Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS để xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt độ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THANH HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN THIẾT, THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THANH HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN THIẾT, THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoài
HÀ NỘI - 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm và lòng chân thành của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn quý Thầy Cô, Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy chúng em lớp Cao học Quản lý giáo dục của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Các thầy cô đã dành nhiều công sức giảng dạy, tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới TS Trần Thị Hoài,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo Thành phố Tuyên Quang; Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ giáo viên, các bác phụ huynh và các em học sinh trường Tiểu học Phan Thiết Thành phố Tuyên quang, tỉnh Tuyên Quang đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình khảo nghiệm thực tế
Xin được gửi lời đến người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm động viên giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thanh Hương
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu ở trong nước 8
1.1.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Đạo đức 11
1.2.2 Giáo dục đạo đức 13
1.2.3 Quản lý 14
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 17
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học 20
1.4 Hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường 21
1.4.1 Đặc điểm học sinh tiểu học 21
1.4.2 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 24
1.4.3 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 25
1.4.4 Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 28
1.4.5 Ý nghĩa của hoạt động giáo dục đạo đức 29
1.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học 29
1.5.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức 29
1.5.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức 30
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức 30
Trang 6iv
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 31
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 31
1.6.1 Gia đình 31
1.6.2 Nhà trường 32
1.6.3 Xã hội 32
1.6.4 Giáo viên 33
1.6.5 Học sinh 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 36CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN THIẾT, THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG 36
2.1 Khái quát tình hình kinh tế-xã hội và giáo dục Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang 36
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội Thành phố Tuyên Quang 36
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục cu ̉ a Thành phố Tuyên Quang 36
2.2 Khái quát về Trường tiểu học Phan Thiết và Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang 37
2.2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 37
2.2.2 Học sinh: Tổng số học sinh chia ra 5 khối 32 lớp cụ thể 39
2.2.3 Hoạt động giáo dục tư tưởng 39
2.2.4 Cơ sở vật chất 40
2.2.5 Thuận lợi và khó khăn 41
2.3 Khảo sát vấn đề nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp khảo sát 41
2.3.2 Nội dung khảo sát 41
2.3.3 Đối tượng khảo sát 42
2.3.4 Tiến hành khảo sát 42
2.4 Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang 42
2.4.1 Thực trạng đạo đức của học sinh Trường tiểu học Phan Thiết 42
Trang 7v
2.4.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu
học Phan Thiết 46
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Phan Thiết 48
2.5.1 Thực trạng kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức 48
2.5.2 Thực trạng về tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 50
2.5.3 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức 55
2.5.4 Thực trạng về chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức 58
2.5.5 Những lý do làm hạn chế hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 59
2.5.6 Thực trạng về việc quản lý các hoạt động tự quản của các tập thể HS Tại trường Tiểu học Phan Thiết 59
2.5.7 Thực trạng đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường gia đình xã hội 60
2.5.8 Đánh giá chung về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường TH Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN THIẾT THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG 67
3.1 Nguyên tắc để xác định biện pháp 67
3.1.1 Đảm bảo tính khả thi 67
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 67
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 68
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang 68
3.2.1 Biện pháp 1: Quản lí hoạt động tổ chức, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động GDĐĐ cho cán bộ, GV, HS và phụ huynh trong bối cảnh hiện nay 68
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 72
Trang 8vi
3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức lựa chọn và bồi dưỡng năng lực thực hiện
đổi mới phương pháp GDĐĐ cho đội ngũ GV chủ nhiệm 74
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng công tác tự quản của học sinh trong các hoạt động tập thể và vui chơi giải trí 76
3.2.5 Biện pháp 5: Quản lý công tác thi đua khen thưởng cho các tập thể và chuẩn hóa công tác đánh giá đạo đức cho học sinh 78
3.2.6 Biện pháp 6: Xây dựng và phát triển môi trường sư phạm nhằm thực hiện tốt quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh 80
3.2.7 Biện pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục đạo đức học sinh 83
3.2.8 Biện pháp 8: Đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội 85
3.2.9 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất 89
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 89
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 89
3.3.3 Các biện pháp được khảo nghiệm 89
3.3.4 Nội dung khảo nghiệm 90
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ý thức thực hiện nội quy nhà trường của học sinh 43 Bảng 2.2: Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức 45 Bảng 2.3: Đánh giá của học sinh về mức độ thực hiện các hình thức giáo
dục đạo đức ở trường TH Phan Thiết 46 Bảng 2.4: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học
sinh của trường TH Phan Thiết 48 Bảng 2.5: Đánh giá chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho
học sinh của trường TH Phan Thiết 49 Bảng 2.6: Thực trạng triển khai các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh
của hiệu trưởng trường TH Phan Thiết 50 Bảng 2.7: Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh 52 Bảng 2.8: Nhận xét của giáo viên về mức độ tiến hành sơ kết, tổng kết,
công tác giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường (30 người) 53 Bảng 2.9: Nhận xét của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các
nguyên nhân đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh 54 Bảng 2.10: Phối hợp của phụ huynh với các lực lượng khi giáo dục đạo đức
cho học sinh 56 Bảng 2.11: Thực trạng triển khai các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh
của hiệu trưởng trường TH Phan Thiết 57 Bảng 2.12: Thực trạng về chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức 58 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý GDĐĐ học sinh ở trường TH Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang 90 Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý GDĐĐ
học sinh ở trường TH Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang 91
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tính cấp thiết của các biện pháp 92 Biểu đồ 3.2: Kết quả chung về tính khả thi của các biện pháp 93
Trang 11như: cả xã hội tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Toàn ngành Giáo dục & Đào tạo đã và
đang thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô
giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” bằng các hoạt động cụ thể đặc trưng
của ngành gắn với các cuộc vận động chung Phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” đã được triển khai rộng rãi và thực hiện trong
những năm gần đây đã được toàn ngành giáo dục hưởng ứng Từng tiêu chí thi đua
đã có tác động sâu sắc, toàn diện đến chất lượng giáo dục chung của mỗi nhà trường trong cả nước
Ở bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào trên thế giới cũng có chuẩn đạo đức riêng của mình Đạo đức với những chuẩn mực giá trị đúng đắn là một bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần và kinh tế của xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Do vậy, sự lệch chuẩn về đạo đức là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến khủng hoảng về kinh tế, chính trị trong xã hội
Trong Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
2005, tại Điều 2, có nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [25, tr.2] Đảng và Nhà nước ta coi trọng và khẳng định con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Đầu tư vào con người, cho con người để phát triển khoa học kỹ thuật tạo điều kiện phát triển kinh tế đất
Trang 122
nước là vô cùng quan trọng và là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân đồng thời có trách nhiệm lớn lao đào tạo con người phát triển toàn
diện vừa có đức vừa có tài Hoạt động giáo dục trong nhà trường không chỉ có “dạy
chữ” mà phải coi trọng việc “dạy người” Người được đào tạo ra không những phải
có tài năng mà cần có đạo đức Mối liên hệ giữa Tài và Đức không thể xem nhẹ cái nào Một người có Tài mà không có đạo đức, không hết lòng dùng tài năng của mình để phục vụ đất nước thì tài năng đó cũng chẳng để làm gì Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng; có đức mà không có
tài thì làm việc gì cũng khó” Một người không tôn trọng thầy cô, yêu quý ông bà
cha mẹ thì tài năng đó cũng chỉ phục vụ cho bản thân người đó Điều này là nỗi trăn trở của ngành giáo dục, phụ huynh gửi con vào trường nhằm để đào tạo cho con em
họ có tài năng và cả đạo đức Hai khái niệm này không tách rời nhau, một học sinh (HS) ngoan thì không đánh nhau, tôn trọng thầy cô, tuân theo nội quy nhà trường Vậy những HS chưa ngoan thì nhà trường cần có sự quản lý như thế nào để các em
dễ dàng tiếp thu và thực hiện những bài học đạo đức một cách nghiêm túc
Việc triển khai học tập trong toàn ngành Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính
trị ngày 14 tháng 5 năm 20011, về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ
tướng Chính phủ về việc “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” đã cho thấy việc quan tâm sâu sát của Đảng và Nhà nước về
giáo dục đạo đức (GDĐĐ), nhất là GDĐĐ đối với thế hệ trẻ
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đã
khẳng định tầm vóc của giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới “Giáo
dục Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam” - Trích Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa X, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng) [7, tr.77]
Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong báo cáo Chính
trị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI có nêu: “Chú trọng giáo
Trang 133
dục toàn diện cho HS về năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân; quan tâm định hướng nghề nghiệp, giáo dục lí tưởng, kĩ năng sống, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [8, tr.115]
GDĐĐ cho HS ở Tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng
và hình thành cho trẻ em về những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội về hành vi ứng xử thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, với những người xung quanh, cao hơn nữa là đối với Tổ quốc Chuẩn mực đạo đức trong xã hội xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan trọng cơ bản của giáo dục mà còn là mục đích của toàn
bộ công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ Trong giáo dục không chỉ trang bị những kiến thức cho HS mà còn phải trang bị cả mặt đạo đức cho các em Chính vì vậy, công tác GDĐĐ phải đặt việc chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho HS lên trên hết và coi đó là căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách trong tương lai Khi nói đến nhân cách của
việc học trong chế độ mới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ phải học;
học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”
Tuy nhiên, trong thực tế, đất nước đang trong thời kì hội nhập, làn sóng văn hóa thế giới tràn vào khó chọn lọc làm ảnh hưởng đến đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có nêu: "Chất lượng giáo dục và
đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội" [7, tr.167-168]
Hiện nay, một bộ phận trong lứa tuổi HS có phần sa sút về đạo đức dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khi các em còn đang tuổi ngồi trên ghế nhà trường Nếu không có biện pháp giáo dục tốt sẽ dẫn đến có những hành vi tự phát thiếu lành mạnh, thiếu văn hóa, do không làm chủ được ý thức, không kiềm chế được bản năng, dễ sa ngã, lệch hướng
Trang 14Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chưa tốt này đó là công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trong các nhà trường Vì vậy, việc GDĐĐ cho HS trong nhà trường phải được coi trọng ngay từ những lớp học đầu tiên của bậc tiểu học
Xuất phát từ các yếu tố trên, với trách nhiệm của một cán bộ quản lí trong ngành giáo dục, tác giả luôn suy nghĩ, trăn trở tìm giải pháp làm thế nào để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS? Là hiệu trưởng, tác giả phải có trách nhiệm quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm giúp cho việc GDĐĐ cho HS được thực hiện một cách hiệu quả nhất, tạo sự tin cậy và hài lòng của phụ huynh khi gửi con em vào học
trưởng mình Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS
trường Tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang” làm
đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS để xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang góp phần giáo dục toàn diện nhân cách HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động GDĐĐ cho HS các trường Tiểu
học, công tác quản lý đối với hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường Tiểu học
3.2 Khảo sát thực trạng hoạt động GDĐĐ của HS trường tiểu học Phan
Thiết, Thành phố Tuyên Quang, công tác quản lý đối với hoạt động GDĐĐ cho HS
ở trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, đồng thời phân tích nguyên nhân của thực trạng
3.3 Trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân đề xuất một số biện pháp quản lý
hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường tiểu học Phan Thiết
Trang 155
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS Trường tiểu học Phan
Thiết, Thành phố Tuyên Quang
4.2 Khách thể: Hoạt động GDĐĐ cho HS trường tiểu học
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Không gian: trường Tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang,
Tỉnh Tuyên Quang
5.2 Thời gian: số liệu khảo sát từ năm 2012 đến 2016
5.3 Đối tượng khảo sát: Ban Giám hiệu, giáo viên, HS trường Tiểu học
Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường Tiểu học Phan Thiết hiện
nay như thế nào, có vấn đề gì cần phải cải tiến và bổ sung?
