Nếu như có các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường một cách khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo đối với sinh viên nước ngoài nói riêng và chất lượng đ
Trang 1Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH
1.2 Chức năng và phương pháp quản lý giáo dục 14
1.3 Công tác học sinh, sinh viên và sinh viên nước ngoài 17 1.3.1 Công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo 17
Trang 21.3.2 Công tác sinh viên nước ngoài trong trường đại học 19 1.3.3 Yếu tố hội nhập của sinh viên nước ngoài ở trường đại học 23 1.3.4 Đặc điểm tâm lý, văn hóa, xã hội của sinh viên nước ngoài 25 1.3.5 Sự phối hợp giữa trường đại học với Đại sứ quán, các Tổ chức
hữu nghị và các cơ quan hữu quan trong việc quản lý công tác SVNN 27
1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý công tác SVNN tại các trường đại
1.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý công
1.4.2 Nhiệm vụ của nhà trường và nhiệm vụ của SVNN tại các
1.4.3 Những nội dung chính về công tác sinh viên nước ngoài 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NƯỚC
2.1 Khái quát về công tác SVNN tại Trường Đại học Thủy lợi 38 2.1.1 Giới thiệu về Trường Đại học Thủy lợi 38 2.1.2 Tình hình SVNN tại Trường Đại học Thủy lợi 40 2.1.3 Khái quát công tác SVNN tại Trường Đại học Thủy lợi 41 2.1.4 Một số đặc điểm về SVNN tại Trường Đại học Thủy lợi 42
2.2 Thực trạng bộ máy tổ chức và quản lý công tác sinh viên
2.2.1 Bộ máy tổ chức quản lý công tác sinh viên nước ngoài 43 2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban liên quan đến quản
2.2.3 Những yếu tố và điều kiện cho việc quản lý công tác sinh
viên nước ngoài hiện nay tại Trường Đại học Thuỷ lợi 49 2.2.4 Các BP QL CT SVNN tại trường ĐH Thuỷ lợi hiện nay 50
2.3 Phân tích, đánh giá thực trạng những biện pháp quản lý
công tác sinh viên Lào và Campuchia tại trường ĐH Thủy lợi 52
Trang 32.3.1 Phân tích những ưu điểm: 55
2.3.3 Đánh giá thực trạng quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại
2.4 Kinh nghiệm quản lý công tác sinh viên nước ngoài ở một
2.4.1 Kinh nghiệm quản lý công tác SVNN tại Trường Đại học
2.4.2 Kinh nghiệm quản lý công tác SVNN tại Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) 61 2.4.3 Kinh nghiệm quản lý công tác SVNN tại Học viện Ngân hàng 62
Chương 3: C¸c biÖn ph¸p qu¶n lý C«ng t¸c sinh viªn n-íc
3.1 Cơ sở và một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 63
3.1.2 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 64
3.2 Các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu, tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp trong
3.2.2 Tổng hợp cơ sở pháp lý, xây dựng và quán triệt những quy
định chung của Nhà trường về quản lý công tác SVNN 69 3.2.3 Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên nước ngoài 71 3.2.4 Tăng cường và nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện hoạt
Trang 43.3 Khảo nghiệm các biện pháp quản lý công tác sinh viên
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT (GD-ĐT)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài :
Trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển thì mỗi một trường học đều có thể có học sinh, sinh viên nước ngoài đến theo học đặc biệt là ở các trường đại học, cao đẳng Sinh viên nước ngoài đến học tại các trường bằng các hình thức khác nhau như đi học từ chế độ học bổng, tự túc, liên kết đào tạo của các trường Việt Nam với các trường Quốc tế , con số này có thể ngày một tăng tùy thuộc vào chất lượng đào tạo và
sự thu hút sinh viên của mỗi trường Bên cạnh đó phải kể đến các mối quan
hệ truyền thống giữa các quốc gia về hợp tác đào tạo theo hiệp định của chính phủ các nước Vì vậy một vấn đề đặt ra là quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại các trường như thế nào?
Hiện nay, một vấn đề luôn được các trường đại học đặt ra là chất lượng đào tạo về nhiều mặt như trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, lối sống, các kỹ năng Nếu như có các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường một cách khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo đối với sinh viên nước ngoài nói riêng và chất lượng đào tạo toàn trường nói chung, đảm bảo tình hình an ninh – xã hội và nâng cao vai trò hợp tác quốc tế của các trường đại học và của Việt Nam nói chung
Trường Đại học Thủy lợi là một trường đầu ngành của cả nước đào tạo chuyên ngành về lĩnh vực quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước như xây dựng các công trình thủy lợi – thủy điện, bảo vệ môi trường và phòng chống giảm nhẹ thiên tai Hàng năm trường cũng được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao chỉ tiêu đào tạo sinh viên nước ngoài theo Hiệp định của Chính phủ
ở các bậc học khác nhau từ đào tạo kỹ sư đến thạc sỹ, tiến sỹ và chủ yếu cho hai nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cămpuchia
Trang 7Số lượng Lưu học sinh hai nước học tập tại trường hàng năm tương đối lớn (30-60 em) ở nhiều ngành học và trình độ đào tạo Theo chiến lược phát triển của trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006-2020, số lượng Lưu học sinh này trong tương lai không xa sẽ còn tăng lên nhanh chóng và không những chỉ đào tạo cho lưu học sinh Lào và Cămpuchia mà còn có cả các nước trong khu vực và trên thế giới Chính vì con số không nhỏ này, xu hướng mỗi ngày một tăng thêm đòi hỏi phải có một sự quản lý tốt công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi Hơn nữa, thực trạng quản lý công tác sinh viên nước ngoài của trường hiện nay vẫn còn chưa đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra Các hoạt động học tập, sinh hoạt, rèn luyện, tu dưỡng của các em còn có những vấn đề bất cập
Chính vì cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu trên, là một cán bộ quản lý tại trường, tôi lựa chọn đề tài:
“Các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi’’
Thông qua các biện pháp quản lý tốt nhất mà kết quả nghiên cứu mang lại sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên nước ngoài trong quá trình học tập tại trường
2 Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên nước ngoài trong quá trình học tập tại trường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường đại học
Trang 8- Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi và một số trường đại học
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên nước ngoài trong quá trình học tập tại trường
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể: Công tác quản lý học sinh, sinh viên nước ngoài học
tập tại Trường Đại học Thủy lợi
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý công tác sinh viên
nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi
5 Giả thuyết khoa học:
Nếu như có các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài học tập tại Trường Đại học Thủy lợi một cách khoa học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên nước ngoài nói riêng và chất lượng đào tạo toàn trường nói chung, thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ Giáo dục & Đào tạo giao phó, đảm bảo tình hình an ninh - xã hội và nâng cao vai trò hợp tác quốc tế của trường nói riêng và của Việt Nam nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Gồm các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá các vấn đề, tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý trường đại học, công tác sinh viên và công tác sinh viên nước ngoài Thông qua đó làm cơ sở lý luận cho khảo sát, phân tích thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường Đại học Thuỷ lợi
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 9- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động liên quan đến công tác sinh viên nước ngoài Đi thực tế, quan sát nghiên cứu thực tiễn các đơn vị
có sinh viên nước ngoài
- Phương pháp điều tra: Thông qua các phiếu hỏi ý kiến cán bộ quản lý, sinh viên về công tác sinh viên nước ngoài trong phạm vi đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến: Phỏng vấn các cán bộ quản lý, sinh viên
về công tác sinh viên nước ngoài Là một kênh để lấy ý kiến, thu thập thông tin nhằm xác định thực trạng và xây dựng các biện pháp quản lý công tác SVNN
- Phân tích nghiên cứu lý luận kết hợp với phân tích tổng kết thực tiễn ở đơn vị mình, đơn vị bạn để đề xuất các biện pháp quản lý
- Các phương pháp lập luận gồm: diễn dịch, quy nạp và loại suy
7 Phạm vi nghiên cứu :
Nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy lợi nằm trong quá trình đào tạo của một khóa học tại Trường
8 Cấu trúc của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý công tác sinh viên nước ngoài Chương 2: Thực trạng quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy Lợi
Trang 10Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại Trường Đại học Thủy Lợi
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH
VIÊN NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Quản lý:
Khái niệm “quản lý” được chúng ta biết và sử dụng đến nhiều, nếu hiểu theo nghĩa thông thường thì quản lý là sự trông nom, sắp đặt, theo dõi các công việc của một tập thể lao động nào đó như ở trong cơ quan, công sở hay một tập thể ví dụ như quản lý phân xưởng, quản lý đội xây dựng hay
là một sự giữ gìn, sắp đặt, trông nom, theo dõi một đối tượng vật thể, vật chất nào đó ví dụ như như quản lý hồ sơ, quản lý kho tàng Khái niệm quản lý chúng ta đề cập ở đây là sự quản lý của con người
Quản lý là một hiện tượng của xã hội loài người và xuất hiện từ rất sớm, là một hiện tượng tồn tại khách quan, được xuất hiện từ chính nhu cầu của con người hay nói cách khác đó là sản phẩm vượt lên trên hết của con người so với mọi động vật sống khác là biết tự quản lý chính mình và cùng nhau quản lý Quản lý là một thuộc tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, khi xã hội phát triển thì trình độ quản lý cũng phát triển tương xứng Trong đời sống xã hội cũng như đời sống gia đình hay từ một quốc gia đến cả thế giới, ở đâu có sự hiện diện của con người thì ở đó có sự quản lý
Khái niệm quản lý rất rộng, trong từng lĩnh vực lại có những cách nhìn nhận, cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau Nói đến quản lý là nói
Trang 11đến chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau do đó cũng có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau Tuy nhiên có những định nghĩa mà chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nhất:
K Marx đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng có một
sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [35, tập 23, tr.480]
Theo W F Taylor ( 1856-1915), người được xem là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học tcho rằng “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất
và rẻ nhất” Ông đã đưa ra hệ thống tổ chức lao động để khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động
H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà tronCác tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [23, tr.1]
Qua các định nghĩa của các nhà kinh điển, các tác giả nêu trên với nhiều bình diện khác nhau chúng ta có thể khái quát khái niệm quản lý như sau: Quản lý là hoạt động có ý thức nhằm đạt được mục tiêu và đem lại hiệu quả cao nhất trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Trang 12Chủ thể quản lý là con người và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô,
độ phức tạp của khách thể quản lý Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất
Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy nhân tố con người thông qua các biện pháp dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo - điều khiển, công tác phối hợp và kiểm tra đánh giá
1.1.2 Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là hoạt động quản lý về lĩnh vực giáo dục “Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành Sự ra đời của các cơ sở giáo dục trong các thành bang Hy lạp cổ mà ngày nay có thể gọi là “nhà trường” là một bước tiến lớn trong quản lý giáo dục” [26, tr 2]
Ngày nay, cũng như trong bất cứ loại hình quản lý nào cũng đều có sự quản lý của nhà nước và quản lý nhà nước về giáo dục là quản lý theo ngành
do một cơ quan Trung ương đại diện cho nhà nước là Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đó là việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển giáo dục-đào tạo của đất nước tương ứng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao của nước nhà nhằm thực hiện xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, hiện đại đồng thời không ngừng nâng cao trình độ dân trí cũng như tạo dựng cho thế hệ trẻ có được bản lĩnh, niềm tin, tình yêu đất nước, hoài bão trong cuộc sống và có được những phẩm chất, đạo đức trong sáng
Quản lý giáo dục cũng là một khái niệm rộng, nếu xét về bộ máy thì quản lý giáo dục có cả một bộ máy từ Bộ (Trung ương) đến Sở (các tỉnh) đến Phòng Giáo dục (các quận - huyện) Nếu xét ở góc độ hẹp hơn thì ngay
Trang 13trong mỗiTuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà quản lý giáo dục cũng
có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Theo tác giả: M.I Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [34, tr.8] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam Mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [36, tr.12]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [17, tr.31]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [31, tr.71]
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [23, tr.1]
Như vậy có thể khái quát quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục mà ở đó là cả một hệ thống giáo dục gồm các cấp quản lý, các nhà trường, hệ thống giáo dục quốc dân
Nói đến quản lý giáo dục chúng ta không thể không nói đến quản lý nhà nước về giáo dục mà đã được ghi tại Điều 14 Luật giáo dục năm 2005:
Trang 14“Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi
cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục”
1.1.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một hoạt động quản lý trong một trường học mà ở
đó thực hiện quá trình giáo dục và đào tạo bao gồm hoạt động dạy - học và các điều kiện liên quan nhằm đạt được mục tiêu, sứ mệnh đề ra của một nhà trường Trong mỗi một trường học ngoài việc xây dựng và thực hiện sứ mệnh, chiến lược, mục tiêu, kế hoạch hoạt động quản lý còn bao gồm việc xây dựng và thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp đối với mỗi một môn học cụ thể, xây dựng chương trình, giáo trình, ngành học, xây dựng đội ngũ giáo viên, quản lý học sinh, sinh viên
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [31, tr 71] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [36, tr.34] Trong nhà trường, lực lượng quyết định của nhà trường là người dạy, nhân tố trung tâm nhất là người học Do vậy, để làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải xoay quanh đối tượng là người học Hay có thể nói, quản lý nhà trường là tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán
bộ, đến tất cả các mặt khác của nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất sứ mạng của nhà trường
Trang 15Quản lý nhà trường bao gồm:
- Quản lý chương trình dạy học và giáo dục của nhà trường (nội dung, mục tiêu, phương pháp )
- Quản lý học sinh (các hoạt động của học sinh)
- Quản lý giáo viên (phát triển nghề nghiệp của người dạy học)
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện đảm bảo cho sự hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
1.1.4 Quản lý trường đại học
Quản lý trường đại học là một hoạt động quản lý nhà trường nhưng là một loại hình cụ thể – đó là trường đại học, trong đó bao gồm hoạt động
cơ bản là dạy và học và những vấn đề chung của nhà trường như đã trình bày ở phần trên
Quản lý trường đại học là quản lý hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, quan hệ quốc tế, quản lý sinh viên , tổ chức và nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất
Hiện nay có rất nhiều loại hình trường đại học, bao gồm: công lập, bán công, dân lập và tư thục Trong tương lai không xa sẽ có những trường đại học 100% vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên dù loại hình gì thì trường đại học phải chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở Cơ quan chủ quản của trường đại học phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước đối với trường đại học
Hoạt động quản lý của trường đại học phải dựa trên cơ sở của Luật Giáo dục, Điều lệ trường đại học, chiến lược phát triển giáo dục của Đảng
và Nhà nước qua các giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và những quy định của pháp luật Mỗi một trường đại học đều phải có quy chế về tổ chức và hoạt động của trường dựa trên những quy định của cơ
Trang 16quan chủ quản nhằm xác định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của trường và của các đơn vị thuộc trường cũng như trách nhiệm và quyền hạn của lãnh đạo nhà trường nhằm làm cho bộ máy tổ chức của trường hoạt động hiệu quả đạt được mục tiêu và sứ mệnh đề ra
1.1.5 Quản lý sinh viên
Trước hết sinh viên là những người học trong các trường đại học và cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lý sinh viên là quản lý các hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên trong thời gian học tập tại trường Sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường, được nhà trường bảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình học tập đó
Trong mỗi trường đại học và cao đẳng, liên quan đến quản lý sinh viên gồm hai hoạt động chính là học tập và rèn luyện, trong mỗi hoạt động đó có những quy chế cụ thể của cơ quan quản lý giáo dục cao nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo để các trường và sinh viên thực hiện Hai loại quy chế đó gọi tắt là Quy chế đào tạo và Quy chế học sinh, sinh viên Về cơ cấu tổ chức của các trường cũng có hai phòng chức năng (hoặc hai bộ phận chức năng nếu là một phòng) là Phòng Đào tạo (Phòng giáo vụ) và Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên Phòng (bộ phận) quản lý sinh viên có nhiệm vụ thực hiện việc quản lý sinh viên thông qua công tác học sinh sinh viên
Như vậy có thể tóm tắt rằng quản lý sinh viên là hoạt động quản lý mà chủ thể quản lý là nhà trường (đại học-cao đẳng) và đối tượng quản lý là sinh viên trên cơ sở thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực giáo dục mà cụ thể là triển khai và thực hiện tốt các quy chế, quy định của Bộ GD & ĐT áp dụng cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng đặc biệt là quy chế học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo
Trang 171.1.6 Quản lý sinh viên nước ngoài
Sinh viên nước ngoài là sinh viên của quốc gia khác đến theo học tại các trường đại học và cao đẳng của Việt Nam Trước đây, SVNN đến Việt Nam học tập chủ yếu là các ngành đặc thù như Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam và hầu hết do chế độ cử đi học từ phía nước ngoài Nhưng hiện nay,
do thành quả phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam mà nhu cầu người nước ngoài đến tìm hiểu, đầu tư tại Việt Nam ngày một nhiều hơn kéo theo nhu cầu học tập của SVNN tại các trường đại học
đã bắt đầu có chiều hướng phát triển Bên cạnh đó là sự hợp tác song phương giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo, sự nỗ lực của một số trường đại học đang nâng dần chất lượng đào tạo của mình và tăng cường hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo với các nước cũng thu hút số lượng đáng kể SVNN đến học tại Việt Nam Thực
tế đó đòi hỏi nhà trường phải có sự quản lý SVNN về mọi mặt trong quá trình học tập và sinh hoạt tại Việt Nam
Cũng như sinh viên Việt Nam học trong các trường đại học và cao đẳng, SVNN cũng phải chịu sự quản lý của nhà trường về hai hoạt động chính là học tập và rèn luyện, trong mỗi hoạt động đó có những quy chế cụ thể của
cơ quan quản lý giáo dục cao nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo để SVNN thực hiện Hai loại quy chế đó gọi tắt là Quy chế đào tạo và Quy chế học sinh, sinh viên Đối với SVNN có thêm Quy chế Công tác người nước ngoài học tại Việt Nam
Như vậy có thể tóm tắt rằng quản lý SVNN là hoạt động quản lý mà chủ thể quản lý là nhà trường (đại học-cao đẳng) và đối tượng quản lý là SVNN trên cơ sở thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế Quản lý SVNN là quản lý các hoạt động học tập và rèn luyện của SVNN trong quá trình học tập tại trường
Trang 18Sinh viên nước ngoài sẽ là động lực thúc đẩy quá trình đào tạo của trường đại học, cao đẳng cũng như đóng góp trong việc nghiên cứu khoa học, công nghệ, đối ngoại, hợp tác song phương với nước ngoài của trường đại học nói riêng và của Việt Nam nói chung đồng thời SVNN như là mốc so sánh và tăng cường cọ xát tư duy cho sinh viên Việt Nam
Do yếu tố là người nước ngoài nên các cơ sở đào tạo cần phải có những biện pháp quản lý và giúp đỡ họ một cách tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên nước ngoài tại Việt Nam
1.1.7 Công tác sinh viên
Nội dung công tác sinh viên là một trong những nội dung quản lý trường học của Hiệu trưởng nhà trường Do tầm quan trọng của công tác sinh viên trong các trường đào tạo, nên Điều 2 - Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/07/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ghi rõ: “Bộ GD&ĐT thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác HSSV trong phạm vi cả nước, phối hợp với các ngành, các cấp hữu quan xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp quy, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các trường thực hiện”
Do yêu cầu đối với việc quản lý sinh viên ngày càng cao, kể từ năm học 2007-2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 thay thế Quy chế Công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo ban hành theo Quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 Tại Điều 2 của Quy chế mới này có nêu rõ “Công tác HSSV là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
Trang 19chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
1.1.8 Công tác sinh viên nước ngoài
Công tác sinh viên nước ngoài là công tác sinh viên đối với người nước ngoài đến học tập, nghiên cứu và thực tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, bao gồm sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng
Về cơ bản, nội dung của công tác sinh viên nước ngoài cũng bao gồm những nội dung của công tác sinh viên Việt Nam nhưng có những công tác đặc thù riêng biệt dành cho người nước ngoài như: thủ tục xuất nhập cảnh, đăng ký tạm trú, nơi ở, chế độ học bổng, chế độ học tập, công tác
đối ngoại
Sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập bằng 3 hình thức:
(1) Sinh viên do Chính phủ nước ngoài gửi sang đào tạo tại Việt Nam theo Hiệp định về hợp tác giáo dục và đào tạo (có chế độ học bổng)
(2) Sinh viên nước ngoài sang Việt Nam học tập theo chế độ tự túc (không có chế độ học bổng)
(3) Sinh viên nước ngoài học tại các cơ sở đào tạo nằm trong khuôn khổ liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng được nhà nước cho phép (có thể có hoặc không có học bổng)
Do sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập bằng các hình thức khác nhau nên việc quản lý công tác sinh viên nước ngoài cũng đặt ra những yêu cầu khác nhau nhằm phục vụ sinh viên nước ngoài một cách đa dạng và toàn diện
Việc tiếp nhận và quản lý đào tạo đối với người nước ngoài học tại Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận hoặc cho phép tiếp nhận Việc quản lý công tác sinh viên nước ngoài bên cạnh thực như đối với sinh viên Việt Nam thì cũng có Quy chế riêng, đó là “Quy chế công tác người nước
Trang 20ngoài học tại Việt Nam” ban hành theo Quyết định số BGD&ĐT ngày 25/8/1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
33/1999/QĐ-1.2 Chức năng và phương pháp quản lý giáo dục
1.2.1 Các chức năng quản lý giáo dục
Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, giáo dục có mối quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác và với hạ tầng cơ sở Ở đâu kinh
tế phát triển thì việc đầu tư của xã hội cho giáo dục cũng tốt hơn và lợi ích
xã hội mà từ giáo dục mang lại cũng lớn theo, giáo dục cũng góp phần quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội do nguồn nhân lực
có trình độ cao (hệ quả của giáo dục) mang lại Cứ như vậy giáo dục sẽ là chìa khoá để phát triển cho bất cứ một quốc gia nào
Quản lý giáo dục là một phạm trù thuộc quản lý do vậy chức năng của
nó cũng như chức năng của quản lý nhưng trong lĩnh vực cụ thể là giáo dục Tìm hiểu các chức năng quản lý giáo dục cũng chính là tìm hiểu người quản lý giáo dục phải làm gì Có nhiều cách phân chia trong chức năng quản lý tuỳ theo quan điểm của từng tác giả nhưng nhìn chung đều thống nhất bốn chức năng cơ bản là:
Chức năng kế hoạch hoá “Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục
tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: (1) Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; (2) Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; (3) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó” [22, tr.3]
Có ba loại kế hoạch:
+ Kế hoạch chiến lược;
+ Kế hoạch chiến thuật;
Trang 21+ Kế hoạch tác nghiệp;
Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, hình
thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một
tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có Quá trình đó gọi là thiết kế tổ chức và quan trọng nhất là tổ chức thực hiện kế hoạch để đạt mục tiêu
“Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức
có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và kết quả Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng, Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch và tổ chức” [22, tr.4]
Chức năng chỉ đạo: Đó là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau
khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy, nguồn nhân lực được hình thành, thì cần phải có quá trình liên kết, tập hợp giữa các thành viên trong
tổ chức, động viên khuyến khích họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định
từ đó đạt được mục tiêu chung của tổ chức
“Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Một số học giả
Trang 22gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động, Dù gọi tên thế nào, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm
vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà
nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia” [22, tr.4]
Chức năng kiểm tra: Đó là công việc thu thập thông tin quản lý xem xét
đối chiếu, đánh giá các hoạt động của đơn vị và thực hiện các mục tiêu đề ra
Có ba yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng chuẩn;
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn;
+ Nếu có sự chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động
“Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ như sau: (1) Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động (2) Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra (3) Người quản lý tiến hành những điều chỉnh sai lệch (4) Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần ” [22, tr.4-5]
1.2.2 Các phương pháp quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục cũng phải sử dụng các phương pháp quản lý chung Các phương pháp quản lý chung này hoàn toàn đúng với mọi trường hợp, nếu người sử dụng, vận dụng nó một cách linh hoạt sẽ cho kết quả cao hơn
- Phương pháp tổ chức hành chính: Là cách tác động của chủ thể quản lý
vào đối tượng bị quản lý trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức hành chính
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào quy luật tổ chức
Trang 23- Phương pháp tâm lý - xã hội: Là phương pháp tác động của chủ thể quản
lý vào đối tượng bị quản lý thông qua tâm lý, tư tưởng, tình cảm con người
- Phương pháp kinh tế: Có nghĩa là người quản lý áp dụng các chỉ tiêu
định mức lao động, các biện pháp khuyến khích vật chất: tăng giờ, tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng để người cán bộ, giáo viên thấy rằng mình được quan tâm và cố gắng công tác tốt hơn
- Phương pháp thuyết phục: Là phương pháp tác động vào nhận thức của
con người vì nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành độnh đúng và ngược lại Mỗi phương pháp quản lý có vai trò riêng, nhằm tác động vào từng mặt khách thể quản lý Bởi vậy, người quản lý cần phải vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp trên Đặc biệt, trong quản lý giáo dục, người quản lý không chỉ quản lý đơn vị mình bằng các phương pháp cơ bản trên bởi vì bản thân mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh luôn có sẵn những phẩm chất, nhân cách của một nhà giáo dục, việc sử dụng các phương pháp quản lý một cách khéo léo sẽ đem lại hiệu quả cao hơn
1.3 Công tác học sinh, sinh viên và sinh viên nước ngoài
1.3.1 Công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo
Tại Chương III Quy chế Học sinh, sinh viên các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp hệ chính quy (ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo nêu rõ nội dung công tác học sinh sinh viên (HSSV) như sau:
+ Tổ chức tiếp nhận HSSV vào ở nội trú
+ Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của HSSV
Trang 24+ Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho HSSV
+ Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho HSSV
- Công tác tổ chức , quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV: + Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của HSSV; phân loại, xếp loại học sinh sinh viên cuối mỗi học kỳ hoặc năm học; tổ chức thi đua, khen thưởng cho tập thể và cá nhân học sinh sinh viên đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện; xử lý, kỷ luật đối với học sinh sinh viên vi phạm quy chế, nội quy
+ Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân - HSSV” vào đầu khóa học, đầunăm học, và cuối khoá học
+ Tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi HSSV giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác
+ Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV; tổ chức cho HSSV tham gia vào các hoạt động văn hoá, văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng nhà trường với HSSV
+ Theo dõi công tác phát triển Đảng trong HSSV; tạo điều kiện thuận lợi cho HSSV tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường; phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên và các tổ chức chính trị-xã hội khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của HSSV, tạo điều kiện cho HSSV có môi trường rèn luyện , phấn đấu
+ Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho HSSV
- Công tác y tế, thể thao:
+ Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định; xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập
Trang 25+ Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho HSSV luyện tập thể dục, thể thao, tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao
+ Tổ chức nhà ăn tập thể cho HSSV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
- Thực hiện các chế độ chính sách đối với HSSV:
+ Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến HSSV
+ Tạo điều kiện giúp đỡ HSSV tàn tật, khuyết tật, HSSV diện chính sách HSSV có hoàn cảnh khó khăn
- Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội:
+ Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên đại bàn nơi trường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn cho HSSV; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến HSSV
+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HSSV; hướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
+ Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho HSSV
- Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú:
+ Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.3.2 Công tác sinh viên nước ngoài trong trường đại học
Công tác SVNN trong trường đại học trước hết là CTSV tương tự như đối với sinh viên Việt Nam trong các trường đại học và cao đẳng, chịu sự điều chỉnh của Quy chế HSSV hiện hành mà Bộ Giáo dục Việt Nam quy
Trang 26định Tuy nhiên, do yếu tố là người nước ngoài nên công tác SVNN trong trường Đại học có những vấn đề khác biệt
Trong nội dung công tác sinh viên mà quy chế hiện hành quy định thì công tác phát triển Đảng, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường, các tổ chức chính trị-xã hội là công tác riêng biệt của sinh viên Việt Nam, chỉ áp dụng đối với sinh viên Việt Nam Đối với sinh viên nước ngoài, muốn tham gia vào các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội như các tổ chức hữu nghị phải có sự chỉ đạo, điều động của cấp trên, có người quản lý trực tiếp mọi vấn đề của sinh viên trong quá trình tham gia các hoạt động đó
Ngoài ra, công tác sinh viên nước ngoài có những nội dung riêng biệt mang tính đặc thù của người nước ngoài như:
+ Đón sinh viên nhập trường:
Khác với sinh viên Việt Nam, sinh viên nước ngoài đến học tại Việt Nam theo hai hình thức: theo Hiệp định và theo chế độ tự túc Đối với SVNN học theo Hiệp định, trước khi học chính thức tại một trường đại học nào đó họ có một năm học dự bị tại Việt Nam để học tiếng Việt (ví dụ Trường Hữu Nghị đối với học sinh Lào đóng tại Phúc Thọ – Hà Tây, Trường T80 đối với học sinh Campuchia đóng tại Sơn Tây – Hà Tây) Khi
có chỉ tiêu được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam giao cho các trường đại học, các trường sẽ tiếp nhận sinh viên từ các trường mà sinh viên học dự bị
đó Khi đón sinh viên mới, các trường đại học phải chuẩn bị phương tiện để chở sinh viên và chở đồ dùng học tập, sinh hoạt được cấp phát hoặc tự sắm của sinh viên Đối với SVNN học theo chế độ tự túc, do mới sang Việt Nam nên cơ sở đào tạo cần phải hỗ trợ giới thiệu chỗ ở và các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với người nước ngoài + Sắp xếp chỗ ở ban đầu cho SVNN:
Trang 27SVNN học theo Hiệp định được Nhà nước ta “bao cấp” về điều kiện học tập và ăn ở, được cấp học bổng hàng tháng và trang cấp cá nhân ban đầu như chăn màn, quần áo, giày dép, chậu rửa, vật dụng thiết yếu khác được trang bị về phòng ở như giường, đệm, tủ, tivi, máy tính, tủ lạnh Chính vì vậy công tác chuẩn bị tiếp nhận đối với sinh viên nhập trường đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ phía cơ sở đào tạo Đối với SVNN
tự túc tuy không được “bao cấp” nhưng cơ sở đào tạo cũng phải chủ động giúp đỡ sinh viên để các em thích ứng với điều kiện môi trường sinh hoạt, học tập của Việt Nam Các em cần được sự giúp đỡ về chỗ ở ban đầu, về thủ tục hành chính dành cho người nước ngoài cư trú tại Việt Nam Sau khi SVNN đã làm quen với điều kiện Việt Nam các em có thể chọn lựa nơi ở theo ý thích của mình cũng như tự đáp ứng với những điều kiện về thủ tục
mà pháp luật Việt Nam quy định Sinh viên nước ngoài học theo chế độ tự túc cũng phải ký cam kết với nhà trường những điều mình thực hiện tại nơi
cư trú nhằm tăng cường việc giáo dục, nhắc nhở sinh viên
+ Đăng ký tạm trú và gia hạn tạm trú cho sinh viên:
Khác với sinh viên Việt Nam, sinh viên nước ngoài phải đăng ký tạm trú với công an phường (xã) nơi cư trú họ còn phải đăng ký tạm trú với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc công an tỉnh (thành phố), thời hạn đó được ghi trên hộ chiếu của SVNN, khi hết hạn cơ sở đào tạo phải làm thủ tục gia hạn cho sinh viên
+ Làm thủ tục xuất nhập cảnh: Là SVNN nên trong quá trình học tập, mỗi lần sinh viên về nước và trở lại trường, SVNN phải làm thủ tục xuất nhập cảnh Tuỳ theo quy định hiện hành giữa Nhà nước ta với nước bạn mà có thể miễn thị thực (Visa) hoặc không Nếu không miễn, cơ sở đào tạo phải xin cấp thị thực cho các em về nước Thủ tục này do Cục Xuất nhập cảnh hoặc Phòng Xuất nhập cảnh (công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) giải quyết Nếu trường đại học đó được Bộ chủ quản uỷ quyền thì trường làm công văn trực tiếp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, nếu
Trang 28chưa được Bộ chủ quản uỷ quyền thì trường đại học đó phải làm công văn
đề nghị Bộ chủ quản làm thủ tục xuất nhập cảnh cho SVNN Với các trường thuộc Đại học Quốc gia thì đề nghị Đại học Quốc gia làm thủ tục xuất nhập cảnh cho SVNN
+ Chế độ, chính sách đối với sinh viên học theo Hiệp định:
SVNN học theo Hiệp định (sinh viên Lào và Campuchia) được Bộ Tài chính quy định suất chi đào tạo theo Thông tư số 16/2006/TT-BTC ngày 07/03/2006 Theo đó, suất chi đào tạo gồm hai phần: phần sinh viên được nhận trực tiếp, phần do Nhà trường quản lý để chi phục vụ học tập và sinh hoạt của SVNN Các khoản chi đó gồm chi thường xuyên, chi trong năm, chi một lần cho cả khoá học Đối với SVNN được nhận trực tiếp học bổng hàng tháng bằng tiền Đồng Việt Nam kể từ tháng có mặt tại Việt Nam đến hết tháng tốt nghiệp kết thúc khoá học về nước để chi ăn, mặc và tiêu vặt Suất chi này đã được Thông tư của Bộ Tài chính quy định rõ ràng, các trường chỉ việc áp dụng Tuy nhiên nếu các trường áp dụng không chuẩn, không kịp thời sẽ là rào cản lớn trong quá trình học tập và sinh hoạt của SVNN
Chế độ của sinh viên nước ngoài bên cạnh việc được nhận học bổng trực tiếp, SVNN được trang bị phòng ở như giường, ga, đệm, gối, tủ đựng quần áo, bàn ghế ấm chén, phích tích, đèn quạt và một số trang bị cần thiết khác (trang cấp cá nhân ban đầu đã được cấp khi SVNN học dự bị tiếng Việt) Sinh viên được cấp các vật dụng sinh hoạt, dụng cụ thể thao, được phụ đạo, tham quan nghỉ mát, được nhà trường tổ chức gặp mặt nhân các ngày
Lễ, Tết của Việt Nam và nước có SVNN theo học Cuối khoá học SVNN được nhà trường mua vé máy bay và đưa tiễn sinh viên ra sân bay về nước + Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của SVNN:
Là người nước ngoài nên chắc chắn rằng họ luôn bị hạn chế về mặt ngôn ngữ ở những năm đầu, bên cạnh đó phải kể đến yếu tố tâm lý, tình cảm
và văn hoá xã hội của SVNN khác với sinh viên Việt Nam nên việc tổ
Trang 29chức hai hoạt động này phải hết sức cụ thể, chu đáo SVNN không thể hiểu hết được những quy định về pháp luật Việt Nam cũng như những quy định chi tiết của Bộ Giáo dục & Đào tạo, của nhà trường nếu như người quản lý không tìm hiểu, phổ biến cặn kẽ và liên tục cũng như tóm lược những vấn đề chính yếu để phổ biến cho SVNN Để quản lý tốt hai hoạt động này cần phải nắm bắt tư tưởng, thái độ, nhận thức, tâm lý liên tục theo dõi, đánh giá tình hình và đặc biệt phải coi tình hữu nghị đoàn kết là trên hết qua đó thúc đẩy việc học tập và rèn luyện của SVNN Mặc dù là sinh viên nhưng họ là người nước ngoài nên trong quá trình quản lý cũng phải chú ý vấn đề ngoại giao
Bên cạnh nội dung công tác học sinh, sinh viên gần như sinh viên Việt Nam theo Quy chế hiện hành thì SVNN còn chịu sự điều chỉnh của Quy chế Công tác người nước ngoài học tại Việt Nam Theo đó cơ sở giáo dục
có tiếp nhận đào tạo SVNN học theo Hiệp định phải bố trí nơi ở, lớp học, theo dõi, quản lý việc học tập, nghiên cứu; cấp phát văn bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ theo thẩm quyền Phối hợp với cơ quan có trách nhiệm để giải quyết các công việc liên quan đến SVNN trong toàn khoá học Đối với SVNN tự túc, cơ sở đào tạo phải soạn thảo hợp đồng đào tạo báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và sau đó thực hiện theo Hợp đồng đã ký kết Cơ sở giáo dục có SVNN ở trong ký túc xá có trách nhiệm: Tiếp nhận, quản lý và chịu trách nhiệm về mặt đời sống vật chất, sinh hoạt của SVNN thuộc phạm vi quản lý; Phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết kịp thời các việc liên quan đến SVNN thuộc phạm vi quản lý; Thực hiện chính sách, chế độ của Nhà nước Việt Nam đối với SVNN
1.3.3 Yếu tố hội nhập của sinh viên nước ngoài ở trường đại học
Trong xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, mỗi trường đại học đều đang tích cực, chủ động triển khai công tác đào tạo theo phương châm đổi mới toàn diện giáo dục đại học SVNN đến học tập tại
Trang 30Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới đó Trước hết họ là những người có thể giúp cơ sở đào tạo tìm hiểu được điểm mạnh từ phía đối tác nước ngoài thông qua hội thảo, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến từ chính nước
họ về cách thức quản lý, ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo, nội dung chương trình, sách giáo khoa Như vậy họ sẽ là một kênh để cơ sở đào tạo chia sẻ và khai thác thông tin trong quá trình hội nhập quốc tế ở lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Sinh viên Việt Nam có điều kiện để được cọ xát tư duy với người nước ngoài, tăng thêm sự hiểu biết về văn hoá-xã hội cũng như mối quan hệ hữu nghị với các nước, là động lực thúc đẩy trong học tập và rèn luyện khi so sánh với sinh viên các nước
Hơn thế nữa, mỗi cơ sở đào tạo đại học có SVNN theo học sẽ có thêm tiêu chí đánh giá xếp loại trong hệ thống các trường đại học Sau khi tốt nghiệp họ còn là một kênh để tăng cường sự hợp tác quốc tế trên nhiều mặt trong đời sống phát triển kinh tế – xã hội
Sinh viên nước ngoài học tại Việt Nam chắc chắn sẽ tạo nên một điều kiện thuận lợi để phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế Trước hết nếu
là sinh viên học theo Hiệp định thì ngành mà SVNN theo học sẽ là ngành mà Chính phủ các nước đang cần quan tâm và đầu tư cả ở hiện tại và tương lai, nước họ có thể còn thiếu chuyên gia trong lĩnh vực đó Thông thường hàng năm, Đại sứ quán của các nước cũng triệu tập sinh viên của họ để tổng kết quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên Thông qua đó họ có thể biết được những tiềm năng, thế mạnh của phía Việt Nam và triển khai các đề án hợp tác về kinh tế, văn hoá, giáo dục Nếu là SVNN học tự túc thì
họ cũng là nhân tố thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên Việt Nam và khi
họ tốt nghiệp trở về nước thì lĩnh vực ngành nghề mà họ công tác có những thế mạnh hoặc biết Việt Nam có thế mạnh sẽ là động lực để tạo nên mối hợp tác
Trang 31Đặc biệt đối với sinh viên nước ngoài dù học theo Hiệp định hay học tự túc thì họ cũng có vốn tiếng Việt phong phú cả về mặt xã hội cả về mặt ngành nghề chuyên môn, do đó họ có thể triển khai tốt các dự án hợp tác giữa nước ta và quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc phát huy những mặt tích cực, tinh hoa của các nước phát triển, những ưu điểm của cơ chế thị trường cũng phải luôn chú ý đến những tồn tại, điểm yếu mà các nước còn đang vấp phải Khi tiếp nhận sinh viên nước ngoài, những trào lưu tư tưởng, văn hoá của họ mà chúng ta chưa kiểm soát được hoặc chưa nắm bắt hiểu biết hết được cũng phải nâng cao ý thức cảnh giác để đào tạo và rèn luyện SVNN theo học tại nước ta theo mục tiêu đào tạo mà các trường đã vạch ra Tránh hiện tượng lợi dụng diễn đàn, môi trường học tập ở các trường đại học để các thế lực thù địch trong và ngoài nước lôi kéo sinh viên Việt Nam để chống phá nhà nước Việt Nam, làm môi trường cho phản động lưu vong hoạt động Phòng chống việc ăn cắp công nghệ, bản quyền đối với những cơ sở nghiên cứu khoa học có hàm lượng chất xám cao
1.3.4 Đặc điểm tâm lý, văn hóa, xã hội của sinh viên nước ngoài
Sinh viên nước ngoài sinh ra và lớn lên được học tập tại các trường từ mầm non đến hết bậc trung học phổ thông của nước ngoài rồi mới vào các trường đại học, cao đẳng Do đó tất cả các hình ảnh tâm lý, kinh nghiệm sống đã được trải nghiệm, ngấm vào bộ não và hình thành nên phản xạ với thời gian đầu đời tương đối dài Chính điều kiện văn hoá xã hội của mỗi nước khác nhau đã tác động tới tâm lý của mỗi người ở mỗi nước là khác nhau, do đó phải khẳng định rằng đặc điểm tâm lý sinh viên nước ngoài nói riêng và người nước ngoài nói chung chắc chắn khác với người Việt Nam Việc tìm hiểu tâm lý chung của một dân tộc, cộng đồng người là một việc khó đòi hỏi phải có một thời gian đủ để tìm hiểu về đời sống kinh tế xã hội,
Trang 32điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hoá, tố chất của con người nơi người đó sinh sống và trải nghiệm
Trong quá trình phát triển xã hội, con người đã thu thập được rất nhiều kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội, con người và phương pháp nhận thức Ở mỗi quốc gia, những kinh nghiệm tri thức ấy tạo nên nền văn hoá, bản sắc của mỗi nước Mỗi cá thể lĩnh hội nền văn hoá ấy lại tạo riêng cho mình một bản sắc cá nhân và cũng biến thành tâm lý của cá nhân, trong tâm lý của sinh viên mỗi nước có cái chung và cái riêng thống nhất với nhau tạo nên đặc điểm tâm lý riêng đặc thù của sinh viên mỗi nước
Sinh viên nước ngoài cũng giống sinh viên Việt Nam, họ có những nét nhân cách và có những đặc điểm cá nhân của sinh viên Thế giới nội tâm của sinh viên là vô cùng phức tạp, phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn, là quá trình chuyển từ các yêu cầu bên ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên Một số đặc điểm cá nhân của sinh viên là: (1) SV thuộc kiểu hướng ngoại: hăng hái sôi nổi, rất nhanh hoà hợp, thích kết bạn và giao tiếp, không ưa đọc sách và nghiên cứu một mình, dễ bị kích động, thích đùa, thích thay đổi, tự do lạc quan, thích vận động, không tự kiểm tra chặt chẽ, sông tình cảm, ít để bụng (2) SV thuộc kiểu hướng nội: rất trầm tĩnh, điềm đạm, yêu sách, thích làm việc một mình, thường giữ khoảng cách với mọi người trừ một số rất ít bạn thân Sinh viên hướng nội thường có kế hoạch làm việc, cân nhắc kỹ càng trước khi hành động, không phản ứng vội vàng, không thích nhộn nhịp, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách thận trọng, bình tĩnh, không dễ quên chuyện cũ, là người đáng tin cậy nhưng thường bi quan Ngoài hai loại trên, nhiều sinh viên có đặc điểm trung gian, biểu hiện của kiểu tính cách pha trộn Sinh viên hướng ngoại và sinh viên hướng nội có phản ứng rất khác nhau đối với các kiểu ứng xử, kiểu dạy học khác nhau của giảng viên Sinh viên hướng ngoại thích hợp với kiểu dạy
Trang 33học sử dụng nhiều các phương tiện nghe nhìn, máy vi tính; trong khi đó sinh viên hướng nội có ưu thế trong làm việc độc lập (3) SV thuộc kiểu tư duy hội tụ có xu thế tìm một giải pháp đúng cho một vấn đề hay tình huống nảy sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức (4) SV thuộc kiểu tư duy phân kỳ
có xu hướng mở rộng các câu trả lời hay tìm nhiều giải pháp hoặc mở rộng
ý tưởng Tư duy phân kỳ uyển chuyển hơn (5) SV thuộc kiểu phân tích sẽ học tập có hiệu quả khi tiến từng bước một, loại bỏ những gì không chắc chắn (6) SV thuộc kiểu tổng hợp sẽ học tập có hiệu quả hơn khi thiết lập một cái nhìn tổng thể hoặc xây dựng một cấu trúc và sau đó lấp đầy cấu trúc đó bằng những tri thức chi tiết hơn
Sinh viên nước ngoài theo học tại Việt Nam cũng rất đa dạng, họ đến
từ nhiều quốc gia nên có những đặc thù về tâm lý, văn hoá, xã hội riêng Sinh viên trong mỗi nước, ngoài những đặc điểm chung lại có những đặc điểm riêng của cá nhân Khi đến Việt Nam học tập đa số họ có một tâm lý thoải mái khi biết rằng Việt Nam là một nước đang phát triển, có những lĩnh vực phát triển ấn tượng, là một nước ổn định về chính trị, người Việt Nam có tinh thần cởi mở, thân thiện, luôn có tình hữu nghị với các nước Sinh viên Việt Nam rất sẵn lòng giúp đỡ khó khăn khi sinh viên nước ngoài gặp phải, chính nhân tố này sẽ là sự giao thoa góp phần trong quá trình phát triển nhân cách của sinh viên nước ngoài
1.3.5 Sự phối hợp giữa trường đại học với Đại sứ quán, các Tổ chức hữu nghị và các cơ quan hữu quan trong việc quản lý công tác SVNN
Đối với mỗi trường đại học có SVNN theo học thì việc thiết lập các mối quan hệ và phối hợp với các Đại sứ quán, các Tổ chức Hữu nghị, các
cơ quan hữu quan như cơ quan Quản lý Xuất nhập cảnh, Công an Phường
sở tại, là một điều tất yếu Các cơ quan này sẽ trực tiếp giải quyết những thủ tục về người nước ngoài học tập và cư trú tại Việt Nam theo Luật pháp Việt Nam và những quy định của phía nước ngoài
Trang 34Đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam sẽ quản lý SVNN thông qua các Trưởng đoàn sinh viên các nước học tập tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam Đại sứ quán của mỗi nước có quyền thay mặt Chính phủ của nước sở tại để quyết định những vấn đề liên quan đến SVNN học tại Việt Nam như: thay đổi ngành học, cho phép sinh viên về nước, cho phép sinh viên bảo lưu, triệu tập sinh viên
Các Tổ chức hữu nghị là cầu nối để sinh viên tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao giữa sinh viên các nước Các hoạt động này góp phần làm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và giúp cho sinh viên có cơ hội giao lưu, học hỏi, củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc
Các cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài và các trường đại học để quản lý việc xuất nhập cảnh
và gia hạn tạm trú cho SVNN theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam Công an Phường phối hợp với trường đại học đóng trên địa bàn hoặc nơi SVNN cư trú để giải quyết thủ tục đăng ký tạm trú, tạm vắng cho SVNN trong quá trình học tập tại Việt Nam đồng thời phối hợp giải quyết các vấn đề về an ninh, trật tự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho SVNN
1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý công tác SVNN tại các trường đại học
1.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý công tác sinh viên nước ngoài
Sinh viên nước ngoài học trong các trường đại học, cao đẳng tại Việt Nam trước hết họ cũng là sinh viên, là người học do vậy họ cũng chịu sự quy định của pháp luật Việt Nam, của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục như đối với sinh viên Việt Nam Bên cạnh đó, do là người nước ngoài nên họ còn có những quy định riêng dành cho người nước ngoài khi học tập và sinh sống tại Việt Nam Để thực hiện tốt việc quản lý công tác
Trang 35SVNN, người quản lý cần phải dựa trên cơ sở pháp lý thể hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:
1.4.1.1 Luật Giáo dục (2005):
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất trong lĩnh vực giáo dục đồng thời có những quy định mang tính nguyên tắc cho các cơ sở đào tạo, cho người học
Trong Luật Giáo dục thể hiện các nội dung liên quan đến việc quản lý công tác SVNN như: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục” (Điều 16) ;
“Không truyền bá tôn giáo trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” (Điều 19); “Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội” (Điều 20); Người học phải “Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường” (Điều 85); Luật Giáo dục cũng nêu rõ quyền của người học: “được nhà trường, cơ
sở giáo dục khác tôn trọng và đối xử bình đẳng, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình” (Điều 86) Đây là một nội dung quan trọng liên quan nhiều đến công tác sinh viên nói chung và sinh viên nước ngoài nói riêng
Ngoài ra Luật còn quy định về các hành vi người học không được làm như: “người học không được gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử, tuyển sinh; không được xúc phạm nhân phẩm, danh dự đối với cán bộ, giáo viên và người học khác; không được gây rối an ninh, trật tự trong cơ sở giáo dục và nơi công cộng” (Điều 88) Vấn đề này liên quan đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, công tác an ninh, trật tự an toàn cho SV
Trang 36Luật Giáo dục cũng khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng như khuyến khích và tạo điều kiện cho nhà trường, cơ sở giáo dục khác của Việt Nam hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong học tập và nghiên cứu khoa học (Điều 108, 109) và đây là tiền đề để các trường phải chủ động trong việc quản lý sinh viên nước ngoài nói chung và công tác SVNN nói riêng;
Khen thưởng và kỷ luật là hai vấn đề chính trong công tác sinh viên cũng được Luật Giáo dục đề cập như: “người học có thành tích trong học tập, rèn luyện được nhà trường, cơ sở giáo dục khác, cơ quan quản lý giáo dục khen thưởng ”(Điều 116), người nào có một trong các hành vi sau đây thì bị xử lý vi phạm: “ Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử ; Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác ” (Điều 118) Đối với SVNN công tác thi đua khen thưởng được Luật đặt ngang bằng với sinh viên Việt Nam vì họ cũng là đối tượng người học và trong thực tế áp dụng họ còn được khuyến khích hơn để bù đắp về yếu tố tinh thần
1.4.1.2 Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy
Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là quy chế HSSV số 42)
Quy chế này quy định quyền và nghĩa vụ của học sinh sinh viên; nội dung công tác học sinh, sinh viên; hệ thống tổ chức, quản lý; thi đua, khen thưởng và kỷ luật Quy chế này áp dụng đối với học sinh, sinh viên các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy và thay thế cho Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; thay
Trang 37thế Quyết định số 39/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/08/2000 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm trong Quy chế Công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo
Đây là một quy chế quan trọng nhất trong các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy về công tác học sinh sinh viên, là cẩm nang cho cán bộ quản lý và sinh viên trong các trường thực hiện Nội dung chính của Quy chế gồm có chương quy định về quyền và nghĩa vụ của học sinh, sinh viên (Điều 4, Điều 5 và Điều 6) trong đó nêu:
- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với HSSV
- Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội
- Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú
Chương quy định hệ thống tổ chức, quản lý (Điều 13 đến Điều 17) trong
đó có:
- Hệ thống tổ chức, quản lý công tác HSSV
- Trách nhiệm của Hiệu trưởng
- Đơn vị phụ trách công tác HSSV
- Giáo viên chủ nhiệm
- Lớp học sinh, sinh viên
Chương quy định thi đua, khen thưởng và kỷ luật (Điều 18 đến Điều 24) trong đó có:
Trang 38- Nội dung, hình thức thi đua, khen thưởng
- Trình tự, thủ tục xét khen thưởng
- Hình thức kỷ luật và nội dung vi phạm
- Trình tự, thủ tục và hồ sơ xét kỷ luật
- Chấm dứt hiệu lực của quyết định kỷ luật
- Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Hội đồng thi đua, khen thưởng và
kỷ luật HSSV
- Quyền khiếu nại về thi đua khen thưởng
Đối với SVNN, bên cạnh việc thực hiện công tác sinh viên về cơ bản như sinh viên Việt Nam, công tác SVNN có thêm một số công việc khác mang tính chất đặc thù đối với SVNN mà Quy chế công tác người nước ngoài học tại Việt Nam quy định
1.4.1.3 Quy chế Công tác người nước ngoài học tại Việt Nam
Quy chế Công tác người nước ngoài học tại Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số 33/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 25 tháng 08 năm
1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Quy chế 33) Quy chế này quy định việc tiếp nhận và quản lý đào tạo đối với người nước ngoài học tại Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận hoặc cho phép tiếp nhận
Phạm vi điều chỉnh của Quy chế này là công dân nước ngoài đến học tập, nghiên cứu và thực tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục Quốc dân của Việt Nam bao gồm học sinh chuyên nghiệp, sinh viên cao đẳng, sinh viên đại học, học viên sau đại học Như vậy công tác SVNN về
cơ bản giống như sinh viên Việt Nam tại các cơ sở đào tạo và có thêm một
số công tác đặc thù mà Quy chế này quy định như:
- Hồ sơ SVNN
- Thủ tục tiếp nhận
- Chế độ tài chính
Trang 39Bên cạnh Quy chế HSSV số 42 về công tác HSSV, Quy chế này có một chương quy định nhiệm vụ và quyền của Lưu học sinh (SVNN) và một chương khen thưởng và kỷ luật
Như vậy hiện nay để quản lý tốt công tác SVNN cần phải nắm bắt chặt chẽ hai Quy chế vừa nêu (Quy chế HSSV số 42 và Quy chế 33), đây là hai quy chế gần gũi với người quản lý và áp dụng hàng ngày cho SVNN Đối với SVNN học theo Hiệp định thì cần phải nắm bắt Thông tư 16/2006/TT-BTC ngày 07/03/2006 của Bộ Tài chính quy định về chế độ suất chi đào
tạo đối với sinh viên Lào và Campuchia học tập tại Việt Nam
1.4.1.4 Thông tư số 16/2006/TT-BTC ngày 07 tháng 03 năm 2006 của Bộ Tài chính quy định chế độ suất chi đào tạo học sinh Lào và học sinh
Campuchia học tập tại Việt Nam
Trong công tác SVNN, Thông tư này quy định chế độ suất chi đào tạo sinh viên Lào và Campuchia học tập tại Việt Nam theo Hiệp định và Biên bản thoả thuận ký kết hàng năm về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Lào, chính phủ Việt Nam với Chính phủ Vương quốc Campuchia
Đây là Thông tư liên quan đến toàn bộ chế độ về đào tạo của sinh viên Lào và sinh viên Campuchia, một mảng trong công tác SVNN và là một vấn
đề chính của SVNN tại Trường Đại học Thuỷ lợi Do Thông tư liên quan đến
Trang 40quyền lợi trực tiếp của sinh viên do đó người quản lý phải nắm bắt chặt chẽ để thực hiện và giải đáp cho SVNN, tránh sự hiểu nhầm, thắc mắc, kiện tụng ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên và ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế
1.4.1.5 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác
- Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường
đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành theo
Quyết định số 42/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 21/10/2002 của Bộ GD&ĐT) Quy chế này quy định nội dung đánh giá , căn cứ đánh giá, thang điểm, khung điểm, phân loại kết quả và quy trình đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp (gọi tắt là Quy chế rèn luyện)
Trong nội dung công tác sinh viên thì công tác tổ chức, quản lý việc rèn luyện của sinh viên là một vấn đề chính Quy chế này vừa là nội dung để sinh viên phấn đấu rèn luyện vừa là tiêu chí để đánh giá sinh viên và trong việc rèn luyện thì SVNN được áp dụng như đối với sinh viên Việt Nam
- Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú (Ban hành kèm theo Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 18/10/2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
Quy chế này quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường trong việc tổ chức quản lý khu nôị trú, quyền và nghĩa vụ của học sinh, sinh viên trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt trong Ký túc xá Đối với SVNN hầu hết các trường đều tạo điều kiện để SVNN được ở nội trú, vì vậy Quy chế này cùng với Quy chế Công tác người nước ngoài học tại Việt Nam sẽ là văn bản hướng dẫn SVNN thực hiện và là văn bản
để người quản lý thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác SVNN trong các cơ
sở đào tạo