1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy học chương sự điện li hóa học lớp 11 trung học phổ thông (chương trình cơ bản)

94 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LY- HÓA HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN.... Vậy nguyên nhân nào dẫn tới việc HS trườn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ MẠNH DŨNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LI – HOÁ HỌC LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC

BỘ MÔN HOÁ HỌC

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Thành

HÀ NỘI 2014

Trang 3

Tôi cũng xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, các phòng ban chức năng, các thầy cô giáo của khoá học QH-2012 chuyên nghành Sư phạm Hoá học của trường Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội đã cung cấp, bồi dưỡng cho tôi những kiến thức mới mẻ, sâu sắc về chuyên ngành, giúp tôi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát triển khả năng nghiên cứu khoa học Những kiến thức đó đã giúp tôi có được nền tảng lý luận để hoàn thành đề tài này, và chắc chắn sẽ giúp ích rất nhiều cho tôi trong quá trình công tác chuyên môn sau này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới BGH, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp

và các em học sinh của hai trường THPT Lương Thế Vinh và THPT Nguyễn Đức Thuận đã tạo điều kiện và phối hợp giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới các bạn cùng nhóm nghiên cứu

đã tích cực trao đổi, thảo luận cùng tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2014

Học viên

Vũ Mạnh Dũng

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu viết tắt Viết đầy đủ

1 BGH Ban Giám hiệu

5 GD-ĐT Giáo dục, đào tạo

6 GS.TSKH Giáo sư, tiến sĩ khoa học

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vẽ, đồ thị, biểu đồ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Năng lực và định hướng phát triển năng lực cho HS THPT 5

1.1.1 Khái niệm về năng lực 5

1.1.2 Định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo sau năm 2015 5

1.1.3 Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông 6

1.2 Năng lực tự học 7

1.2.1 Khái niệm tự học 7

1.2.2 Các hình thức của tự học 7

1.2.3 Chu trình tự học 8

1.2.4 Vai trò của tự học 9

1.2.5 Năng lực tự học và kĩ năng tự học của HS THPT 11

1.2.6 Hệ thống kỹ năng tự học 15

1.2.7 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học 15

1.2.8 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS 16

1.3 Đổi mới phương pháp dạy và học 16

1.3.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học 16

1.3.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học 17

1.3.3 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 17

1.3.4 Một số phương pháp dạy học tích cực 19

1.3.5 Sử dụng thiết bị dạy học theo định hướng dạy học tích cực 25

1.4 Thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy

Trang 6

iv

học hóa học ở một số trường THPT tỉnh Nam Định 25

1.4.1 Mục đích điều tra 25

1.4.2 Đối tượng, nội dung và phương pháp điều tra 25

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LY- HÓA HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN) 31

2.1 Mục tiêu và cấu trúc chương Sự điện li –Hóa học 11 – THPT 31

2.1.1 Mục tiêu của chương 1 - Sự điện li –Hóa học 11 – THPT 31

2.1.2 Cấu trúc của chương “ Sự điện li” –Hóa học 11 – THPT 31

2.1.3 Một số lưu ý về phương pháp dạy học chương “ Sự điện li” 32

2.2 Một số nguyên tắc chung và qui trình phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học hóa học 33

2.2.1 Nguyên tắc chung 33

2.2.2 Quy trình cơ bản hình thành và phát triển kỹ năng tự học cho học sinh 36

2.3 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học chương Sự điện li – Hoá học lớp 11 THPT ( chương trình cơ bản) 37

2.3.1 Biện pháp 1 Hướng dẫn học sinh cách lập kế hoạch học tập 37

2.3.2 Biện pháp 2 Hướng dẫn học sinh kĩ thuật đọc và xử lí thông tin qua SGK và tài liệu cần thiết 38

2.3.3 Biện pháp 3 Rèn kĩ năng học bài, giải các bài tập nhận thức 44

2.3.4 Biện pháp 4 Biên soạn phiếu học tập hướng dẫn HS tự học ở nhà 44

2.3.5 Biện pháp 5 Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với kỹ thuật dạy học 53

2.3.6 Biện pháp 6 Hướng dẫn cho HS tự đánh giá và tham gia đánh giá lẫn nhau 59

2.3.7 Biện pháp7 Từng bước nâng dần những năng lực tự học cho học sinh 65

Trang 7

v

2.3.8 Biện pháp 8: Hình thành kỹ năng khái quát hoá và hệ thống

hoá trong hoạt động tự học 67

2.4 Một số giáo án minh họa 67

2.4.1 Thiết kế giáo án dạy học theo dự án với sự hỗ trợ của CNTT 67

2.4.2 Thiết kế giáo án dạy học theo góc kết hợp với kĩ thuật khăn trải bàn 74

2.4.3.Thiết kế giáo án dạy học theo hợp đồng kết hợp với kĩ thuật sơ đồ tư duy 83

Tiểu kết chương 2 94

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 95

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 95

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 95

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 95

3.4 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 96

3.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 96

3.5.1 Chọn trường thực nghiệm, lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 96

3.5.2 Tiếp xúc trao đổi với GV dạy thực nghiệm 96

3.5.3 Mô tả diễn biến một số tiết dạy thực nghiệm và thảo luận 96

3.5.4 Tiến hành kiểm tra và khảo sát 97

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm (TNSP) 97

3.6.1 Kết quả các bài dạy TNSP 97

3.6.2 Xử lý kết quả TNSP 97

3.6.3 Phân tích kết quả TNSP 104

3.6.4 Nhận xét 107

Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 113

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Bảng kết quả điều tra GV về việc sử dụng các PPDH 26 1.2 Bảng kết quả điều tra về việc tự học của học sinh 27 2.1 Bảng hướng dẫn HS so sánh khái niệm axit, ba zơ, muối trên

quan điểm thuyết phân tử và thuyết điện li 44

3.2 Tên các bài dạy TN và bài kiểm tra đánh giá 95 3.3 Bảng phân phối kết quả các bài kiểm tra 97

3.4 Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra (Bảng phân phối tần số

3.5 Bảng % số HS đạt điểm Xi (Bảng phân phối tần suất các bài

3.6 Bảng % số HS đạt điểm Xi trở xuống (Bảng phân phối tần

suất lũy tích các bài kiểm tra) 99 3.7 Số % HS đạt điểm yếu kém, trung bình, khá và giỏi 102 3.8 Giá trị các tham số đặc trưng 104

3.9 Kết quả đánh giá của GV về sự tiến bộ của HS trong quá

trình nâng cao năng lực tự học 105 3.10 Kết quả tự đánh giá của HS về sự tiến bộ của mình trong quá

trình nâng cao năng lực tự học 105

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Sơ đồ so sánh các thành phần của năng lực cần hình thành

cho HS THPT với các trụ cột giáo dục theo UNESCO

ion trong dung dịch các chất điện li”

57

2.7 HS sử dụng SĐTD hệ thống kiến thức chương “Sự điện li” 59 3.1 Đồ thị đường luỹ tích kết quả thực nghiệm bài kiểm tra số 1 100 3.2 Đồ thị đường luỹ tích kết quả thực nghiệm bài kiểm tra số 2 100 3.3 Đồ thị đường luỹ tích kết quả thực nghiệm bài kiểm tra số 3 101 3.4 Đồ thị đường luỹ tích kết quả thực nghiệm chung cho ba bài

kiểm tra

101

3.5 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra số 1 102 3.6 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra số 2 103 3.7 Biểu đồ phân loại HS bài kiểm tra số 3 103 3.8 Biểu đồ phân loại HS qua ba bài kiểm tra 104

Trang 10

“tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo

hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”[20] Nhóm giải

pháp này nhấn mạnh việc thay đổi mục tiêu giáo dục từ giáo dục trang bị kiến thức sang mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học

Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng:“ Bản chất của quá trình dạy học là quá

trình nhận thức và thực hành của HS do GV tổ chức và hướng dẫn nhằm giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức, hình thành và phát triển năng lực thực hành sáng tạo” [36]

Môn Hoá học là môn học cung cấp cho HS những tri thức hoá học phổ thông tương đối hoàn chỉnh về các chất, sự biến đổi giữa các chất, mối liên hệ giữa công nghệ hoá học với môi trường và đời sống con người

Khi HS học tốt môn Hoá học, HS có thể phát triển được nhiều năng lực cá nhân cần thiết như năng lực quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, thực hành, dự đoán, lập kế hoạch, hợp tác làm việc, lập luận, thuyết trình và ngược lại, khi HS có được những năng lực cần thiết, các em có thể học tập tốt không chỉ môn Hoá học mà hầu hết các môn học khác Tuy nhiên, với lượng kiến thức tương đối nhiều mà thời gian học tập trên lớp lại có hạn, HS không thể hoàn thành mục tiêu học tập nếu không tích cực chủ động học tập và nâng cao năng lực tự học Nhưng làm thế nào để HS có thể phát triển năng lực tự học môn Hoá học? GV có thể giúp gì cho các em để phát triển năng lực tự học trong bối cảnh có nhiều tác động ngoại cảnh gây cản trở cho việc học tập của các em như phim ảnh, ca nhạc, game giải trí ? Qua thực tế giảng dạy môn Hoá học ở trường THPT Lương Thế Vinh – Vụ Bản – Nam Định, tôi nhận thấy đa số HS không tự giác trong việc chuẩn

bị bài trước khi đến lớp, không tìm hiểu thêm các tài liệu tham khảo liên quan đến

Trang 11

2

môn học Qua tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp khác tôi cũng nhận được nhận xét tương tự Mặc dù, khi tìm hiểu các giờ dạy trên lớp thông qua dự giờ và trực tiếp giảng dạy, tôi thấy lượng kiến thức theo chuẩn kiến thức và kĩ năng đã được chúng tôi tổ chức truyền thụ đầy đủ theo đúng phân phối chương trình Vậy nguyên nhân nào dẫn tới việc HS trường tôi thụ động trong học tập môn Hoá học phổ thông, có biện pháp nào giúp HS phát triển tốt năng lực tự học, tạo tiền đề cho việc phát triển các năng lực cá nhân sau này? Qua khảo sát ý kiến của HS và tham khảo ý kiến của một số GV, chúng tôi đi đến giả thuyết rằng, có thể do việc đổi mới phương pháp dạy học của chúng tôi mới tập trung vào việc truyền thụ kiến thức trên lớp đến HS, chưa chú ý đến việc phát triển các năng lực học tập tích cực, chủ động Vì thế chúng tôi đặt ra câu hỏi: làm thế nào thiết kế được các bài giảng không chỉ truyền thụ kiến thức thuần tuý, mà chú trọng đến việc rèn luyện và phát triển năng lực học tập cho

HS? Để tìm câu trả lời, chúng tôi xây dựng một đề tài nghiên cứu: “ Phát triển năng

lực tự học của học sinh trong dạy học Chương Sự điện li- Hoá học lớp 11 trung học phổ thông (chương trình cơ bản)”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề phát triển năng lực tự học của HS như:

1 Trần Thị Thu Huệ (2012), Luận án: “Phát triển một số năng lực của HS trung

học phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong dạy học hóa vô cơ”,

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

2 Phạm Đình Khương (2005), Luận án: “Một số giải pháp nhằm phát triển

năng lực tự học toán học của HS phổ thông (qua việc dạy học chủ đề song song và quan hệ vuông góc ở hình học lớp 11)”, Viện chiến lược chương trình giáo dục

3 Nguyễn Văn Khánh (2012), Luận văn: “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ

thống bài tập hoá học có nội dung thực tiễn để phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS THPT tỉnh Nam Định (phần hữu cơ hoá học lớp 12 nâng cao)”

4 Nguyễn Thị Hoài Thanh (2012), Luận văn: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho

HS thông qua hệ thống bài tập phần hoá học hữu cơ lớp 11 nâng cao”

5 Nguyễn Thanh Nhạn (2013), Luận văn:“Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài

tập hoá học nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS lớp 11 trường THPT”

Trang 12

3

Tuy nhiên, vấn đề phát triển năng lực tự học thông qua việc dạy học chương

“ Sự điện li” – Hoá học lớp 11 THPT (chương trình cơ bản) còn chưa được đề cập đến Để triển khai đề tài, trước hết chúng tôi tìm hiểu và xây dựng hệ thống lí luận cho đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp phát triển năng lực

tự học của HS trong dạy học chương “ Sự điện ly”- Hóa học lớp 11 THPT (chương trình cơ bản), góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu tổng quan về hướng nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu, hệ thống các kiến thức về cơ sở lý luận của đề tài: quá trình dạy học; định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; cơ sở lý thuyết về năng lực, tìm hiểu năng lực tự học của HS; cơ sở lý luận về các phương pháp dạy học tích cực