6.2 Cần có những biện pháp quản lý nào để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS?
7 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường Tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác GDĐĐ cho HS tại các nhà trường vẫn còn tồn
tại nhiều hạn chế Đề tài “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trường Tiểu học Phan
Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang” góp phần đề xuất nâng cao
công tác quản lý giáo dục đạo đức cho HS tiểu học có ý nghĩa lí luận và thực tiễn Các biện pháp đề xuất trong đề tài là phù hợp,có tính khả thi Khi thực hiện khảo sát đều nhận được sự ủng hộ cao Nếu thực hiện đồng bộ sẽ khắc phục được các tồn tại
và nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
8.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
- Quản lý hoạt động giáo dục cùng với các nội dung khác như: quản lý hoạt động dạy, quản lý hoạt động học, quản lý cơ sở vật chất, quản lý nhân sự là các thành tố của quản lý trường học Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tương
hỗ lẫn nhau để đạt được mục tiêu quản lý nhà trường
Trang 166
- Quản lý hoạt động GDĐĐ cùng với quản lý hoạt động giáo dục nâng cao kiến thức, thẩm mỹ, thể dục thể thao là một trong các thành tố của quản lý hoạt động giáo dục và thúc đẩy hoạt động giáo dục tiến bộ
- Bản thân, quản lý hoạt động GDĐĐ là một hệ thống hoàn chỉnh, gồm nhiều thành tố như mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, biện pháp quản lý và kiểm tra, đánh giá Chủ thể quản lý hoạt động giáo dục đạo đức gồm nhiều lực lượng, trong
đó có người Hiệu trưởng trường tiểu học
- Các biện pháp quản lý trong từng nội dung quản lý cũng được xây dựng theo một cấu trúc chỉnh thể từ mục đích, nội dung, điều kiện thực hiện, kiểm tra đánh giá
8.1.2 Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ kết quả khảo sát, đánh giá thực tiễn công tác quản lý hoạt động GDĐĐ tại trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ của Hiệu trưởng phù hợp, khả thi đối với trường tiểu học
8.2 Phương pháp nghiên cứu
8.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá những nguồn tài liệu
liên quan tới đề tài nghiên cứu (tài liệu, công trình nghiên cứu, sách báo, chính
sách của Đảng và Nhà nước…) nhằm xác định các khái niệm công cụ và xây dựng
khung lý thuyết, cơ sở lý luận của đề tài
8.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Nhằm thu thập ý kiến mô tả thực trạng nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ; các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ của Hiệu trưởng Tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang
Tác giả tiến hành khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ những nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế; yếu tố ảnh hưởng tới công tác này; khảo nghiệm mức cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
Sử dụng lý thuyết thống kê toán học để mô tả dữ liệu (%, điểm trung bình,
độ lệch chuẩn) và phân tích, so sánh giữa 2 giá trị trung bình (kiểm chứng t-test) qua phần mềm SPSS 16.0
Trang 177
8.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu thực trạng GDĐĐ tại trường tiểu học Phan Thiết dựa trên đối tượng HS; điều kiện nhà trường, điều kiện đội ngũ và chất lượng giáo dục hàng năm của nhà trường
Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động GDĐĐ những báo cáo tổng kết hàng năm của nhà trường về nội dung GDĐĐ nhằm minh họa cho các
số liệu điều tra
8.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thu thập thông tin về hoạt động GDĐĐ; khảo sát số liệu dựa trên cơ sở quá trình trao đổi, hỏi – đáp bằng lời nói với đối tượng CBQL, GV trường tiểu học Phan Thiết với mục đích tìm hiểu về hoạt động GDĐĐ ở trường Tiểu học Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
9 Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: giúp cho nhà quản lý có cách nhìn nhận, thực hiện và đánh giá công tác quản lý GDĐĐ ở nhà trường phổ thông trên cơ sở khoa học giáo dục
Về mặt thực tiễn: đóng góp tích cực vào mục tiêu giáo dục hài hoà toàn diện
ở trường tiểu học Phan Thiết, đặc biệt là vấn đề GDĐĐ
10 Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày gồm: Phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục;
Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh
trường Tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang
Trang 188
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở trong nước
Đất nước Việt Nam có truyền thống dân tộc với nhiều giá trị tốt đẹp Câu ca
dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đã đi vào trái tim của mỗi người Việt Nam Truyền thống “Lá lành đùm lá rách”, “Tiên
học lễ, hậu học văn” đều là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Trước Cách mạng tháng 8/1945, ở nước ta có rất nhiều cuốn sách dạy về các
giá trị luân lý, dạy làm người như: “Phong hoá điều hành”, “Huấn nữ ca”(dịch),
“Gia huấn ca” (dịch) của Trương Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu
Trong đó, đặc biệt nhất phải kể đến cuốn: “Đạo đức và luân lý”(Bài nói chuyện sau
in thành sách năm 1927) của Phan Châu Trinh đã đề cao sức mạnh đạo đức, nhân
cách, bản lĩnh con người Theo ông, đạo đức là cái gốc của mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Như vậy, dù là quan điểm tiếp cận khác nhau song các học giả, các nhà nghiên cứu đã đều rất coi trọng việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ mầm non, tương lai của đất nước
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh niên để phục vụ sự nghiệp cách mạng Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Bác đã viết những lời thiết tha trong Thư gửi các học sinh nhân ngày
khai trường (9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc
Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Trong
Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán 1946, Người đã
dành những lời đẹp nhất để ca ngợi tuổi trẻ và vai trò của lớp trẻ: “Một năm khởi
đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”
Trong Thư gửi các bạn thanh niên năm 1947, Người khẳng định: “Thanh niên là
Trang 19tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong Đại hội giáo viên giỏi toàn quốc năm 1958: “Vì sự
nghiệp mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
“Trồng người” xét về khía cạnh nào đó cũng giống như trồng cây Nếu trồng cây
phải chăm lo, vun xới mầm cây nhỏ bé, yếu ớt để nó phát triển thành cái cây khỏe mạnh, có ích cho đời thì “trồng người” cũng phải bắt đầu bằng việc dạy dỗ, uốn
nắn, giáo dục từ khi còn thơ ấu Người viết: “Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để
cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân” Chủ tịch Hồ Chí Minh coi
chiến lược “trồng người”, coi việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là một
trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là quốc sách phát triển đất nước Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là chân lý mà còn là con đường thực hiện chân lý Tính hành động, tính thực tiễn là một đặc điểm trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh nên chiến lược bồi dưỡng thế hệ trẻ cũng được trù tính kỹ càng và cụ thể Theo Bác,
để thực hiện tốt sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ cần xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này như các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Long, tác giả Vũ Trọng Dung, tác
phẩm “Giáo dục đạo đức trong nhà trường” (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988); “Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên” (Phạm Minh Hạc, 1997)
Cuốn sách: “Rèn luyện kĩ năng sư phạm” của tác giả Hà Nhật Thăng đã
nghiên cứu sự phát triển trí lực - tâm lực - thể lực của mỗi con người, trong đó coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con người Đồng thời, tác giả đã cung cấp những
kỹ năng sư phạm cần thiết cho sinh viên sư phạm và đội ngũ GV để nâng cao chất lượng GDĐĐ trong nhà trường
Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho HS tiểu học, đồng thời các tác giả đã viết cuốn
sách “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho HS Tiểu học” gồm hai phần Đây
là tài liệu bổ ích cho đội ngũ GV Tiểu học trong việc GDĐĐ lối sống cho HS hiện nay và đã được rất nhiều trường Tiểu học sử dụng
Trang 20Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh lại đề cập đến quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua Hoạt động Đội thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh ở trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Thu Lan thì đề cập đến các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS Tiểu học tại thành phố Bắc Ninh và đề xuất 6 giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS Tiểu học
Tác giả Trần Đăng Sinh chủ biên Giáo trình đạo đức học (2008) - Nxb Đại
học Sư phạm Hà Nội đề xuất các phương thức GDĐĐ cho HS
Tác giả Phạm Khắc Chương – Nguyễn Thị Yến Phương (1992), Đạo đức
học Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội đề xuất một số phương pháp GDĐĐ cho HS
trong trường phổ thông
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đưa ra những vấn đề lý luận, hướng nghiên cứu và những định hướng rất cơ bản, quan trọng cho công tác GDĐĐ cho HS Các công trình này tuy tiếp cận vấn đề GDĐĐ ở những góc độ khác nhau, song nó đã góp phần xây dựng lý luận về GDĐĐ
Rõ ràng, việc hình thành và phát triển nhân cách đạo đức tốt đẹp cho con người trong xã hội đã được các nhà khoa học xác định là một vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, đồng thời là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự sống còn và phát triển của nhân loại
Trong khi đó, đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường Tiểu học Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang Vì vậy, khi lựa chọn đề tài Quản lí GDĐĐ tại trường Tiểu học Phan Thiết để nghiên cứu, tác giả mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS Tiểu học
1.1.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN); nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo Ông coi trọng vai trò
Trang 2111
của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục được ghi trong Tứ thư và
Ngũ Kinh Nhưng cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ,
Nhạc, Xuân, Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí
- Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ
bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, có chủ trương nổi
tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ trị”, lấy “Lễ” để xử ở đời Muốn có được nhân
cách tốt mọi người phải biết tu thân làm gốc Nhà triết học phương Tây Socrates (470 - 399 - TCN) đã cho rằng hành vi đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau,
hỗ trợ nhau Có được đạo đức tốt là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Chủ trương đạo đức của Socrates là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống phải tri thức và chỉ cần có tri thức về nhận thức là sống nhân đức Rabơle (1494 – 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng Ông cho rằng giáo
dục phải bao hàm nội dung “Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và đã có sáng kiến
tổ chức các hình thức giáo dục như việc học tập ở lớp và ở nhà
Quá trình dạy học – giáo dục theo tác giả Komensky (“Thiên đường của trái tim” trích từ “ Khoa sư phạm vĩ đại”) được thể hiện: Đào tạo con người toàn diện (kiến thức kết hợp đạo đức và đức tin)
Dù thời đại nào, dù ở Việt Nam hay thế giới, mục tiêu giáo dục có thay đổi như thế nào, và dù trong xã hội nào, GDDD vẫn luôn là một mục tiêu vô cùng quan
trọng và được các nền GD trên thế giới coi trọng
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức
Hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng được gọi Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đó tạo ra một hệ thống rất phong phú và sâu sắc
Trang 2212
Theo quan điểm Mác- Lê Nin thì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống cộng đồng xã hội Đạo đức phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Mỗi phương thức sản xuất lại làm nảy sinh một dạng đạo đức tương ứng và do vậy đạo đức có tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
Tác giả Trần Hậu Kiểm thì cho rằng: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [17, tr.28]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương thì: “Đạo đức
là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa
cá nhân với xã hội” [6, tr.51]
Về bản chất đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội
Tuy có rất nhiều nhiều định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau, nhưng tựu chung có hai quan điểm lớn về đạo đức:
+ Quan điểm đạo đức truyền thống: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng người, giữa con người với xã hội
+ Quan điểm hiện đại: Đây là quan điểm các nhà nghiên cứu chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước do tác giả Phạm Minh Hạc đứng đầu Theo các tác giả thì đạo đức phải thể hiện ở 5 mối quan hệ:
- Con người với chính bản thân
- Con người với con người
Trang 2313
- Con người với công việc (học tập, lao động )
- Con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
- Con người với lý tưởng của dân tộc
Theo suy nghĩ của tác giả, đạo đức là cơ sở hình thành tính cách của mỗi cá thể trong xã hội và nó được vun đắp, gọt giũa trong môi trường giáo dục Để có những con người có đức, có tài, có tâm thì không thể coi nhẹ việc giáo dục đạo đức trong nhà trường, đặc biệt là trường Tiểu học Tóm lại, về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống Những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức đó được mọi người, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện
1.2.2 Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (HS) để bồi dưỡng cho HS những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội
Quan điểm của tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt “GDĐĐ là quá trình
biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [23, tr.24]
GDĐĐ là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân GDĐĐ được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng
Bản chất của GDĐĐ chính là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS có được nhận thức đúng, tạo lập được tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Có tình cảm và thái độ đúng trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu để nhân cách con người được hình thành và phát triển
Ngày nay, GDĐĐ cho HS là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho HS có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
Trang 2414
1.2.3 Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy tri ở trạng thái “ổn định”; quá trình“lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào thế “phát triển” Quản lý là một thuộc tính của xã hội ở mọi
giai đoạn lịch sử Đây được coi là một hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích nhất định
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định
Theo quan niệm hiện nay, quản lý là những hoạt động nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu
Quản lý là “tổ chức điều khiển hoạt động của một cơ quan, đơn vị” (Theo
Từ điển Việt Nam thông dụng / NXB GD, 1998) “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực
của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”
“Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt mục
đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua
hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định “Tất cả lao
động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn
bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm từ mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
Các đặc trưng của quản lý:
Quản lý là hoạt động có mục đích, có định hướng và có kế hoạch
Quản lý là sự lựa chọn khả năng tối ưu Ở đâu không cần sự lựa chọn thì ở
đó không cần quản lý
Trang 2515
Quản lý là sự sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động có lựa chọn
Quản lý làm giảm tính bất định và tăng tính ổn định của hệ thống
Những khái niệm về quản lý của các tác giả có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng từ những cơ sở lí luận trên ta có thể đi đến định nghĩa như sau về quản lý:
“Quản lý là tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: “Kế hoạch hóa- Tổ
chức - Chỉ đạo - Kiểm tra”
Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu Thực chất, kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các nguồn lực, điều kiện nhằm thực hiện tốt mục tiêu đề ra
Tổ chức là việc sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người cùng các hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực làm giảm hiệu quả quản lý
Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra Chức năng chỉ đạo là sự tác động lên con người, khơi dậy nhân tố con người trong suốt quá trình quản lý nhằm mục đích để họ tự nguyện, nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ được giao
Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình quản lý đồng thời coi là “vũ khí” của người quản lý Không có kiểm tra đánh giá thì hoạt động quản lý không có hiệu quả
Thông tin được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết cả 4 chức năng của quản lý Dựa vào thông tin mà 4 chức năng của quản lý gắn kết chặt chẽ, tạo nên chất lượng của toàn bộ hoạt động quản lý
Quản lý giáo dục:
Hoạt động giáo dục ra đời tất yếu kéo theo sự kiện của quản lý giáo dục Nếu giáo dục là một hiện tượng xã hội thì quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội
Trang 2616
đặc thù Quản lý giáo dục là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, là một bộ phận trong quản lý XHCN Việt Nam Vì vậy, quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song cũng chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý XHCN, Quản lý giáo dục rất được mọi người quan tâm
Theo tác giả M.I.Konzacov thì: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và có định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”
Bên cạnh đó, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: "Quản lý Giáo dục là quản lý
trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi quản lí của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [9, tr.98]
Quản lý giáo dục hiểu theo nghĩa tổng quan chính là hoạt động điều hành, phối hợp giữa các lực lượng xã hội, nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Trong xã hội hiện nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho tất cả mọi người Tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục cho thế hệ trẻ Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành trong hệ thống giáo dục quốc dân, nằm trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Từ những khái niệm nêu trên, chúng ta có thể khái quát lại như sau: Quản lý Giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản
lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở
rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục
Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã hội Vì vậy, cần phải luôn luôn đổi mới quản lý giáo dục mới đảm bảo được tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội
Trang 2717
Quản lý nhà trường:
Quản lý hoạt động nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một đơn vị giáo dục cơ sở Cơ sơ đó là nhà trường với các chức năng nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: "Quản lý nhà trường, quản lý Giáo dục
là tổ chức hoạt động dạy và học…có tổ chức dưới hoạt động dạy học, thực hiện có tính chất của nhà trường tiểu học Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đổi đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước"[10, tr 32]
Như vậy, xét từ các định nghĩa đã nêu ở trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất: Quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản
lý đối với các nguồn lực trong và ngoài nhà trường (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm thúc đẩy tất cả các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới đạt mục tiêu trọng tâm là đưa hoạt động dạy và học tiến tới một trạng thái mới về chất
Ở Việt Nam hiện nay quản lý trường học là thực hiện đường lỗi giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS
Công tác quản lý trường học bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường Quản lý quá trình GD-
ĐT trong nhà trường được coi như một hệ thống, bao gồm các thành tố:
+ Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, biện pháp giáo dục + Thành tố con người: cán bộ, giáo viên, nhân viên, HS
+ Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Quản lí hoạt động GDĐĐ trong trường Tiểu học là quá trình tác động có định hướng của chủ thể giáo dục đạo đức lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ đã đề ra GDĐĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường Như vậy, quản lí hoạt động GDĐĐ là một quá trình chủ đạo, điều hành hoạt động GDĐĐ của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để
Trang 28Quản lý GDĐĐ trong nhà trường Tiểu học hướng đến một mục đích chung là phát triển toàn diện nhân cách HS Thông qua các hoạt động giáo dục, bao gồm hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp làm cho quá trình GDĐĐ tiến hành có hiệu quả hơn
4.2.4.1 Nội dung, phương pháp, hình thức quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục và đào tạo Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập của trò diễn ra trong quá trình dạy học, giáo dục
Trường Tiểu học là cơ quan giáo dục nhà nước Hiệu trưởng quản lý nhà trường, quản lý giáo dục theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản
lý toàn diện hoạt động giáo dục của nhà trường, trong đó có GDĐĐ
Nội dung quản lí GDĐĐ được xây dựng trên 4 chức năng của Quản lí nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá GDĐĐ
Quản lý giáo dục không chỉ đòi hỏi tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật bởi đặc trưng cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý con người Sản phẩm đầu ra của quá trình quản lý giáo dục chính là nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục
1.2.4.2 Chức năng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo/chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá
Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương, nền nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau
Trang 2919
Dự báo và lập kế hoạch:
+ Xây dựng kế hoạch quản lý GDĐĐ: Khi xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức, cần dựa trên những cơ sở thực tế, các yếu tố chủ quan và khách quan
+ Phân tích thực trạng GDĐĐ trong năm học qua đó thấy được những ưu điểm
và hạn chế của công tác GDĐĐ học sinh Trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch
+ Phân tích kế hoạch giáo dục của ngành, địa phương, của trường để làm cơ
sở xây dựng kế hoạch Cần thống nhất giữa GDĐĐ với các mặt giáo dục khác trong nhà trường để xây dựng mục tiêu giáo dục đạo đức
+ Tìm hiểu đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục của địa phương bởi vì GDĐĐ luôn thống nhất với quá trình phát triển xã hội và môi trường sống của HS
+ Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay và các giá trị đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung giáo dục đạo đức cho HS
+ Chuẩn bị điều kiện cho hoạt động GDĐĐ HS như: cơ sở vật chất, tài chính, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường
Tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ:
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS tiểu học là quá trình thực hiện phân công lao động, điều phối các nguồn lực một cách thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
+ Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong quá trình quản lý GDĐĐ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ phải đảm bảo cho việc GDĐĐ diễn ra trong trật tự, kỷ cương, đúng định hướng và đúng kế hoạch
+ Việc chỉ đạo sẽ đạt hiệu quả cao nếu Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng
uy quyền và thuyết phục, giữa pháp lý - đạo lý - công lý, động viên khích lệ để pháp huy tiềm năng của bộ máy thực hiện đã xây dựng
Kiểm tra đánh giá GDĐĐ:
+ Kiểm tra đánh giá GDĐĐ có ý nghĩa không những đối với người quản
lý mà còn có ý nghĩa với chính học sinh Thông qua kết quả kiểm tra đánh giá của các thầy cô giáo mà HS hiểu biết rõ hơn về quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của bản thân, đồng thời các em sẽ tự điều chỉnh các hành vi đạo đức của bản thân phù hợp với chuẩn mực đạo đức Qua kiểm tra đánh giá, người quản lý sẽ
Trang 3020
xác định được mức độ đạt mục tiêu đề ra và khẳng định được chất lượng sản phẩm mà mình giáo dục
1.2.4.3 Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm
Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển toàn diện con người
Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm sai trái, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân trong công tác quản lý GDĐĐ học sinh
Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cho HS theo chuẩn mực chung của xã hội
Tóm lại, quản lí hoạt động GDĐĐ là quản lí mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện GDĐĐ, đảm bảo quá trình GDĐĐ được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
ở trường tiểu học
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực ở Việt Nam nhằm đưa đất nước trở thành một nước phát triển, mở ra những khả năng mới để con người được hưởng cuộc sống độc lập,
tự do, ấm no, hạnh phúc trong một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vấn đề con người mà cụ thể là nguồn nhân lực với trình
độ chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức trong sáng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Đây là nhiệm vụ quan trọng của các nhà trường, nhất là các trường Tiểu học
Quốc hội đã ban hành Luật giáo dục số 38/2005/QH11, ngày 14 tháng 6 năm
2005, có ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [25, tr.4]
Trang 3121
Luật GD 2005 đã xác định: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và tính sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ” [25, tr.8]
Việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GDĐĐ cho trẻ em
có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng giáo dục trẻ em, HS, sinh viên Điều 93
Luật Giáo dục 2005 khẳng định “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với
gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”
1.4 Hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường
1.4.1 Đặc điểm học sinh tiểu học
Mỗi một giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển tâm lý của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian nhất định với những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển Giai đoạn phát triển ở lứa tuổi HS tiểu học có các đặc trưng sau:
- HS Tiểu học có độ tuổi thường từ 06 đến 11 tuổi HS tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, HS tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội HS tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động,
dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường - thời kỳ quan trọng và tiền đề của sự phát triển thể chất và nhân cách Sự phát triển thể chất đang đi vào giai đoạn phát triển; Hệ xương, cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
Trang 3222
tư duy trừu tượng Các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ do vậy chúng ta cần phải dạy các em bằng những câu hỏi mang tính tò mò nhằm phát triển tư duy của các em Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt
rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần
ổn định và bền vững ở trẻ
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của HS tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho HS Nhu cầu hứng thú
có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của HS Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người, nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống Đối với HS tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Trong sự phát triển tư duy ở HS tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này Vì vậy, trong dạy học lớp ghép, giáo viên cần đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc thực, qua dạy học hợp tác hành động để phát triển tư duy cho HS Giáo viên cần hướng dẫn HS phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động với thầy, với bạn
HS tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục HS của mình nhưng cần phải đúng, phải chính xác, đi học đúng giờ, làm việc theo hướng dẫn của giáo viên trong môi trường lớp ghép
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của mỗi người Đối với HS tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động Tình cảm HS tiểu học được hình thành trong đời
Trang 3323
sống và trong quá trình học tập của các em Vì vậy, giáo viên dạy học lớp ghép cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích cực ở trẻ
để kích thích trẻ tích cực trong học tập Đặc điểm tâm lí của HS dân tộc thể hiện ở
tư duy ngôn ngữ – logíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể Ngoài ra tâm lí của học sinh dân tộc còn bộc lộ ở việc thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức HS có thể học được tính cách hành động trong điều kiện này nhưng lại không biết vận dụng kiến thức đã học vào trong điều kiện hoàn cảnh mới Vì vậy trong môi trường lớp ghép giáo viên cần quan tâm tới việc việc phát triển tư duy và kỹ năng học tập cho học sinh trong môi trường nhóm, lớp Việc học tập của các em còn bị chi phối bởi yếu tố gia đình, điều kiện địa lý và các yếu tố xã hội khác đòi hỏi nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự kết hợp chặt chẽ để tạo động lực học tập cho HS
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của HS tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với HS tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kỹ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp, cùng trường, HS tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức hành vi Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của
HS tiểu học Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên - lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn Về việc
Trang 3424
này, N.X.Leytex đã khắc họa: Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kỳ mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này - sự tuân thủ tuyệt đối vào những người
có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc
Tóm lại, HS tiểu học là lứa tuổi đang từng ngày, từng giờ tự hình thành cho mình những năng lực của người ở trình độ sơ đẳng nhưng cơ bản, như sử dụng tiếng
mẹ đẻ, năng lực tính toán, đặc biệt là năng lực làm việc trí óc - năng lực tạo ra các năng lực khác Cùng với các năng lực trên là sự hình thành tình cảm, thái độ và cách cư xử phù hợp với dân tộc và văn minh nhân loại hiện đại thông qua sự giáo dục thụ động từ nhà trường, xã hội và gia đình Các em chưa tự biết chắt lọc những điều hay lẽ phải để học hỏi mà chỉ biết tiếp nhận thông qua quan sát và bắt chước
Vì vậy các nhà giáo dục (cô giáo, bố mẹ, ông bà, anh, chị ) cần thể hiện cách cư
xử, giao tiếp chuẩn mực để làm tấm gương sáng cho các em học tập và làm theo
1.4.2 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang tiến hành cải cách giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, hướng vào thực hiện giáo dục có chất lượng cao để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, nhà trường có vai trò quan trọng, giữ vị trí đặc biệt trong giáo dục
- GDĐĐ cho thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, song giáo dục ở nhà trường giữ vai trò chủ đạo GDĐĐ trong nhà trường là quá trình giáo dục bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác: GDĐĐ (Đức dục); Giáo dục trí tuệ (Trí dục); Giáo dục thể chất; Giáo dục thẩm mỹ (Mỹ dục); Giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp trong đó GDĐĐ được xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm năng vững chắc cho các mặt giáo dục khác; Giáo dục đạo đức tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường và xã hội, con người và cuộc sống
- Nhà trường phải coi GDĐĐ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong suốt quá trình năm học Mục đích giáo dục của nhà trường chú trọng mục đích hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Ở nhà trường GDĐĐ cho HS là hình thành ý thức đạo đức, hành vi thói quen
Trang 3525
đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi thói quen đạo đức của HS theo những nguyên tắc đạo đức dân tộc, đạo đức cách mạng, đạo đức XHCN
GDĐĐ ở trường tiểu học là một hoạt động có tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức cá nhân HS, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ HS ở trường tiểu học là góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội
1.4.3 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
- Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức
Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái
độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội
- Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững
1.4.3.2 Các con đường GDĐĐ cho HS Tiểu học
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là quá trình giáo dục để hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các con đường sau đây:
Trang 3626
Thứ nhất: Giáo dục thông qua dạy học Một trong những con đường quan
trọng nhất để giáo dục thế hệ trẻ là đưa việc giáo dục đạo đức HS vào các môn học trong nhà trường Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo chu đáo thực hiện Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một tập thể HS cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng Nhờ học tập và thực hành theo những chương trình nội, ngoại khóa mà kỹ năng lao động trí óc chân tay được hình thành, trí tuệ được mở mang, nhân cách được hoàn thiện Dạy học là con đường giáo dục chủ động, ngắn nhất và có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời Con người được đào tạo chính quy bao giờ cũng thành đạt hơn những người không được học tập chu đáo Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục
Thứ hai: Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa
dạng: Toàn bộ cuộc sống của con người phản ánh một hệ thống liên tục hoạt động
và con người lớn lên cùng các hoạt động đó Vì thế, con người được gắn vào các hoạt động thực tế phong phú và đa dạng là con đường giáo dục tốt Các dạng hoạt động của con người là: vui chơi, lao động sản xuất, hoạt động xã hội… mỗi dạng hoạt động có những nét đặc thù và đều có tác dụng giáo dục…
Thứ ba: Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể Việc tổ chức cho HS sinh hoạt
tập thể là hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường Tập thể là một tập hợp nhiều cá nhân cùng hoạt động theo một mục đích tốt đẹp Hai yếu tố quan trọng của tập thể có ý nghĩa giáo dục lớn là chế độ sinh hoạt và dư luận tập thể Chế độ sinh hoạt tập thể hợp lý, với kỷ luật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nề nếp tạo nên thói quen sống có văn hóa, hình thành ý chí và nghị lực Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ giúp con người nhận thức những điều tốt đẹp, điều chỉnh hành
vi cuộc sống có văn hóa Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người Tổ chức tốt các hoạt động tập thể là con đường đúng đắn
Thứ tư: Con đường tự tu dưỡng Nhân cách được hình thành bằng nhiều con
đường trong đó có tự tu dưỡng hay còn gọi là tự giáo dục Tự tu dưỡng biểu hiện ý thức và tính tích cực cao nhất của cá nhân đối với cuộc sống Tự tu dưỡng được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định, khi đã tích lũy được
Trang 3727
những kinh nghiệm sống, những tri thức phong phú Tự tu dưỡng là kết quả của quá trình giáo dục, là sản phẩm của nhận thức và sự tạo lập những thói quen hành vi, là bước tiếp theo và quyết định của quá trình giáo dục Phối hợp các con đường giáo dục chính là nguyên tắc giáo dục phức hợp và cũng là nghệ thuật giáo dục
