Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản xã hội, văn hóa, nhà văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ THU HÀ
NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN BẢN
ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Trang 2DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Giới hạn và đối tượng nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giả thuyết của luận văn 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Khái quát về ưu thế và nhược điểm của những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển văn học 7
1.1.2 Bước phát triển mới của quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay 12
1.1.3 Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hóa, nhà văn … ) để cắt nghĩa tác phẩm
17 1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Khảo sát tình hình vận dụng hiểu biết ngoài văn bản ở THPT hiện nay 33
Trang 41.2.2 Một số kết luận rút ra từ quá trình khảo sát 39
Chương 2: NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT
NGOÀI VĂN BẢN ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 45 2.1 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn học sử và mục Tiểu dẫn SGK 45 2.2 Hướng dẫn học sinh vận dụng những hiểu biết về tâm sự của
nhà văn để giải mã tác phẩm 50 2.3 Hướng dẫn học sinh khai thác ý kiến các nhà phê bình nghiên
cứu, ý kiến các nhà văn khác về nhà văn và tác phẩm được học 55 2.4 Hướng dẫn học sinh khai thác hiểu biết ngoài văn bản từ chính bản
thân 64
Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ÁP DỤNG
NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN
BẢN ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 67 3.1 Thiết kế bài giảng 67 3.2 Kết luận rút ra từ việc thiết kế bài giảng áp dụng những biện pháp
vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở
Trung học phổ thông 92
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT
là hướng tiếp cận quan trọng mang tính khoa học
Nhiều thập kỉ qua, phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh được áp dụng
trong nghiên cứu phê bình văn học đã đạt hiệu quả và gặt hái những thành công to lớn không thể phủ nhận Đây là cách tiếp cận tác phẩm văn học chính xác, khoa học, hiệu quả, đáng tin cậy Theo quan điểm của lí luận văn nghệ mác xít, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù mang tính thẩm mĩ, văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ quan điểm, lập trường của người viết với đời sống Đối tượng phản ánh của văn học là các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội Vì vậy, muốn hiểu nội dung ý nghĩa các hình tượng nghệ thuật nhà văn hư cấu trong tác phẩm, cần phải được soi chiếu từ góc độ hiện thực
Theo thời gian, trong sự biến động nhiều mặt của nền kinh tế, chính trị, xã hội thế giới, một số trường phái lí luận mới xuất hiện với nhiều phát hiện, khám phá mới mẻ đáng ghi nhận Tuy nhiên, chính vì đề cao cái mới Tuy nhiên, chính vì đề cao cái mới, muốn cổ súy cho tính ưu việt của các tân lí thuyết về tiếp cận văn học, đã có những ý kiến cực đoan phủ nhận hoàn toàn phương pháp tiếp cận lịch sử xã hội đang được sử dụng lâu nay Tùy theo từng trường phái mà văn nghệ mác xít, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù mang tính thẩm mĩ, văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ quan điểm, lập trường của người viết với đời sống Đối tượng phản ánh của văn học là các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội Vì vậy, muốn hiểu nội dung ý nghĩa các hình tượng nghệ thuật nhà văn
hư cấu trong tác phẩm, cần phải được soi chiếu từ góc độ hiện thực
Theo thời gian, trong sự biến động nhiều mặt của nền kinh tế, chính trị, xã hội thế giới, một số trường phái lí luận mới xuất đề cao vai trò của văn bản
Trang 6hay của người đọc trong việc khám phá ý nghĩa tác phẩm văn chương Họ cho rằng, phương pháp cắt nghĩa tác phẩm bằng các hiện tượng xã hội, đi từ những hiểu biết ngoài văn bản để hiểu văn bản là cách thức lỗi thời, lạc hậu, mang tính áp đặt và dung tục Bởi nếu chỉ quan tâm đến những hiểu biết xã hội, con người nhà văn để tìm hiểu một tác phẩm văn học dễ đi đến khuynh hướng xã hội học dung tục Nhưng không vì thế mà gạt bỏ hoặc xem nhẹ khuynh hướng tiếp cận lịch sử xã hội đã khẳng định giá trị và sự tồn tại của
nó qua nhiều thập kỉ nay
Trong sự chồng chéo phức tạp của những luồng tư tưởng khác nhau ở các trường phái đối lập, đã xuất hiện một phương pháp mới tiến bộ trên thế giới cũng như ở Việt Nam: khuynh hướng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương Đây là hướng đi đúng đắn cho các hệ thống phương pháp lí luận văn học đang trong giai đoạn phát triển đa chiều nhưng thiếu sự thống nhất và đồng thuận Phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương chú trọng sự hài hòa, tiếp thu những mặt ưu điểm, tích cực, hợp lí, khoa học của tất cả các khuynh hướng khác nhau để tạo thành một phương pháp hoàn chỉnh, có khả năng tìm hiểu tác phẩm văn chương trong cái nhìn bao quát, đầy đủ và toàn vẹn
Trên cơ sở phát triển lí thuyết về phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, không thể không quan tâm đến phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh Đây là một trong ba phương pháp quan trọng gắn kết thành một thế chân kiềng tạo nên sự vững chắc cho phương pháp tiếp cận đồng bộ Lâu nay, vì sự phát triển mạnh mẽ của các phương pháp mới mà người ta nghi ngờ, phủ nhận hoặc quên đi khuynh hướng tiếp cận lịch sử xã hội đã từng được sử dụng và
có những đóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển văn học.Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mục đích một lần nữa khẳng định tầm quan trọng và tính tất yếu của việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với phương pháp tiếp cận đồng
Trang 7bộ, một phương pháp tiên tiến đang thu hút sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới
1.2 Việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương của GV trong nhà trường hiện nay chưa được quan tâm đúng mức
Cùng với sự phát triển và tầm ảnh hưởng của các trường phái lí thuyết tiếp
cận văn chương khác nhau, việc giảng dạy văn học trong nhà trường cũng không tránh khỏi những chao đảo nhất định Có những đổi mới, tìm tòi, sáng tạo của GV ở các giờ lên lớp đã áp dụng khá tốt ưu thế của các khuynh hướng tiếp cận văn bản hay hướng vào đáp ứng của người học Tuy nhiên, theo quan sát và tìm hiểu, các GV hiện nay đang ít quan tâm hoặc áp dụng một cách máy móc việc vận dụng phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh để hướng dẫn
HS khám phá tác phẩm văn học Vì vậy, trong các giờ học có thể diễn ra hai hướng sau: Một là, GV hầu như bỏ qua các kiến thức về tác giả, tác phẩm (dạy qua loa, đại khái, sơ lược) Thứ hai, GV áp dụng máy móc, xơ cứng các kiến thức lịch sử xã hội, tác giả tác phẩm vào việc đọc hiểu văn bản, khiến giờ học văn chương của HS trở nên bị áp đặt và khiên cưỡng Vì GV ít chú ý, thiếu quan tâm, không xem trọng các kiến thức lịch sử xã hội, những hiểu biết ngoài văn bản để giải mã, cắt nghĩa tác phẩm văn chương đã dẫn đến việc giảng dạy môn văn ở THPT chưa đạt được kết quả cần có
Đề tài cố gắng đem đến một phương pháp làm thế nào vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn học một cách hiệu quả nhất, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm văn chương ở THPT
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử phát triển văn học, những hình thức tiếp cận, đánh giá tác phẩm văn chương được giới nghiên cứu phê bình văn học rất quan tâm chú ý Tuy nhiên, đối với khuynh hướng tiếp cận lịch sử phái sinh hầu như chưa thực
sự có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách rõ ràng, cụ thể
Trang 8Người viết đề tài căn cứ vào bài viết của giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn
Phương pháp dạy học văn (xuất bản năm 2004) bàn về phương pháp tiếp cận
đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường và phát triển sâu hơn một bước một trong ba mũi tiếp cận của phương pháp này: mũi tiếp cận lịch sử phát sinh
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Trong quá trình phát triển của lịch sử lí luận, phương pháp tiếp cận văn
học, đã có thời kì phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh được đề cao Theo thời gian, sự xuất hiện của những phương pháp mới dần chiếm lĩnh và có xu hướng phủ nhận cái cũ, việc giải mã tác tác phẩm văn chương thông qua những kiến thức lịch sử xã hội không còn được xem trọng Phương pháp tiếp cận đồng bộ với bước phát triển mới và những ưu thế đang được khẳng định
đã trả lại vị trí, vai trò không thể thiếu của phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với các phương pháp khác Vì vậy,
ở đề tài này chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT
3.2. Cùng với việc nghiên cứu lí thuyết, mục đích của đề tài còn trực tiếp tham gia tìm hiểu việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương trong giảng dạy của GV ở THPT Trên cơ sở đó sẽ đưa ra các phương án tối ưu, những biện pháp thích hợp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ học văn
4 Giới hạn và đối tượng nghiên cứu
Tác giả đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp và phân tích những dữ liệu sau:
- Những cuốn sách về Lí luận văn học, những tài liệu, bài viết liên quan đến phương pháp sáng tác, lao động nhà văn, tâm lí học sáng tạo văn học, nhà văn
Trang 9nói về tác phẩm…Đặc biệt là những công trình về phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương của các nhà khoa học
- Những kiến thức về tác giả, tác phẩm được trình bày trong bộ SGK Ngữ văn THPT hiện hành
- Các giáo án và giờ dạy của đồng nghiệp mà tác giả đề tài tiến hành khảo sát
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu các cách thức tiếp cận để giải mã tác phẩm văn chương trong nhà trường Giải thích vai trò, ý nghĩa của cách tiếp cận cắt nghĩa tác phẩm văn chương bằng những hiểu biết ngoài văn bản
5.2 Thống kê, phân tích, nhận xét những kiến thức ngoài văn bản (Mục Tiểu
dẫn, phần tác giả, phần văn học sử) được trình bày trong SGK THPT hiện hành
5.3 Khảo sát giáo án và giờ dạy của GV ở THPT, đưa ra kết luận, nhận xét
khái quát
5.4 Đề xuất phương pháp vận dụng hợp lí hiểu biết ngoài văn bản để giải mã
tác phẩm văn chương ở THPT một cách hiệu quả
5.5 Thiết kế giáo án thể nghiệm trong đó thể hiện được cách vận dụng tối ưu
những hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT
6 Giả thuyết của luận văn
6.1 Vận dụng hiểu biết ngoài văn bản là một trong ba mũi tiếp cận quan trọng,
cơ bản, cần thiết của phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương ở THPT Nếu thiếu đi mũi tiếp cận này đồng nghĩa với việc làm giảm chất lượng, hiệu quả của việc khám phá, phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn học
6.2 Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, luận văn tiến hành nghiên cứu và
đề xuất các biện pháp vận dụng hợp lí hiểu biết ngoài văn bản để giúp GV có cái nhìn toàn diện, chính xác, hệ thống về các cách thức hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm thông qua kiến thức lịch sử xã hội Từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ học tác phẩm văn chương ở THPT hiện nay
Trang 107 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp nghiên cứu tài liệu; tổng
hợp và vận dụng lí luận
7.2 Phương pháp khảo sát thực tế: Tiến hành khảo sát giáo án và dự giờ dạy
của GV và HS trong nhà trường THPT
7.3 Phương pháp thể nghiệm giáo án bài dạy: soạn giáo án minh họa
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo; phần nội dung được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Những biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải
mã tác phẩm văn chương ở THPT
Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm áp dụng biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
là do những tác động trong quan niệm khác nhau về tác phẩm văn học
1.1.1.1 Những khuynh hướng tiếp cận khác nhau
* Khuynh hướng tiếp cận theo phương pháp lịch sử xã hội
Quan niệm về tác phẩm văn học hình thành dần dần, bắt đầu từ quan hệ chỉnh thể với bộ phận Thời cổ đại Hi Lạp, Aristote đã nhìn tác phẩm nghệ thuật dưới góc độ triết học và đưa ra khái niệm chỉnh thể hữu cơ Đến thời triết học cổ điển Đức, Hegel trong công trình Mĩ học đã coi tác phẩm thơ (văn học) nói chung là chỉnh thể và bộ phận, đó là “sản phẩm của trí tưởng tượng phóng túng tự do được biểu hiện dưới hình thức một tổng thể hữu cơ khép kín, hữu hạn mà mỗi bộ phận của nó đều trọn vẹn” Ông chia tác phẩm nghệ thuật làm 2 thành phần : bên ngoài và bên trong, hình thức và nội dung, cho thấy phương diện biểu đạt của tác phẩm Sau Hegel từ V.Bielinski, N.Chernyshevski cho đến các nhà lí luận văn học macxit như V.Plekhanov, A.Lunacharski nói chung đều hiểu tác phẩm văn học dưới góc độ thống nhất hình thức và nội dung Tuy nhiên, vì dựa vào cặp phạm trù triết học có tính phổ quát là “nội dung” và “hình thức”, mà nội dung quyết định hình thức nên người ta ưu tiên đi tìm bản chất nội dung văn học, mở ra các quan niệm xã hội học, văn hoá học của văn học, do đó ít quan tâm đến thực chất đặc trưng nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm văn học
Sau quan niệm cổ điển là quan điểm thực chứng Đại diện của trường phái này là H.Taine cho rằng nghiên cứu văn học chỉ cần 3 yếu tố “chủng tộc”
Trang 12“hoàn cảnh” “thời đại” là đủ Theo ông bản thân tác phẩm văn học hầu như không có giá trị độc lập tự thân nào Tiếp theo phái thực chứng, các nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa lại xem tác phẩm là sự biểu hiện của tình cảm, cảm xúc, cá tính nhà văn nên đã tập trung chú ý vào cá nhân nhà văn
Như vậy, trước thế kỷ XX, khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo phương pháp lịch sử xã hội luôn được xem trọng và đề cao Đến thế kỷ XX, những quan niệm mới về tác phẩm văn học dần được hình thành.[44,tr.12-17]
* Khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo hình thức, cấu trúc văn bản
Chủ nghĩa hình thức Nga là trường phái lý luận văn học đầu tiên nghiên cứu văn học như 1 giá trị sáng tạo ngôn ngữ độc lập Họ phản đối phương pháp nhị phân tác phẩm văn học thành nội dung và hình thức Họ đề nghị xem tác phẩm như là hiện tượng đời sống, là kinh nghiệm sống do nhà văn lựa chọn, nắm bắt, còn hình thức là sự gia công, cải tạo chất liệu bằng thủ pháp nghệ thuật Do đó, để hiểu tác phẩm, không cần bàn về chất liệu đời sống mà chỉ cần phân tích thủ pháp nghệ thuật để hiểu nội dung là đủ Đây là quan niệm có phần thiên lệch, giản đơn, rút gọn nghệ thuật vào thư pháp, quá đề cao tầm quan trọng của hình thức, khẳng định tính quyết định của hình thức,
đi ngược lại quan niệm truyền thống
Trường phái “phê bình mới” của Anh, Mĩ cũng cho rằng việc tách bạch cơ giới nội dung với hình thức là điều phi lí Họ coi nội dung tác phẩm là cấu trúc, coi biểu hiện ngôn từ là cơ chất, cơ chất mới là nơi biểu hiện chất văn Chủ nghĩa cấu trúc đi sâu hơn một bước, đem “văn bản” thay cho “tác phẩm”, chủ trương không nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể, mà chỉ nghiên cứu cấu trúc trừu tượng của văn học, tức là chỉ tìm những nguyên tắc chìm, có tác dụng chi phối làm cho tác phẩm ngôn từ trở thành tác phẩm có “chất văn học”
Chủ nghĩa cấu trúc xem văn học như một ngôn ngữ Vận dụng sự phân biệt
“ngôn ngữ” và “lời nói” là do nhà ngôn ngữ học F.De Saurssure đưa ra Nhà
Trang 13cấu trúc chủ nghĩa đã phân biệt tác phẩm cụ thể ( lời nói ) với cấu trúc ( ngôn ngữ ) và chỉ nghiên cứu cấu trúc mà thôi Cấu trúc là một cấu tạo trừu tượng, gồm quan hệ của các yếu tố trong văn bản, mà tác phẩm cụ thể chỉ là các biểu hiện khác nhau của một cấu trúc đó Quan niệm về cấu trúc văn học của các nhà cấu trúc chủ nghĩa rất đa dạng và phức tạp Nhìn chung cấu trúc tác phẩm chưa phải là tác phẩm vì tác phẩm là một “cấu tạo siêu ngôn ngữ”, nó là phát ngôn đặc thù gắn với hoạt động của nhà văn và bạn đọc Do khép kín trong ngôn ngữ, quan niệm cấu trúc chẳng những xem nhẹ vai trò sáng tạo của tác giả mà cũng không thấy vai trò đồng sáng tạo của người đọc Tuy nhiên chủ nghĩa cấu trúc đã sáng tạo một bộ máy công cụ rất có giá trị để đi sâu phân tích tác phẩm văn học.[44,tr.18-21]
* Khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo phương pháp hướng vào đáp ứng
của người đọc
Lí luận tiếp nhận văn học chú trọng phân biệt “văn bản” với “tác phẩm” và làm thay đổi căn bản quan niệm về tác phẩm Văn bản là một tổ chức ký hiệu được sáng tạo ra cho người đọc, tồn tại trước khi có hoạt động đọc của người đọc Văn bản là một chuỗi ký hiệu được in trên giấy, là một cấu trúc có tính lược đồ, nhiều tầng bậc, chưa xác định Nó không tự sản sinh ý nghĩa nếu không được đọc thì nó cũng chẳng khác gì các từ trong từ điển Tác phẩm là sản phẩm tiếp nhận văn bản, tồn tại trong ý thức người đọc Tất nhiên tác phẩm không đồng nhất với bất cứ sự cụ thể hoá văn bản cá biệt của người đọc
cụ thể nào Theo lý lụân tiếp nhận thì tác phẩm do hai yếu tố tạo thành: văn bản (trong chất liệu) và khách thể thẩm mỹ (trong tâm trí) Văn bản có thể tồn tại qua các thời đại, còn tác phẩm do người đọc cụ thể hoá, đồng sáng tạo nên luôn mang tính chất lịch sử, mỗi thời một khác, tuỳ theo cách tiếp nhận của xã hội, lịch sử thời đó
Quan niệm hiện tượng học cho rằng, mọi khách thể đều do vô vàn nhân tố xác định mà hoạt động nhận thức không bao giờ có thể bao quát hết vì thế
Trang 14khách thể trong văn học bao giờ cũng có những khoảng trống, những điểm chưa xác định Quan niệm này có cơ sở trong lí thuyết nhận thức luận phát sinh Văn bản luôn có những khoảng trống, khoảng trắng chỗ đứt đoạn để cho người đọc đồng sáng tạo Tuy nhiên, không nên hiểu tính lược đồ này chỉ là
sơ đồ trừu tượng, không cụ thể, vì văn bản văn học với chữ nghĩa, hình tượng bao giờ cũng sinh động giàu chi tiết và sức gợi Vấn đề là văn bản thường chỉ cung cấp cái thông báo, mà thông báo có khoảng trống nên ý nghĩa không xác định Sự cụ thể hoá văn bản của người đọc cũng có quy luật của nó, không phải mọi sự cụ thể hóa đều có giá trị thẩm mỹ như nhau
Quan niệm hậu cấu trúc cho rằng văn bản có tính liên văn bản, nghĩa là mọi văn bản đều giống như loại đồ khảm các hành văn khác nhau, văn bản nào cũng hấp thu và chuyển hóa các văn bản khác (J.Kristeva) Tất nhiên liên văn bản không có nghĩa là sao chép lẫn nhau, mà như R.Barthes nói, mọi văn bản đều là liên văn bản với nghĩa là bao hàm tiền văn bản, văn bản văn hoá, văn bản nhìn thấy và văn bản không nhìn thấy, sự dẫn văn vô thức và tự động Vì thế liên văn bản nói lên tính xã hội, tính chỉnh thể, tính sản sinh của văn bản
Nó là một sự truyền bá Do sự tồn tại giữa các văn bản, có vô vàn quan hệ chằng chịt với các văn bản khác, một văn bản trong quá trình hình thành và tiếp nhận đều mang tính liên văn bản
Cùng với lí thuyết tiếp nhận, lý luận phản ứng của người đọc xem văn bản chỉ là cái khung trống rỗng, chỉ khi người đọc xuất phát từ tình huống của mình để tìm ý nghĩa “rót” nội dung cụ thể vào thì mới thành tác phẩm Người đọc trở thành kẻ sáng tạo ý nghĩa tác phẩm, tác giả hầu như chẳng có vai trò
gì Quan niệm này có phần cực đoan, bởi vì hoạt động đọc không thể thoát li, bất chấp văn bản, mà văn bản là sự thể hiện của tác giả [44,tr.21-24]
1.1.1.2 Những kết luận chung về các khuynh hướng
Như vậy, tuỳ theo những quan niệm khác nhau về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học trong các thời kỳ lịch sử để tạo ra sự đa dạng, khác biệt
Trang 15trong cách thức tiếp cận tác phẩm văn chương ở các khuynh hướng khác nhau Ở Việt Nam, đã có những cách tiếp cận tìm hiểu văn chương đi theo những chiều hướng đúng sai khác nhau tuỳ theo sự am hiểu tinh thông phương pháp luận nghiên cứu văn học, tuỳ theo bản lĩnh khoa học của mỗi người Có khuynh hướng coi trọng hoàn cảnh phát sinh hay tuyệt đối hoá yếu
tố ngoài tác phẩm Có khuynh hướng khám phá cấu trúc văn bản một cách khoa học Lại có cách tiếp cận biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh, hướng vào bạn đọc không khép kín trong văn bản hay cường điệu hoá sở thích cảm thụ chủ quan của người đọc đi đến thoát ly văn bản Từ lâu, người
ta đã phê phán khuynh hướng tiếp cận “phi văn bản” “ngoài văn bản”, “trên văn bản” hoặc khuynh hướng phân tích không địa chỉ Tóm lại, nếu chúng ta quá cường điệu hay máy móc trong phương pháp luận tiếp cận tác phẩm văn chương nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học Bởi đơn giản, khi phân tích bất cứ một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương nào trên đây ta đều nhận thấy những đóng góp, những ưu điểm tích cực, nhưng không phải không có những mặt hạn chế.[23,tr.181]
Chúng ta vẫn có thể xem xét, chọn lọc, tiếp nhận những điều hợp lí trong quan niệm, nhất là trong phương pháp của các lí thuyết nói trên Có thể rút ra một kết luận khoa học và cơ bản đối với người nghiên cứu và giảng dạy văn học: phải luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hoà các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương Đây là phương pháp tiếp cận khoa học được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của tác phẩm văn chương Đó cũng là sự vận dụng nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về sáng tác và tiếp nhận văn chương vào việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể
Trang 161.1.2 Bước phát triển mới của quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay
Trên thế giới, một số nhà sư phạm Mĩ tuy không vận dụng khái niệm “tiếp
cận đồng bộ” song đã nhấn mạnh đến bốn quan điểm : xã hội, văn hoá, văn bản và chủ đề Thực chất đó cũng là sự phân chia rạch ròi các phương diện của quan điểm tiếp cận đồng bộ một tác phẩm mà giáo trình phương pháp giảng dạy văn học ở Mĩ đang rất quan tâm
Ở Việt Nam, giáo sư Phan Trọng Luận trong các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn học của mình đã rất tâm huyết với vấn đề tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay
Theo giáo sư, tiếp cận đồng bộ là sự vận dụng hài hoà các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương Như vậy, đối với bất kỳ tác phẩm văn chương cụ thể nào, muốn tìm hiểu phân tích, giải mã được thấu đáo, khoa học khách quan cũng không thể thiếu đi một trong những hướng tiếp cận văn bản sau:
1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh
Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn ra đời trong nhưng bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm Vì vậy, muốn nghiên cứu một tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta không thể không tìm đến bối cảnh và nhà văn Đành rằng những tác phẩm văn chương kiệt xuất bao giờ cũng có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại, nhưng không phải vì vậy mà mỗi tác phẩm văn chương ấy lại mất đi giá trị lịch sử cụ thể của nó
Tiếp cận lịch sử phát sinh là đi từ những yếu tố ngoài văn bản để cắt nghĩa, giải mã ý nghĩa nội dung tư tưởng của tác phẩm Yếu tố ngoài văn bản trước tiên là bối cảnh, hoàn cảnh xã hội, là khoảng thời gian, không gian nơi mà tác phẩm văn học được sản sinh Nửa cuối thế kỉ XIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là thời kì chế độ phong kiến suy tàn, mục ruỗng đến cùng kiệt Mâu thuẫn ngày
Trang 17càng gay gắt trong nội bộ giai cấp thống trị và giữa giai cấp thống trị với các tầng lớp nhân dân Vì vậy văn học giai đoạn này chứa đựng một tinh thần chống phong kiến khá cao, vai trò của quần chúng được phản ánh trong văn học, hình thức nghệ thuật ngôn ngữ quần chúng được coi trọng và trở thành những phương tiện phổ biến Các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong phong trào đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các cao trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, phong trào Mặt trận dân chủ, cao trào “đánh Pháp đuổi Nhật” tiến tới khởi nghĩa tháng Tám Bối cảnh đó đã quyết định tới sự phát triển của phong trào văn học cách mạng, văn học hiện thực và sự bế tắc có phần suy đồi của văn học lãng mạn…[20]
Phần quan trọng thứ hai ở yếu tố ngoài văn bản là tác giả, cha đẻ của những đứa con tinh thần chứa đựng cảm xúc, tình cảm, ước mơ, khát vọng…của chính người đã hoài thai ra nó Muốn tìm hiểu nội dung sáng tác của nhà văn cần phải nắm được tiểu sử tác giả Nói đến tiểu sử là nói đến hoàn cảnh sinh sống, vị trí giai cấp, quan hệ xã hội…nghĩa là những điều kiện làm nguyên nhân và cơ sở cho việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn Những điều kiện về thế giới quan sẽ quyết định tới sáng tác của nhà văn Hiểu được hoàn cảnh sống của Hồ Xuân Hương, cuộc đời, tình duyên có nhiều éo
le, ngang trái ta sẽ hiểu vì sao bà lại nhiệt tình bênh vực cho hạnh phúc của người phụ nữ, kịch liệt lên án cảnh phải chia sẻ trong hạnh phúc vợ chồng “ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Hiểu được thế giới quan của Nguyễn Du mới hiểu được mối mâu thuẫn trong tư tưởng Truyện Kiều Một mặt, nhà văn tố cáo thế lực phong kiến bất công, tàn bạo là nguyên nhân trực tiếp xô đẩy người con gái tài sắc hiếu hạnh Thúy Kiều rơi vào vực thẳm của bùn lầy đen tối và đau khổ Mặt khác, ông lại
đổ lỗi cho:
Trang 18“ Ngẫm thay muôn sự tại trời
Như vậy, mỗi tác phẩm văn chương bao giờ cũng là một lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc sống Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh sẽ đem đến một cách hiểu và cảm thụ tác phẩm đúng đắn, khoa học, chính xác theo ý đồ sáng tác của tác giả.[20,tr.47-48]
Ưu thế của cách tiếp cận này đã được khẳng định từ nhiều thập kỉ nay, tuy nhiên không phải là không có những mặt hạn chế Một thời đã có quan niệm cho rằng tác giả là người duy nhất đem lại nội dung tư tưởng cho tác phẩm Một khi đã được sáng tác ra thì tác phẩm văn học đã có sẵn nội dung, tư tưởng rõ ràng, có đề tài, chủ đề xác định chỉ chờ người đọc đến tiếp nhận thụ động nữa mà thôi Đối với từng tác phẩm văn học cụ thể, người ta cho rằng chỉ có một cách hiểu duy nhất đúng, tức là cách hiểu phù hợp với ý định ban đầu của tác giả Quan niệm đồng nhất ý định tác giả với tác phẩm tạo nên lối nghiên cứu đi từ tác giả để hiểu tác phẩm Hoặc cũng có khi người ta quá chú trọng vào nghiên cứu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội khiến tác phẩm trở thành một bức tranh xã hội hai màu về xã hội và con người khô khan và xơ cứng Vì thế cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc về việc ứng dụng phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh với cách thức, liều lượng như thế nào
để khai thác được ưu thế và đạt hiệu quả cao nhất trong việc cắt nghĩa, phân tích và giảng dạy tác phẩm văn chương
1.1.2.2 Quan điểm tiếp cận văn bản
Hiểu biết ngoài văn bản là quan trọng nhưng cũng không thể thay được việc khám phá bản thân văn bản Quan điểm tiếp cận văn bản giúp người đọc,
Trang 19người nghiên cứu giảng dạy không thoát ly văn bản vốn là đề án tiếp nhận mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc
Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mĩ Nhà văn gửi đến cuộc đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống và con người Đây là điểm mấu chốt phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biến tác phẩm văn chương thành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội học hay một hiện tượng lịch sử cằn cỗi, một phương tiện minh hoạ giản đơn về bức tranh
xã hội Tuy nhiên cũng cần ngăn ngừa một khuynh hướng cực đoan chỉ nhìn nhận giá trị của văn bản nghệ thuật ở phương diện thẩm mĩ
Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức giữa bộ phận và tổng thể, giữa yếu tố hữu hình hay vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiền văn bản … Trong giảng văn một số giáo viên vẫn có xu hướng xé lẻ đập vụn tác phẩm làm cho văn bản văn chương mất đi tính nhất quán, cảm hứng chủ đạo của nhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm bị mờ nhạt hay xuyên tạc
Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể Nghĩa là khi đến với thơ không giống với tự sự hay kịch, đến với văn học dân gian không hoàn toàn giống với văn học viết Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp riêng Với văn học dịch cũng cần có cách tiếp cận riêng
1.1.2.3 Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh
Nhiều thập kỷ qua, tác phẩm văn chương bị coi như một hiện tượng tĩnh, nay được nhìn nhận trong trạng thái động, trong sự vận động đến với bạn đọc Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở Vòng đời tác phẩm văn chương cũng được nhận diện lại trong nhiều quan hệ hữu cơ biện chứng hơn Tác
Trang 20phẩm văn chương chỉ thực sự đi trọn vòng đời trong mối quan hệ với bạn đọc
để trở lại với cuộc sống vốn là xuất phát điểm Cả ba khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương của mĩ học tiếp nhận, hiện tượng luận và hậu cấu trúc đều hướng vào sự đáp ứng của người đọc Các khuynh hướng này coi phương thức tồn tại của tác phẩm văn học là sự tồn tại của văn bản có tiềm năng nghĩa, có khả năng tạo nghĩa trong mối quan tâm của người đọc Từ văn bản người đọc dựng nên hình tượng nghệ thuật có dụng ý, là sự tồn tại của ý nghĩa văn học Hình tượng được mở ra nhiều chiều, ý nghĩa được khám phá từ nhiều góc độ trong nhiều ngữ cảnh
Trên thế giới, nhiều nhà văn lớn như Tsêkhôp, Mác Sác, A.Tônxtôi…cung rất coi trọng vai trò của bạn đọc, coi đó là yếu tố quyết định sinh mệnh của mỗi tác phẩm Có nhiều ý kiến cho rằng nếu không có bạn đọc thì tất cả chỉ là
những đống giấy vô hồn, những kí hiệu câm lặng kể cả Iliat Ôđyxê hay Chiến tranh và hòa bình…Các tác giả có uy tín ở Mĩ về Phương pháp dạy học văn
ở THPT cũng rất chú trọng và nhấn mạnh ý tưởng đổi mới việc dạy học văn trong nhà trường theo hướng tiếp cận đáp ứng (responses-centred) Ở Việt Nam, giáo sư Phan Trọng Luận cũng hết sức quan tâm đến quan điểm tiếp cận này qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lí luận tiếp nhận văn học và chuyên ngành giảng dạy văn học
Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học đã diễn ra mười năm nay theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo là sự vận dụng sáng tạo kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại Tuy nhiên khi nhấn mạnh đến quan điểm người đọc, đến phản ứng và đáp ứng của học sinh trong giờ văn, chúng ta vẫn không tuyệt đối hóa hay cường điệu hóa sở thích của học sinh Trong nhà trường luôn có sự kết hợp hài hòa giữa cảm thụ cá nhân học sinh với định hướng sư phạm của người thầy
Trang 21Một quan điểm tiếp cận đồng bộ văn hóa, văn bản và đáp ứng của người học là sự kết hợp chuẩn mực hài hòa đồng bộ, bảo đảm hiệu quả vững chắc cho việc nghiên cứu và dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
1.1.3 Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản ( xã hội, văn hóa, nhà văn … ) để cắt nghĩa tác phẩm
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi quan tâm đến việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương, tức hướng tiếp cận lịch sử phát sinh Đây là cách tiếp cận chính xác khoa học, hiệu quả, đáng tin cậy xuất phát từ nội dung tư tưởng triết học Mác – Lênin đã được khẳng định nhiều thập
kỷ qua, cũng là hướng tiếp cận quan trọng mang tính tất yếu trong con đường tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
Trước khi tiến hành nghiên cứu cần xác định lại sự thống nhất trong khái niệm về quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh Tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh hiểu một cách đơn giản và cơ bản là đi từ hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh phát sinh tác phẩm để hiểu tác phẩm Cách tiếp cận này không xuất phát
từ bản thân tác phẩm hay từ phía người tiếp nhận Có thể nói, đó là những hiểu biết nằm ngoài văn bản như hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tiểu sử nhà văn…những yếu tố này sẽ giúp soi sáng cách hiểu, cách cảm về ý nghĩa nội dung, tư tưởng mà tác phẩm đem đến cho bạn đọc
1.1.3.1 Nhận diện những yếu tố ngoài văn bản
* Bối cảnh lịch sử và tình hình văn học ( Hoàn cảnh rộng)
Không có bất cứ một tác phẩm văn học nào khi ra đời lại không nằm trong
một hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể nào đó Bởi theo chủ nghĩa Mác, văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, tồn tại và lệ thuộc vào cơ sở kinh tế xã hội, tức là vào phương thức sản xuất của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Tuy không thể đồng nhất lịch sử văn học nghệ thuật với lịch sử kinh tế nhưng rõ ràng văn học trong nội dung và trình độ phát triển
Trang 22của nó đều trực tiếp hoặc gián tiếp bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, cụ thể là bởi trình độ sản xuất của thời đại Khi nền kinh tế với trình độ sản xuất thấp kém, con người còn đầy hoang mang, sửng sốt trước thế giới tự nhiên bao la,
bí ẩn thì chắc chắn nền văn học nghệ thuật cổ đại không thoát khỏi sự chi phối của lối tư duy thần thoại đậm màu sắc tôn giáo Cho nên hình tượng người anh hùng bộ tộc Đam San uy phong lừng lẫy chỉ được tạo ra trong thời đại chưa có thuốc súng, đạn chì Những bản trường ca Tây Nguyên hùng vĩ, được truyền miệng trong những đêm kể khan của già làng trưởng bản, không thể nảy sinh trong thời đại đã có máy in và các nhà xuất bản Chiếc nỏ thần trong truyền thuyết Cổ Loa không thể xuất hiện khi người Việt Nam đã biết chống giặc bằng súng thần công
Triết học Mác-xit cũng khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa xã hội với văn học Trong “
Nguyên lý giảng dạy văn học” Gơ-lut-côp nhà khoa học giáo dục Nga có viết:
“Nếu chúng ta không hiểu chế độ chính trị và các chế độ xã hội của thế kỉ
XVIII, nếu chúng ta không hiểu cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại thống trị của Pi-e đệ nhất, của nữ hoàng Ê-li-za, của E.Ca-tơ-ri-na và của Pôn đệ
nhất thì làm sao mà hiểu được văn học Nga thế kỉ XVIII ? Nếu không hiểu rõ
quan điểm lịch sử của Lê-nin, nếu không hiểu rõ học thuyết của Người về ba giai đoạn của phong trào giải phóng Nga, không hiểu nguyên nhân những biến cố xã hội lớn lao có tính chất tiêu biểu ở thế kỉ XIX và đầu XX thì làm thế nào mà hiểu được văn học thời kì đó.”
Điều kiện kinh tế xét đến cùng bao giờ cũng là nhân tố quyết định sự thay đổi của thượng tầng kiến trúc, của nghệ thuật nói chung và của văn học nói riêng Như vậy, sự hình thành và phát triển của một nền văn học trong một giai đoạn nhất định nào đó có sự chi phối quan trọng của điều kiện kinh tế xã hội Vào thế kỉ XVI-XVII, ở Việt Nam nền sản xuất hàng hóa giản đơn được
mở rộng, thị trường trao đổi phát triển, buôn bán mở mang hơn, nhu cầu giao
Trang 23dịch trong xã hội về mọi mặt kinh tế, thương mại, sinh hoạt là những nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển một nền văn học chữ nôm Tình hình văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1930 có sự phát triển của nhiều xu hướng văn học và một nền quốc văn mới phải kể đến ảnh hưởng quyết định của sự đổi mới trong cơ cấu kinh tế xã hội ta dưới chính sách khai thác của thực dân Pháp từ sau đại chiến lần thứ nhất Chính sách khai thác này đã tạo ra mối quan hệ sản xuất mới và sự ra đời nhanh chóng của các giai cấp tư sản, tiểu tư sản; trên cơ sở đó đã xuất hiện những ý thức hệ tư tưởng khác nhau làm nội dung cho các xu hướng văn học sau này.[20,tr.12-13]
Việc hình thành và phát triển của tình hình văn học bên cạnh sự ảnh hưởng quyết định của nhân tố kinh tế cũng cần phải kể đến tác động của tình hình đấu tranh giai cấp trong xã hội; tác động của các trào lưu tư tưởng văn hóa bên ngoài dội vào Khi nói tới tình hình văn học từ 1930 đến 1945 mà chỉ thấy sự tác động của điều kiện kinh tế thì khó mà giải thích được đầy đủ, chính xác về tình hình văn học Việt Nam lúc bấy giờ Nếu không nắm được các cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng từng bước đưa tới thành công của cách mạng tháng Tám thì chúng ta cũng không thể hiểu được những cơ sở xã hội, giai cấp nào đã quyết định sự phát triển của phong trào văn học cách mạng, văn học hiện thực và sự bế tắc của văn học lãng mạn…Có nắm vững đặc điểm giai cấp, hiểu tâm lí của giai cấp tiểu tư sản mới hiểu được sự ra đời và phát triển của văn chương Tự lực văn đoàn và phong trào thơ mới.[20]
Ảnh hưởng của nhân tố các trào lưu, tư tưởng nước ngoài tới nền văn học Việt Nam có thể thấy khá rõ, bởi nền văn học dân tộc ta đã từng trải qua biết bao năm dưới sự thống trị của phong kiến Trung hoa và thực dân Pháp.Văn học yêu nước đầu thế kỉ XX với Đông Kinh nghĩa thục, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…chịu ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng Trung Quốc tràn sang Việt Nam lúc bấy giờ qua các sách “Tân thư” Trào lưu văn học lãng mạn Việt
Trang 24Nam xuất hiện trong những năm 30 của thế kỉ XX cũng ảnh hưởng sâu sắc từ văn học lãng mạn Pháp.[20,tr.17]
Tóm lại, xác định hoàn cảnh rộng là xác định bối cảnh lịch sử và tình hình văn học tại thời điểm tác phẩm ra đời Nắm được sự chi phối của tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng…trong giai đoạn lịch sử nhất định đối với nền văn học, chúng ta mới có thể hiểu tác phẩm sản sinh trong thời kì đó chứa đựng những nội dung tư tưởng, có ý nghĩa lịch sử cụ thể nào
* Tác giả ( Hoàn cảnh hẹp)
Mỗi tác phẩm văn chương luôn là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín
đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc sống Tác phẩm nghệ thuật phản ánh quy luật, bản chất của đời sống xã hội, chịu sự chi phối của hoàn cảnh khách quan đồng thời nó cũng là con đẻ, là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ Nhà văn phát hiện chân lí đời sống bằng sự mẫn cảm của trái tim, trí tuệ và qua tưởng tượng, hư cấu cùng tài năng sử dụng sáng tạo chất liệu ngôn
từ của người nghệ sĩ thì mỏ quặng chất liệu hiện thực xù xì kia đã thực sự kết tinh thành những áng văn chương kì diệu Như vậy, tác phẩm văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Dấu ấn chủ quan của nhà văn xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát hiện vấn đề và phương thức chuyển tải tư tưởng tình cảm qua hình tượng văn học
Nói đến hiểu biết ngoài văn bản trong bối cảnh hẹp nghĩa là nhắc đến những hiểu biết về cuộc đời, con người, sự nghiệp của các nhà văn Muốn hiểu được sâu sắc, toàn diện một tác phẩm văn chương cụ thể không thể không trang bị một lượng kiến thức đầy đủ, có hệ thống về tiểu sử nhà văn Bản thân con người vốn là một kì công của cuộc sống Nó tồn tại với biết bao mối quan hệ vô cùng tinh tế, phức tạp Con người không phải một thực thể đơn thuần, thiên tài lại càng có nhiều quan hệ phức tạp phong phú, sâu sắc hơn Vì vậy, tìm hiểu về một nhà văn là phải hiểu được cuộc đời tư, ảnh hưởng của điều kiện xã hội trong việc nhào nặn, đào tạo ra thiên tài; tìm hiểu
Trang 25được thế giới quan, nhân sinh quan, nội dung tư tưởng trong những tác phẩm
họ sáng tạo
Mối quan hệ gia đình có ảnh hưởng không nhỏ đến sự xây dựng tâm hồn, nhận thức của nhà văn từ tuổi thơ ấu Xã hội đầu tiên mà nhà văn tiếp xúc gần gũi nhất từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời
xã hội chính là gia đình riêng : ông bà, cha mẹ, anh chị em, bà con thân thuộc…Những tập quán, những ấn tượng, những hệ thống tình cảm, tư tưởng đầu tiên được hình thành dần dần từng bước, từ trên nôi, trong tiếng hát ru con của bà mẹ, từ trong lời ăn tiếng nói hay trò chuyện…Những người thân thuộc đã để lại những ấn tượng nhiều khi không phai mờ trong suốt cả cuộc
đời và có khi góp phần ảnh hưởng trong thơ văn sau này Bà mẹ của Hồ Xuân
Hương giúp cho nàng sớm làm quen với chuyện văn chương chữ nghĩa Bà ngoại của M Gooc-ki với những câu chuyện thần thoại cổ tích dân gian đã góp phần xây dựng tâm hồn nhà văn vĩ đại đó Bà mẹ nghèo khổ của Nguyên Hồng để lại trong lòng tác giả những cảm xúc tràn trề trước những đau khổ đói rét của con người nghèo khổ Ông thân của Tố Hữu đã nhóm lên trong lòng cậu con trai những xúc cảm sâu sắc về cuộc đời, vè tấm lòng yêu nước
và yêu văn thơ qua những đêm khuya thanh vắng cùng con đọc văn thơ yêu nước của cụ Phan.[20]
Cùng với ảnh hưởng của mối quan hệ gia đình, quê hương cũng là một yếu
tố không nhỏ góp phần tạo nên tâm hồn nhà văn Quê hương là thế giới thiên nhiên đầu tiên con người tiếp xúc Một dòng sông trong mát, một bãi cỏ xanh, bầu trời tươi sáng, chim muông cây cỏ…nguồn thực tại dồi dào mát xanh ấy nhiều khi để lại những tình cảm đằm thắm, gắn bó không phai Khái niệm quê hương không chỉ là vẻ đẹp của núi sông cây cỏ mà còn bao hàm nhiều nhân tố phức tạp khác mà con người chịu ảnh hưởng Đó là những tập quán, tâm lí tình cảm, truyền thống đấu tranh của nhân dân Có khi là một lời ca giọng hát chứa chan tình cảm đất nước, có khi là một câu chuyện truyền thuyết dân gian
Trang 26hay một di chỉ địa phương nhưng đã để lại một dấu vết khó phai mờ trong tâm
hồn và kí ức của nhà văn “Năm 1940, tôi viết một truyện cho thiếu niên,
truyện Dế mèn phiêu lưu kí Khi đó còn ít tuổi (cũng chỉ ở tuổi mới bỏ chơi
dế) tôi thích viết thì tôi viết, tôi viết cho tôi trước vì tôi rất ham và giỏi “đúc dế” Nhưng bây giờ thì biết chẳng phải chỉ thích trong tưởng tượng mà tôi có thể viết được chàng Dế mèn, ông Đại vương Ếch cốm và thầy đồ Cóc trở thành những bầu bạn thân thiết của các bạn nhỏ là do một hoàn cảnh thực tế thời niên thiếu tôi đã được trải qua Trước cổng làng quê tôi hồi nhỏ có một bãi sông rộng, trên bãi ấy đã sinh hoạt một thế giới rất nhiều cây cỏ và các loại giống vật cho chúng tôi đào ra chơi, bởi những con giống trong truyện
Dế mèn phiêu lưu kí mà tôi nói đúng được sự hoạt động, tính nết và “phong
tục” của chúng là do tôi có bè bạn quen biết chúng nhiều lắm…” (Tô
Hoài).[20]
Tình cảm riêng, thế giới bên trong tâm hồn nhà văn là cũng là nhân tố tạo nên sự tác động tới sáng tạo của người nghệ sĩ Nhiều khi có mối liên hệ khá mật thiết giữa tình cảm chủ quan của nhà văn với tình cảm khách quan trong tác phẩm Tuy nhiên, cũng không nên máy móc suy luận từ tình cảm riêng, tâm sự riêng của nhà văn để đi đến kết luận máy móc về xu hướng tư tưởng, tình cảm trong sáng tác
Những ảnh hưởng trong đời sống riêng từ mối quan hệ gia đình, bà con, quê hương cho đến những tâm sự riêng chỉ là những điều kiện có tính chất riêng tư, nặng về mặt chủ quan của nhà văn Tuy nhiên nguồn gốc sâu xa, căn bản và quyết định nhất vẫn là những nhân tố xã hội đã góp phần xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan cũng như quan điểm của nhà văn về văn học nghệ thuật.M Goóc-ki đã viết: “Nghệ sĩ là cơ quan thụ cảm của đất nước mình, giai cấp mình, là tai, là mắt, là trái tim của giai cấp; nghệ sĩ là tiếng nói của
thời đại…” (Tôi đã học viết văn như thế nào)
Trang 27Nói đến ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội là nói đến ảnh hưởng của điều
kiện giáo dục, học vấn, của những cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội mà con người được chứng kiến và tham dự trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình Nơi mà con người được tiếp xúc với nền giáo dục thời đại một cách
có hệ thống chủ yếu vẫn là nhà trường Nhà trường là nơi truyền thụ những hệ thống quan điểm triết học, đạo đức, học thuật của từng giai cấp nhất định trong từng thời đại nhất định Giai cấp thống trị nắm chắc lấy vũ khí giáo dục
để tuyên truyền phổ biến những quan điểm triết học, chính trị vào đầu óc thế
hệ trẻ, đào tạo thành những con người trung thành của chế độ Cho nên xét đến thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn trong những xã hội xưa và nay không thể không xét đến những ảnh hưởng sâu xa của giáo dục nhà trường Các nhà văn cổ điển hầu như không có ai là không chịu ảnh hưởng nhiều hay
ít roi vọt nơi cửa Khổng sân Trình Nguyễn Du, học trò trung thành của nhà trường phong kiến, dù về sau đã có những nhận thức khác đi đối với cuộc đời nhưng không khỏi không luẩn quẩn trong vòng tư tưởng cũ Tuy nhiên ảnh hưởng của giáo dục thời đại không phải chỉ là ảnh hưởng của nhà trường mà thôi, nhiều khi còn chịu sự tác động quan trọng của học thuật, tư tưởng của những truyền thống văn học nghệ thật mà nhà văn thu lượm được trên sách
vở Có biết bao nhà văn vĩ đại đã không học qua nhà trường Trường học của
họ chính là cuộc sống và sách vở tự học lấy M Gooc-ki, N A-tơ-rôp-xki chỉ
là những nhà văn tự học lấy Phan Bội Châu đâu có học chủ nghĩa Tam dân ở trong cửa Khổng sân Trình Ông thầy chữ nho đâu có dạy cho cụ Phan tìm đến người Nga la tư Ảnh hưởng của sách vở, cuộc đời vẫn mạnh hơn sức mạnh giáo dục của nhà trường.[20]
Nói đến ảnh hưởng quan trọng của hoàn cảnh giáo dục là cần thiết nhưng cái quyết định chính vẫn là tác dụng của hoàn cảnh xã hội, của điều kiện lịch
sử mà thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đương thời Con người sống trong xã hội tiếp xúc với cuộc sống phong phú, phức tạp bên ngoài
Trang 28Thực tế cuộc sống bao giờ cũng mạnh hơn ý định chủ quan của con người, nó quyết định việc hình thành thế giới quan cùng với bao nhiêu quan điểm đạo đức, luân lí, mĩ học Hiện tượng thay đổi chính kiến ở một con người từ tuổi trẻ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vĩnh biệt cuộc đời, chính là biểu hiện của
sự thay đổi về nhận thức của con người trước cuộc sống Sự thay đổi chính kiến, việc chuyển dịch từ vị trí xã hội này sang vị trí xã hội khác là một việc
có thể hiểu được trong quá trình đấu tranh giai cấp trong xã hội
Lịch sử đã chứng kiến biết bao trường hợp điển hình về sự thay đổi trong thế giới quan của nhà văn Cùng với sự thay đổi của thời cuộc, của giai cấp, quan điểm chính trị, thái độ nhân sinh, ý thức tư tưởng tình cảm của nhà văn cũng có những chuyển biến nhất định Ngô Tất Tố xuất thân là một ông đồ nho, nhưng cuộc sống thực tế sau lũy tre xanh, cảnh xôi thịt rượu chè, “việc làng” bê tha, cảnh “lều chõng” hủ bại, chế độ độc ác đương thời đối với người nghèo khổ v.v…tất cả những thực tế đó của xã hội đã đập vào mắt nhà nho,
đã thay đổi dần dần cái quan điểm triết học Tống nho ở ông Rồi ánh sáng của phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, cho đến ảnh hưởng của cách mạng tháng Tám đã dội vào trí óc và tâm hồn nhà nho đó những nhận thức mới về xã hội, vè đấu tranh giai cấp, về con đường cách mạng… và từ một ông đồ nho, Ngô tất Tố đã trở thành một chiến sĩ cộng sản với thế giới quan tiền tiến thời đại Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân…từ những nhà văn lãng mạn tiêu cực đã trở thành những nhà văn gần gũi với chúng ta Cách mạng đã thay đổi họ ở vị trí xã hội, nội dung quan điểm chính trị và nghệ thuật cũng như nội dung tâm hồn nghệ sĩ để
họ có thể chuyển từ phương pháp sáng tác tiêu cực sang phương pháp sáng tác cách mạng Có theo dõi và nắm chắc được quá trình biến đổi đó trong con người tác giả thì mới tìm hiểu được nội dung sáng tác của nhà văn trong từng thời kì nhất định và cũng có cơ sở để đánh giá được một cách khoa học sự nghiệp một nhà văn.[20]
Trang 29Tất cả những điều kiện trình bày trên là cơ sở để tìm hiểu thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn Thế gới quan là kết quả của cả quá trình rèn luyện đào tạo trong cuộc sống, và là kết quả của của điều kiện giáo dục , học vấn, gia đình, bè bạn, giai cấp, thời đại…Thế giới quan không phải là một công thức cứng đờ mà là kết quả của nhiều điều kiện xa gần, trực tiếp và gián tiếp, quá khứ và hiện tại…Nó cũng luôn biến đổi theo quá trình tích lũy kinh nghiệm sống của con người trong xã hội Nắm chắc được thế giới quan và phương pháp sáng tác của nhà văn là nắm chắc được phương pháp để phân tích, tìm hiểu nội dung sáng tác của nhà văn Vì trong sáng tác cụ thể, nhà văn nhất định đã thể hiện ở khía cạnh này hay khía cạnh khác thế giới quan, phương pháp sáng tác của mình Vì vậy, muốn tìm hiểu nội dung sáng tác và đặc điểm nghệ thuật của nhà văn thì bước quan trọng là phải xác định được thế giới quan (ưu cũng như khuyết) trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu tiểu sử của
họ một cách toàn diện, khoa học
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa những yếu tố ngoài văn bản với việc tìm hiểu tác phẩm văn chương
Chúng tôi đã đề cập đến các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương khác nhau trong mục 1.1 Có thể thấy mỗi khuynh hướng đều có những ưu thế riêng xuất phát từ những hạt nhân tư tưởng hợp lí của nó Nói đến tác phẩm văn chương là nói tới tính đa nghĩa trong nội dung tư tưởng và tính đa trị trong tiếp nhận Mỗi cách thức tiếp cận, cắt nghĩa tác phẩm văn chương lại xuất phát từ những khía cạnh, phương diện khác nhau ở một quá trình trong vòng đời sinh mệnh của tác phẩm Vì vậy, nhiều khi có những cách hiểu rất
xa nhau Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương thực sự đã đóng góp một cách nhìn, một phương pháp nghiên cứu khách quan, khoa học, toàn diện, hiệu quả với việc tìm hiểu, cắt nghĩa một tác phẩm văn chương cụ thể Trong ba mũi tiếp cận mà quan điểm tiếp cận đồng bộ đều nhấn mạnh và xem trọng, chúng tôi quan tâm đến hướng tiếp cận lịch sử phát sinh Việc vận dụng
Trang 30những hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương là phương pháp được áp dụng từ lâu trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, với sự xuất hiện mạnh mẽ và ấn tượng của nhiều trường phái, khuynh hướng nghiên cứu văn học hiện đại gần đây ở các nước tiên tiến dường như đã khiến cho cách tiếp cận lịch sử, xã hội bị coi nhẹ (Có lúc còn bị phủ nhận) Ở đây, chúng tôi muốn chứng minh nếu không vận dụng những hiểu biết ngoài văn bản thì nhiều khi tác phẩm văn chương sẽ mất đi những nội dung ý nghĩa đích thực một cách vô cùng đáng tiếc Thậm chí, trong một số trường hợp, nếu không
có sự soi sáng của những yếu tố ngoài văn bản thì khó có thể hiểu nổi tác phẩm văn chương ấy hàm chứa nội dung ý nghĩa gì
Bài viết của tác giả Dương Quốc Anh: “ Phát hiện mới về bài thơ Bài ca
người tiết phụ” đã cho thấy tác dụng quan trọng của việc tìm hiểu hoàn cảnh
xuất xứ với việc hiểu ý nghĩa nội dung tác phẩm:
“Trương Tịch là một nhà thơ nổi tiếng thời Đường Trong tập Thơ Đường
do Nhà xuất bản Văn học Việt nam phát hành năm 1987 có giới thiệu hai bài
của ông, trong đó có Bài ca người tiết phụ, nguyên văn như sau:
Quân tri thiếp hữu phu,
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Trang 31Bài thơ này được cụ Ngô Tất Tố dịch sang tiếng Việt rất hay :
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang
Thờ chồng quyết chẳng phụ phàng thề xưa
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng
Trong phần ghi chú tóm tắt tiểu sử các tác giả ( Thơ Đường- tập 1, tr.331 Nhà xuất bản Văn học,1987) khi viết về Trương Tịch(768-830) cụ Trương
Chính đã viết: “…Bài Tiết phụ ngâm hay ở chỗ sử dụng những nét đơn giản,
như trong nhạc phủ, nhưng lại rất điêu luyện để diễn tả tình yêu thủy chung như nhất của người phụ nữ bình thường”
Đọc qua bài thơ ta có thể đồng ý với lời giới thệu của cụ Trương Chính Nhưng nếu đọc nhiều lần và liên hệ với bối cảnh đương thời thì sẽ thấy vấn đề không phải như vậy Tại sao ở cái thời lễ giáo phong kiến thịnh hành ấy, một phụ nữ bình thường, lấy chồng tử tế lại dám công khai biểu lộ tình cảm sâu
sắc của mình đối với một người đàn ông khác, như: “Cảm quân triền miên ý,
hệ tại hồn la nhu” (vấn vương những cảm mối tình, em đeo trong áo lót mình
màu sen) hoặc: “ Hoàn quân minh châu song lệ thủy; Hận bất tương phùng vị
giá thi” ( trả ngọc chàng lệ như mưa; giận không gặp gỡ khi chưa có chồng)
Qua sự việc đó, có thể nói, người phụ nữ trong bài thơ, tuy chưa bước qua ranh giới ngoại tình thực sự, nhưng rõ ràng là từ chốn sâu xa của trái tim, nàng đã không “thủy chung như nhất” với chồng: bởi vì nàng đã nhận ngọc tặng, đã đeo ở bên mình, rồi phải đấu tranh, viện dẫn nhiều thứ mới đi đến
Trang 32chỗ “trả lại ngọc” Nhưng trả lại ngọc mà “lệ như mưa” mà lại “Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng” thì là tại làm sao? Câu trả lời là: Nếu không muốn nói nàng đã thầm yêu thì ít cũng phải nói nàng đã thực sự có cảm tình với
“người tặng ngọc”
Tóm lại, Tiết phụ ngâm là một bài thơ miêu tả nỗi lòng của một người đàn
bà trẻ có chồng, kính trọng chồng nhưng có thể là chưa thực sự yêu chồng, vì vậy nàng đã rung động trước hành động hào hoa, phong nhã của một chàng trai nào đó, nhưng do lí trí mách bảo, nàng đã biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ dù trong lòng vẫn còn luyến tiếc
Trong một thời gian dài ở Trung Quốc, người ta cũng cho là bài thơ có chủ
đề như vậy Thế nhưng gần đây, Lư Thiếu Hoa trong cuốn Đường thi cố sự xuất bản tai Trung Quốc năm 1994 đã đưa ra dẫn chứng cụ thể chứng minh
rằng Tiết phụ ngâm chỉ là một bài thơ mà Trương Tịch mượn đó để bày tỏ ý
chí của mình một cách khôn khéo mà thôi
Theo Lư Thiếu Hoa, thời Trương Tịch sống, thế lực địa phương tương đối mạnh Một số quan chức địa phương để mở rộng thế lực của mình đã dùng nhiều thủ đoạn để lôi kéo, câu kết các văn nhân nổi tiếng và quan chức Trung ương vào phe cánh của mình Cũng đã có một số sĩ phu do bất đắc chí về đường hoạn lộ đã ngả theo họ, dùng văn tài tâng bốc họ Hàn Dũ và Trương
Tịch đều không ưa hiện tượng này Hàn Dũ đã có bài “Tống Đổng Chiêu Nam
tự” để phê bình hiện tượng đó một cách khéo léo
Khi đó có một người tên là Lí Sư Đạo đang làm Tiết độ sứ Bình Lư, lại kiêm thêm chức Kiểm hiệu Tư không, là một nhân vật rất có quyền thế Ông này biết Trương Tịch là người có tài, muốn kéo Trương Tịch với lời lẽ kính trọng nhưng vẫn có ngụ ý sẽ có quan cao, bổng hậu Nhận được thư, lúc đầu Trương Tịch định trực tiếp trả lời là không đồng ý, nhưng sau khi cân nhắc, biết Lí Sư Đạo là người quyền thế nghiêng trời ở địa phương, nếu xúc phạm làm ông ta giận dữ, không những không hay cho mình mà còn có thể làm liên
Trang 33lụy đến người khác, vì vậy ông mới làm bài thơ Tiết phụ ngâm để gián tiếp trả
lời
Bài thơ viết rất uyển chuyển, khôn khéo, từ chối lời mời vưa có tình vừa có
lí, Lí Sư Đạo đọc xong rất khâm phục tài năng và nhân phẩm của Trương Tịch, nên tự nguyện rút bỏ lời mời và không gây khó khăn gì cho Trương Tịch
Biết chuyện, đọc thơ, Hàn Dũ đã vô cùng khen ngợi bài thơ viết rất hay, xử
lí công việc cũng vô cùng khôn khéo
Có lẽ vì có hai hàm nghĩa như vậy, bài thơ mới được lưu truyền đến ngày nay và mãi tận mai sau.”[23,tr.333-336]
Trên đây là một ví dụ cụ thể cho thấy vai trò quan trọng của việc tìm hiểu hoàn cảnh bài thơ để nắm bắt ý nghĩa tác phẩm Còn rất nhiều minh chứng khác trong lịch sử văn học Việt Nam để khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa những yếu tố ngoài văn bản với ý nghĩa, nội dung tư tưởng của tác phẩm văn chương Ở thế kỉ XVI- XVII, sự tác động của các yếu tố kinh tế đã thúc đẩy nền văn học chữ nôm phát triển Do tác động của nền kinh tế hàng hóa, việc buôn bán mở mang, thế lực của đồng tiền trở nên ngày càng quan trọng, ảnh hưởng đến cả giai cấp thống trị, đạo đức phong kiến càng suy đồi thêm Vì vậy nội dung văn học thời kì này đã phản ánh sự xấu xa của xã hội phong kiến đang bước đầu suy vong, phản ánh tư tưởng chán ghét xã hội, muốn thoát ly để sống một cuộc đời tự do, an nhàn, “ lánh đục về trong” Nếu không nắm được hoàn cảnh xã hội cũng như tình hình văn học thời kì đó sẽ khó lòng hiểu được tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chán ngán cuộc đời, căm ghét thói đời chỉ biết trọng của hơn người:
“ Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Cũng vậy, chúng ta khó có thể hiểu được những mâu thuẫn trong tư tưởng
của Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều Nỗi đau khổ của nàng Kiều tài
Trang 34sắc đã được nhà thơ trực tiếp phản ánh và vạch rõ nguyên nhân không gì khác ngoài thế lực phong kiến cùng tác động xấu xa của đồng tiền Tuy nhiên cũng
có lúc tác giả lại cho rằng : những bất hạnh của nàng Kiều là do “trong sổ
đoạn trường có tên”, do “ma đưa lối quỷ dẫn đường Lại tìm những lối đoạn trường mà đi” hay “Ngẫm thay muôn sự tại trời…” Điều này có thể được lí
giải sáng rõ nếu chúng ta nắm chắc tiểu sử cuộc đời của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du xuất thân trong gia đình đại quý tộc, đã từng chạy theo Lê Chiêu Thống, mưu toan chống lại Tây Sơn, phục hồi triều đại phong kiến… nhưng cuộc sống vẫn mạnh hơn định kiến của nhà thơ Nguyễn Du cũng đã có lúc băn khoăn cho số phận của con người, đau khổ niềm đau khổ của nhân dân qua những ngày loạn lạc Thực tế cuộc đời đã đưa lại cho Nguyễn Du những ảnh hưởng mới về quan niệm đối với cuộc đời, đối với hiện thực, với con người…Những mặt đối lập trong thế giới quan đó đã chi phối sáng tác của nhà thơ, tạo ra những quan điểm mâu thuẫn đan xen trong tác phẩm mà chúng
ta có thể lí giải được
Trong văn học hiện đại Việt Nam, có nhiều tác giả cùng những tác phẩm văn chương xuất sắc, nếu không hiểu được hoàn cảnh sáng tác cũng như cuộc đời con người nhà văn thì cũng khó lòng hiểu được sâu sắc, toàn diện nội
dung ý nghĩa thông điệp mà tác phẩm gửi đến bạn đọc Trong bài thơ “Tiếng thu” nổi tiếng của Lưu Trọng Lư có một hình ảnh đặc biệt gây ấn tượng “
Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô” Đó chính là một kỉ niệm
không phai của tác giả thời thơ ấu khi hàng ngày ngắm bức tranh vẽ hình ảnh
“ con nai có hoa” treo cạnh bàn học ở gian buồng phía tây nhà mình Và những kỉ niệm về cuộc đời đau khổ của bà mẹ và các chị gái bất hạnh của chính nhà thơ đã ghi dấu ấn vào những vần thơ đẫm nước mắt, chất chứa nỗi niềm xót thương về thân phận người phụ nữ trong xã hội bấy giờ Nhà thơ Giang Nam cũng để lại cho đời một thi phẩm vô cùng xúc động, xây dựng ý
thơ từ cái chết của người yêu Có người phê bình bài thơ “Quê hương” không
Trang 35mang giá trị phổ quát vì không chọn hình ảnh người phụ nữ nói chung mà lại viết về người yêu khiến bài thơ thu hẹp trong tình cảm riêng tư Thực ra, chính vì hạn chế trong việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời bài thơ nên vị độc giả
nọ đã không thấy dụng ý nghệ thuật của tác giả và ý nghĩa khái quát điển hình của bài thơ khi nói đến cái chết có vẻ riêng tư Nếu được sống trong không khí nặng nề, bức bối trong những ngày quân thù đang ra sức truy lùng, tàn sát, bắt bớ những người thân của cán bộ cách mạng thì có lẽ vị độc giả kia sẽ không có những nhận định đơn giản, phiến diện như vậy.[22,tr.264] Các sáng tác hiện thực của nhà văn Nam Cao đến thẳng với nhân vật và người đọc bằng một tấm lòng Tấm lòng ấy được nuôi dưỡng và lớn lên từ những cảnh đời nghèo khó Hình ảnh bà mẹ già ngồi trủng trẳng nhai cơm nguội mỗi buổi chiều, những đứa em thiếu ăn mặc quây quần trong cảnh đời vất vả, những người hàng xóm giàu tình thương mà lại nhiều bất hạnh, một mái rạ, một mảnh vườn xơ xác sau những trận bão, khuôn mặt xanh xao của những người phụ nữ chịu đựng và thương chồng…tất cả những hình ảnh đó luôn luôn gắn
bó, ám ảnh, day dứt và theo suốt cuộc đời nhà văn Một nhà văn nghèo và ham viết thực sự, một giáo khổ trường tư…trước những xô đẩy từ nhiều phía của cuộc đời, Nam Cao vẫn là mình, tấm lòng ấy vẫn sau trước thủy chung trọn vẹn Vì thế, trên những trang sách của nhà văn hiển hiện rõ ràng và sâu sắc một tấm lòng đầy tin cậy, yêu thương với con người nghèo khổ, bất hạnh;
là ước mong da diết một cuộc sống tốt đẹp và công bằng hơn Chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao lớn lên, phát triển ra từ những nguồn mạch đó nên nó mang những đặc điểm riêng vô cùng đáng quý
Qua những ví dụ trên đây chúng ta có thể thống nhất quan điểm để khẳng định rằng: muốn nắm chắc nội dung, ý nghĩa tư tưởng của một tác phẩm văn chương không thể thiếu đi hiểu biết ngoài văn bản về hoàn cảnh lịch sử xã hội
và tiểu sử nhà văn Hiểu biết ngoài văn bản có mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ với việc giải mã sáng tác văn chương Nếu thiếu đi những yếu tố này
Trang 36đồng nghĩa với việc làm mất đi cách lí giải, soi sáng tác phẩm ở những góc khuất, các phương diện khác nhau của nó, đồng thời giá trị tác phẩm sẽ mất
đi sự toàn vẹn, chân thực
1.1.3.3 Giới hạn và mức độ vận dụng những hiểu biết ngoài văn bản để giải
mã tác phẩm văn chương ở THPT
Trong thực trạng nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ta hiện nay đã và đang tồn tại hai khuynh hướng đối lập nhau Có khuynh hướng nhìn nhận tác phẩm văn học trên bình diện phản ánh thực tại lịch sử đương thời Tính hiện thực, giá trị hiện thực hầu như là tiêu chuẩn chủ yếu trong việc đánh giá một sáng tác Người nghiên cứu phê bình giảng dạy cố tìm trong đối tượng nghiên cứu của mình hình bóng lịch sử một thời, diện mạo những điển hình thời đại Có khi thậm chí chỉ cốt tìm cho được những cố gắng minh họa chủ trương chính trị một thời trong đó Đây chính là khuynh hướng xã hội học dung tục, phi macxit trong nghiên cứu phê bình văn học và giảng dạy mà chúng ta cần tránh
Ngược lại, có những luận thuyết duy tâm tư sản của những khuynh hướng văn học tư sản hiện đại lại hoàn toàn phủ định vai trò của lịch sử hình thành
và lịch sử phản ánh trong tác phẩm văn học Ở phần khái quát về các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương chúng tôi đã chỉ ra những mặt hạn chế phiến diện của các trường phái “Phê bình mới”, chủ nghĩa cấu trúc, của mĩ học tiếp nhận, hiện tượng luận và hậu cấu trúc
Từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải có một cách thức tiếp cận tác phẩm khoa học, chính xác, khách quan, hiệu quả và toàn diện hơn Việc tìm ra những biện pháp vận dụng thích hợp hiểu biết ngoài văn bản để cắt nghĩa tác phẩm chính là sự đáp ứng yêu cầu đó Vấn đề cần bàn đến là cách thức, giới hạn và mức độ vận dụng như thế nào cho thích hợp? Nếu quá chú trọng vào việc tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, lịch sử cũng như cuộc sống, con người nhà văn để lí giải, phân tích tác phẩm chắc chắn sẽ rơi vào khuynh hướng xã hội học dung tục cực đoan như trên đã đề cập tới Nếu quá
Trang 37thờ ơ, coi nhẹ những kiến thức về bối cảnh và nhà văn, chỉ quan tâm đến hình thức văn bản hay hướng vào đáp ứng của học sinh lại sa vào những khuynh hướng cực đoan khác Cho nên, trong đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu
và đề xuất một cách vận dụng khoa học, hợp lí những hiểu biết ngoài văn bản
để giải mã tác phẩm văn chương trên cơ sở nắm chắc quan điểm tiếp cận đồng
bộ và thông qua quá trình khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn chương của giáo viên trong nhà trường hiện nay
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát tình hình vận dụng hiểu biết ngoài văn bản ở THPT hiện nay
1.2.1.1 Khảo sát chương trình sách giáo khoa
Để đánh giá được chất lượng vận dụng những hiểu biết ngoài văn bản
trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương của giáo viên và học sinh trong nhà trường, trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu khối lượng nội dung kiến thức, cách trình bày về phần Văn học sử và mục Tiểu dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
văn học dân gian Việt Nam;
văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
(Không có bài học riêng)
Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả có tác phẩm được học trong chương trình, chú trọng các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
Khái quát về văn học Việt ( Không có bài học riêng)
Trang 3811
Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945
Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả có tác phẩm được học trong chương trình, chú trọng các tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Nam Cao
12 Khái quát về văn học Việt
Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
(Không có bài học riêng)
Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả có tác phẩm được học trong chương trình, chú trọng các tác giả Nguyễn Ái Quốc-
Hồ Chí Minh, Tố Hữu
Nếu phân loại theo các kiểu bài văn học sử thì SGK Ngữ văn THPT hiện nay gồm có bốn kiểu sau:
a Bài tổng quan về văn học Việt Nam (1 bài)
b Các bài khái quát về thời kì văn học (3 bài)
c Các bài khái quát về tác giả (không có bài học riêng, là phần đầu của bài đọc hiểu văn bản - 7 tác gia: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Xuân Diệu, Nam Cao, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, Tố Hữu.)
d Bài khái quát về văn học dân gian (1 bài)
- Về phần Tiểu dẫn
Phần Tiểu dẫn được trình bày đầu tiên trước mỗi bài đọc văn Chúng tôi nhặt ngẫu nhiên mỗi phần Tiểu dẫn của mỗi khối lớp để khảo sát cách thức thể hiện nội dung khái quát về cuộc đời và sự nghiệp tác giả trong bài đọc văn
đó
Trang 39Văn bản
văn học
Nội dung
Nhàn ( Lớp 10)
Tràng giang ( Lớp 11)
Sóng ( Lớp 12)
1.Cuộc đời,
con người
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) quê ở làng Trung Am, nay thuộc xã Lí Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng, đỗ Trạng nguyên (1535), làm quan dưới triều Mạc
Khi làm quan, ông dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần Vua không nghe, ông bèn cáo quan về quê, lập quán Trung tân, dựng
am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân Cư
Sĩ Ông dạy học, học trò có nhiều người nổi tiếng nên ông được đời suy tôn là Tuyết Giang Phu Tử (Người thầy sông Tuyết).Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm
Vua Mạc cũng như
Huy Cận (1919- 2005) tên khai sinh
là Cù Huy Cận, quê
ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn(
nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh Thuở nhỏ, Huy Cận học ở quê, rồi vào Huế học hết trung học Năm
1939, ông ra Hà Nội học ở Trường Cao đẳng Canh nông Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động trong Mặt trận Việt Minh Ông tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách khác
Xuân Quỳnh (1994-1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở Lai Khê thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây Xuất thân trong một gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh
ở với bà nội Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa Đoàn văn công nhân dân Trung ương, là biên tập viên báo
Văn nghệ, biên tập
viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế
hệ các nhà thơ trẻ
Trang 40các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng đều hỏi ý kiến ông và ông đều có cách mach bảo kín đáo, nhằm hạn chế chiến tranh, chết chóc Mặc dù về ở
ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tham vấn cho triều đình nhà Mạc Ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình
nhau: Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hóa- Nghệ thuật tại văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam…
Huy Cận yêu thích thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Ông là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ
ca Việt Nam hiện đại và đã được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật (1996)
thời kì chống Mĩ Thơ Xuân Quỳnh
là tiếng lòng của một tâm hồn phụ
nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành,đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật