Ngày 02 tháng 11 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kí ban hành thông tư số: 38/2012/TT-BGDĐT, Ban hành Quy chế thi nghiên cứu khoa học cấp quốc gia học sinh trung học cơ sở v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN Với tình cảm của một học viên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới các thầy giáo, các cô giáo của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và triển khai luận văn này
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Văn Tính - Chủ nhiệm Bộ môn Tâm lý học Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã hướng dẫn tác giả rất khoa học, bài bản, nghiêm túc và tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, các phòng ban thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, Ban giám hiệu và tập thể đội ngũ giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện thuận lợi và có những ý kiến đóng góp quý báu để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ở bên cạnh cổ
vũ, khích lệ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Điện Biên, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Đặng Việt Cường
Trang 4DANH MỤC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Mức độ nắm bắt thông tin về hoạt động NCKH của học
Bảng 2.2: Các nguồn cung cấp thông tin về hoạt động NCKH trong
Bảng 2.3: Mức độ tham gia của học sinh trong các bước của quy trình
Bảng 2.4: Số sản phẩm dự thi NCKH của học sinh các trường THPT
Bảng 2.5: Nguyên nhân gây khó khăn tới hoạt động nghiên cứu khoa
Bảng 2.6: Số sản phẩm đồ dùng dạy học tự làm của các trường THPT
và các trường DTNT trong tỉnh Điện Biên năm học 2013 – 2014 51 Bảng 2.7: Số lượng CBQL và giáo viên tham gia bồi dưỡng NCKH 52 Bảng 2.8: Nguyên nhân gây khó khăn cho giáo viên khi hướng dẫn
Bảng 2.9: Mức độ cần thiết của hoạt động NCKH đối với học sinh 55
Bảng 2.10: Đánh giá về ý nghĩa của hoạt động NCKH 57
Bảng 2.11: Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động NCKH của học sinh 58
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ tham gia NCKH của học sinh các trường dân tộc nội
trú THPT so với các trường THPT khác
44
Biểu đồ 2.2: Số dự án NCKH tham gia dự thi vòng tỉnh của các
Biểu đồ 2.3: Các nguyên nhân gây khó khăn đối với việc tham gia
Biểu đồ 2.5: Đánh giá mức độ cần thiết của NCKH đối với học sinh 56
Biểu đồ 3.1: Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 83
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 8
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 9
1.1.3 Nhận định về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 14
1.2 Các khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Quản lý 15
1.2.2 Khoa học 16
1.2.3 Nghiên cứu khoa học 17
1.2.4 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học 18
1.2.5 Khái niệm Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 18
1.3 Nghiên cứu khoa học và NCKH của học sinh 18
1.3.1 Nghiên cứu khoa học 18
1.3.2 Nghiên cứu khoa học của học sinh 22
1.3.3 Một số khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của học sinh 31
1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh DTNT với hoạt động NCKH 32
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc 32
1.4.2 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc ở trường DTNT 33
1.4.3 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh trường dân tộc nội trú với hoạt động nghiên cứu khoa học 33
1.5 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 34
1.5.1 Văn bản quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về NCKH của học sinh 34 1.5.2 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 34
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH ĐIỆN BIÊN 38
2.1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu 38
2.1.1 Một số đặc điểm địa lí, kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên 38
2.1.2 Các trường dân tộc nội trú tỉnh điện biên 39
Trang 82.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh các trường DTNT trên
tỉnh Điện Biên 41
2.2.1 Tình hình NCKH của học sinh 41
2.2.2 Giáo viên và hoạt động NCKH của học sinh 49
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 55
2.3.1 Nhận thức về hoạt động NCKH của học sinh 55
2.3.2 Thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động NCKH của học sinh 57
2.3.3 Thực trạng tổ chức hoạt động NCKH của học sinh 58
2.3.4 Thực trạng việc chỉ đạo triển khai hoạt động NCKH của học sinh 59
2.3.5 Thực trạng việc kiểm tra đánh giá hoạt động NCKH của học sinh 60
2.4 Đánh giá chung 61
2.4.1 Những điểm mạnh 61
2.4.2 Những điểm còn hạn chế 61
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng 62
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH ĐIỆN BIÊN 65
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 65
3.1.2 Nguyên tắc toàn diện 66
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan 67
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh 68
ở các trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên 68
3.2.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động NCKH của học sinh 68
3.2.2 Xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn hạn cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh phù hợp với các hoạt động trong nhà trường 70
3.2.3 Tổ chức mô hình đội công tác của giáo viên hướng dẫn và câu lạc bộ NCKH cho học sinh 71
3.2.4 Bồi dưỡng năng lực NCKH cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh 73 3.2.5 Xây dựng quy trình NCKH và tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm NCKH của học sinh phù hợp với môi trường DTNT 75
3.2.6 Tăng cường phát huy các điều kiện cho hoạt động hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học 78
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81
3.4 Khảo sát cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 81
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 87
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 87
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên 88
2.3 Đối với các trường DTNT tỉnh Điện Biên 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp cách mạng nước ta đang tiến hành với mục tiêu tạo ra sự tăng trưởng cao về kinh tế, tiến bộ và công bằng về xã hội, cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng nước
ta thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để đạt được mục tiêu đó vấn đề có ý nghĩa sống còn là phải đào tạo được một thế hệ trẻ có trình độ, trí tuệ, bản lĩnh, giàu lòng yêu nước Điều này phụ thuộc rất lớn vào nền giáo dục với chất lượng ngày càng cao để góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức của nước ta hiện nay Để làm được điều đó thì giáo dục có vai trò rất quan trọng và có tính quyết định
Giáo dục Việt Nam đang đổi mới ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng Hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học, cơ
sở vật chất, thiết bị được cải thiện, chất lượng giáo dục và đào tạo có bước tiến bộ rõ rệt Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu ngày càng hợp lý Phương pháp dạy học được đổi mới theo hướng tích cực từ đó chất lượng giáo dục và đào tạo không ngừng nâng cao Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục bậc phổ thông được xem là nền tảng và có ý nghĩa quan trọng
Tầm quan trọng của giáo dục bậc phổ thông được Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) khẳng định
“…Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền
Trang 10thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…”[11]
Ngày 02 tháng 11 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kí ban hành thông tư số: 38/2012/TT-BGDĐT, Ban hành Quy chế thi nghiên cứu khoa học cấp quốc gia học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông với mục đích: Khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kỹ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn; góp phần đổi mới hình thức tổ chức hoạt động dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực của học sinh; nâng cao chất lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học; khuyến khích các
cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật của học sinh trung học; tạo cơ hội
để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật của mình; tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế [3]
Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học là một hoạt động quá mới mẻ đối với học sinh các trường phổ thông, vì vậy còn nhiều lúng túng trong khâu tổ chức
và triển khai thực hiện Còn thiếu đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm và phương pháp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, dẫn tới một số bộ phận giáo viên vẫn còn ngại khó và sợ thêm việc vì vậy thiếu sự nhiệt tình Những khó khăn này đòi hỏi phải có những quy chuẩn, quy trình cụ thể để quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này
Tuy nhiên hiện nay các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh vẫn còn rất sơ lược, vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh đặc biệt là học sinh các trường THPT dân tộc nội trú chưa được quan tâm nghiên cứu dẫn tới cán bộ
Trang 11quản lý các nhà trường thiếu cơ sở định hướng cho công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh tại đơn vị
Với những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của học sinh các trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên” để
làm luận văn ngành Quản lý giáo dục
2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu các hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh, từ
đó xây dựng các biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh các trường dân tộc nội trú
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh rất cần thiết vì nó tạo cơ hội để học sinh thực hành nghiên cứu khoa học trong độ tuổi và cấp học phổ thông, đồng thời thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông, đào tạo những học sinh có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, biết giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn của cuộc sống gần gũi với học sinh, tiền
đề cho việc nghiên cứu các vấn đề lớn sau này Tuy nhiên hiện nay các thầy
cô giáo, học sinh và các cấp quản lý vẫn còn rất lúng túng và khó khăn trong việc triển khai hoạt động này Vì vậy nếu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh một cách khoa học, phù hợp với học sinh dân tộc nội trú thì sẽ thúc đẩy, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh nội trú, góp phần thúc đẩy năng lực của học
Trang 12sinh, nâng cao chất lượng dạy học và kiểm tra đánh giá, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của học sinh các trường dân tộc nội trú
5.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của học sinh 8 trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên gồm:
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Mường Ảng;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Tuần Giáo;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Tủa Chùa;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên Đông;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Mường Nhé;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Mường Chà;
Trường Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là tổ hợp các phương pháp nhận thức khoa học bằng con đường suy luận dựa trên các tài liệu lí thuyết đã được thu thập từ các nguồn khác nhau
6.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
Trang 13Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục là tìm ra được các điển hình tích cực hoặc tiêu cực để phổ biến, áp dụng hoặc ngăn ngừa khả năng lặp lại ở những khu vực khác
6.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá thực trạng và các biện pháp quản lý bằng cách
sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia giáo dục có trình độ cao
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Dùng lí thuyết toán học và phương pháp lôgíc toán học để xây dựng các cơ sở lí thuyết nhất quán, mạch lạc, đảm bảo tính chính xác
Dùng các công thức toán học để nghiên cứu đối tượng khoa học, tính toán các thông số liên quan đến đối tượng, tìm ra quy luật vận động của đối tượng, dùng toán học để xử lí số liệu có được do kết quả nghiên cứu của các phương pháp khác Các công thức toán học sử dụng để tính toán trong nghiên cứu gồm: Tính tần suất; tính trung bình cộng; tính phương sai; tính trung vị; tính hệ số tương quan
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận làm tiền đề cho khảo sát thực tiễn
7.2 Khảo sát thực tiễn và nhận thức của giáo viên, học sinh và các cấp quản lí
về hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
7.3 Khảo sát về thực trạng quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh dân tộc nội trú
7.4 Phân tích, xử lí, nghiên cứu kết quả khảo sát
Trang 147.5 Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
7.6 Khảo sát tính khả thi của biện pháp đề xuất quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
7.7 Thực nghiệm biện pháp quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở trường phổ thong DTNT THPT huyện Điện Biên
7.8 Viết tổng kết kết quả nghiên cứu và báo cáo
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn cơ sở lí luận về công tác quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh nói chung và của học sinh dân tộc nội trú nói riêng
Trang 15Với học sinh trường phổ thông: Khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật; phát triển năng lực học sinh và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống Tạo cơ hội để học sinh giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa họccủa mình
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trường dân tộc nội trú
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh các trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh các trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, hoạt động nghiên cứu trong các trường trung học đã được triển khai từ những năm 50 và nhận được sự quan tâm, hỗ trợ rất tích cực từ các trường đại học và viện nghiên cứu như: hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, thực hiện các thí nghiệm, xin ý kiến tư vấn, góp ý từ các nhà khoa học Chính vì vậy hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh diễn ra rất sôi động
và có chất lượng cao, nhiều đề tài nghiên cứu của các em đã giải quyết được những vấn đề cấp thiết mà các nhà khoa học và xã hội đang quan tâm Do đó quản lý hoạt động NCKH của học sinh trung học là vấn đề đã được xem xét
và nghiên cứu từ khá lâu trên thế giới
Tác phẩm "Mối quan hệ giữa giảng dạy và khoa học" [36] của tác giả Deanna Kuhn năm 2010 tìm hiểu về tầm quan trọng của NCKH trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy trong đó đề cao vai trò của người giáo viên hướng dẫn học sinh NCKH không những tác động lớn tới hiệu quả NCKH mà còn nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy
Tác phẩm "Mối quan hệ với gia đình, bạn bè và nhà trường khi khoa học là một thế giới khác" [40] của tác giả Victoria B Costa nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố gia đình, bạn bè, nhà trường tới việc NCKH của học sinh Trong nghiên cứu đề cao ảnh hưởng của các yếu tố gia đình, bạn bè và nhà trường tới quá trình NCKH, các kết quản NCKH bao giờ cũng ảnh hưởng bởi các yếu tố gia đình, người thân và môi trường học tập
Trong hệ thống giáo dục của các nước có nền giáo dục phát triển thì việc quản lý hoạt động NCKH được quan tâm nhiều hơn
Tại Nhật Bản, một trong những nhiệm vụ cơ bản được đặt ra trong chiến lược phát triển khoa học – công nghệ dài hạn, đó là trong lĩnh vực giáo
Trang 17dục đào tạo các nhà sư phạm phải tìm mọi cách nâng cao hơn nữa trình độ của học sinh ở tất cả các cấp học và đặc biệt phải giúp các em nhỏ ngay từ những năm đầu cắp sách tới trường đã được làm quen với cách thức tư duy táo bạo, độc đáo và giàu sáng tạo
Tại Mỹ, Với quan niệm “khoan biến trẻ em trở thành nhà bác học nhí, hãy để trẻ em yêu khoa học trước đã!” nên mỗi năm các trường học đều có
“hội chợ triển lãm khoa học” dành cho các cấp độ trong trường sau thời gian nghỉ lễ giáng sinh và năm mới Các đề tài khoa học đều có thể được sự hỗ trợ của gia đình, trang thiết bị hiện đại của nhà trường, các trung tâm nghiên cứu nhằm giúp học sinh tiếp cận với việc nghiên cứu khoa học, khám phá những điều mới lạ từ tự nhiên, từ cuộc sống dù chỉ là điều nhỏ nhất hoặc những điều người khác đã làm mà mình thấy có thể cải tiến được Các phương pháp nghiên cứu và tiếp cận đề tài, trả lời cho mục đích đề tài, phân tích đề tài, tiến trình thực hiện được hướng dẫn kĩ lưỡng giúp phụ huynh có thể hỗ trợ và cùng với con cái thực hiện Một số đề tài được định hướng cho học sinh tự tìm tòi tùy vào cấp học nhưng nhà trường vẫn khuyến khích đề tài mới lạ, sáng tạo là chính
Tại Australia các nhà trường khuyến khích việc chủ động tự học tự đào tạo của người học với việc tạo điều kiện về mọi mặt Việc nghiên cứu được quan niệm là một quá trình học tập tích cực hình thành nên tư duy phê phán
và kĩ năng giải quyết vấn đề; nó được sử dụng như là một công cụ tự nhiên của các nhóm làm việc và cũng là công cụ để xây dựng kĩ năng giao tiếp cho học sinh
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Hiện nay, với sự nhảy vọt của KHCN, nhân loại đang bước sang nền kinh tế tri thức, cùng với đó là xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Trước bối cảnh đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ 21 có những biến động to lớn lấy tư tưởng chủ đạo là: “học thường xuyên, suốt đời làm nền móng”, xây dựng 4 trụ cột của giáo dục “Học để biết, Học để làm, Học để tồn
Trang 18tại, Học để chung sống” hướng tới “một xã hội học tập” mà nền tảng là tự học, tự nghiên cứu
Năm 1991 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao cho chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN và lao động sản xuất trong nhà trường” [32] mã số B91-38- 14 do tác giả Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu của
đề tài đã có những đóng góp cho công tác quản lý hoạt động KHCN của ngành giáo dục cũng như điều tra thống kê nguồn lực KHCN trong các nhà trường Tuy nhiên các biện pháp được đề ra chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định do sự nghiệp đổi mới quản lý kinh tế xã hội có nhiều thay đổi
đang đặt ra nhiều yêu cầu mới
Bài viết “Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng đào tạo” của Nguyễn Tấn Phát [33]; tác giả nhấn mạnh việc đưa NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo
ở các trường sư phạm
Từ năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Công ty Intel Việt Nam và Quỹ hỗ trợ sáng tạo kĩ thuật Việt Nam (Vifotec) đã có những bước chuẩn bị đầu tiên cho việc tham gia Intel ISEF bằng việc tổ chức hội thảo (ngày 10/8/2006, tại Hà Nội với 11 trường và khối THPT chuyên) về công tác
tổ chức cho học sinh nghiên cứu, sáng tạo KHKT, chuẩn bị cho việc tổ chức Hội thi KHKT cho học sinh trung học của Việt Nam, hướng tới việc tham gia
Intel ISEF (Intel ISEF là hội thi KHKT quốc tế hàng năm lớn nhất dành cho
học sinh trung học (từ lớp 9 đến lớp 12) Mỗi năm có khoảng hơn 1500 học sinh trung học từ khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham gia giới thiệu kết quả ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học, gồm: Khoa học động vật; Khoa học xã hội & hành vi; Hoá sinh; Sinh học Tế bào & Phân tử; Hoá học; Công nghệ thông tin; Khoa học Trái đất; Kỹ thuật: Vật liệu & Công nghệ sinh học; Kỹ thuật: Kỹ thuật điện & Cơ khí; Năng lượng & Vận tải;
Trang 19Phân tích Môi trường; Quản lý môi trường; Toán học; Y khoa và Khoa học sức khoẻ; Vi trùng học; Vật lý và Thiên văn học; Khoa học Thực vật)
Ngày 6/3/2008, Công ty Intel Việt Nam phối hợp với Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo giới thiệu về Intel ISEF cùng với sự tham dự của các Sở GD&ĐT Đà Nẵng, Quảng Trị, Lâm Đồng Tháng 9/2008,
Sở GD&ĐT Lâm Đồng đã hoàn thành việc đăng kí Hội thi thành viên cho Hội thi của Lâm Đồng với Intel ISEF Được sự hỗ trợ của Công ty Intel Việt Nam, tháng 9/2008, Sở GD&ĐT Lâm Đồng là đơn vị đầu tiên của Việt Nam tổ chức Hội thi KHKT với 28 đề tài dự thi của học sinh THPT Lâm Đồng Hai
đề tài (01 tập thể và 01 cá nhân) đoạt giải trong Hội thi của Lâm Đồng đã đại diện cho học sinh Việt Nam tham dự Intel ISEF 2009 tại Nevada, Mĩ Đây là lần đầu tiên học sinh Việt Nam tham dự Intel ISEF Tháng 2/2010, Hội thi KHKT được tổ chức tại thành phố Đà Lạt với 37 đề tài dự thi của 71 học sinh đến từ Lâm Đồng, Huế, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh Ba đề tài xuất sắc nhất của Hội thi (02 đề tài của học sinh Lâm Đồng, 01 đề tài của học sinh Đà Nẵng) đã được chọn đại diện cho học sinh Việt Nam tham gia Intel ISEF
2010 tại San Jose, Hoa Kì Tháng 10/2010, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT phối hợp với Vifotec tổ chức phát động phong trào nghiên cứu khoa học (NCKH) cho học sinh THPT và tập huấn cho 15 trường THPT chuyên trên cả nước Tháng 01/2011, Hội thi KHKT dành cho học sinh trung học được tổ chức tại thành phố Huế với sự tham gia của các Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế và Quảng Trị Tháng 3/2011, Sở GD&ĐT TP Hồ Chí Minh phối hợp với Công ty Intel Việt Nam tổ chức Hội thi KHKT cho học sinh THPT của Tp Hồ Chí Minh Hai đề tài (01 của Thừa Thiên - Huế và 01 của TP Hồ Chí Minh) đã được lựa chọn đại diện học sinh Việt Nam dự thi Intel ISEF 2011 tại Los Angeles, Hoa Kì Tháng 3 năm 2012, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT đứng ra tổ chức Cuộc thi KHKT dành cho học sinh trung học toàn quốc tại 2 khu vực: Thừa Thiên-Huế (dành cho khu vực miền Trung-Tây Nguyên và Hà Nội (dành cho học sinh Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh) Tại cuộc thi này, đề tài: “Xử lý nước mặn thành nước
Trang 20ngọt bằng kỹ thuật chân không và năng lượng mặt trời phục vụ cho sinh hoạt” thuộc lĩnh vực Điện và Cơ khí của nhóm tác giả Trần Bách Trung (nhóm trưởng), Vũ Anh Vinh, Bùi Thị Quỳnh Trang, Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam thực hiện đã đoạt giải Nhất và đã được Bộ GD&ĐT cử đi tham
dự Hội thi quốc tế Intel ISEF tổ chức tại Pittsburgh, Hoa Kì từ ngày 12 đến 18/5/2012 với 1.549 thí sinh đến từ 68 quốc gia trên thế giới tham gia dự thi ở
17 lĩnh vực khoa học, kĩ thuật Tại Lễ trao giải chính thức của Intel ISEF, đoàn Việt Nam đã được trao giải Nhất trong lĩnh vực Điện và cơ khí
Từ năm học 2011-2012, việc tổ chức Cuộc thi KHKT toàn quốc dành cho học sinh trung học trở thành một nhiệm vụ năm học trong Công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH ngày 12/8/2011 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn nhiệm vụ năm học của GDTrH 2011-2012 Tiếp sau đó, Bộ GD&ĐT có Công văn số 368/BGDĐT-GDTrH ngày 01/2/2012 về việc hướng dẫn tổ chức ViSEF năm học 2011-2012
Với sự phối hợp của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Vifotec, ViSEF 2012 (sử dụng Thể lệ Hội thi quốc tế - Intel ISEF) đã được tổ chức tại 2 địa điểm là thành phố Huế và Hà Nội ViSEF 2012 tại thành phố Huế được tổ chức từ ngày 02 đến 04/3/2012 dành cho các Sở GD&ĐT Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng và Lâm Đồng Hội thi tại Huế đã có 19 đề tài dự thi (12 tập thể, 7 các nhân) của 39 học sinh thuộc 5 lĩnh vực: Hóa - sinh (6); Khoa học máy tính (3); Khoa học môi trường (3); Kỹ thuật điện và cơ khí (4); Khoa học xã hội và hành vi (3) Trong đó, Thừa Thiên Huế có 6 đề tài, Lâm Đồng có 6 đề tài, Quảng Trị có 5 đề tài và Đà Nẵng có 2 đề tài Hội thi tại Hà Nội, được tổ chức từ 16 đến 18/3/2012 với sự tham gia của sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với 26 đề tài (21 tập thể, 5 cá nhân) của 66 học sinh ở các lĩnh vực: Vật lý và thiên văn học (5),
Kỹ thuật điện và cơ khí (4), Hóa - Sinh (7), Khoa học môi trường (7), Khoa học xã hội và hành vi (3) Trong đó, Hà Nội có 20 đề tài, Tp HCM có 06 đề tài
Trang 21Bắt đầu từ năm 2013, thi KHKT trở thành Cuộc thi KHKT cấp quốc gia dành cho học sinh trung học được Bộ GD&ĐT tổ chức hằng năm Ngày 02/11/2012, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành quy chế thi nghiên cứu KHKT cấp quốc gia học sinh THCS và THPT kèm theo Thông tư số 38/2012/TT- BGDĐT
Cuộc thi KHKT dành cho học sinh trung học năm học 2012-2013 có 34 đơn vị tham gia với 141 dự án và gần 400 học sinh Cuộc thi thu hút được sự quan tâm, tham gia hưởng ứng của nhiều trường đại học, tổ chức xã hội, các nhà khoa học và cha mẹ học sinh Số lượng các đơn vị tham gia, chất lượng
dự án tham dự cuộc thi cấp quốc gia năm học 2012-2013, kết quả tham dự cuộc thi Intel ISEF 2013 cũng như sự hưởng ứng nhiệt tình của các sở GD&ĐT, các trường ĐH, CĐ, các tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học, cha mẹ học sinh và đặc biệt là học sinh trung học đã cho thấy hiệu quả cũng như phương hướng đúng đắn mà Bộ GD&ĐT trong công tác triển khai hoạt động nghiên cứu KHKT cho học sinh trường trung học Trong năm 2013, Bộ GD&ĐT đã có chế độ khuyến khích thích đáng, kịp thời cho học sinh có thành tích nghiên cứu KHKT: học sinh tham dự kì thi Intel ISEF, học sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba toàn cuộc thi trở lên được xét tuyển thẳng vào các trường đại học theo nguyện vọng; khuyến khích các sở giáo dục và đào tạo tuyển thẳng vào THPT những học sinh THCS đạt giải cuộc thi KHKT cấp quốc gia Hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh trung học trong thời gian qua đã được các trường ĐH, CĐ, viện nghiên cứu tích cực hưởng ứng, tham gia, hỗ trợ, cụ thể:
- Tạo điều kiện về trang thiết bị thí nghiệm, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu cho các dự án nghiên cứu;
- Các nhà khoa học từ các cơ sở giáo dục ĐH, viện nghiên cứu tham gia biên soạn tài liệu, tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên cho các sở GD&ĐT về công tác nghiên cứu KHKT; tham gia ban giám khảo cuộc thi do Bộ GD&ĐT
tổ chức;
Trang 22- Hỗ trợ xây dựng, quản lý trang web của cuộc thi;
- Một số trường đại học hỗ trợ tổ chức cuộc thi cấp quốc gia, trao giải thưởng cho học sinh tham dự, học sinh đạt giải và chủ động đề xuất ưu tiên tuyển thẳng học sinh đạt giải tại cuộc thi như: trường ĐH Bách khoa Hà Nội, trường ĐHSP Hà Nội, trường ĐH FPT, trường ĐHSP Hà Nội 2, ĐH Giáo dục, ĐH Anh Quốc
1.1.3 Nhận định về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
Nghiên cứu khoa học là cơ hội để học sinh thực hành kiến thức và phương pháp hoa học trong độ tuổi và cấp học phổ thông, đồng thời thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông, đào tạo những học sinh có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, biết giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn của cuộc sống Hoạt động NCKH của học sinh ở các nước có nền giáo dục phát triển đều được quan tâm chú ý, do đó công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh cũng được nghiên cứu và áp dụng phổ biến trong thực tiễn
Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học là một hoạt động quá mới mẻ đối với học sinh các trường phổ thông, vì vậy còn nhiều lúng túng trong khâu tổ chức
và triển khai thực hiện Còn thiếu đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm và phương pháp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học Một số bộ phận giáo viên vẫn còn ngại khó và sợ thêm việc vì vậy thiếu sự nhiệt tình
Nhiều địa phương không có trường đại học nên thiếu đội ngũ các nhà khoa học, điều kiện để học sinh tìm tòi nghiên cứu như phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu nên đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và chất lượng các
đề tài Khả năng trình bày bằng Tiếng Anh của học sinh còn quá hạn chế vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ biến kết quả thành tựu của nghiên cứu
Hoạt động NCKH của học sinh ở Việt Nam là vấn đề rất mới Do nhu cầu của giáo dục đào tạo và xu thế chung của thế giới mà phong trào này đang được xây dựng và phát triển ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Tuy
Trang 23nhiên công tác quản lý hoạt động này còn nhiều bất cập, chủ yếu dựa vào sự chủ động của những giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh NCKH, các hoạt động NCKH vẫn theo phong trào, tính đồng đều, thường xuyên và tác động tới đại bộ phận giáo viên và học sinh chưa được các cấp quản lý coi trọng
1.2 Các khái niệm cơ bản
Theo Max Weber (1864 – 1920) với thuyết quản lý bàn giấy thì đưa ra một phác đồ chi tiết về việc một quản lý để tổ chức vận hành như thế nào thông qua bẩy đặc trưng: “(i) Một hệ thống chính thức các quy tắc; (ii) Khách quan lạnh lùng; (iii) Phân công lao động; (iv) Cấu trúc thứ bậc; (v) Cấu trúc
quyền hạn chi tiết; (vi) Cam kết sự nghiệp suốt đời; (vii) Tính duy lí [25]
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức” [26]
Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin thì “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay hệ thống khác nhau của xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho hoạt động và phát triển
tối ưu theo mục đích đặt ra”[10]
Trang 24Tóm lại: Quản lý là tác động của chủ thể quản lý thông qua các công
cụ quản lý, các nguồn lực tạo lập và duy trì môi trường phù hợp nhất để đối tượng quản lý hoàn thành tốt nhiệm vụ làm cho tổ chức tồn tại phát triển và đạt được mục đích của mình
Theo cách tiếp cận chức năng thì hoạt động quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản là: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
1.2.2 Khoa học
Thuật ngữ khoa học là một khái niệm phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng Trong lịch sử phát triển của khoa học đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học
Khoa học theo nghĩa nguyên thủy của nó là một từ chỉ kiến thức hơn là một từ chỉ việc theo đuổi kiến thức Tuy nhiên, không có sự phân định rõ ràng giữa kiến thức về những điều thực tế đã diễn ra trong mỗi cộng đồng và các kiểu kiến thức chung khác như thần thoại hoặc truyền thuyết Khoa học hiện đại đánh dấu một bước phát triển vượt bật khác biệt rất xa trong cách tiếp cận của nó so với thời kỳ trước đó Trong giai đoạn này những thành công từ những kết quả mà nó mang lại đã làm cho định nghĩa khoa học chặt chẽ hơn
Khoa học bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giả thuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thể ứng dụng Theo Lưu Xuân Mới: “Khoa học là hệ thống tri thức (về thuộc tính, cấu trúc, mối liên hệ bản chất, quy luật) của sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà những tri thức trong hệ thống này có được dựa trên nghiên cứu khoa học Khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức
về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh làm biến đổi thể giới đó phục vụ cho lợi ích của con người” [27] Theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2013) tại khoản 1, điều 3, chương I thì: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên,
xã hội và tư duy”[34]
Trang 25Tổng hợp và khái quát lại có thể đưa ra định nghĩa ngắn gọn về khoa
học như sau: “Khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa”
Hệ thống tri thức bao gồm hai loại là tri thức kinh nghiệm và tri thức
khoa học:
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy một cách rời rạc,
có thể là ngẫu nhiên qua những hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và giữa các sự
vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau
- Tri thức khoa học: là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên
cứu khoa học qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm các sự kiện, hoạt động xảy ra trong hoạt động xã hội và trong tự nhiên
1.2.3 Nghiên cứu khoa học
NCKH là một quá trình nhận thức chân lí khoa học, là một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc chưa biết đầy đủ) tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức thức mới có giá trị về nhận thức hoặc phương pháp
Theo tác giả Quách Tuấn Kiên “Nghiên cứu khoa học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch theo phương pháp khoa học nhằm xây dựng tri thức khoa học mới (về thuộc tính, cấu trúc, hành vi, quy luật .) của sự vật hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy, trong đó bao gồm cả phương pháp mới và phương tiện mới phục vụ cho cuộc sống con người” [8]
Theo tác giả Vũ Cao Đàm “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ
cho mục tiêu hoạt động của con người”[14] Về mặt thao tác có thể định
nghĩa, NCKH là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá
Trang 26Tóm lại: NCKH là hoạt động có mục tiêu và kế hoạch xác định, được
tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra tri thức, phương pháp, phương tiện mới phục vụ cho cuộc sống của con người
1.2.4 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Là điều phối các hoạt động, lựa chọn nhân sự, tập hợp con người, vận động đội ngũ, giải quyết trục trặc, huy động nguồn lực, tạo ra môi trường hỗ trợ tích cực cho hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.5 Khái niệm Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
Quản lý hoạt động NCKH của học sinh là tác động của chủ thể quản lý đồng thời lên hai đối tượng là giáo viên hướng dẫn và học sinh thực hiện NCKH thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá làm cho hoạt động NCKH của học sinh đạt hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường
1.3 Nghiên cứu khoa học và NCKH của học sinh
1.3.1 Nghiên cứu khoa học
1.3.1.1 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
- Tính mới: NCKH là quá trình khám phá thế giới nên tính mới là thuộc tính quan trọng số một của NCKH Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện
- Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện để đảm bảo kết quả đó có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần mà kết quả thu được hoàn toàn giống nhau
- Tính thông tin: Sản phẩm NCKH luôn mang đặc trưng thông tin, đó là thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho quy trình đó
- Tính khách quan: Nhận định khoa học không thể vội vã theo tình cảm
mà phải được xác nhận bằng kiểm chứng theo các phương pháp khoa học
Trang 27- Tính rủi ro: quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại, đó là tính rủi ro của nghiên cứu Tuy nhiên
kể cả khi thất bại thì đó cũng được coi là một kết quả nghiên cứu, nó mang kết luận rằng giả thuyết nghiên cứu không phù hợp, nội dung nghiên cứu không hiệu quả
- Tính kế thừa: Mỗi nghiên cứu đều không thể bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Ngày nay mỗi nghiên cứu đều phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau có khi là khác nhau rất
xa
- Tính cá nhân: Vai trò cá nhân luôn xuất hiện trong các NCKH thể hiện ở tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân
1.3.1.2 Phân loại nghiên cứu khoa học
- Theo chức năng nghiên cứu: gồm có nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu biện pháp, nghiên cứu dự báo
- Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai
- Phân loại theo phương thức thu thập thông tin: nghiên cứu thư viện, nghiên cứu điền dã, nghiên cứu thực nghiệm
1.3.1.3 Các mức độ của sáng tạo khoa học
- Sáng tạo biểu hiện (expressive creativity): Dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi tính độc đáo hay kĩ năng quan trọng nào, ví dụ như trẻ vẽ, nặn, hát vv , đặc trưng là tính bột phát, hứng khởi và sự tự do khoáng đạt
- Sáng chế (productive creativity): Đòi hỏi các kĩ năng nhất định (xử lý thông tin, kĩ thuật vv ) thể hiện rõ ràng, chính xác ý kiến, ý đồ của cá nhân Tính tự do nhường bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi
- Sáng kiến (phát hiện): Phát hiện hay tìm ra dựa trên việc tìm thấy các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây Đây là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại để đi đến các quan hệ mới (xuất hiện của sáng kiến)
Trang 28- Đổi mới (cải biến, cải cách): Thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật và từ đó nảy sinh các ý tưởng cải tạo, cải cách
có ý nghĩa văn hóa xã hội
- Phát kiến: (cao nhất): Ý tưởng làm nảy sinh ngành, nghề, trường phái mới, vượt qua cả trí tuệ đương thời Ví dụ: Freud, Picassot, Einstein vv
1.3.1.4 Trình tự lôgic của NCKH
Nghiên cứu khoa học tùy thuộc là NCKH tự nhiên, khoa học xã hội hoặc khoa học công nghệ mà có trình tự lôgic khác nhau nhưng về cơ bản thường gồm các bước sau:
- Lựa chọn chủ đề
- Xác định mục tiêu
- Đặt câu hỏi
- Đưa luận điểm, tức giả thuyết nghiên cứu
- Nêu các luận cứ để chứng minh giả thuyết
- Lựa chọn các phương pháp chứng minh giả thuyết
1.3.1.5 Phương pháp nghiên cứu
NCKH là quá trình thu thập và xử lí thông tin Không một nghiên cứu nào không cần thông tin Do đó cần có các phương pháp thu thập thông tin và các phương pháp xử lí thông tin
Các phương pháp thu thập thông tin thường gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp khảo sát thực địa
Trang 29- Xử lí toán học đối với các thông tin định lượng Đây là việc sử dụng phương pháp thống kê toán học để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp
số liệu thu thập được
- Xử lí lôgic đối với các thông tin định tính Đây là việc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ lôgic của các sự kiện
1.3.1.7 Đánh giá nghiên cứu khoa học
Đánh giá NCKH: bao gồm đánh giá giá trị, hiệu quả của nghiên cứu; đánh giá năng lực của cá nhân hoặc nhóm nhiên cứu; đánh giá hướng phát triển của nghiên cứu so với tiêu chuẩn quy định hoặc so với mục tiêu đề ra ban đầu
Phương pháp đánh giá:
- Đánh giá qua thống kê số lần trích dẫn: là phương pháp đánh giá dựa trên số lần tác giả công trình được đồng nghiệp trích dẫn bất kể là trích dẫn để phê phán hay trích dẫn để vận dụng
- Đánh giá bằng phương pháp chuyên gia: dựa trên ý kiến nhận xét của các cá nhân là chuyên gia trong ngành thông qua phản biện công khai, phản biện kín hoặc kết hợp cả hai để đánh giá NCKH
- Phương pháp hội đồng: là phương pháp đánh giá với sự tham gia của đồng thời một nhóm chuyên gia thảo luận, phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu
Chủ thể đánh giá: Ngoài các nhóm phương pháp đánh giá như trên, tùy mục tiêu đánh giá mà bản thân người nghiên cứu, cơ quan chủ trì đề tài, cơ quan quản lý cấp trên và người sử dụng cũng tham gia đánh giá NCKH
Đánh giá kết quả nghiên cứu: Đánh giá kết quả khoa học là lượng định giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu, hiện nay chưa có tiêu chí chung để đánh giá một kết quả nghiên cứu khoa học Tuy nhiên với những nghiên cứu theo từng lĩnh vực, thời gian, hoàn cảnh cụ thể thì sẽ cần những tiêu chí phù hợp để đánh giá
Trang 30Đánh giá hiệu quả nghiên cứu: hiệu quả NCKH là lợi ích thu được sau khi áp dụng kết quả NCKH, do đó để đánh giá hiệu quả NCKH cần so sánh lợi ích thu được trước và sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu
1.3.2 Nghiên cứu khoa học của học sinh
1.3.2.1 Nghiên cứu khoa học của học sinh
NCKH của học sinh có những đặc điểm chung của hoạt động NCKH, tuy nhiên do đặc điểm về tâm lí lứa tuổi, kiến thức cơ sở, điều kiện phục cho nghiên cứu…do đó NCKH của học sinh có những đặc thù riêng NCKH của học sinh là các hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra theo các phương pháp khoa học do học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên để từ những
dữ kiện đã có đạt đến một kết quả nhận thức mới hoặc, phương pháp, sản phẩm có giá trị hơn đối với bản thân và cộng đồng
Đối với học sinh, NCKH được sử dụng như là một hoạt động giáo dục nhằm rèn luyện tư duy, tác phong làm việc khoa học của học sinh, gắn liền kiến thức trong nhà trường với thực tiễn đời sống thông qua hoạt động NCKH, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trung học
Nếu hoạt động NCKH của người lớn nhắm tới sản phẩm là kiến thức mới hay công nghệ, kĩ thuật mới thì hoạt động NCKH của học sinh lại có mục đích chính là phát triển năng lực và nhân cách con người Qua NCKH học sinh được rèn luyện cách nghĩ, cách làm việc khoa học Nói cách khác đối với học sinh, kết quả nghiên cứu khoa học chỉ là hệ quả chứ không phải là mục tiêu
1.3.2.2 Quy trình nghiên cứu khoa học của học sinh
Trong nghiên cứu khoa học việc nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hai loại dự án là dự án khoa học và dự án kĩ thuật Việc tiến hành nghiên cứu với hai loại dự án trên được tiến hành với những quy trình khác nhau
a) Quy trình thực hiện dự án khoa học (Science Fair Project)
Quy trình này gồm các giai đoạn sau:
Bước 1: Đặt câu hỏi (Ask Question)
Trang 31Hoạt động NCKH thực sự chỉ và luôn bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi về một điều gì đó người nghiên cứu quan sát được Việc đặt câu hỏi nghiên cứu phụ thuộc vào sự am hiểu của người nghiên cứu tới chủ đề quan tâm, vào tư duy phản biện, sự say mê nghiên cứu khoa học của người nghiên cứu Câu hỏi thường xuất hiện trong quá trình học tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tham khảo thông tin khoa học từ các nguồn khác nhau, quan sát các hiện tượng, quá trình xảy ra trong tự nhiên, xã hội hay ở các thí nghiệm hoặc khi phân tích, xử lí số liệu thu được từ các hiện tượng, quá trình này
Một số câu hỏi thường được đặt ra trước tiên để dẫn dắt tới câu hỏi nghiên cứu, ví dụ như: từ lý thuyết này có thể dẫn tới những hệ quả nào; có thể xem xét đối tượng từ những góc độ nào; từ lý thuyết này có thể ứng dụng trong thực tế như thế nào; vấn đề gì còn tồn tại trong cuộc sống chưa được giải quyết; những gì con người đang quan tâm giải quyết nhiều nhất; có cách nào khác tốt hơn không; có thể cải tiến sản phẩm này như thế nào; tương lai, điều gì sẽ xảy ra
Bước 2: Nghiên cứu tổng quan (Do Background Research)
Nội dung phần này cần tìm kiếm và xem xét những kiến thức cơ bản liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu, các công trình nghiên cứu và những kết quả
có liên quan đã công bố, thông qua việc tìm hiểu thông tin tại thư viện, trên Internet…Qua đó, sẽ tránh được những sai lầm và biết được hướng nghiên cứu có thực sự cần và khả thi không
Để làm được việc này, phương pháp được sử dụng chủ yếu là nghiên cứu tài liệu liên quan tới đề tài/dự án Đó là những thông tin khoa học về cơ
sở lý thuyết; các thành tựu lý thuyết đã đạt được; kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các ấn phẩm; các số liệu thống kê; chủ trương, chính sách liên quan .Trên cơ sở đó, hình thành danh mục tham khảo; đánh giá những thành tựu cũng như những tồn tại của các công trình có liên quan; xem xét mức độ ý nghĩa và khả thi của câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra
Bước 3: Xây dựng giả thuyết (Construct Hypothesis)
Trang 32Giả thuyết được xem như câu trả lời dự kiến cho câu hỏi nghiên cứu và thường được phát biểu bằng câu có mệnh đề “nếu .thì ” Đồng thời giả thuyết cũng cần được xây dựng dựa trên những cơ sở lý thuyết và căn cứ khoa học và phát biểu sao cho dễ dàng cho việc đánh giá và kiểm chứng
Một giả thuyết được kiếm chứng là đúng thì giả thuyết được thừa nhận
và trở thành một luận điểm khoa học bổ sung cho nhận thức của con người và được sử dụng trong các công trình nghiên cứu tiếp theo Một giả thuyết bị bác
bỏ cũng có thể được coi như một kết quả nghiên cứu vì nó đã khẳng định được rằng: trong khoa học, không có điều như giả thuyết đã nêu ra
Bước 4: Kiểm chứng giả thuyết bằng thực nghiệm (Test with an
Experiment)
Để kiểm chứng một giả thuyết là đúng hay sai, cần phải sử dụng thực nghiệm Một thực nghiệm sẽ được thiết kế và thực hiện để làm việc đó Điều quan trọng là thực nghiệm phải được tiến hành một cách đúng đắn nhất, nghĩa
là, cần đảm bảo thực nghiệm được tiến hành với sự thay đổi của một yếu tố trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên Cũng cần tiến hành thực nghiệm một vài lần hoặc theo những cách thức khác nhau để đảm bảo kết quả thu được là ổn định và chính xác nhất (không phải là ngẫu nhiên)
Trong một thực nghiệm kiểm chứng, thường có 3 yếu tố biến đổi (gọi
là biến) cần được xem xét trong tiến trình thực hiện Trong đó, biến do người nghiên cứu chủ động biến đổi được gọi là biến độc lập (independent variable), biến thay đổi do sự biến đổi của biến độc lập gây ra và được nhà khoa học đo đạc và ghi lại sự thay đổi đó gọi là biến phụ thuộc (dependent variable), biến cần giữ ở trạng thái ổn định trong quá trình thực nghiệm được gọi là biến kiểm soát (controlled variable)
Để đảm bảo thành công và cho kết quả chính xác, thực nghiệm cần được thiết kế trước theo một tiến trình và hướng đến việc kiểm chứng hay bác
bỏ giả thuyết, cần tiến hành đo đạc cẩn thận sự thay đổi của các biến và ghi chép đầy đủ để thuận lợi cho việc phân tích và kết luận
Trang 33Trong nhiều trường hợp, không thể kiểm chứng trực tiếp giả thuyết được mà phải suy ra các hệ quả từ giả thuyết bằng con đường suy luận diễn
dịch lôgic
Bước 5: Phân tích kết quả và kết luận (Analyze Results Draw
Conclusion)
Sau khi hoàn thảnh thí nghiệm, các dữ liệu thu được sẽ được phân tích
và tổng hợp để khẳng định tính đúng, sai của giả thuyết Giả thuyết có thể sai, khi đó, cần xây dựng giả thuyết mới và tiếp tục kiểm chứng giả thuyết mới bằng thực nghiệm Ngay cả khi giả thuyết đúng, người nghiên cứu có thể sử dụng cách khác để kiểm chứng lại nhằm tăng độ tin cậy của kết luận
Kết quả có thể được phân tích trên cả hai phương diện, định tính và định lượng Xử lý thông tin định lượng là việc sắp xếp các số liệu thu được để làm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu thế của sự vật với nhiều định dạng khác nhau như con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị Trong nhiều trường hợp, cần dựa trên các số liệu thu được để tính toán ra các đại lượng khác, suy
ra mối quan hệ khác nhằm hỗ trợ việc kiểm chứng giả thuyết Xử lý định tính
là dựa trên số liệu rời rạc, khái quát hóa và đưa ra những kết luận khái quát về mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện
Khi phân tích kết quả cũng cần xem xét tới các yếu tố sai số có thể có trong thí nghiệm như các sai số ngẫu nhiên, sai số kỹ thuật hay sai số hệ thống
Bước 6: Báo cáo kết quả (Report Results)
Để kết thúc dự án khoa học, kết quả nghiên cứu cần được trình bày, thảo luận, công bố hay tham gia dự thi
Bản báo cáo kết quả của nghiên cứu có thể trình bày theo cấu trúc như sau: Tên đề tài/dự án; tóm tắt đề tài/dự án nghiên cứu; mục lục; câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học; báo cáo tổng quan; danh mục các vật tư, thiết bị; trình tự thí nghiệm phân tích dữ liệu và thảo luận; kết luận; hướng phát triển của đề tài/dự án; lời cảm ơn; tài liệu tham khảo
Trang 34Bản báo cáo phải nêu bật được ý nghĩa, tính mới của đề tài/dự án cũng như thể hiện được phương pháp nghiên cứu mang tính khoa học, hợp lí, cách phân tích, xử lí số liệu là khoa học để từ đó khẳng định được kết luận rút ra là
khách quan, chính xác và tin cậy
b) Quy trình thực hiện dự án kĩ thuật (Science Fair Project)
Quy trình này gồm các giai đoạn sau:
Bước 1: Xác định vấn đề (Define the Problem)
Dự án kỹ thuật cũng luôn được bắt đầu bằng một câu hỏi về vấn đề mà người nghiên cứu quan sát được Ví dụ như: vấn đề ở đây là gì, điều gì là cần thiết, ai cần gì, tại sao cần phải giải quyết, có cách nào tốt hơn không, cải tiến
nó như thế nào Trên cơ sở đó, đề xuất việc nghiên cứu tìm ra một qui trình, biện pháp kĩ thuật tối ưu hay chế tạo, cải tiến một sản phẩm kỹ thuật nào đó
Bước 2: Nghiên cứu tổng quan (Do Background Research)
Việc nghiên cứu tổng quan sẽ thừa hưởng kinh nghiệm của người khác, tránh được các sai lầm khi nghiên cứu Có hai vấn đề chính cần tìm hiểu và nghiên cứu trong giai đoạn này là: ý kiến của người sử dụng (hay khách hàng)
và các ưu nhược điểm của các quy trình, biện pháp kĩ thuật hay thiết bị, sản phẩm đã có
Bước 3: Xác định yêu cầu (Specify Requirements)
Nội dung của giai đoạn này là đề xuất những yêu cầu, tiêu chí thiết kế cần phải đạt được Một trong những cách xây dựng đề xuất tiêu chí là dựa vào
sự phân tích các quy trình, biện pháp hay các sản phẩm đang có Yêu cầu, tiêu chí cần được xác định và phát biểu rõ ràng
Bước 4: Đề xuất các biện pháp (Create Alternative Solution)
Với yêu cầu và tiêu chí đã đặt ra, luôn luôn có nhiều biện pháp tốt để giải quyết Nếu chỉ tập trung vào một biện pháp, rất có thể đã bỏ qua các biện pháp tốt hơn Do vậy, trong giai đoạn này, người nghiên cứu tìm cách đề xuất
số lượng tối đa các biện pháp có thể, bám sát với yêu cầu, tiêu chí đã nêu
Bước 5: Lựa chọn biện pháp (Choose the Best Solution)
Trang 35Trên cơ sở các biện pháp đã đề xuất ở bước d), cần xem xét và đánh giá một cách toàn diện về mức độ phù hợp với yêu cầu, tiêu chí đã đặt ra cho sản phẩm ở bước c) Trên cơ sở đó, lựa chọn biện pháp tốt nhất và phù hợp nhất với yêu cầu đặt ra Việc lựa chọn biện pháp cũng cần căn cứ vào bối cảnh về điều kiện kinh tế, công nghệ, trang thiết bị và nhân lực thực hiện dự án kỹ thuật
Bước 6: Hoàn thiện biện pháp (Develop the Solution)
Mặc dù đã được chọn, biện pháp thực hiện cũng cần xem xét lại để cải tiến, hoàn thiện Đây là một việc quan trọng và cần được xem xét thường xuyên Ngay cả khi hoàn thiện và đưa tới khách hàng vẫn có thể nghĩ tới việc hoàn thiện nó trong những nghiên cứu tiếp theo Trong bước này, cần tự đặt
và trả lời các câu hỏi dạng như: ưu điểm lớn nhất của biện pháp là gì, hạn chế còn tồn tại của biện pháp là gì, có cách nào khắc phục hạn chế đó
Bước 7: Xây dựng mẫu (Buid a Prototype)
Mẫu sản phẩm được xem như là phiên bản “hoạt động” dựa trên biện pháp Thường thì nó được chế tạo bởi các vật liệu không giống với sản phẩm cuối cùng, và chưa cần quan tâm tới tính mỹ thuật của sản phẩm Mẫu này sẽ được xem xét, đánh giá, kiểm tra có đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí đã đặt ra cho sản phẩm hay chưa
Bước 8: Đánh giá và hoàn thiện thiết kế (Test and Redesign)
Quá trình hoàn thiện thiết kế liên quan tới các hoạt động có tính lặp lại hướng tới việc có một sản phẩm tốt nhất Một trong số đó là: Đánh giá biện pháp – tìm kiếm lỗi và thay đổi – đánh giá biện pháp mới – tìm kiếm lỗi mới
và thay đổi…, trước khi kết luận về bản thiết kế cuối cùng
1.3.2.3 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh
NCKH ở trường trung học là một hoạt động giáo dục
NCKH được sử dụng như là một hoạt động giáo dục nhằm rèn luyện tư duy, tác phong làm việc khoa học của học sinh, gắn liền kiến thức trong nhà
Trang 36trường với thực tiễn đời sống thông qua hoạt động NCKH, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trung học
Thông qua hoạt động NCKH học sinh phát triển năng lực và nhân cách con người, qua NCKH học sinh được rèn luyện cách nghĩ và phương pháp làm việc khoa học
NCKH góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, PPDH và phương
pháp đánh giá kết quả học tập
Trong NCKH học sinh được tự đề xuất vấn đề nghiên cứu, tự lập kế hoạch và triển khai kế hoạch nghiên cứu, tìm tòi, khám phá Học sinh có thể thực hiện dự án cá nhân hoặc nhóm học sinh; trong nhà trường hoặc ngoài nhà trường Trong quá trình nghiên cứu, học sinh được tiếp xúc trao đổi, thảo luận với thầy cô giáo, bạn bè và các nhà khoa học Đó là điều kiện thuận lợi
để học sinh không chỉ nâng cao, mở rộng kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng ứng xử, giao tiếp xã hội Qua đó học sinh tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng thông qua thực thi công việc qua tự học, tự tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu chuyên môn hay qua trao đổi, thảo luận với các chuyên gia, thầy cô giáo và bạn bè
NCKH còn là hoạt động giáo dục mà ở đó học sinh được cá thể hóa qua quá trình học tập phù hợp với sở trường, sở thích và điều kiện của bản thân từ
đó thúc đẩy động cơ học tập, khuyến khích học sinh tự giác học tập, nghiên
cứu
Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH và các hoạt động giáo dục khác
Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH và phương pháp dạy học theo dự án:
ở phương pháp dạy học theo dự án, học sinh là người xây dựng và thực hiện
dự án học tập Phương pháp dạy học theo dự án đòi hỏi tính chủ động sáng tạo của học sinh trong việc lập và thực hiện kế hoạch học tập NCKH là một
ví dụ điển hình của dạy học theo dự án Việc triển khai hoạt động NCKH góp phần triển khai sâu rộng và có chất lượng phương pháp dạy học theo dự án ở trường trung học
Trang 37Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH và phương pháp dạy học “bàn tay nặn bột”: Nguyên lí căn bản của phương pháp “bàn tay nặn bột” là dạy học cho học sinh dựa trên hoạt động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá thực tiễn Trong phương pháp này dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính học sinh khám phá thực tiễn, tiến hành thực hành thí nghiệm, thực hành quan sát để rút
ra kiến thức và hình thành kĩ năng theo yêu cầu (Learning by doing) Hiện nay phương pháp “bàn tay nặn bột” đang được tích cực triển khai ở trường tiểu học và trung học cơ sở Sự kết hợp việc triển khai phương pháp “bàn tay nặn bột” và hoạt động NCKH ở trường trung học hình thành mạch từ dạy học đến nghiên cứu khoa học ở trường phổ thông Học theo phương pháp “bàn tay nặn bột” học sinh được làm quen với việc đặt câu hỏi nghiên cứu, thực hành quan sát, tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm và ghi chép để kiểm chứng giả thuyết đặt ra Những kiến thức, kĩ năng khoa học này sẽ giúp học sinh thuận lợi hơn trong việc tham gia hoạt động NCKH ở trung học
Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH và cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học, cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học Mục tiêu của hai cuộc thi trên nhằm mục đích là sân chơi cho học sinh thể hiện sự sáng tạo, khéo léo trong việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học khác nhau cũng như kinh nghiệm của học sinh vào giải quyết những hiện tượng, vấn đề đặt ra; sự gắn kết giữa kiến thức được học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống Những tình huống giải quyết phong phú gắn liền với thực tế cuộc sống hàng ngày của học sinh.Việc triển khai cuộc thi này góp phần triển khai rộng khắp và tăng cường chất lượng các dự án NCKH của học sinh trung học; ngược lại hoạt động NCKH của học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn và dạy học theo chủ đề tích hợp trong giáo dục trung học
Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH với dạy học qua thực địa, dạy học qua di sản: Triển khai dạy học qua thực địa, dạy học qua di sản tạo điều kiện
Trang 38cho học sinh có cơ hội tìm hiểu, quan sát thực tiễn từ đó gợi mở ý tưởng nghiên cứu sát thực tiễn cuộc sống, học tập
Ngoài ra, hoạt động NCKH còn góp phần triển khai thực hiện chủ trương tăng cường thí nghiệm, thực hành; chủ trương dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh, đóng góp vào cơ sở thực tiễn, cơ sở lí luận cho việc triển khai đổi mới đồng bộ hình thức tổ chức dạy học, PPDH và kiểm tra đánh
giá kết quả giáo dục
NCKH và dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú
ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Trong NCKH học sinh được thực hành vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau để giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
Ngoài ra triển khai hoạt động NCKH còn góp phần xây dựng căn cứ lí luận và căn cứ thực tiễn cho việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa định hướng dạy học phát triển năng lực của học sinh sau năm 2015 của Bộ giáo
dục và đào tạo
NCKH và góp phần nâng cao năng lực của giáo viên trung học
Bên cạnh việc phát triển năng lực của học sinh, hoạt động NCKH còn tạo động lực, thúc đẩy giáo viên trung học nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, bồi dưỡng kiến thức để đáp ứng nhiệm vụ hướng dẫn học sinh NCKH từ đó góp phần nâng cao năng lực của giáo viên trung học và cả cán bộ quản lý giáo dục
Tham gia hướng dẫn học sinh NCKH giáo viên sẽ được nâng cao năng lực, kinh nghiệm NCKH của giáo viên, từ đó giúp nâng cao chất lượng các đề
Trang 39tài sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu sư phạm ứng dụng, sáng kiến cải tiến, hỗ trợ đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng tăng cường trao đổi, thảo luận về dự án nghiên cứu của học sinh những khó khăn vướng mắc cần
tháo gỡ, giải quyết
1.3.3 Một số khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của học sinh 1.3.3.1 Khó khăn xuất phát từ phía khách quan
Giáo viên các trường trung học ít được tiếp cận với các đề tài nghiên cứu khoa học nên chưa phát huy tốt vai trò người hướng dẫn;
Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, giáo viên hướng dẫn và học sinh tham gia đề tài;
Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, kinh phí phục vụ NCKH của các trường còn khó khăn;
Việc phối hợp giữa các trường phổ thông với các trường đại học, các viện nghiên cứu chưa thật chặt chẽ và chưa có cơ chế phối hợp phù hợp
1.3.3.2 Khó khăn xuất phát từ chủ quan học sinh
Các học sinh chưa được trang bị phương pháp luận nghiên cứu khoa học nên còn lúng túng khi triển khai đề tài, dự án;
Trong quá trình triển khai dự án NCKH học sinh vẫn phải thực hiện nhiệm vụ học tập để đảm bảo kiến thức và thời gian theo học cho các môn học quy định trong nhà trường, điều này hoàn toàn khác biệt so với NCKH của các nhà khoa học;
Học sinh chưa có vốn tiếng Anh chuyên ngành đủ sức tham khảo các tài liệu nước ngoài hoặc viết các báo cáo khoa học bằng tiếng Anh;
Học sinh trung học vẫn đang trong độ tuổi mà tâm sinh lí còn đang phát triển, các em thường không đủ bản lĩnh để lập luận bảo vệ ý kiến của mình hoặc tự tìm kiếm, mày mò, nghiên cứu để khẳng định một điều chưa được công nhận, điều này là trở ngại để một NCKH của học sinh trung học có thể
đi từ ý tưởng tới sản phẩm cuối cùng
Trang 401.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh DTNT với hoạt động NCKH
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc
Về tình cảm: học sinh dân tộc có tình cảm chân thực, mộc mạc, yêu ghét rạch ròi, song biểu hiện rất thầm kín, ít bộc lộ Các em rất gắn bó với gia đình, bản làng và người thân của mình Các em rất coi trọng tình cảm và thường giải quyết các vấn đề bằng tình cảm
Về lối sống: Các em sống hồn nhiên, giản dị, chất phác, thật thà, có quan hệ trung thực với mọi người và mong muốn có quan hệ chân thành, được tôn trọng trong mọi trường hợp Học sinh dân tộc có lòng tự trọng cao,
có trách nhiệm với công việc được giao, nhưng còn bảo thủ và tự ti, khó khăn khi thích nghi với hoàn cảnh mới, môi trường mới
Về đặc điểm tư duy: Đặc điểm nổi bật của học sinh dân tộc là khả năng
tư duy trực quan – hình ảnh Các em ưa thích lối tư duy với sự vật, hình ảnh
cụ thể gần gũi với đời sống của mình Tuy nhiên các em dễ thừa nhận điều người khác nói, ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến hoặc hậu quả của sự vật, hiện tượng Tính linh hoạt mềm dẻo trong tư duy, khả năng thay đổi biện pháp, thay đổi dự kiến cho phù hợp với hoàn cảnh còn chậm Năng lực phân tích, tổng hợp và khái quát hóa ở các em còn hạn chế, thiếu toàn diện; các em thường hay nhầm lẫn giữa thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật hiện tượng
Về khả năng ngôn ngữ: Học sinh dân tộc thiểu số được học tiếng mẹ đẻ
từ thuở lọt lòng Khi tới trường, bước ra khỏi cộng đồng làng, bản, các em được học và sống trong môi trường tiếng Việt Tuy nhiên, cũng phải thấy rõ rằng học sinh dân tộc học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai cho nên các em gặp nhiều khó khăn Các em thường hiểu và trả lời được những câu hỏi đơn giản, tường minh theo thói quen diễn đạt của ngôn ngữ mẹ đẻ Tuy nhiên cũng có một số trường hợp đặc biệt như với một số dân tộc thiểu số do cùng hệ ngôn ngữ hoặc do cư trú cùng khu vực nên học tiếng Việt không mấy khó khăn như