1.4.3.3 Mục đích của hoạt động giáo dục đạo đức
Mục đích quan trọng nhất muốn đạt tới của GDĐĐ là từ các giải pháp giáo dục, tạo lập được những thói quen về hành vi đạo đức đúng đắn của mọi người Mục tiêu giáo dục đạo đức HS ở trường Tiểu học là:
+ Trang bị cho HS tiểu học những hiểu biết nhất định về đạo đức của xã hội đối với cá nhân, các yêu cầu biểu thị dưới dạng các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc đạo đức, các khái niệm đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các lý tưởng đạo đức,…
để giúp cho HS ý thức được ý nghĩa, tính đúng đắn, giá trị của các hành vi đạo đức phù hợp với các yêu cầu để ứng xử đúng đắn trong các tình huống đạo đức
+ Hình thành cho HS hành vi ứng xử đạo đức, thói quen đạo đức thông qua
việc tổ chức cho các em các hoạt động (học tập, lao động, công tác xã hội, sinh
hoạt tập thể,…) Thói quen hành vi đạo đức chỉ được hình thành và trở nên bền
vững thông qua hoạt động, mối quan hệ đa dạng với những người khác, trẻ em tự khẳng định, tự tin đó là điều quan trọng trong việc ứng xử đạo đức
Bồi dưỡng cho HS ý thức, thái độ, hành vi đối với phẩm giá của con người trong quan hệ đối với người khác
1.4.3.4 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục đạo đức
GDĐĐ trong nhà trường có các nhiệm vụ cơ bản:
+ Giáo dục ý thức đạo đức: Là cung cấp cho học sinh những kiến thức và tri thức cơ bản về các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức
+ Giáo dục tình cảm đạo đức: là khơi dậy cho HS những tình cảm rung động, những xúc cảm chân thật đối với hiện thực xung quanh; biết thể hiện thái độ yêu, ghét
rõ ràng và có thái độ đúng đắn với các hành vi đúng – sai của mọi người xung quanh
+ Giáo dục thói quen đạo đức: là tổ chức, rèn luyện HS những thói quen về hành vi đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 38- Giáo dục đạo đức trong các mối quan hệ xã hội
- Giáo dục đạo đức gia đình
- Giáo dục tình bạn
- Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
1.4.4 Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.4.4.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của hoạt động giáo dục đạo đức
Hệ thống quản lý của nhà trường được hình thành từ các bộ phận chức năng: chi bộ Đảng, ban Giám hiệu, các tổ chuyên môn, tổ hành chính, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (TNTP HCM), hội phụ huynh… Do đó, khi nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý phải luôn có tính đồng bộ trong mọi hoạt động
1.4.4.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của hoạt động giáo dục đạo đức
Tất cả các lý thuyết nói chung đều mang tính chất lý luận và được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm từ nhiều cơ sở khác nhau nên khi áp dụng vào một trường Tiểu học cụ thể thì lại phải hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn của trường đó
1.4.4.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của hoạt động giáo dục đạo đức
Tính khả thi là khả năng áp dụng được trong thực tế và mang lại hiệu quả cao Các biện pháp GDĐĐ có khả năng áp dụng vào thực tiễn để tổ chức và quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS tiểu học, đem lại hiệu quả cao Muốn vậy khi xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khoa học Các biện pháp phải được kiểm tra, khảo nghiệm một cách chặt chẽ, phải được điều chỉnh trong từng bước sát với tình hình
và những đòi hỏi từ thực tế
1.4.4.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động giáo dục đạo đức
Các biện pháp phải phát huy được tính hiệu quả, đem lại lợi ích cho học sinh, nhà trường và toàn xã hội
Các biện pháp giáo dục được đưa ra đều nhằm mục đích cuối cùng là nâng
Trang 3929
cao chất lượng GDĐĐ cho HS tiểu học Kết quả này sẽ được thể hiện cụ thể qua các bảng xếp loại, đánh giá chất lượng GDĐĐ HS theo đúng những chuẩn mực đạo đức
xã hội và những quy định của Luật giáo dục
1.4.5 Ý nghĩa của hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động GDĐĐ không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân mà còn có ý nghĩa to lớn đối với gia
đình và xã hội
Với ba lực lượng giáo dục: Gia đình - Nhà trường - Xã hội tác động vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người Giáo dục gia đình được tiến hành sớm nhất, ngay từ khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời tạo nên những phẩm chất nhân cách đầu tiên rất quan trọng làm cơ sở, nền tảng cho giáo dục nhà trường Giáo dục xã hội thông qua các tổ chức đoàn thể, các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, đạo đức góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người Song, giáo dục trong các nhà trường có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Nhà trường với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục và nhất là có đội ngũ các nhà sư phạm chuyên nghiệp
sẽ tổ chức, điều khiển, giáo dục học sinh theo một chương trình nhất định đáp ứng với yêu cầu về đạo đức, về nhân cách mà xã hội yêu cầu
1.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học
1.5.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức
GDĐĐ là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế hoạch Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý Khi xây dựng
kế hoạch giáo dục đạo đức cho HS, Hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở sau:
Phân tích thực trạng GDĐĐ trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động GDĐĐ Có 3 nội dung chủ yếu của việc xây dựng kế hoạch quản lí GDĐĐ là:
- Xác định hoàn thành mục tiêu, phương hướng đối với nhà trường về công tác GDĐĐ cho HS
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, cam kết) về các nguồn lực của nhà
trường để đạt được những mục tiêu đề ra về công tác GDĐĐ cho HS
Trang 4030
- Quyết định chọn và thực hiện những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra
Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch GDĐĐ:
+ Kế hoạch phải được thể hiện tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kì
+ Kế hoạch thể hiện được phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể
+ Kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá
1.5.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức
Trước hết cần giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch GDĐĐ; trao đổi, thảo luận tìm biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức
Trách nhiệm của quản lí, chỉ đạo GDĐĐ là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc GDĐĐ diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả
Tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS sau khi đã lập xong kế hoạch, đó
là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực
Quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về GDĐĐ cho HS là tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch GDĐĐ; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lí, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch bao gồm:
- Giải thích mục tiêu, yêu cầu kế hoạch giáo dục đạo đức
- Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch