS tài năng trên khắp thế giới Nước Anh thành lập cả một viện hàn lâm quốc gia giành cho HSG và tài năng trẻ Từ năm 2001, chính quyền New Zealand đã phê chuẩn
kế hoạch phát triển chiến lược HSG Cộng hòa Liên Bang Đức có hiệp hội giành cho HSG và tài năng Đức
Trong suốt thế kỉ 20, HSG đã trở thành một vấn đề của nước Mĩ với hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng HSG ra đời Năm 2002
có 38 bang của Mĩ có đạo luật về giáo dục HSG (Gifted & Talented Student Education Act) trong đó 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục HSG Nhà nước có chính sách phát hiện, tuyển chọn các loại HSG, HS năng khiếu hàng năm Về hình thức đào tạo, bồi dưỡng thì rất phong phú, đa dạng… Tất cả đều theo nguyên tắc giáo dục chuyên biệt, vừa chú trọng đảm bảo kiến thức phổ thông chung, vừa quan tâm tới năng khiếu, sở trường của từng HS
Đối với các nước châu Á việc phát hiện và bồi dưỡng HSG được chú ý từ rất sớm Ở Trung Quốc từ thời nhà Đường những trẻ em có tài được mời về hoàng cung để học tập và giáo dục bằng những hình thức đặc biệt Từ năm 1985,
Trang 177
Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình giáo dục đặc biệt giành cho hai loại đối tượng HS yếu kém và HSG, trong đó cho phép HSG có thể học vượt cấp Singapore có hẳn chương trình giáo dục HSG Còn đất nước Hàn Quốc có chương trình đặc biệt giành cho HSG nhằm giúp chính quyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm
Như vậy, công tác phát hiện và bồi dưỡng HSG, HS tài năng được các nước trên thế giới xác định là nhiệm vụ chiến lược để phát triển đất nước Các nước đã tổ chức môi trường, chương trình học tập đặc biệt cho những HS này Chính việc chú trọng đào tạo HSG đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh
tế - xã hội của các nước trên
1.1.2 Ở Việt Nam
Nhiều triều đại phong kiến Việt Nam coi “Hiền tài là nguyên khí quốc
gia” Để tuyển chọn người hiền tài, ông cha ta đã tổ chức các kỳ thi như thi
Hương, thi Hội, thi Đình…Việc phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài thể hiện rõ từ thời kỳ nhà Lý, qua việc xây dựng trường Quốc Tử Giám
Kế thừa truyền thống hiếu học, trọng nhân tài của dân tộc Việt Nam Trong nhiều thập kỷ qua, kể cả trong hoàn cảnh hết sức khó khăn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược và can thiệp của nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp GD&ĐT, quan tâm đến nhân tố con người và bồi dưỡng người tài Nhất là những năm gần đây, từ khi có nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII thì vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài càng được coi trọng
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 13/6/2012, tại phần 3 mục III Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong đó nhấn mạnh phải thỏa mãn nhu cầu của mỗi người học, đến công tác đào tạo, bồi dưỡng HS, sinh viên tài năng
Trang 188
Ngày 25/11/2011 Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế thi chọn HSG cấp quốc gia theo Thông tư số 56/2011/TT-BGDĐT Quy chế này quy định về thi chọn HSG quốc gia, đồng thời giao cho các địa phương quy định cụ thể việc tổ chức các kỳ thi chọn HSG cấp cơ sở tại địa phương, đơn vị
Đặc biệt, với Nghị quyết 29 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay cũng nhấn mạnh đến việc bồi
dưỡng nguồn nhân tài cho đất nước “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”.
Trong thời gian gần đây cũng có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu đã đưa
ra các giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG ở các nhà trường Cụ thể như sau:
Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học cơ
sở Lê Quý Đôn, huyện Ý Yên, Nam Định trong bối cảnh hiện nay” năm 2012 của
tác giả Hoàng Khắc Tiếp đã đề cập đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG
ở trường THCS chất lượng cao
Luận văn “Quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường trung học
phổ thông chuyên Hà Nội – Amsterdam”, năm 2014 của tác giả Bùi Thị Mỹ Hạnh
đã đề cấp đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THPT chuyên
Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường Trung
học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ trong bối cảnh hiện nay”, năm 2014 của
tác giả Phí Văn Sốp đã đề cấp đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THPT
Các tài liệu, luận văn trên đã đề cập đến công tác bồi dưỡng HSG, nhưng chỉ
đề cập lý luận chung hay trên cở sở của trường THCS chất lượng cao, trường THPT chuyên, trường THPT Chưa có luận văn nào đề cập tới công tác quản lý hoạt động
Trang 199
bồi dưỡng HSG ở trường PTDTNT Với trường PTDTNT, khi mà đa số là HS các dân tộc thiểu số định cư ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; với đặc điểm tâm lí, nhận thức của HS có những đặc điểm riêng thì việc nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở đây được xem là một vấn đề mới
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học
Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về quản lý Các nhà nghiên cứu theo nhiều góc
độ tiếp cận để có những quan niệm khác nhau về khái niệm này
Frederik Winslon Taylo (1856-1915), được coi là “cha đẻ của thuyết quản
lý khoa học”, là một trong những người mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã
thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ
nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ” Ông đã cho rằng
“Quản lí là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã
hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr 12]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hiện nay hoạt động
quản lý thường được định nghĩa rõ hơn như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7, tr 9]
Quản lý bao gồm nhiều yếu tố như chủ thể quản lý, tức trả lời câu hỏi “Ai
quản lý”, chủ thể quản lý có thể một hoặc nhiều người Còn “Quản lý ai”, “Quản
lý cái gì” đó chính là khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) Chủ thể quản lý
và khách thể quản lý luôn có mối quan hệ tác động qua lại nhau Đây là quan hệ
Trang 2010
ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Bên cạnh đó phải có mục tiêu và quỹ đạo đã định ra cho chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chính mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, tuy nhiên khái niệm quản lý đã nhấn mạnh đến những khía cạnh sau: Quản lý là quá trình tác động có
tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý có 4 chức năng chính: Chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra, đánh giá Nhà quản lý cần chú ý rằng bốn chức năng của quản lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, được thực hiện liên tiếp tạo thành chu trình quản lý Trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý, yếu tố thông tin có vai trò rất quan trọng Nhà quản lý cần có thông tin chính xác, toàn diện, kịp thời Để ra những quyết định quản lý phù hợp, nhà quản lý còn phải biết phân tích, xử lý tốt những thông tin nhận được
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý được minh họa trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Kế hoạch hóa
Tổ chức Kiểm tra
Chỉ đạo Thông tin
Trang 21cơ sở đó không ngừng phát triển
Quản lý giáo dục là gì, cũng đã được một số tác giả định nghĩa dưới góc
độ khác nhau:
Tác giả Bush T: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có
tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”
Theo tác giả Nguyễn Quang Ngọc: “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [tr 31] (Nguyễn Quang Ngọc, Những khái niệm cơ
bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Trung ương I,
Hà Nội, 1989)
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có
định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đề ra” [18, tr 15]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [02]
Trang 221.2.1.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục, là một tế bào căn bản, chủ yếu, là đơn
vị cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện
và quản lý quá trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu của
xã hội gồm hai chủ thể chính là người dạy và người học
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường, vì nhà trường là
cơ sở giáo dục, là nơi diễn ra các hoạt động và thực hiện các mục tiêu giáo dục
Vì vậy, quản lý nhà trường là một loại quản lý giáo dục đặc thù được thực hiện ở
tầm vi mô
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.” [12, tr 61]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những
tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới" [23, tr 43]
Quản lý nhà trường là quá trình hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường nhằm đạt tới các mục tiêu
Trang 2313
giáo dục đã đề ra Nói cách khác, quản lý nhà trường là quá trình tác động có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (GV, nhân viên, HS ) nhằm đưa các hoạt động dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình dạy học vì quá trình dạy học là hoạt động chủ yếu của một nhà trường Quá trình dạy học trong nhà trường được xem như một thể thống nhất gồm các thành tố: Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, người dạy, người học, hình thức dạy học, môi trường dạy học Quản lý quá trình dạy học trong nhà trường chính là quản lý các thành tố của quá trình dạy học Người ta có thể chia các thành tố của quá trình dạy học thành các nhóm sau:
- Nhóm nhân tố cơ bản: Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học
+ Mục tiêu dạy học: Là căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học, là tiêu chuẩn
để đánh giá chất lượng quá trình dạy học Mục tiêu dạy học chi phối đến tất cả các thành tố khác của quá trình dạy học (lựa chọn nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức dạy học)
+ Nội dung dạy học: Có nhiều môn học được chọn lọc từ các lĩnh vực kế hoạch phục vụ cho mục tiêu giáo dục từng cấp học Nội dung dạy học được xây dựng phù hợp với quy luật nhận thức, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa Việt Nam
+ Phương pháp dạy học: Là tổ hợp các hình thức phối hợp hoạt động chung của người dạy và người học Phương pháp dạy học gốm cách dạy của GV
và cách học của HS
- Nhóm nhân tố động lực gồm lực lượng đào tạo (thầy) và đối tượng đào tạo (trò)
Trang 2414
+ Thầy giáo là người trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục, là nhân tố quyết định phương hướng và chất lượng giáo dục
+ Trò vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình dạy học
- Nhóm nhân tố gắn kết gồm: Hình thức tổ chức dạy học, môi trường dạy học
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là cách thức tổ chức, sắp xếp các giờ học cho phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng bài, phù hợp với điều kiện và môi trường lớp học nhằm làm cho quá trình dạy học đạt được kết quả tốt nhất
+ Môi trường dạy học: Môi trường có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học Môi trường ảnh hưởng theo hai hướng tích cực và tiêu cực đến người học Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc vào quan điểm, xu hướng, năng lực cá nhân Bởi vì, ở chừng mực nhất định con người còn tham gia vào việc cải tạo môi trường
Như vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục người quản lý cần quan tâm đến các nhân tố của quá trình dạy học như mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, cách dạy của thầy, cách học của trò Đối với hoạt động bồi dưỡng HSG cũng vậy, đặc biệt là vai trò của người thầy trong hoạt động bồi dưỡng HSG
1.2.2 Trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú
1.2.2.1 Trường trung học phổ thông
Theo Luật giáo dục năm 2005, giáo dục phổ thông bao gồm 3 cấp học: Tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường THPT thuộc cấp trung học phổ thông, cấp học bao gồm ba năm học
từ lớp mười đến lớp mười hai Đây là cấp học cuối cùng trong giáo dục phổ thông, có mục tiêu giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
Trang 2515
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.2.2.2 Trường phổ thông dân tộc nội trú
“Trường PTDTNT là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông,
dân tộc và nội trú” Trường có thể là cấp THCS hoặc có thể là cấp THPT, tổ
chức thực hiện chương trình dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông của
Bộ GD&ĐT HS của trường là con em các dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội HS được học tập, sinh hoạt tại trường theo mô hình nội trú, được cấp kinh phí ăn, ở
Nhiệm vụ của trường PTDTNT là tạo nguồn đào tạo cán bộ cho miền núi,
vùng dân tộc, Luật Giáo dục năm 2005 ghi “Nhà nước thành lập trường phổ
thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường Dự bị đại học cho các con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này” [ Điều 61]
1.2.3 Học sinh giỏi và bồi dưỡng học sinh giỏi
1.2.3.1 Học sinh giỏi
Theo Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG như sau: “Học sinh
giỏi là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện được động cơ học tập mãnh liệt và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt và phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” – (Georgia Law)
Cơ quan Giáo dục Hoa Kỳ cho rằng: HSG đó là những HS có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật hoặc các lĩnh vực lý thuyết chuyên biệt Những
Trang 26Theo quy chế đánh giá, xếp loại HS THCS và HS THPT (Ban hành kèm theo Thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT) thì HS được xếp loại học lực môn học ở tất cả các môn học dưới hai hình thức: Đánh giá bằng điểm số và đánh giá bằng nhận xét
Trên cơ sở xếp loại học lực môn, khen thưởng danh hiệu HSG cho những
HS có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
- Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên; riêng đối với HS lớp chuyên của trường THPT chuyên phải thêm điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 8,0 trở lên;
- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5;
- Các môn học đánh giá bằng nhận xét là Đ (Đạt yêu cầu)
Với các quan niệm về HSG như trên chung ta có thể phân biệt các loại HSG như sau:
- HSG toàn diện, học đều các môn, có điểm số cao
- HSG các môn tự nhiên là các em HS có năng khiếu, có tư duy logic tốt
về các môn khoa học tự nhiên: Toán, Vật lý, Hóa học…
- HSG các môn xã hội là HS có năng khiếu văn thơ, có khả năng ghi nhớ tốt các kiến thức Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí…
- HS có năng khiếu về nghệ thuật, thể thao
Trang 2717
Cho dù là HSG toàn diện các môn hay giỏi ở từng bộ môn nhưng vẫn là chưa đủ nếu HS đó không có phẩm chất đạo đức tốt Bởi HSG là nguồn lao động chất lượng cao để góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước nên cần phải có tài, có
đức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô
dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu quan niệm về HSG như sau: HSG là những HS có năng lực về trí tuệ, khả năng sáng tạo, nắm vững bản chất môn học, đạt được điểm cao trong một hoặc một số môn học và có động cơ học tập mãnh liệt Những HS đó cần sự giáo dục đặc biệt, phục vụ đặc biệt
1.2.3.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi
Theo từ điển Giáo dục học năm 2001, bồi dưỡng được định nghĩa như sau:
“Bồi dưỡng là quá trình trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng
cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể” [32].
Từ đó ta có thể hiểu bồi dưỡng HSG chính là quá trình nhằm trang bị thêm kiến thức, kỹ năng cho HS trong một môn học hoặc một số môn học một cách có
hệ thống để phục vụ cho việc học tập ở mức cao hơn và phát huy được hết năng lực của HS trong lĩnh vực đó
Bồi dưỡng HSG là bồi dưỡng những con người “đặc biệt” nên cần môi trường và những điều kiện thích hợp cho người học có thể phát huy hết năng lực của mình Trong đó cần có một chương trình, nội dung học tập, nội dung kiểm tra, đánh giá khác với những HS khác Đặc biệt cần ở người thầy trong việc giúp
HS về phương pháp học, cách nghiên cứu, tư duy, biết tự đánh giá, đồng thời biết sử dụng phương tiện hiện đại để tìm kiếm, thu thập, xử lý thông tin nhằm mục đích tự học và tự bồi dưỡng
Bồi dưỡng HSG là quá trình lâu dài, không phải chỉ diễn ra một sáng, một chiều, không phải theo kiểu nhồi nhét kiến thức phổ thông Do đó, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải xây dựng kế hoạch và huy động các nguồn lực mang tính dài
Trang 2818
hơi cho hoạt động bồi dưỡng HSG Nó đòi hỏi sự tận tâm của người thầy và sự đam mê, lòng quyết tâm để vượt qua những khó khăn và vượt qua chính mình của người học
Bồi dưỡng HSG là bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những chủ nhân tương lai của đất nước nên việc bồi dưỡng phải mang tính toàn diện Ngoài việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng các môn khoa học cần chú trọng việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống cho người học
1.3 Tầm quan trọng của hoạt động bồi dƣỡng học sinh giỏi
Bồi dưỡng HSG là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD&ĐT nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, đất nước Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân
dịp khai giảng năm học 1995 - 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất,
đồng thời là mục tiêu cao cả nhất Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước” Kinh nghiệm cho thấy chìa khóa của
sự tăng trưởng vượt bậc của các nước châu Á trong những thập kỷ gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore chính là bởi các nước này đã thành công trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài Nếu không có nguồn lực trí tuệ để tạo ra những bước phát triển đột phá, các nước kém phát triển sẽ ngày càng tụt hậu và chịu sự lệ thuộc vào các nước phát triển
Chính vì vậy, việc phát hiện, bồi dưỡng, tạo điều kiện để nhân tài được phát huy tài năng là một yêu cầu cấp bách, không thể chậm trễ, có ý nghĩa sống còn vì thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Bồi dưỡng HSG là cần thiết bởi nó quyết định đến hiệu quả cuối cùng là
HS được trang bị những kiến thức vững chắc và cũng từ đó tính sáng tạo của các
em mới được phát triển Một danh ngôn được nhiều người tán thưởng nói rằng
Trang 2919
tài năng (năng khiếu) 5% là do trời phú, 95% do lao động mà có Như thế có nghĩa là, nếu chúng ta không chăm lo gợi mở niềm say mê học tập, tạo môi trường tốt và định hướng HS vào học tập, nghiên cứu, thì dù có được trời phú cho một đầu óc minh mẫn, những mầm sống của nhân tài cũng sẽ bị mai một hoặc định hướng tản mạn vào các lĩnh vực không quan trọng, viển vông
Bồi dưỡng HSG còn có tác động tích cực đến quá trình dạy và học, tạo ra phong trào thi đua dạy tốt, học tốt Qua hoạt động bồi dưỡng HSG, HS sẽ được trang bị thêm kiến thức, kỹ năng, phát triển về năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, kích thích ý chí vươn lên đỉnh cao thành tích học tập, rèn luyện, góp phần giáo dục toàn diện nhân cách HS Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV Bởi muốn bồi dưỡng được HSG, GV phải yêu nghề, tâm huyết, không ngừng học tập, nghiên cứu, tự bồi dưỡng để có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực sư phạm tốt, đảm ứng được
sự kỳ vọng của người học
Thành tích của công tác bồi dưỡng HSG sẽ góp phần khẳng định uy tín, thương hiệu của đội ngũ GV và nhà trường Mặt khác, Bồi dưỡng HSG góp phần tạo ra nguồn tuyển sinh có chất lượng cho các trường ĐH Lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai
Như vậy, việc bồi dưỡng HSG sẽ góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng của công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục; đồng thời phát hiện HS có năng khiếu về môn học để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước
1.4 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT
1.4.1 Công tác phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi
Việc phát hiện và tuyển chọn HS vào đội tuyển HSG là một trong những khâu rất quan trọng Do đó, trong mỗi nhà trường cần có cách tuyển chọn thật
khéo, thích hợp Bác Hồ đã từng nói: “Kiến thiết cần có nhân tài, nhân tài ở
Trang 30- Căn cứ vào điểm và kết quả học tập ở những năm học trước, nhất là điểm
và kết quả thi chọn HSG cấp huyện, cấp tỉnh lớp 9 THCS
- Qua các giờ dạy của GV: muốn phát hiện HS có năng khiếu điều đầu tiên thầy cô phải tạo hứng thú học tập, khơi gợi để để HS có thể bộc lộ năng lực học tập về bộ môn của mình ngay từ khi các em vào học lớp 10
- Căn cứ vào kết quả học tập, rèn luyện tại trường, đây là thời điểm mà HS
từ khá trở lên theo kết quả cuối học kỳ (hoặc năm học) liền kề với kỳ thi
- Cho HS tự nguyện đăng ký môn học tham gia ôn luyện đội tuyển HSG
Đó là để HS tự phát hiện năng lực sở trường, nuôi dưỡng các ước mơ, nuôi dưỡng khả năng và nhiệt tình để khám phá, thử nghiệm nhằm giải quyết những vấn đề khoa học mà các em mong muốn tìm hiểu
Như vậy, công tác phát hiện và tuyển chọn HSG cần được tiến hành trước khi HS vào trường, trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường và quan trọng là
để HS tự nguyện đăng ký vào đội tuyển, bởi chỉ có các em mới là người hiểu rõ nhất năng lực, sở trường, niềm đam mê với môn học của bản thân Tuy nhiên, trong công tác phát hiện và tuyển chọn HSG yêu cầu các nhà quản lý cần tiến hành sớm để có thể phát hiện sớm những HS có khả năng tư duy logic, bộc lộ năng khiếu và tổ chức bồi dưỡng sớm những HS này
Trang 3121
1.4.2 Kế hoạch hóa các hoạt động
Kế hoạch hoá là chức năng quản lý đầu tiên trong bốn chức năng quản lý
cơ bản Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích của tổ chức đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: Xác định, hình thành các mục tiêu (phương hướng) phát triển cho tổ chức; Xác định và bảo đảm các nguồn lực để đạt được mục tiêu; Quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt được các mục tiêu đó
Các mục tiêu và biện pháp tương ứng phải được thể hiện bằng các loại kế hoạch như: kế hoạch chiến lược, kế hoạch năm học, kế hoạch tác nghiệp
Kế hoạch chiến lược thường có thời hạn từ 3 đến 5 năm cho một tổ chức
và dài hạn hơn 10 đến 15 năm cho một ngành hoặc một quốc gia Trong đó các bước hoạt động chi tiết được vạch ra để đạt được mục tiêu chiến lược Những kế hoạch này hướng vào những vấn đề lớn như: Cần phải hoạt động như thế nào để đáp ứng được các điều kiện đang thay đổi, cần phân bố nguồn lực như thế nào trong phạm vi tổ chức, những hành động nào cần tiến hành để tạo nên một nỗ lực chung, thống nhất và có sức mạnh trong toàn bộ tổ chức để có thể đạt được mục tiêu chiến lược
Kế hoạch năm học có thời hạn từ 1 năm trở lên, là những cách thức được
vạch ra để hỗ trợ cho việc triển khai kế hoạch chiến lược cũng như đạt được các mục tiêu chiến thuật
Kế hoạch tác nghiệp có thời hạn dưới 1 năm, thậm chí có thời hạn tính
theo tháng, tuần, ngày Trong đó các biện pháp được hoạch định để triển khai kế hoạch năm học và đạt được mục tiêu tác nghiệp
Trong xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG có thể xây dựng kế hoạch chiến lược từ 3 năm (xây dựng từ khi HS vào học lớp 10 đến lớp 12), căn cứ vào kế hoạch chiến lược trong mỗi năm học xây dựng kế hoạch năm học phù hợp với
Trang 3222
bối cảnh mới của giáo dục, với tình hình nhà trường (có thể có những điều chỉnh
kế hoạch chiến lược cho phù hợp) Từ kế hoạch năm học xây dựng kế hoạch tác nghiệp như kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV bồi dưỡng HSG, kế hoạch hội thảo nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG cấp trường, kế hoạch tuyển sinh để tuyển được những HS có chất lượng cho công tác bồi dưỡng HSG… Trong kế hoạch phải chú ý tới mặt mạnh, mặt yếu của nhà trường ở tất cả các yếu tố: Đội ngũ
GV và HS, tình hình cơ sở vật chất, tài chính, nguồn lực để phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội HSG Trong kế hoạch phải thể hiện được mục tiêu, chương trình, đối tượng tham gia, thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học, hình thức thi đua khen thưởng, kinh phí cần sử dụng
Mặt khác, kế hoạch cũng cần thể hiện được phương thức thành lập đội tuyển, cơ cấu mỗi đội, thời gian tuyển chọn, thời gian khảo sát chất lượng đội tuyển, kế hoạch hội thảo rút kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng đội tuyển HSG của nhà trường Đồng thời, phải được toàn thể cán bộ, GV và HS nắm vững
Chức năng tổ chức có hai vai trò chủ yếu trong quá trình quản lý:
Thứ nhất, vai trò hiện thực hoá các mục tiêu theo kế hoạch đã xác định
Nếu chức năng kế hoạch cho phép người quản lý hình dung trước kết quả hoặc đích cuối cùng cần đạt được như thế nào, thì chức năng tổ chức cho phép họ khẳng định liệu kết quả đó chắc chắn sẽ thành công hay không
Thứ hai, chức năng tổ chức có khả năng tạo ra sức mạnh mới của một tổ
chức, cơ quan, đơn vị thậm chí của cả một hệ thống nếu việc tiếp nhận, phân
Trang 3323
phối và sắp xếp các nguồn lực được tiến hành khoa học, hợp lý và tối ưu Sức mạnh mới của tổ chức có thể mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó
Do vậy, vai trò này còn được nhấn mạnh bằng cụm từ "hiệu ứng tổ chức"
Đối với tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG là việc huy động, sắp xếp các lực lượng trong nhà trường để tham gia bồi dưỡng HSG Đó là việc thành lập bộ phận quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG có thể là
do một phó hiệu trưởng phụ trách chính cùng với các tổ trưởng tổ chuyên môn, công tác tuyển chọn GV từng bộ môn tham gia bồi dưỡng, lực lượng Đoàn TNCSHCM, GV chủ nhiệm tham gia việc quản lý việc học ngoài giờ lên lớp, động viên, khích lệ HSG Đặc biệt, đối với GV là lực lượng quyết định đến chất lượng hoạt động bồi dưỡng HSG, do đó Hiệu trưởng cần sắp xếp các công việc khác phù hợp nhất cho GV để họ có thể toàn tâm, toàn ý cho việc bồi dưỡng HSG
đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định đến hai chức năng kia
Thực hiện chức năng chỉ đạo thực chất là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người cán bộ quản lý trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động trong tổ chức diễn ra trong kỷ cương, trật tự Thực hiện chức năng chỉ đạo trong quản lý cần đảm bảo những vấn đề sau:
Trang 3424
Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ Người
lãnh đạo với quyền hạn và trách nhiệm của mình phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, tập thể trong đơn vị theo kế hoạch, đúng vị trí công tác của họ thông qua những quyết định quản lý
Thường xuyên đôn đốc, động viên Cùng với việc giao và hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ, quản lý còn phải thường xuyên đôn đốc thuộc cấp thực hiện nhiệm
vụ bảo đảm tiến độ và chất lượng Động viên kịp thời nhằm phát huy mọi khả năng của con người vào quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức
Giám sát và điều chỉnh: Thực hiện hoạt động giám sát nhằm thu thập
thông tin về thực trạng thực hiện kế hoạch đã được xác định, kịp thời phát hiện những điển hình tốt để phổ biến, những khó khăn để giúp đỡ, khắc phục, những thiếu sót để kịp thời uốn nắn hoặc điều chỉnh kế hoạch nếu không sát thực tiễn hoặc do tình hình khách quan có những biến đổi
Thúc đẩy các hoạt động phát triển Tạo động lực thúc đẩy mọi người ham
thích, mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ và duy trì năng suất lao động cao
Trong công tác bồi dưỡng HSG, người quản lý cần ra quyết định giao nhiệm
vụ cụ thể cho GV tham gia bồi dưỡng HSG, giao nhiệm vụ cho đoàn thanh niên,
GV chủ nhiệm tham gia quản lý việc tự học ngoài giờ, động viên, khích lệ HS Việc giao nhiệm vụ cần phát huy được điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của GV Cùng với đó cần tổ chức, hướng dẫn họ cách thức để thực hiện được nhiệm vụ được giao Ngoài ra, trong công tác chỉ đạo cần tôn trọng và phát huy khả năng sáng tạo của từng GV trong công tác bồi dưỡng HSG
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Kiểm tra là chức năng cơ bản để bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý chính xác Thức tế quản lý cho thấy, không kiểm tra sẽ không đánh giá đúng thực trạng, cũng như không có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy và hỗ trợ các đối tượng hoàn
thành nhiệm vụ đặt ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu tổ chức tốt việc
Trang 3525
kiểm tra thì cũng như có ngọn đèn “pha” Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ Có thể nói rằng chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra Nếu tổ chức việc kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm lần”
Kiểm tra còn giúp cho việc đánh giá khen thưởng chính xác những cá nhân và tổ chức có thành tích, đồng thời phát hiện những lệch lạc để uốn nắn, sửa chữa kịp thời
Đối với hoạt động dạy học nói chung, hoạt động bồi dưỡng HSG nói riêng, kiểm tra cần tập trung vào các nội dung cơ bản như sau:
- Kiểm tra nghiệp vụ chuyên môn: Dự giờ dạy trên lớp của GV để đánh giá xếp loại theo 10 tiêu chuẩn mà Bộ GD&ĐT ban hành
- Kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn: Kiểm tra việc thực hiện
chương trình kế hoạch giảng dạy bộ môn, chất lượng bài soạn của GV thể hiện
rõ nét đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra hồ sơ chuyên môn (ít nhất 2 lần/học kỳ) Kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học và thực hiện các tiết thực hành, việc chấm bài, trả bài và vào điểm kiểm tra của HS theo quy định, việc ghi sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, sổ điểm chính của lớp (đặc biệt là các lời nhận xét của GV)
- Kiểm tra việc thực hiện nề nếp chuyên môn theo quy định: Nền nếp ra
vào lớp; thực hiện phân phối chương trình; nền nếp sinh hoạt tổ nhóm chuyên
môn; bồi dưỡng HSG, dự giờ thăm lớp; đăng ký thao giảng; làm đồ dùng dạy học; viết SKKN
- Việc kiểm tra gắn với công tác thi đua nên khi kiểm tra phải ghi biên bản tổng hợp, phải có đánh giá xếp loại và được thông báo kết quả trước hội đồng, phải có động viên, khen thưởng những người thực hiện tốt và nhắc nhở, phê bình, rút kinh nghiệm những việc chưa thực hiện tốt
Trang 36và phương pháp giáo dục phải phù hợp với trình độ nhận thức, cách tư duy, tâm
lý cua HS dân tộc thiêu số Ngược lại đối với một huyện ở gần trung tâm các thành phố lớn với trình độ kinh tế - xã hội phát triển, huyện đó có điều kiện đầu
tư cho việc phát triển giáo dục và nhu cầu lớn do việc phát triển kinh tế đồi hỏi quy mô giáo dục phải mở rộng, đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực cho
sự phát triển kinh tế
Đối với hoạt động bồi dưỡng HSG, khi tình hình kinh tế - xã hội của huyện Mường Nhé phát triển chậm, trình độ dân trí thấp sẽ tác động đến nhận thức của phụ huynh HS, đến trí tuệ, cách tư duy, đặc điểm tâm lý của HS Do đó, việc bồi dưỡng HSG cần được tổ chức phù hợp với đối tượng HS sống ở địa phương nơi trường đóng chân
1.5.2 Nhận thức, năng lực của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên
CBQL, GV cần thấy được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng HSG trong một nhà trường, coi công tác bồi dưỡng HSG là một trong những nhân tố góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đồng thời, CBQL cần có những kiến thức về công tác bồi dưỡng HSG Qua đó giúp cho CBQL xây dựng kế hoạch, huy động các nguồn lực cho công tác bồi dưỡng HSG Biết động viên, khích lệ những GV, HS có thành tích
Đối với GV, Nghị quyết trung ương II đã chỉ rõ “Giáo viên là nhân tố
quyết định của chất lượng giáo dục” Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chất
lượng GV sẽ quyết định đến chất lượng bồi dưỡng HSG trong một nhà trường
Trang 3727
Do đó, đội ngũ GV bồi dưỡng HSG cần có trình độ trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, mẫu mực được đồng nghiệp,
HS tin yêu Ngoài những tiêu chuẩn đó cũng cần ở GV bồi dưỡng HSG biết nắm bắt nhu cầu của HS, phát hiện những HS có khả năng trí tuệ, tiếp thu và tư duy tốt, biết động viên, khích lệ học trò, thắp lên ở các em ngọn lửa của lòng ham
hiểu biết, niềm khát khao vươn tới vinh quang
1.5.3 Chất lượng tuyển sinh đầu vào
Đội ngũ GV là nhân tố hàng đầu có tính chất quyết định đến công tác bồi dưỡng HSG Tuy nhiên, ngoài đội ngũ GV có trình độ, tâm huyết thì chất lượng
HS cũng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động bồi dưỡng HSG Chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng bồi dưỡng HSG nói riêng phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng tuyển sinh đầu vào
Chỉ có thể tuyển chọn được những HS có tư chất thông minh, có niềm đam mê với môn học, có phẩm chất đạo đức tốt thì hoạt động bồi dưỡng HSG mới mang lại kết quả cao Để tuyển chọn được những HS công tác tuyển sinh đầu vào cần thực hiện có kế hoạch, đồng bộ, nghiêm túc và đảm bảo về chất lượng Đồng thời cũng không chỉ trông chờ vào việc HS tìm đến với mình mà cần làm tốt công tác tuyên truyền quảng bá về hình ảnh nhà trường, đến các trường THCS trên địa bàn để thu hút HS giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tham gia thi tuyển vào trường
1.5.4 Quy chế dạy học và quy chế quản lý hoạt động dạy học
Quy chế dạy học và quy chế quản lý hoạt động dạy học là các nghị định, nghị quyết, chiến lược phát triển giáo dục, quy chế của ngành và nội quy của mỗi
cơ sở giáo dục Đối với công tác bồi dưỡng HSG là quy chế thi chọn HSG cấp quốc gia, quy chế thi chọn HSG cấp tỉnh, quy định về định mức và chế độ của
GV tham gia bồi dưỡng HSG mà các cấp quản lý giáo dục quy định
Trang 3828
Quy chế dạy học và quy chế quản lý hoạt động dạy học giúp chủ thể quản
lý có cơ sở để xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá công tác bồi dưỡng HSG Đồng thời giúp GV trong việc xây dựng kế hoạch, nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng HSG Qua đó cũng tác động đến phương pháp học tập của HS Ví như, với Nghị quết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong
đó chú trọng đến việc phát huy phẩm chất, năng lực của người học đã góp phần thay đổi cách kiểm tra, thi cử Cùng với đó là thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp dạy học Do đó, trong hoạt động bồi dưỡng HSG các nhà trường cần bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của người học
1.5.5 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy, không thể đào tạo con người phát triển toàn diện theo yêu cầu xã hội nếu không có CSVC, TBDH tương ứng CSVC, TBDH là những điều kiện cần thiết giúp GV và HS thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và học tập
CSVC, TBDH ảnh hưởng đến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học
Vì có TBDH tốt mới có thể tổ chức quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia thực sự vào quá trình này, tự khai thác, tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy Đồng thời, có TBDH sẽ khắc phục được tình trạng dạy chay, học chay, kích thích hứng thú học tập của HS, gắn việc học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn Qua đó góp phần quyết định đến chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng hoạt động bồi dưỡng HSG nói riêng
CSVC, TBDH phục vụ hoạt động bồi dưỡng HSG trước hết phải là lớp học, trang thiết bị thí nghiệm thực hành, đồ dùng dạy học, nguồn tư liệu tham khảo và cơ sở hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin Nhà trường cần tạo điều kiện để GV và HS dễ dàng tiếp cận, sử dụng các trang thiết bị, tài liệu tham khảo, nguồn tài nguyên mở trên Internet để phục vụ hoạt động dạy và học
Trang 3929
1.5.6 Công tác thi đua, khen thưởng
Thi đua là phương pháp tạo ra sự “cạnh tranh lành mạnh” trong tập thể, nhằm khích lệ sự cố gắng của tất cả các thành viên để giành lấy “thắng lợi” cho
đơn vị mình
Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự hài lòng của các nhà giáo dục, các cấp quản lý về những thành tích mà các cá nhân hay tập thể đã đạt được, tạo nên trạng thái tâm lí phấn khởi, tự hào của người được khen thưởng, từ đó mà phấn đấu tốt hơn, để giành lấy những thành tích cao hơn
Công tác thi đua, khen thưởng không những phát huy được sức mạnh to lớn của tình đoàn kết, thắt chặt hơn mối quan hệ trong công việc giữa cán bộ với
GV, nhân viên; giữa đội ngũ giáo viên với HS mà còn tạo sự đồng bộ nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển đi lên mọi mặt trong nhà trường
Trong công tác bồi dưỡng HSG, nếu nhà trường có các biện pháp động viên đối với những cá nhân đạt thành tích tốt trong hoạt động bồi dưỡng HSG thì chắc chắn GV và HS sẽ nỗ lực, cố gắng vươn lên Sự đồng viên ấy cần cả vật chất và tinh thần Về tinh thần có thể là lời chúc mừng, sự tuyên dương trước tập thể GV, HS nhà trường, thừa nhận nỗ lực của họ trước tập thể Về vật chất, nhà trường cần quy định về định mức khen thưởng đối với GV, HS có thành tích trong công tác bồi dưỡng HSG
Để cho công tác thi đua, khen thưởng đạt hiệu quả cần chú ý:
- Thi đua là một biện pháp kích thích tính tích cực hoạt động tập thể, do
vậy thi đua không phải là phong trào mang tính hình thức, “chiếu lệ”, “đánh
trống bỏ dùi” có phát động nhưng không theo dõi tổng kết
- Khen thưởng phải thật sự khách quan, công bằng, đúng người, đúng việc, đúng thời điểm Người được khen thưởng phải cảm thấy tự hào, phấn khởi, từ đó khích lệ họ phấn đấu nhiều hơn nữa
Trang 4030
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã đề cập tới các vấn đề về bồi dưỡng HSG ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam Tác giả cũng đã trình bày để làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản như: Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường; Khái niệm trường THPT, trường PTDTNT Ở chương này, khái niệm HSG, tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng HSG, nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG đã được đề cập đến một cách khá sâu sắc Đồng thời, tác giả cũng
đã cố gắng phân tích các vấn đề cốt lõi có tác động đến quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THPT
Những vấn đề lý luận cơ bản trên là cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường PTDTN THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay Vấn
đề này sẽ được chúng tôi tiếp tục trình bày ở chương tiếp theo