- Điều tra thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học hóa học ở trường THPT

- Nghiên cứu việc phát triển năng lực tự học khi dạy học chương “Sự điện li” – Hoá học lớp 11 THPT (chương trình cơ bản) cho HS

- Đề xuất các biện pháp để phát triển năng lực tự học cho HS

- Xây dựng kế hoạch dạy học - bài giảng chương “Sự điện li” – Hoá học lớp

11 THPT (chương trình cơ bản) theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp

đề xuất trong bài giảng đã thiết kế

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Việc phát triển năng lực tự học của HS khi dạy học chương “Sự điện li” lớp 11 THPT (chương trình cơ bản)

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Chương “Sự điện li” lớp 11 THPT(chương trình cơ bản)

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (trường THPT Lương Thế Vinh, trường THPT Hoàng Văn Thụ, trường THPT Nguyễn Đức Thuận)

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2013 đến 11/2014

Trang 13

4

7 Giả thuyết khoa học

Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực học tập của học sinh, từ đó đề xuất và sử dụng các hình thức, biện pháp rèn kỹ năng tự học cho học sinh hiệu quả nhất thì sẽ phát triển năng lực tự học cho học sinh góp phần nâng cao kết quả dạy học ở các trường THPT

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa

8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện, trao đổi ý kiến với GV và HS

- Phỏng vấn một số GV

- Điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thực nghiệm

8.3 Phương pháp thống kê toán học

9 Đóng góp mới của đề tài

- Nghiên cứu các hình thức phát triển năng lực tự học cho HS THPT

- Đề xuất các biện pháp sư phạm tương ứng để phát triển năng lực tự học cho

HS THPT

- Xây dựng kế hoạch dạy học của chương “Sự điện ly” – Hoá học lớp 11 THPT(chương trình cơ bản)

- Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực tự học cho HS

- Rút ra một số bài học kinh nghiệm khi phát triển một số năng lực học tập cho

HS THPT

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực tự học của HS trong dạy học Chương “Sự điện li” - Hoá học 11 trung học phổ thông (chương trình

cơ bản)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Năng lực và định hướng phát triển năng lực cho HS THPT

1.1.1 Khái niệm về năng lực

Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ” Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau

Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi – behavioural approach) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể Trong thập kỷ gần đây, năng lực đang được nhìn nhận bằng tiếp cận tích hợp:

- Theo Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng

hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [31, tr.11]

- F.E.Weinert (2001) cho rằng: “ Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được

hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách

có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [38, tr 12]

- Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): “Năng lực là một thuộc tính

tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [1]

1.1.2 Định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo sau năm 2015

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng

Trang 15

6

Mô hình bốn thành phần năng lực hành động cần hình thành cho HS THPT (theo tài liệu tập huấn năm 2014 của bộ GD-ĐT về đổi mới phương pháp dạy học

và kiểm tra đánh giá) phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:

Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO

Năng lực chuyên môn Học để biết

Năng lực phương pháp Học để làm

Năng lực xã hội Học để cùng chung sống

Năng lực cá thể Học để tự khẳng định

Hình 1.1 Sơ đồ so sánh các thành phần của năng lực cần hình thành cho HS

THPT với các trụ cột giáo dục của UNESCO 1.1.3 Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông

a Về phẩm chất

- Yêu gia đình, quê hương, đất nước

- Nhân ái, khoan dung

- Trung thực, tự trọng, chí công vô tư

- Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó

- Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường

Trang 16

7

- Năng lực tự quản lý

- Năng lực hợp tác

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ

- Năng lực tính toán

1.2 Năng lực tự học

1.2.1 Khái niệm tự học

Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả

cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [29, tr.59 - 60]

Từ quan điểm về tự học nêu trên, có thể định nghĩa ngắn gọn về tự học như

sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh

tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

1.2.2 Các hình thức của tự học

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [ 3, tr.38], có 3 hình thức tự học :

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận

dụng các kiến thức trong đó Hình thức này gọi là tự nghiên cứu (thường là hoạt động của các nhà khoa học), cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao Nó phải được xuất phát trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức đồng thời phải có vốn tri thức vừa rộng vừa sâu

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng

các phương tiện thông tin khác Ở hình thức tự học này có thể diễn ra theo hai mức: Thứ nhất, tự học theo sách mà không có hướng dẫn của thầy Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Trang 17

8

Thứ hai, tự học có thầy chỉ dẫn từ xa, mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp : Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết

trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa nội lực với ngoại lực, ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy nội lực phát triển

Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt thầy, nhưng dưới

sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sắp xếp kế hoạch, huy động mọi trí tuệ và kĩ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do GV đề ra

1.2.3 Chu trình tự học [30]

Chu trình tự học của người học là một chu trình 3 thời :

Thời (1) : Tự nghiên cứu

Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

Thời (2) : Tự thể hiện

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các

Hình 1.2 Chu trình tự học

Trang 18

9

tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học

Thời (3) : Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)

1.2.4 Vai trò của tự học

- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy” - theo Gibbo Chính vì vậy ông

thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức vào đầu người học mà lo truyền dạy phương pháp tự học cho người học

- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người

- Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn

- Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi người học biết cách tự học, người học sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Tự học của người học ở cấp THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy,

tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông

Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt đối với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học, … người học sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt

Trang 19

10

Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn [29], [30]

- Cốt lõi của việc học chính là tự học Nhưng tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy: “Không thầy đố mày làm nên” Nếu hiểu “mày” ở đây là người học (HS) thì HS chỉ “làm nên” nếu thầy biết cách giúp HS phát triển khả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thể dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động và giảm đến mức thấp nhất giá thành đào tạo

- Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này

- Tự học là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rèn luyện cho người học tính kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc

- Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù hợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn

Trong quá trình dạy học, GV luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn chỉ đạo hoạt động học tập của người học Thực tế cho thấy rằng dù GV kiến thức có uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng người học không chịu đầu tư thời gian, không

có sự lao động cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập, thì việc học tập không đạt kết quả cao được

Vì vậy có thể khẳng định vai trò của tự học luôn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập

Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống

xã hội, làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là năng lực tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hoàn thiện từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hóa, khoa học kỹ thuật và hiện đại hóa vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với

Trang 20

11

đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống

1.2.5 Năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông

1.2.5.1 Khái niệm năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông

Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức, vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Năng lực tự học là năng lực quan trọng vì tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Có năng lực tự học mới có thể học suốt đời được

1.2.5.2 Biểu hiện của năng lực tự học

Năng lực tự học nằm trong nhóm các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS theo định hướng chuẩn đầu ra cho HS THPT những năm sau 2015, được các chuyên gia giáo dục của Việt Nam đề suất Theo đó, năng lực tự học có các biểu hiện sau:

- Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng

phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơn những khía cạnh còn yếu kém

- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập

- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế hoạch điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập

1.2.5.3 Thành phần của năng lực tự học

 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ,

có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung; các bế tắc, nghịch lý cẩn phải khai thông khám phá, làm sáng tỏ…

Trang 21

12

 Năng lực giải quyết vấn đề

Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập

kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận

 Năng lực xác định các kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp …) từ quá trình giải quyết vấn đề

Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch hướng vấn đề đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật kết luận đúng không kém phần quan trọng so với kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu

 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (vào nhận thức kiến thức mới) Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thực hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu thập thêm kiến thức mới

 Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm trí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn

luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái có hiệu quả hơn

Trang 22

13

- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm, …

- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập, xử lý thông tin

- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và công nghệ thông tin

- Biết lắng nghe và thông tin tri thức, giải thích tài liệu cho người khác

- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin

- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học

- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, TN, ứng dụng

1.2.5.5 Dấu hiệu của năng lực tự học

Năng lực tự học được biểu hiện thông qua các dấu hiệu sau:

- Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng chất lượng cao hơn

- Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với các tình huống mới

- Tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng

- Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế: định hướng nhanh, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm tòi cách tư duy để tìm cách tối ưu và thực hiện có hiệu quả

1.2.5.6 Đánh giá năng lực tự học

a Đánh giá qua quan sát

Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá thao tác, động cơ, các hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức, chẳng hạn như cách giải quyết

vấn đề trong một tình huống cụ thể

Để đánh giá năng lực tự học, GV yêu cầu HS tự nghiên cứu một nội dung học tập, HS có thể làm việc độc lập theo nhóm GV có thể quan sát để đánh giá các năng lực và kĩ năng tự học của từng HS trong một nhóm và khả năng hợp tác với các

thành viên trong nhóm

b Đánh giá qua hồ sơ học tập của HS

GV yêu cầu HS về nhà tự học một nội dung học tập với các yêu cầu cụ thể HS ghi chép lại các kết quả thu thập được trong quá trình tự học của mình vào vở ghi chép, GV kiểm tra qua vở ghi Qua đó, GV cũng có đánh giá được kĩ năng và một

phần hiệu quả tự học của mỗi HS

Trang 23

14

c Đánh giá đồng đẳng

Trong đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau Phương pháp này có thể dùng để hỗ trợ GV trong quá trình dạy nhưng chủ yếu được để hỗ trợ HS trong quá trình học Việc đánh giá đồng đẳng thực hiện qua trình bày, bài làm, kết quả phiếu học tập

d Đánh giá qua bài kiểm tra

Bài kiểm tra dưới một số hình thức như: Kiểm tra miệng; Kiểm tra viết qua bài

kiểm tra tự luận và trắc nghiệm trong đó tự luận là chủ yếu

e Phương pháp tự đánh giá

GV yêu cầu HS tự đánh giá về các năng lực, kĩ năng tự học của mình sau một thời gian tự học qua phiếu điều tra

1.2.5.7 Một số yêu cầu học sinh cần có để tự học tốt

Để tự học tốt, học sinh cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Về tư tưởng, cần xác định việc học là nhiệm vụ của người HS và không ai có thể thay thế được Để học tốt môn hóa nói riêng và các môn khác nói chung, điều đầu tiên phải là sự nỗ lực của bản thân người học, phải tích cực học tập, mong muốn học giỏi, học giỏi hôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai

- Luôn luôn tìm phương pháp học tập tốt nhất cho mình Đồng thời có ý chí quyết tâm cao độ, thoát khỏi những tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức, đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học, tự tìm tòi cái mới được nâng lên

- HS phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình và viết theo ý của mình không dập khuôn theo từng câu chữ của GV

- Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi khi không hiểu bài

- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số của bài tập mà phải biết rút ra những điều bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, luôn luôn suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một vài dữ kiện của bài toán để xem bài toán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết một cách khoa học,

- Phải thường xuyên dành thời gian cho việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học để thấy được sự logic đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức một cách sâu sắc thì mới vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, mềm dẻo và giải quyết được các vấn đề mà bài toán đặt ra

Trang 24

15

Như vậy, để có thể tự học tốt người HS phải chủ động, tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo

1.2.5.8 Những kĩ năng GV cần có để hỗ trợ HS tự học môn Hoá học

Ngoài các kĩ năng như kĩ năng trình bày, diễn đạt, thiết kế giáo án, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học, … thì GV cần chú trọng đến các kĩ năng sau đây :

- Soạn thảo một chuyên đề hướng dẫn HS tự học

+ Xây dựng cơ sở lí thuyết về nội dung của chuyên đề

+ Xây dựng hệ thống bài tập của chuyên đề

- Xây dựng ngân hàng bài tập

- Kĩ năng tác động đến tâm lí HS khi hướng dẫn tự học

- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kỳ, cả năm

- Biết sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin

- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin

- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin

- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học

- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng

1.2.7 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học

Khi tiến hành tự học, HS sẽ gặp những khó khăn nhất định như:

- Khó khăn khách quan: Xa GV, xa bạn, phải tự giải quyết việc học …

Trang 25

16

- Khó khăn chủ quan: tâm lý thiếu tự tin, dễ nản chí khi gặp bế tắc và chưa có

kĩ năng tự học như:

+ Sưu tầm tài liệu và phân loại tài liệu học tập

+ Nghiên cứu, phân tích tư liệu thu được

+ Khả năng khắc phục khó khăn khi không có sự giúp đỡ

+ Tự kiểm soát và quản lý quá trình học

+ Đánh giá kết quả và hiệu quả tự học

1.2.8 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS

- Thiết kế các tài liệu, bài tập tự học cho HS ( bài tập theo bài học và bài tập theo chủ đề)

+ Khuyến khích HS tìm bài tập để tự kiểm tra có trong tài liệu giáo khoa

GV nên yêu cầu HS nộp lại bài làm

+ Yêu cầu HS phát biểu tự đánh giá về quá trình và hiệu quả tự học + Cho HS đóng vai trò GV để nâng cao trách nhiệm đối với bạn cùng học …

- Hướng dẫn nguồn tài liệu

- Đánh giá việc tự học

1.3 Đổi mới phương pháp dạy và học

1.3.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học

Như chúng ta đã biết “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau”; đó cũng là giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào tự học, tự nghiên cứu của người học Vì vậy một cuộc vận động tích cực, có kế hoạch, kiên trì, thường xuyên và rộng khắp nhằm từng bước

Trang 26

GV bổ sung, chốt lại vấn đề) Hay nói cách khác, người GV phải có biện pháp hoạt động hóa người học, khơi dậy và phát triển tối đa năng lực tự học, tự sáng tạo cho người học để người học hăng hái tự lĩnh hội kiến thức Muốn vậy người học cũng phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc học, nói cách khác là phải biết phương pháp tự học (đây chính là cốt lõi của việc học lấy người học làm trung tâm)

1.3.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học

Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở nước ta hiện nay là [11]:

- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá

- Cá thể hóa việc dạy học

- Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là lĩnh vực tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

- Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về kiến thức sang lối học coi trọng sự vận dụng kiến thức

- Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức

- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời

- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ngày càng cao ( theo sự phát triển của

HS, theo cấp học, bậc học)

Trong các xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay

1.3.3 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực [4]

1.3.3.1 Khái niệm về phương pháp dạy học

Thuật ngữ PP bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có nghĩa là con đường

để đạt mục đích Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích DH

PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình DH Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình

Trang 27

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học, chứ không phải tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người dạy

Bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản của các PPDH tích cực:

- DH thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

- DH chú trọng rèn luyện PP tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy kết hợp tự đánh giá của trò

Những PPDH tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông: DH phát hiện

và giải quyết vấn đề, đàm thoại phát hiện (vấn đáp tìm tòi), DH hợp tác trong nhóm nhỏ (PP thảo luận nhóm), DH theo góc, DH theo hợp đồng, DH theo dự án

1.3.3.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng dạy học tích cực [13]

PPDH chương trình Hoá học THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, tự giải quyết vấn

đề dưới sự hướng dẫn của GV Cụ thể:

- Tăng cường sử dụng thiết bị, thí nghiệm hóa học theo hướng là nguồn để HS nghiên cứu tìm tòi kiến thức hóa học

- Tăng cường nêu và giải quyết vấn đề giúp HS phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

- Tăng cường sử dụng SGK như là nguồn để HS tự đọc, tự nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập và xử lý thông tin có hiệu quả

- Tổ chức cho HS tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ theo hướng giúp

HS

tự học, hợp tác cùng học, cùng giải quyết các vấn đề hóa học

Trang 28

19

1.3.4 Một số phương pháp dạy học tích cực

1.3.4.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề [23]

a) Bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Bản chất của DH phát hiện và giải quyết vấn đề là GV đặt ra trước HS các vấn

đề của khoa học (các bài toán nhận thức) và mở ra cho các em những con đường giải quyết những vấn đề đó Việc điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức của HS ở đây được thực hiện theo phương hướng tạo ra một hệ thống các tình huống có vấn

đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết những tình huống đó và những chỉ dẫn

cụ thể cho HS trong quá trình giải quyết các vấn đề

Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được HS chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới

b) Quy trình của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Giai đoạn một: Xây dựng tình huống có vấn đề ( bước 1,2,3)

Giai đoạn hai: Dạy HS giải quyết vấn đề ( bước 4,5,6)

Giai đoạn ba: Vận dụng độc lập kiến thức mới( bước 7,8)

 Có 3 cách chủ yếu xây dựng tình huống có vấn đề:

Cách thứ nhất: Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi kiến thức HS đã có

không phù hợp (không đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với

TN

Cách thứ hai: Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi HS lựa chọn một con

đường duy nhất đảm bảo việc giải quyết được nhiệm vụ đặt ra trong những con đường có thể có

Cách thứ ba: Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi HS phải tìm con đường

ứng dụng kiến thức trong học tập, trong thực tiễn hoặc tìm lời giải đáp cho câu hỏi

“tại sao?”

 Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề gồm 8 bước sau:

Bước 1: Tái hiện kiến thức cũ có liên quan

Bước 2: Làm xuất hiện mâu thuẫn

Bước 3: Phát biểu vấn đề

Bước 4: Làm cho HS hiểu rõ vấn đề

Bước 5: Xác định phương hướng giải quyết

Bước 6: Kiểm tra sự đúng đắn của các giả thuyết bằng lý luận hay TN

Trang 29

20

Bước 7: GV chỉnh lí, bổ sung và chỉ ra kiến thức mớí cần lĩnh hội

Bước 8: Kiểm tra lại và ứng dụng kiến thức vừa thu được

PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề có thể giúp HS phát triển năng lực phát hiện giải quyết vấn đề, năng lực độc lập sáng tạo, năng lực hợp tác cho HS

1.3.4.2 Dạy học hợp tác[28]

a) Khái niệm : Theo nhiều tài liệu của quốc tế với tên tiếng Anh “cooperative

learning” thì nghĩa tiếng Việt là học tập hợp tác, nhấn mạnh vai trò chủ thể của HS

trong DH và được coi là một PPDH

Trong DH hợp tác, GV tổ chức cho HS hoạt động trong những nhóm nhỏ để

HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao…

Những nhiệm vụ học tập giao cho HS cần phải khuyến khích sự phối hợp của các thành viên trong nhóm (nhóm trưởng, thư kí, người quản lí thời gian…) Cần hình thành thói quen học tập hợp tác cho HS Trong học tập hợp tác, HS học cách chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự hợp tác tham gia và nâng cao hiệu quả học tập

Khi tham gia hoạt động hợp tác, HS cần thể hiện được 5 yếu tố sau đây:

* Chọn nội dung và nhiệm vụ phù hợp

- Có đủ thời gian để thực hiện nhiệm vụ học tập

- Nhiệm vụ học tập có tính chất tương đối khó khăn hoặc rất khó hoặc là nhiệm vụ mới có nhiều phương án giải quyết

* Thiết kế kế hoạch bài học áp dụng DH hợp tác

- Xuất phát từ mục tiêu, nội dung của bài học, GV cần thiết kế các hoạt động

DH trong đó xác định hoạt động nào cần tổ chức hoạt động theo nhóm

- Xác định rõ tiêu chí thành lập nhóm

Trang 30

- Phân công nhóm học tập và bố trí vị trí của nhóm phù hợp theo thiết kế

- Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm HS

- Hướng dẫn hoạt động của nhóm HS

- GV theo dõi, điều khiển, hướng dẫn hỗ trợ các nhóm

- Tổ chức HS báo cáo kết quả và đánh giá

- Sau khi HS nhận xét, phản hồi, GV chốt lại kiến thức cơ bản, tránh tình trạng

GV giảng lại toàn bộ các vấn đề HS đã trình bày làm mất thời gian

c) Ưu điểm và hạn chế

- Tăng cường sự tham gia tích cực của HS HS được chủ động tham gia, được bày tỏ ý kiến quan điểm, được tôn trọng ; Nâng cao kết quả học tập ; Phát triển năng lực lãnh đạo, tổ chức, năng lực hợp tác của HS ; Tăng cường đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá trong nhóm

- Hiện nay ở Việt Nam, DH hợp tác theo nhóm nhỏ đã được thực hiện tương đối phổ biến nhưng chưa thực sự hiệu quả do một số hạn chế sau đây: Không gian lớp học: lớp đông, phòng học hẹp, khó tổ chức ; Quỹ thời gian: cần nhiều thời gian cho thảo luận nhưng giờ học chỉ có 45’ (THPT) ; Một số HS tự giác chưa cao ; Hiệu quả không cao nếu tổ chức nhóm chỉ là hình thức

1.3.4.3 Dạy học theo góc[24]

a) Khái niệm: DH theo góc là một PPDH theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác

nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau

Học theo góc giúp HS có các cơ hội được lựa chọn hoạt động và phong cách học, được khám phá, được thực hành Hóa học HS đọc hiểu các nhiệm vụ, được hướng dẫn bằng văn bản của GV, cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm

Lớp học được chia thành các khu vực (các góc) Bằng cách phân chia nhiệm

vụ và tư liệu học tập ở mỗi góc, giúp HS khám phá xây dựng kiến thức và hình thành kĩ năng theo cách tiếp cận khác nhau HS có thể độc lập lựa chọn cách thức

Trang 31

22

học tập riêng trong nhiệm vụ chung Các hoạt động có tính đa dạng cao về nội dung

và bản chất Có nhiều cách phân chia góc:

- Góc theo phong cách học

- Góc theo hình thức hoạt động khác nhau

- Góc linh hoạt

b) Quy trình dạy học theo góc

Bước 1 Chọn nội dung, địa điểm và đối tượng HS phù hợp

Bước 2: Thiết kế bài học theo góc

- Mục tiêu bài học

- Các PPDH chủ yếu: PP sử dụng thí nghiệm, PP dạy học hợp tác, PP nêu và

giải quyết vấn đề, PP sử dụng thiết bị đa phương tiện

- Chuẩn bị: GV cần chuẩn bị về thiết bị, phương tiện và đồ dùng DH theo

góc Xác định tên góc và nhiệm vụ phù hợp Ở mỗi góc có bảng ghi nhiệm vụ của góc, yêu cầu sản phẩm cần có, tư liệu thiết bị cần thiết, phù hợp theo phong cách học hoặc theo nội dung hoạt động khác nhau Ví dụ đồ dùng thí nghiệm, hóa chất cho góc trải nghiệm môn Hóa học

- Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi góc, GV cần:

+ Xác định số góc, tên mỗi góc

+ Xác định nhiệm vụ và thời gian tối đa dành cho HS ở mỗi góc

+ Xác định những thiết bị, đồ dùng, phương tiện cho HS hoạt động

+ Hướng dẫn HS chọn góc và luân chuyển góc nối tiếp

GV cần thiết kế các nhiệm vụ học tập để HS tự đọc và hoàn thành theo phiếu học tập Có thể thiết kế góc với những nhiệm vụ cụ thể như sau:

+ Góc phân tích gồm sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phiếu học tập HS nghiên cứu tài liệu và trả lời phiếu học tập

+ Góc quan sát gồm máy tính, máy chiếu, các video clip về thí nghiệm + Góc TN gồm các thiết bị thí nghiệm, HS làm thí nghiệm theo hướng dẫn

và trả lời phiếu học tập

+ Góc áp dụng: HS hoàn thành các bài tập theo phiếu học tập

Chú ý: Trong thực tế, thường thời gian tối thiểu là 45’ hoặc 90’ với lượng HS

vừa phải nên thiết kế 3 đến 4 góc là cùng Tuy nhiên cần đặc biệt chú ý đảm bảo tính hiệu quả

- Thiết kế hoạt động HS tự đánh giá và củng cố nội dung bài học

Trang 32

23

c) Ưu điểm và khó khăn của dạy học theo góc

- Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái ở HS; Học sâu và hiệu quả bền vững ; Tương tác cá nhân giữa thầy và trò cao ; Có cơ hội cho hoạt động độc lập (khám phá , thực hành…); Cho HS lựa chọn hoạt động ở các góc khác nhau – cơ hội khác nhau tránh tình trạng HS phải chờ đợi ; GV có nhiều thời gian cho hoạt động hướng dẫn riêng từng HS hoặc nhóm nhỏ HS ; HS có thể hợp tác học tập với nhau

- Không gian lớp học cần lớn và số HS hạn chế ; Tốn thời gian; Có tính chọn lọc, không phải bất cứ môn học hay bài học nào cũng áp dụng được ; GV cần chuẩn

bị công phu về kế hoạch bài học, tổ chức DH theo góc cũng như đánh giá sau giờ học

1.3.4.4 Dạy học theo hợp đồng [25]

a) Khái niệm

Học theo hợp đồng (contract work) là một cách tổ chức môi trường học tập, trong đó mỗi HS được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các hoạt động khác nhau để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định HS có quyền độc lập quyết định dành nhiều hay ít thời gian cho mỗi hoạt động, hoạt động nào thực hiện trước, hoạt động nào thực hiện sau

Học theo hợp đồng là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó mỗi

HS được giao một tập hợp các nhiệm vụ được miêu tả cụ thể trong một văn bản chính quy theo dạng hợp đồng Trong thời khoá biểu hàng tuần, HS có một khoảng thời gian nhất định (thời gian thực hiện hợp đồng) để thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách tương đối độc lập HS sẽ là người chủ động xác định khoảng thời gian và thứ tự của từng hoạt động trong hợp đồng cần thực hiện

Học theo hợp đồng là một cách tổ chức học tập trong đó HS làm việc theo một gói các hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định

Hợp đồng là một biên bản thống nhất và khả thi giữa hai bên GV và cá nhân hoặc nhóm HS, theo đó có cam kết của HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ đã chọn trong một thời gian đã được ấn định Mỗi HS có thể tự lập kế hoạch thực hiện nội dung học tập của mình (quyết định cần nghiên cứu nội dung nào trước và có thể dành bao nhiêu thời gian cho nội dung đó)

b) Quy trình dạy học theo hợp đồng

Bước 1: Chọn nội dung và quy định về thời gian

Trang 33

24

Bước 2: Thiết kế bài DH theo hợp đồng

Bước 3: Tổ chức DH theo hợp đồng

Bước 4: Đánh giá năng lực của HS đạt được

c) Ưu điểm và khó khăn của DH theo hợp đồng

- Cho phép phân hoá nhịp độ và trình độ của HS; Củng cố tính độc lập của

HS, tạo điều kiện cho HS được thầy cô giáo hướng dẫn cá nhân; Tăng cường hợp tác; Hoạt động phong phú hơn; Lựa chọn đa dạng hơn; Tránh tình trạng HS phải chờ đợi; Tạo điều kiện cho HS được giao và được thực hiện trách nhiệm

- Các nhiệm vụ và tài liệu học tập phải được chuẩn bị trước; Các tài liệu học tập phải được phân hoá cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng HS; Cả thầy và trò đều cần một thời gian nhất định để làm quen với PPDH mới

1.3.4.5 Dạy học theo dự án[6;26]

a) Khái niệm:

DH theo dự án (DHDA) là một hình thức điển hình của DH định hướng theo hoạt động, trong đó HS thực hiện các nhiệm vụ phức hợp một cách tự lực, kết hợp lí

thuyết và thực hành, được gọi là các dự án học tập

Như vậy: DH theo dự án là một hình thức DH, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được

b) Các đặc điểm của dạy học theo dự án

* HS làm gì trong khuôn khổ học theo dự án?

- Thu thập các thông tin cần thiết

- Xử lí và phân tích giá trị các thông tin đó (dựa trên các tiêu chí nhất định)

- Lên kế hoạch làm việc – phân bổ nhiệm vụ

- Hợp tác và điều chỉnh các hoạt động giao tiếp trong nhóm

Trang 34

25

- Thực hiện và giới thiệu sản phẩm cuối cùng

b) Quy trình DH theo dự án trong môn hóa học

Bước 1 : Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án:

Bước 2: Cụ thể hoá, xác định , lên kế hoạch và giao nhiệm vụ:

Bước 3: Thu thập thông tin Thực hiện dự án

Bước 4: Xử lí thông tin - bắt tay thực hiện công việc:

Bước 5: Trình bày giới thiệu kết quả và đánh giá (sản phẩm và quá trình) c) Ưu điểm và khó khăn của DH theo dự án

- Gắn lí thuyết với thực hành, có tính chất liên môn (Hóa học, Vật lý, Sinh học) Kích thích động cơ hứng thú của người học đồng thời phát huy tính tự lực, tinh thần trách nhiệm của người học, phát triển năng lực độc lập, sáng tạo, năng lực hợp tác làm việc và năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Học tập qua dự án là học trong hành động, người học tích cực giành lấy kiến thức, tự giác rèn luyện kĩ năng cần thiết cho cuộc sống hiện đại

- Đòi hỏi nhiều thời gian Không thích hợp trong việc truyền thụ những tri thức lí thuyết hệ thống Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

1.3.5 Sử dụng thiết bị dạy học theo định hướng dạy học tích cực [14]

- Sử dụng thiết bị DH như là nguồn cung cấp kiến thức để HS khai thác, khám phá kiến thức, vận dụng và rèn luyện kiến thức kỹ năng

- Sử dụng thiết bị DH giúp HS rèn luyện kĩ năng thực hành hóa học

- Sử dụng thiết bị DH giúp HS làm tăng tính thực tiễn của các kiến thức hóa học; Liên hệ kiến thức lý thuyết và thực hành; Phát triển năng lực vận dụng các kiến thức hóa học vào thực tiễn đời sống

1.4 Thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học hóa học ở một số trường THPT tỉnh Nam Định

1.4.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng năng lực tự học môn Hoá học của HS một số trường THPT,

từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của HS về việc tự học, đồng thời giúp các em nâng cao hiệu quả tự học môn Hoá học Điều đó đồng nghĩa với việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chung của các nhà trường

1.4.2 Đối tượng và phương pháp điều tra

1.4.2.1 Đối tượng điều tra: HS và GV môn Hoá học của một số trường THPT ở tỉnh Nam Định

Trang 35

26

1.4.2.2 Nội dung điều tra

Điều tra HS về vấn đề tự học môn Hoá học; điều tra GV về vấn đề hướng dẫn cho HS phương pháp tự học môn Hoá học

1.4.2.3 Phương pháp điều tra:

- Phỏng vấn trực tiếp

- Điều tra bằng phiếu hỏi

1.4.2.4 Kết quả điều tra

- Kết quả phỏng vấn 9 GV môn Hoá học của 4 trường THPT ở tỉnh Nam Định : khi được hỏi “anh (chị) đánh giá như thế nào về khả năng tự học của HSPT ở trường của anh (chị) đối với môn Hoá học?”, 9/9 giáo viên được hỏi cho rằng khả năng tự học môn Hoá học THPT nói riêng và các môn học nói chung của HS THPT còn ở mức độ thấp Khi được hỏi “ theo anh(chị), có thể nâng cao khả năng tự học của HS ở trường mà anh (chị ) công tác không? ”, 7/9 giáo viên trả lời là có thể, 1/9 giáo viên cho rằng không thể và 1 người còn lại chưa từng để ý đến vấn đề trên nên không cho ý kiến

- Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi (phụ lục 1) với 9 GV ở một số trường THPT trong huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Bảng 1.1 Bảng kết quả điều tra GV về việc sử dụng các PPDH

Tên các phương pháp,

kỹ thuật dạy học

Mức độ sử dụng (%) Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa sử dụng

Trang 36

27

Đa số GV ở các trường được hỏi thường xuyên chọn PPDH truyền thống, phổ biến là PP thuyết trình khi lên lớp (88,89%), trong khi đó các PPDH và kỹ thuật dạy học tích cực như thí nghiệm thực hành, hợp tác theo nhóm nhỏ rất ít khi được dùng (dưới 30%), đặc biệt DH hợp đồng, DH theo góc, DH dự án là những PPDH mới có nhiều ưu điểm thì hầu như không được sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế (0% - 11,11%) Đó có thể là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc học tập môn Hoá học của HS thiếu tích cực, chủ động do GV chưa tạo được hứng thú học tập cho các em

- Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi (phụ lục 2) đối với 224 học sinh thuộc các khối lớp khác nhau của một số trường THPT chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1.2 Bảng kết quả điều tra về việc tự học của học sinh

1 Theo em, việc tích cực, chủ động trong học tập và trong cuộc sống có cần thiết

Học thêm (ở nhà GV hoặc trung tâm) 131 58,48 1

Dành nhiều thời gian tự học có sự

hướng dẫn của thầy cô 82 36,61 2

3 Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc kiểm tra

4 Thời gian em thường dành để chuẩn bị bài trước khi đến lớp

Thời gian Số ý kiến Tỉ lệ %

Trang 37

GV

88,39 11,61

Phát huy tích cực của mình 32,14 67,86 Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức 18,30 81,7

Có thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời 7,59 92,41 Rèn luyện thêm khả năng đọc, tư duy, suy luận logic 16,96 83,04 Nội dung bài học thường được đề cập trong các kỳ thi 74,55 25,45

7 Em sử dụng thời gian tự học

Có Không

Để đọc lại bài trên lớp 65,63 34,37

Để chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn của GV 60,27 39,73

Để đọc tài liệu tham khảo 12,95 87,05

8 Cách thức tự học của các em là gì?

Có Không Học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV 74,55 25,45 Chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thích thú 45,98 54,02 Đọc kỹ và ghi tóm tắt dàn bài 10,27 89,73 Đánh dấu những chỗ cần làm sáng tỏ 16,96 83,04

Trang 38

29

9 Những khó khăn mà em gặp phải trong khi tự học là:

Có Không Thiếu tài liệu học tập, tham khảo 37,05 62,95 Thiếu sự hướng dẫn cụ thể cho việc học tập 53,13 46,87 Kiến thức rộng khó bao quát 65,63 34,37 Thiếu tự tin trong việc tự chủ động giải quyết vấn đề học

Sự tổ chức, hướng dẫn cụ thể của GV 86,16 13,84

Có tài liệu hướng dẫn học tập chi tiết 91,07 8,93

 Qua bảng kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy:

Có trên 80% HS nhận thức được sự cần thiết của việc tích cực chủ động trong học tập, tuy nhiên những biểu hiện trong hành động của việc tự học của các em còn

ở mức rất hạn chế, chẳng hạn có tới hơn 75% HS có thời gian chuẩn bị bài ở nhà không xác định, và thường thì thời gian dành cho việc chuẩn bị bài lại rất ít (khoảng dưới 30 phút) Những khó khăn cho việc tự học chủ yếu do HS thiếu tự tin trong học tập (72,77%), không tự kiểm soát được quá trình học tập, hay sao lãng (66,52%), thiếu sự hướng dẫn cụ thể của thầy cô về vấn đề tự học(53,13%) như vậy từ việc lập kế hoạch đến việc dành thời gian cho việc học tập còn chưa thường xuyên, chưa đủ để tạo thành thói quen HS chủ yếu trông chờ vào việc học thêm ngoài thời gian học trên lớp để cải thiện kết quả học tập (yếu tố học thêm được các

em chọn xếp hàng đầu trong việc cải thiện thành tích học tập) Các em chưa tích cực, chủ động trong việc tìm hiểu tài liệu, chuẩn bị bài mới Qua phân tích kết quả điều tra, chúng tôi thấy cần thiết phải tích cực trong việc đổi mới PPDH cũng như cần có các biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ HS nâng cao năng lực tự học bộ môn Hoá học

Trang 39

30

Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận

và thực tiễn của đề tài bao gồm :

- Khái niệm, các hình thức tự học, chu trình tự học và vai trò của tự học

- Các nội dung chính về định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của Việt Nam hiện nay

- Các phương pháp dạy học tích cực và vai trò của chúng trong việc phát triển năng lực tự học cho HS THPT

- Thực trạng vấn đề tự học của HS một số trường THPT trong huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong đó có trường THPT Lương Thế Vinh là nơi tôi đang công tác và giảng dạy hiện nay

Các vấn đề trên là cơ sở cho phép chúng tôi nêu lên một số vấn đề cần được hiểu

và làm theo quan điểm tiếp cận hệ thống, góp phần thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu của HS THPT ở trường THPT Lương Thế Vinh huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định lên một mức cao hơn

Trang 40

31

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LY- HÓA HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)

2.1 Mục tiêu và cấu trúc chương Sự điện li –Hóa học 11 - THPT

2.1.1 Mục tiêu của chương 1 - Sự điện li –Hóa học 11 – THPT [8]

Sau khi học tập xong chương này, học sinh cần đạt được các yêu cầu sau:

- Rèn luyện kĩ năng thực hành: quan sát, mô tả, nhận xét, so sánh

- Viết phương trình ion và ion thu gọn của các phản ứng xảy ra trong dung dịch

- Tính đúng các phép tính có liên quan đến nồng độ H+, OH-, p H trong dung dịch

2.1.1.3 Mục tiêu giáo dục tình cảm thái độ

- Tin tưởng vào phương pháp nghiên cứu khoa học bằng thực nghiệm

- Rèn luyện đức tính cẩn thận, nghiêm túc trong học tập, thí nghiệm

- Có được những hiểu biết đúng đắn và khoa học về dd axit, bazơ, muối

2.1.2 Cấu trúc của chương “ Sự điện li” –Hóa học 11 - THPT

Các nội dung trong Chương 1- Sự điện li – Hoá học lớp 11 (chương trình cơ bản), được cấu trúc thành các bài học :

Bài 1: Sự điện li

Bài 2: Axit – Bazơ – Muối

Bài 3: Sự điện li của nước pH Chất chỉ thị axit – bazơ

Ngày đăng: 04/12/2020, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w