Trên nền tảng đề tài đã nghiên cứu ở cấp thạc sĩ 2011, nghiên cứu sinh NCS muốn nghiên cứu phát sinh học đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên nhằm phát hiện phân bố địa lý, đặc tính l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Nghiên cứu phân loại đất để biết đặc điểm từng loại nhằm đề xuất hướng sử dụng hiệu quả cũng như cải tạo và bảo vệ đất là hoạt động không thể thiếu của Khoa học đất thế giới
Ở Việt Nam, phân loại đất được tiến hành khá sớm, đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia cho các vùng trên cả nước, trong đó có Tây Nguyên nhằm mục đích thống kê quỹ đất phục vụ đánh giá khả năng thích hợp đất đai để chuyển đổi cơ cấu cây trồng Trong các chương trình đó, nổi bật là Chương trình Tây Nguyên 1, 2, 3 Tuy nhiên các chương trình này chủ yếu đặt trọng tâm vào nghiên cứu phần đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, một khu vực rộng lớn đất dưới các thảm rừng, đặc biệt đất dưới rừng dầu nhiệt đới (sau đây gọi là đất rừng dầu) còn ít được đề cập
Một trong những ưu tiên nghiên cứu đất nhiệt đới là nghiên cứu đất dưới
rừng nghèo kiệt (Soils under poor – exhausted forests) Tiến hành nghiên cứu
những đất đó cần thiết xem xét quá trình phong hóa hình thành đất bởi ý nghĩa cơ bản của nó trong địa lý học và khoa học đất, giúp đánh giá sự tiến hóa, phân loại và đề xuất hướng sử dụng các đất này một cách bền vững Ở Việt Nam đã có công trình nghiên cứu về đất rừng nghèo kiệt nhưng thường chỉ khảo sát sự phân bố, đánh giá các chỉ tiêu độ phì và khả năng sản xuất
Việc chẩn đoán phát sinh học (genesis) các quá trình phát sinh đất đặc trưng
(SPP) dưới rừng dầu đến nay chưa có số liệu đầy đủ
Rừng dầu ở nước ta người dân địa phương thường gọi "rừng khộp” là rừng nghèo kiệt rất đặc trưng với các cây thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu
thế Rừng dầu phát triển trong một điều kiện đặc biệt: Luôn có một mùa mưa ngập úng và một mùa khô khắc nghiệt Hiện nay ở nước ta loại rừng này có diện tích khoảng 933.000 ha, tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên với 500.000
ha Chú ý rằng, rừng dầu cũng rất phổ biến ở các nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanma, Indonesia, Malaysia
Chính phủ đã có Chương trình về phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên với chủ trương cho chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, trong đó chủ yếu là đất rừng dầu Việc chuyển đất rừng dầu sang trồng cao su đã có nhiều ý kiến trái chiều Tuy vậy, các ý kiến nêu ra đều chưa có căn cứ khoa học, trong đó việc
Trang 2hiểu biết về đặc điểm đất dưới rừng dầu cũng như mức độ thích nghi của cây cao
su trên đất rừng dầu là vấn đề chưa được làm rõ
Trên nền tảng đề tài đã nghiên cứu ở cấp thạc sĩ (2011), nghiên cứu sinh (NCS) muốn nghiên cứu phát sinh học đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên nhằm phát hiện phân bố địa lý, đặc tính lý hóa học và độ phì của các loại đất, từ đó giúp đưa ra nhận định về khả năng chuyển đổi đất rừng dầu nghèo kiệt sang
trồng cao su Do vậy, đề tài nghiên cứu “Đặc điểm đất dưới rừng dầu nhiệt đới
(Dipterocarpaceae) và khả năng chuyển đổi trồng cao su ở Tây Nguyên”
được thực hiện Kết quả của đề tài sẽ bổ sung cơ sở khoa học cho chiến lược quản lý, sử dụng tài nguyên đất hiệu quả
2 Ý nghĩa
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu, phát hiện đặc điểm đất rừng dầu về
phân bố địa lý ở Tây Nguyên, Việt Nam; về đặc điểm phát sinh và tính chất, độ phì của đất; cung cấp thông tin về đặc trưng của thảm thực vật cũng như hệ sinh thái đặc thù của rừng dầu và các vấn đề liên quan đến đất dưới rừng dầu;
và chỉ ra ưu, nhược điểm của các loại đất dưới rừng dầu cũng như khả năng thích hợp của đất đối với cây cao su nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, chiến lược quản lý, sử dụng tài nguyên đất của Tây Nguyên có hiệu quả
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đặc điểm đất dưới rừng dầu
Tây Nguyên, và đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây cao su là cơ sở khoa học đề xuất các vùng đất có khả năng chuyển đổi trồng cao su, với các mức độ thích hợp khác nhau, qua đó cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà lãnh đạo, quản lý hoạch định chính sách, lựa chọn phương án quy hoạch sử sụng đất hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường, nhất là bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc biệt của Tây Nguyên
3 Mục tiêu
Nghiên cứu đặc điểm phát sinh học đất dưới rừng dầu và đánh giá mức
độ thích hợp đất đai cho cây cao su làm cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi đất rừng dầu nghèo kiệt sang trồng cao su Cụ thể:
- Kiểm kê sự phân bố địa lý đất dưới rừng dầu
- Nghiên cứu nguồn gốc phát sinh đất trong đó đi sâu nghiên cứu các quá trình phát sinh đất đặc trưng
Trang 3- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây cao su và khuyến nghị những khu vực có khả năng chuyển đổi trồng cao su
- Khoanh định những khu vực cần bảo vệ, khoanh nuôi và tái sinh rừng
dầu Tây Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi
4.1 Đối tượng
- Đất dưới rừng dầu
- Các yếu tố hình thành đất; các quá trình phát sinh đất đặc trưng
- Hệ sinh thái rừng dầu, cây họ dầu và các lâm phần của chúng
- Cây cao su và khả năng thích nghi với đất rừng dầu
- Người trồng cao su và các công ty, nông, lâm trường có liên quan
4.2 Phạm vi
- Không gian: Những khu vực tập trung rừng dầu ở Tây Nguyên (các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông), trong đó tập trung nghiên cứu chủ yếu tại vùng bình nguyên Ea Súp tỉnh Đắk Lắk và một số huyện như Chư Prông (Gia Lai), Ia H’drai và Sa Thầy (Kon Tum)
- Thời gian: NCS đã tham gia thực hiện nghiên cứu về đất dưới rừng dầu Tây Nguyên từ năm 2009 – 2018 (từ lúc bắt đầu làm luận văn thạc sĩ)
5 Đóng góp mới
- Về địa lý đất: Đã xác định tổng diện tích đất dưới rừng dầu Tây
Nguyên là 565.000 ha - vượt 65.000 ha so với con số 500.000 ha công bố trước đây
- Về phát sinh học đất: Đề tài đã phát hiện: đất rừng dầu chịu tác động
của biến hoá sialit–alit và xuất hiện "sự tái tích tụ silic" làm cho đất có biểu hiện sialit, mà ở đây do nguồn gốc từ nước cho nên được gọi là "sialit thuỷ
nguyên" (Hydrogenic sialitisation)
- Về nghiên cứu ứng dụng: Đề tài cũng xây dựng bản đồ thích hợp đất
đai cho trồng cao su của trên đất rừng dầu Tây Nguyên Công trình đã tái khẳng định tiêu chuẩn bắt buộc chỉ trồng được cao su khi độ dày tầng đất mặt > 70 cm và hàm lượng đá lẫn + kết von trong tầng đất không vượt quá 50% khối lượng đồng thời không bị kết chặt thành tầng cứng rắn bởi lớp sét bên dưới
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Các nghiên cứu về đất và phân loại đất
Các hệ thống phân loại nổi tiếng như: Phân loại đất theo quan điểm phát sinh của Dukuchaev, Liên Xô cũ (1883), phân loại theo tính chất đất của USDA (Taxonomy, 1975, 1990), phân loại theo quan điểm kết hợp phát sinh và tính chất của FAO/WRB,… Ở Việt Nam, nghiên cứu phân loại đất cũng được tiến hành từ thế kỷ XV, nhằm mục đích thống kê quỹ đất phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng Ở Tây Nguyên đã các công trình nghiên cứu phân loại đất nổi bật là Chương trình
TN 1, 2, 3 Tuy nhiên các chương trình này chủ yếu đặt trọng tâm vào nghiên cứu phần đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, một khu vực rộng lớn đất dưới các thảm rừng, đặc biệt đất dưới rừng dầu còn ít được đề cập; đồng thời cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc phát sinh học đất rừng dầu ở Tây Nguyên Đây là nội dung mà đề tài này cần tiếp tục nghiên cứu để bổ khuyết
1.2 Khái quát về rừng dầu nhiệt đới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về Quần xã sinh vật rừng lá rộng
khô cận nhiệt đới và nhiệt đới, còn gọi là rừng khô nhiệt đới (Tropical dry forests) Ở ĐNA, loại rừng này được tìm thấy nhiều ở các nước Campuchia,
Thái Lan, Lào, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Philippines và được gọi là rừng
dầu nhiệt đới (Dipterocarpaceae) Ở Việt Nam, rừng dầu phân bố chủ yếu ở
Tây Nguyên, tập trung nhiều nhất ở Đắk Lắk Các công trình nghiên cứu cây
họ dầu cũng được tiến hành khá sớm, nhưng phải kể đến Hoàng Sỹ Động (1986, 2002) và Thái Văn Trừng (1962, 1972, 1978) nghiên cứu về đặc tính lâm sinh của các loại cây họ dầu Tuy nhiên, nghiên cứu phân bố địa lý rừng dầu Tây Nguyên và thống kê diện tích đến cấp huyện nhằm khoanh định ranh giới của loại rừng này trên bản đồ thì từ trước đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu Đây là nội dung mà đề tài cần nghiên cứu bổ sung
1.3 Những nghiên cứu liên quan đến cây cao su
- Những nghiên cứu liên quan đến cây cao su và việc chuyển đổi rừng dầu sang trồng cao su: Yêu cầu sinh thái cây cao su ở mức tối ưu: Nhiệt độ từ
20 - 300C, lượng mưa từ 1.500 – 2.000 mm/năm, Gió nhẹ từ 1 - 2 m/s, giờ chiếu sáng khoảng 1.600 - 1.700 giờ/năm; cao trình (< 200 m), độ dốc: < 300; pHKCl từ 4,5 - 5,5; độ sâu tầng đất canh tác dày > 2 m, trong đó không có tầng trở ngại cho sự tăng trưởng của rễ cao su như lớp thủy cấp treo, lớp laterite hóa
Trang 5dày đặc, lớp đá tảng Đối với cây cao su các chất dinh dưỡng trong đất không phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng, tuy nhiên trồng cao su trên các loại đất
nghèo dinh dưỡng sẽ làm tăng chi phí làm giảm hiệu quả đầu tư
- Nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất rừng dầu nhiệt đới phục vụ chuyển đổi trồng cao su ở các nước: Các kết quả nghiên cứu phân hạng đất trồng cao su ở
các tỉnh của Campuchia, Lào cho thấy rằng: Mức độ thích hợp đất rừng dầu đối với cây cao su ở đây đều có yếu tố bị giới hạn và hầu hết có mức độ thích hợp cho cây cao su chỉ từ S2 – N1 (trong đó N1không thích hợp tự nhiên nhưng có khả năng cải tạo) Như vậy, đất rừng dầu nhiệt đới hầu hết thích hợp từ mức trung bình đến ít thích hợp với cây cao su
Rừng dầu tuy ít về số loài nhưng tỉ lệ cây gỗ có giá trị kinh tế cao hơn nhiều
so với rừng thường xanh Rừng dầu lại có những đặc thù riêng mà ít có kiểu rừng nào giống được Do đó, việc phá rừng hoặc chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cây khác phải cẩn trọng và tính đến những tác hại về sau khi hệ sinh thái đặc thù của rừng dầu không còn nữa Vì vậy, việc mở rộng diện tích trồng cao su trên những vùng đất chuyển đổi từ rừng dầu (không phải là vùng trồng truyền thống) là vấn đề mà đề tài cần nghiên cứu, cần đánh giá mức độ thích hợp cho cây cao su trên đất rừng dầu để làm cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương án quy hoạch sử dụng đất hiệu quả
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Nội dung
1 Phân bố địa lý đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên;
2 Đặc điểm phát sinh học đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên;
3 Đặc tính lý, hóa học và độ phì đất rừng dầu ở Tây Nguyên;
4 Đánh giá thích hợp đất đai của đất rừng dầu đối với cây cao su
2.2 Phương pháp
- Cách tiếp cận (Approaching): 1) Tiếp cận sinh thái học (Ecological
Approaching): Trong dãy “Đất - Sinh vật - Môi trường” lấy “Đất” là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài, ở đây nghiên cứu về phát sinh học đất; 2) Tiếp cận cộng đồng (Community Approaching): Các nhà hoạch định chính sách, các doanh
nghiệp, người dân đang canh tác cao su trên đất rừng dầu; 3) Kế thừa đầy đủ và có chọn lọc các tài liệu về đất rừng dầu; 4) Sử dụng công nghệ hiện đại trong
Trang 6nghiên cứu (GIS, viễn thám, máy móc, công nghệ phân tích hiện đại như XRD, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử - AAS,…)
- Phương pháp luận (Methodology): 1) Phương pháp phân loại đất áp dụng theo bảng phân loại đất Việt Nam dùng cho bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình (1984) của Bộ NNPTNT và những đề nghị của Hội Khoa học đất VN (1996) Bên cạnh đó, có vận dụng một số tiêu chuẩn chẩn đoán đất trong phân loại đất quốc tế của FAO/WRB (1988, 2006); việc phân loại đất về cơ bản được dựa trên quan điểm phát sinh học; đồng thời mức độ hiện diện của các tầng phát sinh được xem xét dưới những tiêu chuẩn chẩn đoán định lượng thông qua các kết quả phân tích lý hoá tính đất Việc kết luận phân loại đất được dựa vào sự xem xét tổng hợp của cả 3 nhóm chỉ tiêu: (i) Đặc điểm các quá phát sinh đất đặc trưng (SPP); (ii) Hình thái phẫu diện đất và (iii) Tính chất lý, hóa học của đất 2) việc đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây cao được áp dụng theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO (1976) với hình thức đánh giá định tính Các mức độ thích hợp được xác định trên cơ sở kết hợp giữa yêu cầu sinh thái của cây cao
su với đặc điểm sinh thái của vùng đất; trong đó, đặc điểm sinh thái của vùng đất được cụ thể hóa theo các mức độ giới hạn đối với cây cao su và được thể
hiện trên bản đồ các đơn vị đất đai
- Các phương pháp nghiên cứu (Methods): 1) Phương pháp lấy mẫu, mô
tả phẫu diện: Điều tra, khảo sát đào phẫu diện theo tiêu chuẩn kỹ thuật 10-TCN 68-84 về Quy phạm điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ lớn, sổ tay Điều tra, phân loại, lập bản đồ đất và đánh giá đất đai; mô tả hình thái phẫu diện theo hướng dẫn của FAO Màu sắc đất ở các tầng được phân biệt theo chỉ thị màu Munsell; 2) Phương pháp phân tích mẫu đất (phương pháp nhiệt sai, phương pháp Robinson (ống hút Pipet 7 cấp), phương pháp hiện đại như phương pháp dùng tia Rơnghen–XRD, phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử ngọn lửa - F-AAS; 3) Phương pháp tính các tỷ lệ phân tử SiO2:Al2O3, Al2O3:Fe2O3 của thành phần
hóa học tổng số theo E.V.Arinushkina; 4) Phương pháp chồng xếp bản đồ, sử
dụng công nghệ GIS: Sử dụng AcrGIS để chồng xếp 08 lớp thông tin bản đồ đơn tính và phần mềm giải đoán ảnh viễn thám (ALOS, SPOT, 2013) ENVI để xây dựng bản đồ hiện trạng phân bố địa lý rừng dầu Tây Nguyên năm 2015, xây bản đồ gốc đất rừng dầu, bản đồ đơn vị đất đai; 5) Phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho cây cao su: các tiêu chuẩn phân cấp chỉ tiêu để xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai và đánh giá mức độ thích hợp đất đai được áp dụng theo chỉ tiêu phân
Trang 7hạng đất trồng cao su của Tập đoàn cao su Việt Nam và theo hướng dẫn của
FAO năm 1976, hình thức đánh giá định tính (Quanlity land evaluation) Mức độ thích hợp được thể hiện ở 3 cấp phân vị: Bộ thích hợp (Suitable order), loại thích hợp (Suitable class) và loại phụ thích hợp (Suitable sub-class) để xây dựng được
bản đồ đánh giá thích hợp đất đai cho cây cao su trên đất rừng dầu
- Thu thập thông tin, khảo sát thực địa:
Khảo sát theo tuyến và theo diện, chia làm 05 đợt điều tra, khảo sát: 1) Đợt 1 năm 2009: Kế thừa từ dự án, NCS là người trực tiếp tham gia khảo sát
Tổng số phẫu diện đào là 1.412 phẫu diện (PD), trong đó phẫu diện chính là
194 PD (33 PD chính phân tích (số mẫu phân tích theo tầng phát sinh là 130
mẫu), 161 PD chính không phân tích)); 2) Đợt 2 năm 2013: Kế thừa từ dự án,
NCS là cộng tác viên, chuyên gia Tổng số phẫu diện đào là 1.474 PD, trong đó phẫu diện chính là 154 PD (43 PD chính phân tích (số mẫu phân tích là 170
mẫu), 111 PD chính không phân tích)); 3) Đợt 3 năm 2013: NCS tự tổ chức
khảo sát ở 04 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông Tổng số phẫu diện đào là 63 PD (21 PD chính phân tích (số mẫu gửi phân tích là 80 mẫu) và
42 PD chính không phân tích)); 4) Đợt 4 năm 2015: NCS và Thầy hướng dẫn 1
cùng tham gia với Đoàn Phúc tra do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk chủ trì, có sự tham gia của các nhà khoa học đất, nhà quản lý và
đơn vị tư vấn (không lấy mẫu); và Đợt 5 năm 2015: NCS tự tổ chức khảo sát
đất rừng dầu vùng Đông Nam bộ để đối chiếu, so sánh các đặc tính với đất rừng dầu vùng Tây Nguyên) Tổng số phẫu diện đào là 16 PD (03 PD chính phân tích (số mẫu gửi phân tích là 10 mẫu), 13 PD chính không phân tích))
2.3 Vật liệu
- Tài liệu dùng để chuyển đổi và chỉnh lý bổ sung: 1) Bản đồ Tây
Nguyên tỷ lệ 1/250.000: Bản đồ đất Tây Nguyên và bản hiện trạng sử dụng đất Tây Nguyên năm 2015 (kế thừa Chương trình Tây Nguyên 2); Bản đồ đất các tỉnh Tây Nguyên tỷ lệ 1/100.000 (1997–2005); 3) Bản đồ địa chất vùng Tây Nguyên; 4) Bản đồ nền địa hình các tỉnh Tây Nguyên, tỷ lệ 1/100.000; 5) Kết quả phân tích mẫu của đợt nghiên cứu trước tại tỉnh Đắk Lắk trong chương trình điều tra và đánh giá đất dưới rừng dầu trong vùng dự kiến chuyển sang trồng cao su năm 2009; điều tra bổ sung tại huyện Ea Súp năm 2014 do Phân viện QH&TKNN thực hiện và kế thừa các tài liệu nghiên cứu đất rừng dầu của các dự án khác thuộc các tỉnh Tây Nguyên; tài liệu “Điều tra xây dựng bản đồ
Trang 8đất và vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk”
do Công ty Cổ phần Tập đoàn Đất Việt, năm 2011; kết quả của Đề tài Tây Nguyên 3
- Tài liệu dùng để tham chiếu: 1) Ảnh vệ tinh ALOS và ảnh SPOT độ
phân giải 10m (tư liệu của chương trình Tây Nguyên 3, chụp năm 2010 và 2013); 2) Các loại bản đồ: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 các tỉnh Tây Nguyên tỷ lệ 1/100.000; bản đồ hiện trạng 3 loại rừng các tỉnh Tây Nguyên tỷ lệ
1/100.000; và các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Phân bố địa lý đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên
3.1.1 Phân bố địa lý của cây dầu ở Tây Nguyên
Trên cơ sở bản đồ địa hình tỷ lệ 1/250.000 toàn vùng Tây Nguyên ở dạng số (DEM), sử dụng công nghệ GIS để chồng xếp các lớp thông tin như: hiện trạng sử dụng đất năm 2015 + ảnh vệ tinh ALOS/SPOT độ phân giải 10m
và phần mềm ENVI để giải đoán ảnh, kết hợp với kết quả điều tra, khảo sát thực địa đã xây dựng được bản đồ hiện trạng phân bố địa lý rừng dầu Tây Nguyên năm 2015
3.1.2 Phân bố địa lý của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên
Hình 3.1: Chồng xếp các lớp thông tin xây dựng bản đồ hiện trạng rừng dầu Tây Nguyên năm 2015
Trang 9Từ kết quả chồng xếp và giải đoán ảnh vệ tinh đã xây dựng được bản đồ hiện trạng phân bố rừng dầu Tây Nguyên năm 2015 Theo đó, đã xác định: 1/ Đất dưới rừng dầu Tây Nguyên phân bố chủ yếu tại các huyện nằm ở phía Tây của các tỉnh Đắk Lắk (vùng bình nguyên Ea Súp, gồm: Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’leo,
Cư M’gar),tỉnh Gia Lai (gồm: Chư Prông, Ia Grai), Kon Tum (gồm: Sa Thầy, Ia H’Drai và Ngọc Hồi) và tỉnh Đắk Nông (gồm: Cư Jút, Đắk Mil) với diện tích 565.000 ha vượt con số 500.000 ha đã nêu ra trước đây 2/ Các nhóm đất và quy
mô diện tích được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Phân bố địa lý đất dưới rừng dầu Tây Nguyên
(ha)
Tỷ lệ (%)
1 Đất xám và đất vàng
đỏ trên đá granite, đất
trơ sỏi đá (Acrisols,
Leptosols)
Huyện Ea Súp, Ea H’leo, Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk; Chư Prông, Ia Grai tỉnh Gia Lai; Sa Thầy và Ia H’Drai tỉnh Kon Tum; Cư Jút tỉnh Đắk Nông
287.870 50,95
2 Đất đỏ vàng trên đá
phiến sét, Đất vàng trên
đá cát (Acrisols)
Huyện Buôn Đôn, Ea Súp (Đắk Lắk);
Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum; Chư Prông tỉnh Gia Lai
4 Đất nâu vàng trên
bazan, Đất nâu thẫm
trên đá bọt bazan
3.2 Đặc điểm phát sinh đất dưới rừng dầu Tây Nguyên
3.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các đặc tính của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên
3.2.1.1 Khí hậu:
Khí hậu ở Tây Nguyên là khí hậu nhiệt đới có mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất
Trang 10a) Chế độ bức xạ mặt trời: Tổng lượng bức xạ mặt trời ở Tây Nguyên
khá dồi dào, TB đạt 235-240 kcal/cm2/năm Xét về cán cân bức xạ: Vùng Tây Nguyên đạt xấp xỉ 80 kcal/cm2/năm Tháng 4 có cán cân bức xạ cao nhất đạt 10 kcal/cm2 tại PleiKu là 11 kcal/cm2 tại Buôn Ma Thuột
b) Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình (TB) các tháng ở
những vùng dưới 1500m đều trên 25oC, nhiệt độ cao nhất TB có cực đại vào tháng IV với trị số trên 30oC ở độ cao dưới 800m và dưới 28oC ở độ cao
>1000m Ở các vùng thấp < 200m cực đại này lên trên 35oC, có nơi lên hơn 38oC (bình nguyên Ea Súp -vùng tập trung cây dầu) Có thể nói nhiệt độ vùng tập trung cây họ dầu thường cao hơn các vùng khác; biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm, đặc biệt là sự chênh lệch giữa ngày và đêm là rất lớn Đặc đểm này đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát sinh và biến đổi của đất rừng dầu TN
c) Chế độ mưa: Phân bố không gian của lượng mưa ở Tây Nguyên rất
không đồng đều Lượng mưa năm ở vùng mưa nhiều nhất gấp 3 - 4 lần vùng mưa ít nhất Vùng Tây Nam cao nguyên Bảo Lộc có lượng mưa năm 3.200 - 3.500mm là vùng mưa nhiều nhất ở Tây Nguyên, tiếp theo là vùng Bảo Lộc -
Di Linh và cao nguyên Pleiku 2.600-2.800 mm Nơi ít mưa nhất là vùng thung
lũng Cheo Reo dưới 1200mm
Riêng khu vực tập trung nghiên cứu lượng mưa TB năm ở mức thấp, chỉ 1.447mm ở Buôn Đôn và 1.553 mm ở Ea Súp, nhưng lại tập trung gây ra ngập úng cục bộ, chảy tràn bề mặt và xói mòn mạnh những khu vực có địa hình dốc, kéo theo nhiều vật liệu từ nơi cao xuống nơi thấp, mùa khô khắc nghiệt
(nguyên nhân của quá trình tích tụ silic do nước mang từ nơi địa hình cao đến chỗ thấp và đọng lại ở đó tạo cho đất có đặc tính sialite, đây chính là gốc tích của SPP có nguồn gốc thủy nguyên - Hydrogenic)
Sự thay đổi lớn lượng nước khí quyển giữa mùa mưa và mùa khô kéo theo biên độ ẩm không khí giữa hai mùa cũng thay đổi rất lớn, làm cho mùa nắng xảy
ra khô hạn trên diện rộng, nhất là vùng Ea Súp ảnh hưởng không ít đến sinh trưởng và phát triển của thực vật, gây tác động xấu đến đất đai như hình thành kết von, đá ong trong đất; ở Ea Súp độ ẩm TB thấp nhất, chỉ đạt 77%, lượng bốc hơi lại cao nhất 1327mm (Buôn Đôn 1.262 mm), do lớp phủ thực vật trên bề mặt
bị “trơ trụi” vào mùa khô và bị nung nóng, càng làm cho quá trình bốc thoát hơi nước xảy ra mảnh liệt hơn Hiện tượng này được lặp đi lặp lại làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát sinh đất, tạo cho đất có những đặc tính khác biệt
Trang 113.2.1.2 Địa hình
Vùng nghiên cứu có địa hình khá bằng phẳng và thấp hơn nhiều so với
địa hình khu vực xung quanh, trông giống như “một lòng chảo dẹt” từ đồng
bằng bóc mòn Ea Súp (bình nguyên Ea Súp) thuộc tỉnh Đắk Lắk kéo dài lên phía
trên các huyện Chư Prông, Ia Grai tỉnh Gia Lai và các huyện Ia Drai, Sa Thầy và
Ngọc Hồi tỉnh Kom Tum là kết thúc Địa hình tập trung cây họ dầu thường có độ
cao từ 200 – 600 m so với mực nước biển, đặc điểm này chắc chắn có ảnh hưởng
sâu sắc đến quá trình hình thành và phát triển các đặc tính đất rừng dầu, mà ở
đây là dễ xảy ra hiện tượng các vật chất trong đất bị nước lôi kéo từ phần địa
hình cao bao bọc xung quanh xuống nơi thấp
3.2.1.3 Đá mẹ/mẫu chất
Cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu có tập hợp đá mẹ, mẫu chất tạo đất
khá phức tạp, những đá magma xâm nhập cổ tuổi Paleoproterozoi và Trias giữa
(các đá granitoid), các đá trầm tích Jura sớm – giữa (đá phiến sét, phiến sa, đá
cát), các phun trào núi lửa Pliocen-Pleistocen sớm và Pleistocen giữa (đá bazan),
các trầm tích phù sa cổ Pleistocen muộn, đến các trầm tích hiện đại - Holocen
(hình 3.8)
3.2.1.4 Thủy văn
a) Thủy văn: Nhìn chung, modul dòng chảy trên toàn vùng biến đổi trên
dưới 30l/s/km2
; Dòng chảy trong năm phân thành 2 mùa rõ rệt và mức độ phân
phối chênh lệch giữa hai mùa khá lớn Lượng phân phối dòng chảy 6 tháng
mùa khô chỉ chiếm trên dưới 30% tổng lượng dòng chảy năm và 6 tháng mùa
mưa chiếm 70%
Ha, Fk, Fu, Ru, Fa, Fs, Fq, Rk
Xâm nhập magma acid (PR 1 tmr), (-T 2 vc); Trầm tích lục nguyên (J 1 đb, J 1 đl, J 2 es); Phun trào Mafic
(βN2 -Q 1 tt , βQII xl)
Fa, Fs, Fq, Xa; rất ít Fp, X, Fu, Ru, Pb Trầm tích lục nguên (J 1 đb, J 1 đl, J 2 es); PSC (Q III3); Xâm nhập magma acid (PR 1 tmr, -T 2 vc),
Trầm tích hiện đại (aQ IV1-2, aQ IV3, dQ)
Vùng tập trung nghiên cứu
Hình 3.8: Lát cắt địa hình và mối quan hệ giữa chúng với mẫu chất/đá mẹ toàn vùng Tây
Nguyên (dọc theo chiều thẳng từ Cửa Khẩu Bờ Y - Kon Tum đến Đạ Huoai - Lâm Đồng
Trang 12b) Hệ thống sông suối và nước mặt: Tây Nguyên là nơi phát nguồn của 4 hệ thống sông lớn: Sông Sê San; Sông Ba; Sông Sêrêpôk; và Sông Đồng Nai.Tuy nhiên, do nước phân phối lệch pha nhau Thời kỳ dùng nước vào mùa khô thường chiếm trên dưới 70%, trong khi đó lượng nước đến chỉ chiếm 30% và vào mùa mưa lượng nước yêu cầu khoảng 20 - 30% thì lượng nước đến chiếm khoảng 70% Vì vậy, việc cần thiết nhất trong sử dụng nước hiện nay ở
Tây Nguyên điều hoà nguồn nước giữa các mùa trong năm
c) Nước ngầm: Nước dưới đất ở Tây Nguyên có tổng trữ lượng: 25,5 x
106m3/ngày, phân bố không đều, vùng có cây họ dầu tập trung thường có tầng nước ngầm “tụt xuống rất sâu” vào mùa khô, đặc biệt là vùng bình nguyên Ea Súp, làm thiếu nước trầm trọng, gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của người dân trong vùng
3.2.1.5 Thảm thực vật
Vùng nghiên cứu đa phần có các cây thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae)
chiếm ưu thế, ở đây cây dầu có thể xem như là một loại cây chỉ thị cho đặc trưng vùng đất mà nó ngự trị Chúng có những đặc thù riêng mà ít có kiểu rừng nào có được: Rụng lá vào mùa khô, thêm vào đó là thường xuyên bị cháy rừng, nên các lớp thực bì dưới tán rừng kể cả các quần thể cây con bị cháy rụi để trơ
ra mặt đất, làm cho mặt đất bị nung nóng dẫn đến quá trình bốc hơi diễn ra mãnh liệt hơn, đất nhanh kiệt nước và khô hạn trầm trọng; vào mùa mưa, lũ thượng nguồn đổ về, do lớp thực bì chưa kịp tái sinh nên đất bị bào mòn và rửa trôi mạnh; ngập úng cũng thường xuyên xảy ra, đây là những nhân tố tác động trực tiếp và có ảnh hưởng “cực kỳ sâu sắc” đến quá trình phát sinh đất cũng như làm biến đổi các đặc tính thổ nhưỡng của đất
3.2.2 Phân loại đất dưới rừng dầu Tây Nguyên
Trên cơ sở bản đồ gốc đất vùng Tây Nguyên tiến hành điều tra, khảo sát để khoanh vẽ bổ sung ngoài thực địa, cộng với ghi chép bản tả hình thái phẫu diện và kết quả phân tích các chỉ tiêu lý, hóa học cùng với các tài liệu trước đó tiến hành khoanh vẽ bản đồ gốc đất chính thức, phân loại, đặt tên và sử dụng GIS hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ đất rừng dầu Tây Nguyên
Qua bảng 3.10, thấy rằng: Các đất dưới rừng dầu thuộc 4 nhóm (gộp thành nhóm theo đá mẹ/mẫu chất) với tỷ lệ phân bố địa lý khác nhau, trong đó: Đất xám và đất vàng đỏ trên granite chiếm gần 51% (Đất xám trên mác ma